Khu vực mái tôn giáp tường là một trong những điểm dễ thấm dột nhất của nhà dân, nhà xưởng và công trình cải tạo. Khi mưa lớn kèm gió, nước có thể tạt vào tường, chảy xuống mép mái rồi len qua khe hở giữa tôn và tường. Nếu không xử lý đúng, nước sẽ thấm vào trần, tường trong nhà hoặc chảy theo khung thép xuống bên dưới. Vì vậy, chống thấm mái tôn giáp tường cần được thi công kỹ hơn các vị trí thông thường.
Điểm giáp tường thường phức tạp vì có sự kết hợp giữa hai loại vật liệu khác nhau: tôn kim loại và tường bê tông hoặc tường gạch. Tôn co giãn mạnh theo nhiệt độ, trong khi tường gần như ổn định hơn. Sự chênh lệch chuyển động này khiến các lớp trám cứng như xi măng rất dễ nứt sau một thời gian sử dụng.

Các dấu hiệu khu vực giáp tường bị thấm gồm:
- Tường bên dưới mái bị ẩm hoặc bong sơn.
- Nước chảy dọc theo mép tường khi mưa.
- Trần sát tường xuất hiện vết ố vàng.
- Có khe hở giữa tôn và tường.
- Lớp xi măng trám cũ bị nứt.
- Keo cũ bong, co ngót hoặc mất đàn hồi.
- Nước tạt vào nhà khi mưa kèm gió mạnh.
Nguyên nhân đầu tiên là không có tôn úp hoặc nẹp che nước. Nhiều mái tôn được lắp sát vào tường rồi chỉ bơm keo hoặc trám hồ. Cách này có thể hiệu quả lúc đầu, nhưng khi nắng mưa kéo dài, lớp trám bị nứt và nước lại thấm vào. Với vị trí giáp tường, cần có giải pháp che hướng nước, không chỉ bịt khe.
Nguyên nhân thứ hai là tường phía trên bị nứt. Nước mưa có thể thấm qua vết nứt tường rồi chảy xuống điểm tiếp giáp mái. Nếu chỉ chống thấm phần mái mà bỏ qua vết nứt tường, tình trạng dột vẫn tiếp diễn. Do đó, cần kiểm tra cả bề mặt tường phía trên mái.
Nguyên nhân thứ ba là mái có độ dốc thấp hoặc mép mái bị đọng nước. Khi nước không thoát nhanh, áp lực nước tại điểm giáp tường tăng lên. Nếu có khe hở nhỏ, nước sẽ len vào. Trường hợp này cần xử lý cả độ thoát nước của mái và máng xối.
Để chống thấm mái tôn giáp tường, cách tốt nhất là kết hợp nhiều lớp bảo vệ. Trước tiên, cần vệ sinh sạch khu vực mép tôn và chân tường. Loại bỏ lớp hồ cũ nứt, keo cũ bong, bụi bẩn và rỉ sét. Sau đó xử lý khe hở bằng keo đàn hồi phù hợp, thường là keo PU hoặc vật liệu trám khe chuyên dụng.
Sau khi trám kín khe, nên lắp tôn úp tường hoặc nẹp che nước. Tấm úp cần được cố định chắc vào tường, phần mép phủ xuống mái đủ rộng để nước chảy ra ngoài thay vì chui vào khe. Mép trên của tôn úp nên được trám kín bằng keo đàn hồi hoặc xử lý rãnh cắt tường nếu điều kiện cho phép.
Với tường bị nứt, cần xử lý vết nứt trước khi chống thấm mép mái. Có thể dùng keo trám khe, vữa sửa chữa hoặc sơn chống thấm tường tùy mức độ nứt. Nếu tường thấm nước mạnh, nên phủ chống thấm bề mặt tường ở khu vực phía trên mái để ngăn nước ngấm từ ngoài vào.
Quy trình xử lý điểm mái tôn giáp tường gồm:
- Kiểm tra hướng nước chảy và điểm nước vào.
- Vệ sinh mép tôn, chân tường, khe tiếp giáp.
- Loại bỏ lớp trám cũ đã nứt hoặc bong.
- Xử lý rỉ sét ở mép tôn nếu có.
- Trám khe bằng keo đàn hồi.
- Lắp tôn úp tường hoặc nẹp che nước.
- Trám kín mép trên của tấm úp.
- Xử lý vết nứt tường phía trên.
- Kiểm tra bằng phun nước thử sau khi khô.
Một sai lầm thường gặp là dùng xi măng trám trực tiếp lên khe giữa tôn và tường. Xi măng không có độ đàn hồi, trong khi mái tôn luôn giãn nở. Sau một thời gian, lớp xi măng sẽ nứt và tách khỏi bề mặt tôn. Khi đó, nước thấm vào còn khó xử lý hơn vì phải đục bỏ lớp cũ.

Sai lầm khác là chỉ bơm keo một đường mỏng trên bề mặt. Nếu khe hở lớn hoặc nước tạt mạnh, đường keo mỏng không đủ chịu áp lực. Cần trám đủ sâu, đủ rộng và có lớp che bảo vệ bên ngoài. Với công trình thường xuyên chịu mưa gió, tôn úp là hạng mục rất nên có.
Với nhà đã hoàn thiện, việc xử lý giáp tường cần cẩn thận để không làm hỏng lớp sơn, gạch ốp hoặc hệ thống thoát nước hiện có. Nếu khu vực thi công cao, trơn hoặc khó tiếp cận, nên dùng thợ có kinh nghiệm để đảm bảo an toàn và độ kín nước.
Chống thấm mái tôn giáp tường phải xử lý đồng thời khe hở, mép tôn, chân tường và hướng nước tạt. Chỉ trám keo hoặc xi măng sơ sài thường không bền. Giải pháp hiệu quả hơn là dùng vật liệu đàn hồi kết hợp tôn úp, nẹp che nước và xử lý vết nứt tường nếu có.

