Vụ việc nữ giám đốc tại Vũng Tàu thuê người tiêm máu nhiễm HIV vào con trai nhân tình khiến cộng động dậy sóng những ngày qua nhưng điều khiến chúng ta bức xúc hơn nữa là "Tại sao cứ phạm tội thì lại được chuẩn đoán là tâm thần" và " Bị tâm thần đến mức nào thì không phải đi tù?" Đây chắc chắn là 2 câu hỏi gây nhức nhối từ lâu, thực hư như thế nào vì nếu cứ mượn cớ bị tâm thần là dễ dàng thoát tội thế sao?!



webtretho


Hình Tuổi Trẻ


Người bị tâm thần có thể nghĩ ra thủ đoạn dã man đến vậy ư?



webtretho


Linh và Tâm tại phiên tòa


Theo hồ sơ vụ án, đầu năm 2014, Thảo biết bạn trai mình ở Vũng Tàu quan hệ tình cảm và có con với người phụ nữ khác. Cô ta lên mạng tìm thuê Lê Trung Linh (32 tuổi, giám đốc công ty dịch vụ thông tin) theo dõi gia đình tình địch với giá 20 triệu.



Tháng 4/2015, người phụ nữ này bàn bạc với nam giám đốc "công ty thám tử" về việc bắt cóc bé trai bỏ vào chùa với giá 240 triệu đồng. Nhận được tiền, Linh rủ đồng phạm tên Tâm (hiện chưa xác định lai lịch) cùng tham gia nhưng bất thành.



Kế hoạch bị vỡ, một tháng sau Thảo lại gặp Linh tại TP HCM để bàn âm mưu lấy máu người nhiễm HIV chích vào người bé trai. Linh rủ thêm Thế cùng làm.



Ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/2015, cả hai thực hiện kế hoạch nhưng thất bại, do bé không đến công ty của mẹ như dự kiến. 9 hôm sau, Thế đi mua máu của người được cho nhiễm HIV với giá 200.000 đồng rồi cùng Linh xuống cổng trường mầm non nơi bé theo học ở Vũng Tàu đứng chờ. Thấy bé được mẹ đưa đến cổng, Thế đi sát, dùng kim tiêm có máu chích vào chân phải của nạn nhân rồi lên xe đồng phạm tẩu thoát.



Sau khi gây án, Linh và Thế được Thảo chuyển 120 triệu đồng. Biết con mình bị chích kim tiêm, gia đình nhanh chóng đưa bé đi điều trị phác đồ phơi nhiễm HIV. Sau một năm, bé được xác định âm tính với virus HIV.



Đầu tháng 4/2016, kẹt tiền tiêu xài, Thế viết thư tay gửi cho mẹ bé thông báo có người muốn hại cháu, yêu cầu đưa 150 triệu đồng để dàn xếp. Khi kẻ này nhận hơn 10 triệu đồng cùng 200 USD tại trung tâm thương mại TP Bà Rịa thì bị cảnh sát ập vào bắt giữ.




Hồ sơ bệnh án tâm thần của nữ giám đốc


Trong quá trình điều tra, ngày 16/6/2016, Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và gia đình Thảo yêu cầu cơ quan cảnh sát điều tra cho giám định tâm thần nữ giám đốc. Ngày 3/8/2016, Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa có kết luận "bà Thảo bị bệnh trầm cảm nặng, có triệu chứng loạn thần trước, trong và sau khi gây án".



Như vậy mặc dù có thủ đoạn man rợ, bỏ ra hàng trăm triệu đồng thuê người tiêm máu nhiễm HIV vào bé trai 3 tuổi nhưng nữ giám đốc ở Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn được đình chỉ điều tra vì "bị tâm thần".



Tuy nhiên cho rằng kết quả giám định tâm thần của nữ giám đốc chủ mưu tiêm HIV vào con tình địch có nhiều điểm nghi vấn, mâu thuẫn nên tòa hoãn xử, trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu giám định lại.



Từ lời khai của tên này, Linh cùng Thảo bị bắt. Trong quá trình điều tra, Thảo được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì có giấy chứng nhận "bị bệnh trầm cảm nặng, có triệu chứng loạn thần trước, trong và sau khi gây án" của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa.



Tại phiên tòa mới nhất, Linh và Thế đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Khi được hỏi về nhận xét nữ giám đốc chủ mưu, Linh cho rằng "không thấy dấu hiệu bà Thảo bị tâm thần khi tham gia bàn bạc gây án".



Trong khi đó, Thảo xin vắng mặt tại tòa với lý do đang trị bệnh và ủy quyền cho luật sư. Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa vẫn khẳng định nữ giám đốc bị tâm thần.



Cứ phạm tội tày đình lại bảo "có dấu hiệu bị tâm thần"




Hình Tuổi Trẻ


Không ít trường hợp đối tượng gây án đã giả điên, giả dại, chấp nhận sống chung với người bị bệnh tâm thần để tránh sự trừng phạt của pháp luật



Thời gian qua, đã nổi lên hiện tượng hết sức bất thường. Một số đối tượng sau thời gian gây án đặc biệt nghiêm trọng thì “phát bệnh tâm thần”. Muốn xác định các đối tượng này “bị tâm thần” thật hay giả, phải qua một quy trình giám định rất mất thời gian, tốn công sức.



Gần đây, qua theo dõi trên báo chí, có rất nhiều trường hợp sau khi gây án một thời gian thì cũng “phát bệnh tâm thần”. Chẳng hạn, hung thủ L.T.L (ngụ tỉnh Khánh Hòa) cũng được xác định là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi có phần hạn chế vào thời điểm gây án khiến gia đình nạn nhân bức xúc vì cho rằng hung thủ cố tình giả bệnh để được giảm án. Trong suốt quá trình điều tra, L. im lặng, không thừa nhận nhân thân lai lịch, từ chối các mối quan hệ với nạn nhân, gia đình ruột thịt của mình. Kết quả giám định pháp y tâm thần cuối cùng xác định hung thủ “có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi”, việc giả bệnh là “có chủ ý”.



Trước đây, ở một địa phương phía Nam xảy ra vụ án mà người phạm tội từng giữ chức vụ cao trong cơ quan bảo vệ pháp luật. Người này trước khi bị khởi tố còn làm việc bình thường. Ấy vậy mà khi bị khởi tố, tự nhiên hóa bệnh tâm thần. Hai bị cáo cùng vụ bị xử lý hình sự và đã thi hành án, riêng người này vẫn đang được “điều trị bắt buộc”.



Hay như trường hợp bị cáo T.T.T.Ng bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ở phiên xử sơ thẩm, T.Ng vẫn bình thường, trả lời rành rọt các câu hỏi của HĐXX, viện kiểm sát, luật sư nhưng đến trước phiên xử phúc thẩm thì xin đi giám định vì nghi bị… tâm thần. Trong 2 lần mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giả vờ la hét nhưng HĐXX cấp phúc thẩm đã kiểm tra một số nội dung, phát hiện bị cáo này khai báo cực kỳ khôn ngoan, chẳng có bất cứ dấu hiệu nào bị tâm thần. Chiêu bài giả tâm thần bị vạch trần tại tòa.



Và mới đây nhất và vụ ẩu đả thanh toán nhau do xích mích tiền bạc mà chém người đầu lìa khỏi xác không khác gì chuyện chỉ có ở trên phim chưởng, xem mạng người như cỏ rác kinh hoàng đến như vậy mà khi bị bắt bị cáo lại có giấy chứng nhận bị tâm thần, như vậy chẳng khác nào "có giấy chứng nhận tâm thần như giấy chứng nhận được phạm tôi" ư?!



Rốt cuộc thì luật pháp quy định "Bị tâm thần đến mức nào thì không phải đi tù?"



webtretho


Hình minh họa


Không phải mọi trường hợp có tiền sử bị bệnh tâm thần hay đang bị bệnh tâm thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.



Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý... Một trong các yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi có năng lực trách nhiệm hình sự. Năng lực trách nhiệm hình sự của mỗi người phụ thuộc vào độ tuổi của người đó và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của họ.



Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.



Tuy vậy, nếu người nào đó dù trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự thì có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 13 quy định:



1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.



2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.



Như vậy, không phải mọi trường hợp có tiền sử bị bệnh tâm thần hay đang bị bệnh tâm thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ những người mắc bệnh tâm thần (điều kiện về bệnh lý) đến mức mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi của mình (điều kiện về tâm lý) khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới được coi là thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Dù không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng người này phải bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.



Theo khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự, tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, họ sẽ được giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.



Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 43 Bộ luật Hình sự).



Tổng hợp




Video liên quan



http://www.webtretho.com/video/wp-content/uploads/sites/43/2017/07/ztoImPHYtp-480x270.jpg