Bà bầu nên ăn cá nhưng bác sĩ khuyên nhất quyết không nên ăn cá này nếu không sẽ sảy thai, dị tật
Thủy ngân đi vào cá như nào?
Thủy ngân là một kim loại nặng. Đây là kim loại duy nhất mà ở điều kiện bình thường nó có dạng lỏng. Thủy ngân đơn chất và thủy ngân dạng hợp chất là những chất có độ độc với cơ thể. Tác hại gây độc của thủy ngân sẽ được chúng tôi bàn ở phần dưới.
Điều đáng nói, thủy ngân ở ngoài môi trường làm sao có thể đi vào cơ thể? Câu trả lời là nằm ở trong chuỗi chuyển hóa và xử lý thức ăn mà vai trò chính ở đây chính là vi khuẩn.
Ngoài môi trường, thủy ngân luôn tồn tại dưới dạng vô cơ. Dạng vô cơ này bao gồm thủy ngân đơn chất tức là kim loại thủy ngân và thủy ngân hợp chất tức là muối thủy ngân. Dạng thủy ngân vô cơ sẽ bị hệ thống vi khuẩn trong cặn nước, bùn nước chuyển hóa, thực hiện phản ứng hóa học chuyển đổi thủy ngân từ dạng thủy ngân đơn chất sang dạng thủy ngân hợp chất là methyl thủy ngân. Đây là dạng tồn tại sơ đẳng nhất của thủy ngân vô cơ. Những vi khuẩn này có rất nhiều trong bùn của các ao hồ nước đọng. Sau đó những sinh vật phù du sẽ ăn vi khuẩn và tích lũy thủy ngân methyl. Cá sẽ ăn các vi khuẩn này và ăn luôn thủy ngân methyl. Thủy ngân tiếp tục xuất hiện và tồn tại trong cá. Cá lớn ăn cá bé, thủy ngân lại di chuyển sang cá lớn. Người ăn cá lớn tiếp tục bị nhiễm thủy ngân. Thủy ngân di chuyển sang người và tích lũy ở người. Và lúc đó, chúng ta chính thức bị nhiễm thủy ngân.
Chúng tôi nhấn mạnh sự độc hại của thủy ngân bao gồm sự độc hại của thủy ngân vô cơ và thủy ngân hữu cơ. Chủ yếu nhất của sự độc hại thủy ngân với con người chính là sự độc hại của hơi thủy ngân kim loại (một đại diện của thủy ngân vô cơ) và tích lũy quá mức của thủy ngân methyl (một đại diện của thủy ngân hữu cơ).
Đối tượng đặc biệt nguy hiểm với thủy ngân bao gồm trẻ em dưới 15 tháng tuổi, bà mẹ mang thai, người già, bào thai, trẻ em đang trong độ tuổi bú sữa mẹ và những người sống chủ yếu bằng thực phẩm là cá.
Tại sao bà mẹ mang thai cần thận trọng?
Chúng tôi lưu ý nhất bà mẹ mang thai bởi đây là đối tượng nhạy cảm xếp hàng thứ nhất với độ độc hại của thủy ngân. Độ độc hại lúc này tính trên 2 đối tượng độc lập là bà mẹ và bào thai.
Với bào thai, sự nhiễm độc thủy ngân có thể làm đứa trẻ nhẹ cân, chậm phát triển, xuất hiện các dị dạng, đột biến và có thể gây thai chết lưu hoặc chết sau sinh. Người ta ghi nhận đứa trẻ có thể bị bại não, liệt sau khi sinh nếu nhiễm thủy ngân ngay từ tháng thứ 3 của thai kỳ. Đứa trẻ có thể bị mù nếu nhiễm thủy ngân ngay từ tháng thứ 4 cho đến hết 1 tuổi. Thủy ngân phá hủy lớp màng võng mạc của mắt, làm phá hủy dây thần kinh thị giác và làm giảm chức năng trung tâm nhận cảm thị giác trên não bộ mất. Vì thế, đứa trẻ bị mất thị giác.
Với bà mẹ (và người trưởng thành), thủy ngân gây độc hại tới 3 hệ thống cơ quan chính là hệ thần kinh, hệ miễn dịch, hệ tiêu hóa. Khi thủy ngân tích lũy ở nồng độ cao nó sẽ gây độc cho thận, mắt và phổi. Suy thận có thể xảy ra nếu nhiễm thủy ngân quá cao.
Người ta ghi nhận, nồng độ thủy ngân gây độc là 5mg cho 1 người nặng 70kg, nồng độ gây tử vong là 150-300mg cho một người nặng 70kg.
Với những phân tích trên đây, chúng tôi mạnh mẽ khuyên các bà mẹ cẩn trọng với nguồn cá biển, cá lớp trầm tích, cá lớp bùn vì đây là những loại cá có nguy cơ cao bị nhiễm thủy ngân.
Tìm tới
Trang bình luận
/ 1
Cá hồi là tốt nhất. Cá nước ngọt thì...