STRESS VÀ BỆNH TIM



Trong một thời gian rất dài, các nhà khoa học thường phân vân tự hỏi tại sao rất nhiều người không có các yếu tố nguy cơ như huyết áp cao, hút thuốc và cholesterol máu cao nhưng vẫn bị các cơn đau tim. Vậy còn các nguyên nhân nào khác có thể gây đau tim?


Theo một số nhà khoa học không chỉ có các nguyên nhân sinh lý mà còn phải kể đến yếu tố hành vi. Trong vòng 30 năm trở lại, thông qua hàng loạt nghiên cứu, một nhóm các nhà khoa học đã chứng minh một giả thuyết là hành vi đối phó với những căng thẳng (stress) trong cuộc sống hàng ngày như lối suy nghĩ, cảm giác và hành động của con người có ảnh hưởng sâu sắc tới tình trạng tim mạch của họ. Đã từ lâu y học phương đông cũng đã đề cập đến trạng thái cân bằng cuộc sống của con người gồm 7 trạng thái (thất tình) là: hỉ (vui), nộ (giận), ai (buồn), cụ (lo sợ), ái (yêu), ố (ghét) và dục (ham muốn). Và để cuộc sống được điều hoà, cơ thể được khoẻ mạnh thì các trạng thái trên phải ở tư thế cân bằng. Bất kể sự thái quá nào cũng có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ. Trong đó sự lo sợ và căng thẳng là trạng thái đáng phải bàn nhất. Trong y học hiện đại, càng ngày vai trò của stress càng được đề cập đến.



Stress là gì ?



Vào những năm 1930, tiến sĩ Hans Selye, một chuyên gia nghiên cứu về stress, mô tả stress là sự đáp ứng của cơ thể trước bất kỳ một yếu tố mang tính cấp bách, ví dụ nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh. Sau đó thì các nhà khoa học đưa ra định nghĩa: Stress là một trạng thái mà các cá nhân phải tự nỗ lực cao, mặc dù cá nhân không mong muốn, nhằm đáp ứng với những tình huống và sự kiện trong cuộc sống của họ. Điều này có nghĩa là stress không chỉ là phản ứng của cơ thể trước những thách thức mang tính thể chất, tâm lý mà còn là những phản ứng thuộc về hành vi, tinh thần, tình cảm. Những thách thức này có thể mang ý nghĩa rất quan trọng như cái chết của người thân hay mất việc làm, nhưng thường gặp là những sự kiện và tình huống chúng ta hay gặp hàng ngày như việc bị kẹt xe hay bất đồng quan điểm với đồng nghiệp. Quá trình phản ứng của các cá nhân với những tình huống như vậy có thể gây ra nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến sức khoẻ của họ. Không phải tất cả stress đều bất lợi, mà một số nhất định còn mang tính tích cực. Ví dụ bạn sẽ cảm thấy khoan khoái sau khi hoàn thành xuất sắc một việc khó khăn, và những stress như vậy được tiến sĩ Selye gọi là stress có lợi để phân biệt với những stress có hại cho sức khoẻ. Vậy làm thế nào để một cá nhân có thể xác định stress họ đang trải qua là có lợi hay có hại? Tình cảm chính là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt. Ví dụ stress có lợi là tâm trạng vui thích, hồ hởi và cảm giác công việc được tiến hành tốt. Còn stress có hại là tình trạng mệt mỏi, cáu kỉnh và cảm giác công việc có vấn đề không ổn.



Stress gây tác động thế nào?



· Phản ứng tinh thần, tình cảm và hành vi: Đứng trước một sự kiện hay tình huống thì tùy từng người mà có những cách nhìn nhận sự việc khác nhau. Ví dụ như khi phải đối mặt với hạn công việc sắp đền gần, có người thì cảm thấy sợ hãi không vượt qua được, nhưng với người khác thì họ lại coi đó là động lực để làm việc hết mình. Một yếu tố khác ảnh hưởng đến phản ứng của cá nhân là cảm giác làm chủ hoặc mất tự chủ. Một nghiên cứu về công nhân làm việc dây chuyền đã chỉ ra rằng những người công nhân nào có thể chủ động trong nhịp độ công việc hoặc lựa chọn vị trí làm việc trong dây chuyền sẽ làm việc có hiệu quả hơn và thấy thoải mái hơn những người hoàn toàn bị thụ động. Một yếu tố nữa góp phần gây căng thẳng là việc không dự đoán trước được những thay đổi. Ví dụ một tiếng động đột ngột có thể gây cho chúng ta giật mình, nhưng nếu biết trước sẽ có tiếng động đó thì ta không cảm thấy giật mình. Những người có “khả năng hạn chế căng thẳng” là những người có được mạng lưới hỗ trợ xã hội, tình trạng sức khoẻ tốt và tự tin. Họ sẽ đối phó tốt với những căng thẳng trong cuộc sống.


· Phản ứng sinh lý: Những phản ứng mang tính tinh thần, tình cảm, hành vi của cá nhân đối với những sự kiện hay tình huống được mô tả ở trên là yếu tố chủ chốt trong việc xác định một loạt những thay đổi sinh lý diễn ra trong cơ thể để chuẩn bị cho cơ thể đáp ứng với những sự kiện hay tình huống đó. Sự phản ứng về sinh lý ở cơ thể người cũng giống như ở cơ thể động vật. Phản ứng này diễn ra rất tự nhiên khi cá nhân phải đối mặt với tình huống thực sự khó khăn, hoặc khi cá nhân tự đánh giá đó là tình huống khó khăn. Chỉ trong một tích tắc, hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động và tuyến yên tiết ra một số hoóc môn. Điều này dẫn tới sự giải phóng một loạt adrenalin và cortison, có tác dụng hoạt hóa sự hoạt động của bộ não và cơ thể như làm tim đập nhanh hơn, huyết áp tăng, máu chảy nhiều hơn đến các cơ lớn và não, mỡ từ các mô dự trữ được chuyển hoá thành các axít béo để làm năng lượng cho sự hoạt động của cơ. Khi đối mặt với những tình huống thực sự nguy hiểm như trong đám cháy, các đáp ứng và thay đổi trên diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn nhiều.



· Căng thẳng thần kinh và sự phát triển của bệnh tim: Những căng thẳng thần kinh thường gặp trong cuộc sống hiện đại và nó khác với những căng thẳng mang tính thể chất. Những căng thẳng này thường không giảm đi, mà lại thường xuyên tăng lên và kéo dài liên tục. Phản ứng với những căng thẳng này đòi hỏi lượng hoóc môn và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục. Tuy nhiên cơ thể phản ứng trước các căng thẳng về tinh thần hay thể chất là như nhau. Do đó lượng hoóc môn và chất béo được huy động trong những căng thẳng thần kinh không được tiêu thụ hết và dẫn tới tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim quá mức cần thiết. Điều này sẽ dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm áp lực tại thành động mạch tăng lên, đặc biệt có thể xảy ra ở mạch vành - mạch máu nuôi cho tim. Khi rối loạn huyết động tăng và các hoóc môn do căng thẳng gây ra lưu hành liên tục trong máu sẽ làm tổn thương nội mạc thành mạch. Được huy động bởi các hoóc môn này, các tiểu cầu trong máu vận chuyển đến và bám dính tại thành mạch với mục đích làm giảm quá trình tổn thương. Nhưng không may là chính quá trình này lại làm cho thành mạch dày lên và dẫn đến nguy cơ tắc mạch. Bên cạnh đó cholesterol tỷ trọng thấp (LDL) cũng được sản xuất ra từ các tế bào mỡ trong quá trình phản ứng với căng thẳng. Theo thời gian, những thay đổi này sẽ dẫn đến quá trình xơ vữa ở động mạch vành.



· Sự căng thẳng, thiếu máu cục bộ cơ tim và đau tim: Khi động mạch vành hẹp đến mức độ làm giảm lưu lượng máu một cách nghiêm trọng sẽ dẫn đến việc máu cung cấp cho cơ tim không đủ để nó duy trì hoạt động co bóp trong khi tim cần co bóp nhiều hơn để đáp ứng với căng thẳng. Kết quả là cơ tim bị thiếu máu cục bộ. Hơn nữa, chính những hoóc môn tiết ra do căng thẳng cũng có thể gây co nhỏ thành mạch và càng làm cho máu lưu thông qua mạch vành giảm. Ví dụ sự tắc nghẽn trong mạch vành đạt đến 90% thì ảnh hưởng của hoóc môn gây co nhỏ mạch sẽ đạt 10% dẫn tới mạch bị tắc nghẽn gần như hoàn toàn và cơn đau tim xảy ra. Sự thiếu máu cục bộ cơ tim đi kèm với những hoạt động thể lực gắng sức sẽ gây ra cơn đau thắt ngực. Đôi khi ở một số căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm, quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim có thể diễn ra một cách lặng lẽ. Điều này càng nguy hiểm hơn vì cá nhân không thấy dấu hiện đau ngực hay khó chịu nên họ sẽ không nghỉ ngơi hoặc không uống thuốc. Thực vậy, một số nhà khoa học cho rằng sự thiếu máu cục bộ cơ tim lặng lẽ là một yếu tố có thể gây ra cơn đau ngực dẫn đến tử vong.