Một ngày nọ, tôi tình cờ chú ý một cậu bé chừng 4-5 tuổi. Sáng Chủ nhật nào cậu bé ấy cũng xuất hiện với mẹ ở quán Starbucks “của tôi”. Người mẹ khi thì đọc sách, khi thì lướt web, còn chú bé lúc nào cũng trung thành với vài trang giấy trắng và những cây sáp màu. Bấy nhiêu đó đủ để nó say sưa tưởng tượng và vẽ vời hàng giờ liền.


Mỗi lần lướt nhìn qua những đường nét tung hoành của bé, tôi thấy bình yên lạ. Tôi hiểu rằng trong đầu óc của cậu bé đang diễn ra một đại nhạc hội của trăm nghìn ý tưởng, một bản giao hưởng mà rất nhiều người lớn cũng từng có nhưng nay chắc đã không còn.


Loài người vốn là giống loài duy nhất được tự nhiên ban cho năng lực tưởng tượng tuyệt vời – homos prospectus. Đây chính là động cơ thúc đẩy sự phát triển, tiến hóa của các nền văn minh và khoa học kỹ thuật. Thế nhưng, guồng chạy của xã hội và những bận rộn, lo toan dường như đã bào mòn không nương tay cái năng lực tưởng tượng siêu việt ấy của nhiều người. Để rồi, họ như dần trở thành những cỗ máy, cứ băng băng cày cuốc kiếm cơm ngày ngày mà ít khi dừng lại tự vấn: Có cái gì đột phá, sáng tạo hơn không?


Vì lẽ đó, mỗi lần nhìn một đứa trẻ tự do tung bay trong bầu trời sáng tạo bao la của riêng nó là một lần trái tim tôi cảm thấy hân hoan, ấm áp lắm. Chỉ cần trang giấy và sáp màu là bộ não bé con của họa sĩ nhí kia đã có thể tự do mơ mộng, bay bổng, tức được sống đúng với chức năng Sáng Tạo thần thánh của nó.


webtretho


Một ngày Chủ nhật nọ, cậu bé ấy lại đến quán cà phê, mang theo những tờ giấy trắng, bút sáp màu và bắt đầu say sưa vẽ trên chiếc bàn con con như thường lệ. Mẹ cậu bé hôm nay có hẹn với vài người bạn, tôi đoán phần lớn họ là những bà mẹ bỉm sữa. Mọi người đang rôm rả tám chuyện với nhau thì bất chợt một bà mẹ quay ra nhìn cậu bé rồi hùng hồn phán:


“Con chị vẽ đẹp thế, sao chị không tìm thầy để dạy nó học vẽ chuyên nghiệp hơn?”


Mẹ của họa sĩ nhí khẽ lắc đầu, cười nhẹ.


Ai ngờ thắc mắc vu vơ ấy trở thành phát súng mở đầu cho loạt “liên thanh” mà tôi bạo gan “bắt mạch” rằng một phần có thể xuất phát từ sự quan tâm của người lớn, một phần do căn bệnh “tâm lý bầy đàn, đám đông”:


“Chị cho nó đi học thầy A. này đi! Học sinh của thầy vẽ đẹp lắm, toàn có tranh được đi trưng bày mỹ thuật!”


“À, thế chị cho nó học Toán chưa? Con em giờ đã tính được đến phép cộng hàng trăm rồi đấy! Trung tâm M. cho nhiều dạng bài tập hay lắm, con nít làm nhiều rồi quen, lên tay tính nhẩm nhanh khiếp!”


“Thế còn tiếng Anh? Nó đi học ở đâu chưa? Con bé nhà em đi học trung tâm ngoại ngữ B. mới có vài tháng mà đã bắn tiếng Anh như gió rồi. Giọng chuẩn như người bản xứ í, nghe thích lắm!”


“Tiếng Việt nữa, tầm tuổi này phải rèn cho nét chữ viết được đẹp, vào lớp Một nó mới theo được bạn bè. Bây giờ, các cha mẹ cho con đọc thông viết thạo trước khi vào lớp Một hết cả rồi.”


...


Các bà mẹ cứ tranh nhau trút hàng tá lời khuyên như xối nước lên người mẹ trẻ, chẳng ai chịu bình tâm dành ít phút bắt chuyện với cậu bé để lắng nghe những suy nghĩ, cảm nhận của cậu về chuyện vẽ vời. Dường như ai nảy ra được ý nào là sẽ vội vàng tuôn ra, na ná kiểu thầy bói xem voi. Để rồi những cái khẽ lắc đầu, mỉm cười nhẹ vô tư lự lúc đầu của người mẹ trẻ lặn dần, nhường chỗ cho cái chau mày, nét ngỡ ngàng pha nhiều lo lắng, hoang mang.


Tôi ngồi đó, ngẫu nhiên lọt vào tai mọi lời khuyên cứ thích là nói của những bà mẹ, lòng tự hỏi: Liệu có bao nhiêu người trong số đó thật sự hiểu bản chất của giáo dục? Hay chính họ cũng là nạn nhân của một xã hội mà ai thích nói gì thì nói, cái gì nghe sơ qua cũng thấy hay, và mạng xã hội hằng ngày đang gắn micro cho nhiều tư tưởng đẹp mã nhưng rỗng ruột, thậm chí phi giáo dục? Nhiều tư tưởng ấy lại còn được viết ra bởi nhiều người chưa đắm mình thật sự vào cái biển giáo dục, chưa nhiều lần cầm phấn đứng lớp mà chỉ mới đọc lướt qua vài cuốn sách? Chính lũ trẻ sẽ phải oằn lưng gánh hết mọi hệ quả từ những thứ hiểu chưa sâu ấy, may thì chỉ phải gánh gồng trong vài tuần vài tháng, không may thì phải gánh gồng suốt cả cuộc đời.


Từ hôm ấy, họa sĩ nhí dần vắng bóng ở quán Starbucks. Những lần hiếm hoi xuất hiện, cậu bé chẳng còn tay xách nách mang bút sáp màu và giấy trắng nữa mà khệ nệ ôm chồng phiếu bài tập dày cộm, chi chít chữ. Dáng người nhỏ bé của nó như khòm đi khi “khuân vác” mấy cuốn sách Toán, vài phần mềm học tiếng Anh, và cả tấn kỳ vọng của người mẹ giờ đây đã tin sái cổ vào những lời khuyên của bạn bè.


Câu chuyện họa sĩ nhí bị giật bút ấy khiến lòng tôi bỗng như đeo cả tấn chì. Tôi vừa xót cho cậu bé, vừa giận các mẹ bỉm sữa “thả bom” những lời bàn tán tưởng vô hại nhưng lại ẩn chứa những hệ lụy lâu dài khó lường. Cậu bé không còn nữa những ngày cuối tuần bình yên được tự do tung bay trên bầu trời sáng tạo lung linh sắc màu của tuổi thơ. Thay vào đó, cái vầng trán con con của nó phải đăm chiêu vì những bài tập nặng nề, những câu hỏi chỉ có đúng hoặc sai, và cả những lời cau có dằn dỗi của mẹ khi nó làm bài tập sai.


Vậy là các bà mẹ “thông thái” kia, trong một lần tình cờ cà phê chém gió, đã tự làm “kiến trúc sư”, gián tiếp tái cấu trúc tuổi thơ của một cậu bé bằng những lời phán đại. Họ đã vô tình thổi bay những áng mây hồng sáng tạo của cậu bé, rồi thay vào đó bằng những viên gạch xám xịt của thước đo “con nhà tôi – con nhà bạn”.


Liệu còn bao nhiêu đứa trẻ đã, đang và sẽ thành nạn nhân của những kiểu áp đặt tư duy gián tiếp, rất vô tư nhưng có sức công phá tiềm ẩn nguy hiểm như thế từ người lớn?


Liệu có bao nhiêu người nhìn thấy và ưu tư trước thực tế có những mầm non xanh tươi, trong trẻo vừa vươn lên đón nắng đã bị sự vô tri của người lớn dẫm đạp như thế?


Và tất cả điều ấy lẽ ra không nên diễn ra ở khoảng trời đẹp nhất của tuổi thơ, cái tuổi mà một khi đã qua rồi sẽ chẳng thể nào tìm được tấm vé khứ hồi.



Câu chuyện được trích trong sách “Thay đổi vì con” – Nguyễn Chí Hiếu


webtretho