Thịnh hành
Cộng đồng
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Đăng nhập
Tạo tài khoản
Đăng nhập qua Facebook
Đăng nhập qua Google
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Xin tự giới thiệu về phòng khám đa khoa phượng đỏ...
ádfasdfasdf
03:53 CH 31/08/2017
Nhờ Admin sửa / xóa bài / khoá topic
Mod ơi xóa hộ em bài này với
http://www.webtretho.com/forum/f519/xin-tu-gioi-thieu-ve-phong-kham-da-khoa-phuong-do-o-tai-hai-phong-2496914/
Phòng khám bên em đang tạm dừng hoạt động rồi ạ
Mod xóa sớm dùm em với nhé
Cảm ơn Mod
06:13 CH 30/08/2017
Nhờ Admin sửa / xóa bài / khoá topic
Nhờ Admin xóa giúp em bài viết này nhé. Cảm Ơn Admin
http://www.webtretho.com/forum/f519/xin-tu-gioi-thieu-ve-phong-kham-da-khoa-phuong-do-o-tai-hai-phong-2496914/
03:13 CH 30/08/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Khô âm đạo
Khô âm đạo hay tình trạng không bài tiết đủ dịch nhờn là sự cố thực sự khó chịu cho cả 2 người. Khi đó người phụ nữ cảm thấy ngứa, khó chịu; quan hệ tình dục giảm khoái cảm, đau, thậm chí không thể thực hiện được. Rất phổ biến và có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hiện nay đã có nhiểu cách chữa trị có hiệu quả.
Nguyên nhân
• Khi phụ nữ chưa đủ hưng phấn: cảm xúc tình dục ở nữ thường đến chậm.
• Tâm trí chưa sẵn sàng: có nhiều lí do, ví dụ đang có vấn đê' căng thẳng thần kinh (buồn, lo, bực bội...)
• Đang dùng một số thuốc có tác dụng làm khô âm đạo, thuốc chống xung huyết và thuốc kháng sinh histamin - dùng loại ma tuý có tên là Marijiuana trước khi quan hệ tình dục vì loại ma tuý này có thể gây mất nước.
• Đang trải qua một số trạnợ thái nội tiết hoặc điêu kiện bất thường làm thay đổi hoạt động của buồng trứng góp phần làm khô âm đạo. Một số bệnh hiếm gặp của buồng trứng như một số u nang buồng trứng, buồng trứng đa nang cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết hormon.
• Đang bị viêm âm đạo: nhiều khi người phụ nữ không tự nhận biết vì có đến hơn 50% viêm âm đạo do nấm candida không thể hiện triệu chứng gì, 70% phụ nữ không biết mình nhiễm vi khuẩn Chlamydia.
Bước vào tuổi mãn kinh: khác nhau tuỳ người nhưng thường ở độ tuổi ngoài 45, sự bài tiết estrogen giảm đi, làm cho âm đạo ít bài tiết dịch nhờn. Khi đó sự bài tiết
• dịch nhờn giảm đi, lớp niêm mạc âm đạo cũng mỏng, kém chun dãn và dễ tổn thương hơn.
Cơ địa:
có thể gặp ở một số phụ nữ, dù không có bệnh thực thể.
Chưa quen với hoàn cảnh mới (buồng cô dầu không kín đáo...) người vợ rơi vào trạng thái ức chế, không hưng phấn.
Bị bệnh tự miễn dịch như hội chứng Sịogren: vừa gây ra những triệu chứng khô mắt và miệng vừa làm giảm độ ẩm ướt ở ầm đạo.
Thụt rửa âm đạo: làm thay đổi cân bằng hoá học ở môi trường âm đạo có thể gầy ra viêm âm đạo, vì thế có cảm giác khô.
Kinh nguyệt rất thưa, 1 năm chỉ khoảng 4-5 lẩn có thể do sự bài tiết hormon không thuận lợi cho sự bài tiết dịch nhờn âm đạo, cẩn gặp thầy thuốc phụ khoa vì sự bài tiết hormon liên quan đến hoạt động của trục dưới đổi - tuyến yên - buồng trứng, nếu không bình thường có thể đó là nguyên nhân gây khô âm đạo.
Về điều trị, còn có thể dùng:
Thuốc bôi trơn (lubricating gel K-Y của hãng JOHNSON-JO- HNSON đang có ở nhiều cửa hàng dược phẩm). Thuốc bôi trơn này tan trong nước làm trơn âm đạo trong nhiều giờ. Có thể bôi vào âm đạo hay bôi cho bạn tình nam. Riêng với loại này đủ để vợ chồng vượt qua khó khăn.
Thuốc làm ẩm ướt âm đạo (Replens, K-Y có tác dụng kéo dài). Tác động đến mô âm đạo và có tác dụng làm giảm khô có thể kéo dài hơn 1 ngày. Loại thuốc này thường có độ pH thấp nên duy trì được môi trường toan của ầm đạo do đó có thể giảm được nhiễm khuẩn,
Nếu thỉnh thoảng bị khô âm đạo khi đang quan hệ tình dục thì có thể do người phụ nữ chưa đạt đến mức hưng phấn cần thiết, do đó không nên vội vã mà cần có giai đoạn chuẩn bị tâm lý và cơ thể. Quan hệ tình dục thường xuyên cũng là cách để môi trường âm đạo không khô.
Chế độ ăn bổ sung:
trong đậu tương có chất isoílavone được coi là estrogen thực vật cho nên cần ăn nhiều sản phẩm làm từ đậu tương có thể giúp giảm khô âm đạo.
Không nên thử các cách chữa khô âm đạo không hợp lý như rửa bằng dung dịch giấm - cho sữa chua hay môi trường có vi khuẩn lactobacilli vào âm đạo - xịt nước hoa - xà phòng - dầu tắm. Trừ dầu có vitamin E có thể làm trơn và giảm ngứa ở âm đạo.
Vì thiếu estrogen là nguyên nhân chính gây khô âm đạo cho nên liệu pháp hormon thế thường đem lại hiệu quả. Thuốc mỡ
CÓ estrogen, tên biệt dược là Colpotrophine đang có ở thị thường thuốc nước ta, bôi 3-4 lần mỗi tuần vào niêm mạc âm đạo. Hoặc bổ sung hormon hàng ngày, 2 loại estrogen phối hợp với progesterone hay estrogen đơn thuần đều có hiệu quả. Các cách nói trên làm tăng estrogen ở âm đạo và do đó giảm triệu chứng khô chừng nào còn dùng thuốc.
05:54 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Đau khi quan hệ tình dục
Đau khi giao hợp: Có thể ngay khi bắt đầu, có thể nguyên phát nghĩa là ngay lần giao hợp đầu, có thể thứ phát nghĩa là sau một số lần giao hợp không đau. Loại đau này là gây nhiều trở ngại cho sự hòa hợp tình dục của đôi bạn tình.
Nguyên nhân thực thể: Nhiễm khuẩn âm đạo - Hẹp âm hộ, âm đạo (do dị dạng, do thiếu hormon...) - Do có sẹo (cắt tầng sinh môn khi đẻ, mổ sa sinh dục...) - Lạc nội mạc tử cung - Khô âm đạo do thiếu estrogen thời kỳ mãn kinh - Di chứng của nhiễm khuẩn vùng tiểu khung...
Nguyên nhân tâm lý: Cũng hay gặp.
Việc chữa trị phụ thuộc vào từng nguyên nhân. Nếu không tìm thấy nguyên nhân thực thể nào thì cần đến liệu pháp tằm lý và những kỹ thuật của tình dục liệu pháp.
Co thắt đau âm đạo: Sự co thắt không chủ ý ở âm đạo, có thể nguyên phát hay thứ phát. Co thắt đau âm đạo không có nghĩa là không còn có khoái cảm đỉnh điểm bằng các cách khác (tự kích dục). Không thể khám phụ khoa vì bệnh nhân đau.
Một số nguyên nhân thực thể có thể điều trị như trầy trợt tại chỗ - viêm âm hộ, âm đạo - viêm teo âm đạo (mãn kinh) - mụn giộp hay eczema âm hộ - nứt nẻ hậu môn do trĩ hay không do trĩ.
Nguyên nhân thường gặp hơn là do tâm lý
, có vấn đề về hình ảnh bản thân hoặc bị ức chế trong quan hệ tình dục do hoàn cảnh không thuận lợi...
Điều trị:
Dùng nong Hegar cỡ nhỏ và tăng dẩn để âm đạo chấp nhận dần dẩn và để bệnh nhân hiểu rõ hơn vê' cơ thể mình. Liệu pháp tâm lý cũng rất quan trọng cho bệnh nhân và cho cả đôi bạn tình.
Đau vùng bụng dưới mãn tính không liên quan đến các kỳ kinh
Đó là kiểu đau bụng dưới lan tới âm hộ và cả vùng thắt lưng, kèm với cảm giác nóng rát, đau ở bàng quang, đái buốt, đái khó, đau trực tràng và cảm giác muốn đại tiện, ngứa âm hộ.
Những triệu chứng này thường do nhiều nguyên nhân khó phát hiện như có tổn thương ở cổ tử cung - tổn thương ở thân tử cung (tử cung gặp sau, u xơ tử cung (xoắn, hoại tử vô khuẩn) - sa sinh dục - viêm phần phụ mãn, viêm cùng đổ hay buồng trứng - lạc nội mạc tử cung - giãn tĩnh mạch tiểu lchung...
Đau không do nguyên nhân phụ khoa
Cũng gây ra đau vùng bụng dưới.
- Bệnh ở cột sống: Đau lưng do tư thế, thoái hóa khớp, thoát
vị đĩa đệm...
- Bệnh đường ruột: Viêm ruột thừa, viêm đại tràng, viêm túi mật, viêm đại tràng sigma...
- Bệnh ở đường tiết niệu: Viêm thận - bể thận, viêm bàng quang...
- Đau do nguyên nhân tâm lý.
Thầy thuốc cần khám toàn diện và cần làm thêm một số thăm dò theo định hướng của bệnh cảnh.
05:49 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Đau vùng bụng dưới ngoài thời kỳ có thai
Những cơn đau cấp vùng bụng dưới: Nếu xảy ra ở phụ nữ vẫn có kinh đều và không kèm theo sốt thì trước tiên cần nghĩ đến chửa ngoài tử cung nhưng cũng có thể là u nang buổng trứng xoắn. Nếu kèm theo sốt, cần nghĩ đến viêm phần phụ nhưng không loại trừ viêm ruột thừa hay viêm đại tràng xích ma (đoạn cuối đại tràng trước trực tràng).
Đau vùng bụng dưới vào giữa kỳ kinh (còn gọi là triệu chứng Mittelschmerz): Có đặc trưng là đau vùng bụng dưới kèm ra nhiều chất xuất tiết âm đạo có màu trắng hay lẫn máu. Đau có tính chất lan tỏa xuống âm hộ, ầm đạo đôi khi ra vùng thắt lưng hay khắp vùng bụng, có thể đau rất cấp tính, kèm buồn nôn hay nôn. Đau thường xảy ra vào thời điểm rụng trứng (phóng noãn) từ ngày thứ 12 đến 16 của chu kỳ kinh, kéo dài từ vài giờ đến 48 giờ.
Khoảng 20% phụ nữ có kiểu đau này, một số chu kỳ kinh nào cũng đau, một số đau kiểu gián đoạn.
Nếu đau kéo dài và nghiêm trọng, cần phân biệt với viêm ruột thừa ở phụ nữ độ tuổi sinh sản.
Đau giữa kỳ kinh không quan trọng và không báo hiệu một bệnh gì, thường không cần điều trị. Thuốc giảm đau có thể cần khi đau kéo dài hay nghiêm trọng. Thuốc tránh thai hormon có thể dùng để ngăn cản rụng trứng để làm mất đau.
Ngoài 3 dấu hiệu chính thường được nói đến của phóng noãn (tăng nhiệt độ cơ bản, niêm dịch cổ tử cung, thay đổi vị trí cổ tử cung) còn có nhiều dấu hiệu khác như:
• Ra máu vào thời điểm phóng noãn: Được cho là do giảm đột ngột estrogen ngay trước khi phóng noãn.
• Âm hộ có thể sưng nề trước khi phóng noãn, nhất là ở bên diễn ra phóng noãn.
• Hạch bạch huyết một bên bẹn (bên sẽ diễn ra phóng noãn) sưng to như hột lạc và đau.
Có nhiều giả thuyết vẽ nguyên nhân gầy đau: Nang trứng phình to trước thời điểm phóng noãn - Thành của buồng trứng vị rách (vỡ)- Vòi trứng co thắt - Lớp cơ nhẵn ở vòi trứng co thắt - Do sự kích thích phúc mạc (vì máu hay dịch thoát ra khi phóng noãn).
05:45 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Biến chứng cần cảnh giác: Hiếm muộn
Viêm tiểu khung có thể gây ra sẹo dính ở các cơ quan trong tiểu khung, vì thế có thể dẫn đến hiếm muộn, chửa ngoài tử cung và đau vùng tiểu khung mạn tính. Ngay cả khi đã điều trị viêm tiểu khung cũng có thể để lại biến chứng vô sinh vĩnh viễn cho khoảng 12% phụ nữ; nếu bị tái nhiễm lần thứ hai thì có đến 1/4 mất khả năng sinh con dù được chữa trị. Tái viêm nhiễm tiểu khung đến lần thứ ba thì có đến quá nửa bệnh nhân không bao giờ có thể có thai. Và dù có thai thì nguy cơ bị chửa ngoài tử cung cũng rất cao vì vòi trứng có sẹo làm cho trứng đã thụ tinh khó di chuyển vào tử cung để làm tổ.
05:44 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Đau vùng tiểu khung: Bệnh không thể coi thường vì có thể dẫn đến hiếm muộn
Tiểu khung là gì?
Khung chậu (hay xương chậu) gồm đại khung và tiểu khung. Đại khung chỉ có tác dụng nâng đỡ tử cung khi có thai, tiểu khung là phẩn dưới của khung chậu, có chứa các bộ phận thuộc hệ niệu- sinh dục như: bàng quang, tử cung, buồng trứng, vòi trứng... Đau vùng tiểu khung thường do nhiễm khuẩn một hoặc nhiều các bộ phận kể trên do đó có ảnh hưởng sinh sản.
Yếu tố nguy cơ gây viêm tiểu khung
• Có quan hệ tình dục ngay từ tuổi vị thành niên.
• Có nhiều bạn tình: Phụ nữ có quan hệ tình dục với hơn một bạn tình nam thì khả năng bị viêm tiểu khung có thể tăng lên đến 100%.
• Có tiền sử bị viêm tiểu khung.
• Có tiền sử bị bệnh lây truyển qua đường tình dục. Hầu hết các trường hợp viêm tiểu khung do lậu cẩu khuẩn, vi khuẩn chlamydia và vi khuẩn kị khí gây ra. Ở những phụ nữ có quan hệ tình dục với hơn một bạn tình, khả năng viêm tiểu khung có thể tăng lên gấp 5 lần.
• Vi khuẩn lậu dễ xâm nhập và gây viêm tiểu khung cho phụ nữ qua quan hệ tình dục. Có đến 70% phụ nữ bị viêm tiểu khung do lậu ngay trong tuần lễ đầu tiên sau hành kinh vì quan hệ tình dục làm cho vi khuẩn lậu bám đuôi tinh trùng, dễ dàng lan lên trên gây nhiễm khuẩn cho tử cung, vòi trứng và buồng trứng.
• Có đặt dụng cụ tử cung: Nguy cơ bị viêm tiểu khung cũng tăng lên nhiều lần vì sợi dây gắn với dụng cụ tử cung nằm lơ lửng trong âm đạo (như TCU) là đường để vi khuẩn xâm nhập và đi lên.
• Viên thuốc tránh thai có thể dẫn đến lộn cổ tử cung, một tổn thương dễ làm cho vi khuẩn phát triển nhưng lại làm cho niêm dịch cổ tử cung trở nên dính hơn nên có thể bảo vệ người phụ nữ không bị viêm tiểu khung do tinh dịch khó đưa được vi khuẩn xâm nhập tử cung.
Nguyên nhân đau vùng tiểu khung ở phụ nữ
Thường gặp nhất bao gồm:
Đau vùng âm hộ:
Kiểu đau này có thể đến rồi qua đi nhưng đau có tính chất bỏng rát hay nhức nhối, thường khu trú ngay tại hay quanh âm hộ và không phải luôn tại cùng một vị trí.
Lạc nội mạc tử cung
: Đau nặng hơn khi hành kinh hoặc khi quan hệ tình dục. Cũng có thể gây ra máu bất thường và có thể dẫn đến hiếm muộn.
u xơ tử cung:
Gây đau nhiều hơn trước và khi có kinh, khi quan hệ tình dục và cũng cảm thấy đau cả vùng thắt lưng.
Các dây chằng ở tiểu khung yếu, giãn: Đôi khi xảy ra sau sinh đẻ, gây đau vùng tiểu khung và vùng thắt lưng.
Chẩn đoán và những triệu chứng thường gặp
Do có nhiều nguyên nhân gây ra đau vùng tiểu khung cho nên thầy thuốc phải chẩn đoán bệnh bằng phương pháp loại trừ. Có thể cần làm một số thăm dò (test) như siêu âm, CT (chụp cắt lớp vi tính), MRI (cộng hưởng từ)... nhưng những thăm dò này không thể phát hiện được lạc nội mạc tử cung hay dính các cơ quan vùng tiểu khung cho nên có thể phải soi ổ bụng.
Dấu hiệu của viêm tiểu khung là đau ở vùng bụng dưới - Ra khí hư như mủ - Sốt - Đau khi di động tử cung, có khối nề cạnh tử cung, ấn đau.
Nếu có những triệu chứng này, cẩn đi gặp thầy thuốc, nhất là nếu nó xảy ra trong tuần lễ đầu tiên sau khi sạch kinh.
Ngoài ra, có thể có gai rét, ra kinh không đều hay ra máu giữa kỳ, đau bụng kinh nhiều hơn, mất kinh, đau vào thời điểm rụng trứng nhiều hơn, đau khi quan hệ tình dục, đau vùng thắt lưng, mỏi mệt, ăn kém ngon, buổn nôn, có thể kèm nôn hoặc không, đái vặt nhiều lẩn, đái buốt, dễ đau khi đụng chạm vào vùng tiểu khung.
Cũng cần lưu ý rằng có thể không có triệu chứng gì và nhiểu trường hợp chửa ngoài tử cung hay hiếm muộn không bộc lộ bệnh cảnh viêm tiểu khung rõ rệt và thường do nhiễm khuẩn chlamydia.
05:43 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Đau vú: Phiền muộn của nhiều phụ nữ
Đau vú là một trạng thái khó chịu thường gặp ở phụ nữ. Khoảng 70% phụ nữ bị đau vú ở một thời điểm nào đó trong đời. Phụ nữ trẻ và tiền mãn kinh thường bị đau vú hơn mặc dầu đến tuổi sau mãn kinh cũng vẫn có thể bị đau vú. Khoảng 1/10 phụ nữ bị đau vú từ nhẹ đến nặng hơn 5 ngày trong một tháng. Một số trường hợp phụ bị đau vú nặng suốt cả chu kỳ kinh, rất ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường và cả đời sống tình dục.
Đau vú đơn thuần, không kèm triệu chứng gì khác hiếm khi báo hiệu ung thư vú. Tuy nhiên, bị đau vú không rõ nguyên nhân gây khó chịu hay lo lắng nhiều thì cũng nên gặp thầy thuốc để được kiểm tra.
Các dấu hiệu và triệu chứng:
Đau vú có thể diễn ra rõ rệt theo chu kỳ kinh; không có chu kỳ nghĩa là đau thường xuyên hay lúc đau lúc không và không liên quan đến chu kỳ kinh; và ngoài khu vực vú như đau cơ thành ngực nhưng vẫn cảm thấy có nguồn gốc từ vú. Những đặc điểm của đau vú có chu kỳ khác với đau vú không có chu kỳ:
• Đau vú có chu kỳ:
Thường ở cả bên vú và ở toàn bộ vú, nhất là phần trên và phía ngoài của vú, lan ra nách. Có thể cảm thấy đau rất nhạy cảm, sưng hay có đám cứng ở VÚ đi kèm với đau. Phụ nữ thường mô tả cảm giác đau của mình là âm ỉ, nặng nề, nhiều nhất vào 1-2 tuần trước khi ra kinh, sau đó dễ chịu dẩn. Đau vú theo chu kỳ thường gặp nhất, có tỷ lệ khoảng 2/3 số trường hợp đau vú và hay gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30-40.
• Đau vú không có chu kỳ:
Thường chỉ đau một bên vú và thường khu trú ở một vùng nhất định. Một số khác bị đau vú có tính chất lan toả và lan ra nách. Kiểu đau không theo chu kỳ này thường được mô tả dữ dội hơn, có tính chất nhức nhối, buốt nhói và thường gặp ở độ tuổi 40-50 hay sau mãn kinh.
Nguyên nhân:
Không thể xác định được nguyên nhân đích thực trong phần lớn trường hợp mặc dầu đã có nhiều giả thuyết.
• Đau vú theo chu kỳ
có vai trò của hormon dựa trên nhận xét sự giảm đau hay biến mất liên quan đến thai nghén hay mãn kinh; tuy nhiên hormon bất thường đến mức độ thì gây ra đau vú vẫn không thể xác định được.
• Đau vú không có chu kỳ
không mấy khi kết hợp với một bệnh chính rõ rệt mà vì lí do giải phẫu nhiểu hơn là lí do hormon, có thể do nang vú, chấn thương vú hay các yếu tố khác khu trú tại vú gây ra. Cũng có khi đau vú có nguồn gốc bên ngoài vú như ở thành ngực, cơ, khớp hay tim và lan đến vú.
• Một số thuốc cũng có thể góp phần gây đau vú,
như thuốc hormon dùng trong điều trị hiếm muộn và thuốc uống tránh thai. Vú cương đau có thể là do tác dụng của hormon liệu pháp với estrogen và progesterone, vì thế một số phụ nữ vẫn bị đau vú cả khi đã mãn kinh.
•
Những phụ nữ có cặp vú đồ sộ
có thể bị đau vú không theo chu kỳ chủ yếu do kích cỡ vú quá khổ, thường kết hợp với đau ở cổ, vai và lưng. Phẫu thuật giảm kích thước vú cũng là nguyên nhân gây đau vú vì sau khi vết mổ đã lành sẹo mà cảm giác đau vẫn tồn tại.
Khi nào cần gặp thầy thuốc?
Khi đau vú kéo dài hay đau vú tái diễn. Nếu bị đau vú không có chu kỳ và khu trú ở một vùng nhất định của vú thì cũng cần được thầy thuốc khám. Khoảng 2-7% phụ nữ bị đau vú thể này có ung thư vú.
Tầm soát và chẩn đoán đau vú
: Thầy thuốc trước tiên tìm hiểu về lịch sử bệnh - vị trí đau - những yếu tố có liên quan đến chu kỳ kinh... giúp giải thích nguyên nhân đau vú - Hỏi kỹ về thời gian đã bị đau vú - cường độ đau - đau 1 bên hay 2 bên - đã chụp vú lần cuối bao giờ - có tiết dịch ở núm vú - đã dùng thuốc gì - Đánh giá nguy cơ ung thư vú dựa trên các yếu tố như tuổi tác, lịch sử bệnh của gia đình, các tổn thương tiển ung thư nếu có - khám thực thể vú, các hạch bạch huyết vùng cổ và vùng nách - Kiểm tra tim phổi, thành ngực, bụng để loại trừ nguyên nhân đau từ ngoài vú và một sổ bệnh khác - Nếu bệnh nhân đã quá 35 tuổi thì nên chụp vú - Nếu có cục cứng hay vùng dấy rắn ở mô vú thì nên làm siêu âm và sinh thiết vú, kể cả với phụ nữ trẻ dưới 30 tuổi khi có nghi ngờ.
Điều trị:
Rất ít phụ nữ bị đau vú cần một liệu pháp gì đặc biệt nếu không phát hiện bằng chứng nào về ung thư vú; rất nhiều khi đau vú tự qua đi sau vài tháng, có khi chỉ cần mang áo ngực hợp kích cỡ và dùng thuốc giảm đau thông thường.
• đầu tiên cần chữa bệnh chính hay những yếu tố gây đau vú (các thuốc đang dùng).
• Tiếp theo là biện pháp không dùng thuốc: thay đổi chế độ ăn uống (giảm ăn mỡ, hạn chế hay bỏ hẳn dùng cà phê có thể cải thiện triệu chứng đau theo kinh nghiệm của một số người), chườm lạnh, uống thuốc bổ sung như vitamin E; mang áo nâng vú khi vận động và cả khi ngủ nhất là khi vú nhạy cảm, dễ đau.
• Thuốc giảm đau không có nhân steroid có thể dùng cho kiểu đau không có chu kỳ hay thuốc bôi tại chỗ: Ace- taminophen (Tylenol)... Với kiểu đau có chu kỳ nặng, dùng loại thuốc có tác dụng mạnh hơn như Danazol, bromocryptine và tamoxifen.
• Dùng viên thuốc tránh thai hay điều chỉnh liều lượng thuốc tránh thai đang dùng.
• Bôi kem Progestogel cho đau vú do mất cân bằng giữa estrogen và progesterone.
• Nếu đang dùng liệu pháp hormon ở tuổi mãn kinh thì ngừng thuốc hay giảm liều.
Cuối cùng, cẩn ghi lại những ngày đau vú và những triệu chứng khác để phân biệt kiểu đau vú và giúp thầy thuốc có cách chữa hiệu quả.
Những băn khoăn về bệnh ở vú
Mọi phụ nữ, kể cả khi còn trẻ, đều nên quan tâm đến những biến đổi ở vú. Bệnh lý vú ở phụ nữ cũng đa dạng như bệnh lý ở cơ quan sinh sản, những dấu hiệu như có cục cứng ở vú, vú tiết ra dịch không bình thường hay những biến đổi trên bể mặt da vừa có thể báo hiệu một vấn đề nghiêm trọng nhưng cũng có thể không có gì đáng lo mà chỉ liên quan đến những biến đổi sinh lý thời kỳ kinh nguyệt và thai nghén. Phụ nữ chưa sinh đẻ cần biết ý nghĩa của một số biến đổi ở vú như sau:
Khi vú to nhỏ không đều hoặc núm vú tụt hoặc có cục nhỏ dính với mặt da, có thể kèm theo nổi hạch ở nách, trên xương đòn ĩ Chỉ cần có một trong các dấu hiệu trên đã cần đi khám ngay nhằm phát hiệu sớm ung thư vú. Phụ nữ cần được hướng dẫn để hiểu biết vể mô vú và có thói quen quan sát và sờ nắn vú của mình ngay từ tuổi dậy thì.
Khi vú mới bị cương và đau? Có thể là dấu hiệu sớm của thai nghén, cần làm xét nghiệm thai, nếu dương tính, gặp bác sĩ để được hướng dẫn chăm sóc thai.
Khi vú cương và đau đồng thời với chu kỳ kinh?
Có thể do những thay đổi về hormon. Nếu thấy khó chịu, khó ngủ, tính tình thay đổi thì có thể là hội chứng tiền kinh nguyệt. Có thể dùng những viên thuốc thông thường để chống cương đau vú và tránh uống cà phê. Ibuproíen hoặc aspirin có tác dụng tốt cho những kỳ kinh đau.
Cảm thấy có cục cứng không đau ở sâu trong vú, có khả năng dính vào xương sườn, có thể là ung thứ vú. Cần gặp ngay bác sĩ.
Khi cả 2 bên vú đều cương đau hoặc thấy chậm kinh hoặc chu kỳ kinh không đều?
Có thể liên quan tới hormon hoặc có thai, cũng có thể cả 2 vú đều có nang xơ. Để phân biệt, cẩn gặp ngay bác sĩ.
Khi có tổn thương vú như trầy loét mà không lành? Có thể là vấn đề nghiêm trọng, cẩn được bác sĩ khám càng sớm càng tốt.
Phần lớn những cục cứng ở vú là lành tính nhưng mọi phụ nữ ngay từ trẻ đều cần được hướng dẫn để biết tự kiểm tra vú: Đứng trước gương, hai tay để thõng hai bên sườn, rồi giơ cao 2 tay, quan sát xem có thay đổi gì về hình thái, kích thước của vú hay không. Đặt hai tay lên hông, ưỡn ngực và giơ cao hai tay lên quá đầu, làm như vậy để lộ rõ những gì bất thường ở giữa hai vú. Quan sát xem có gì nhăn nhúm, sưng, lõm và thay đổi ở bề mặt da hay không. Bóp nặn nhẹ hai núm vú bằng ngón cái và ngón trỏ xem có chất gì tiết ra không, màu trong hay lẫn máu. Giơ cao một tay, dùng tay phải để khám vú trái và tay trái để khám vú phải xem có cục cứng đau, dính...
Những tổn thương lành tính ở vú
Khi sờ thấy khối cứng ở vú, đừng vội hốt hoảng, vì đó có thể chỉ là một dạng biến đổi hoàn toàn lành tính. Trong thực tế, những biến đổi lành tính ở vú (u tuyến xơ, u mỡ, đau vú...) thường gặp hơn tổn thương ung thư.
Tổn thương lành tính thường thấy như:
• Do vi khuẩn, do tắc sữa, do bệnh quai bị, do lao, giang mai, nhiễm nấm.
• Bệnh bẩm sinh: núm vú tụt, nhiều núm vú.
• Phát triển sai lạc hay kém phát triển: nổi cục ở vú theo chu kỳ; nang vú; u xơ tuyến vú lành tính.
• Giãn ống dẫn sữa hoặc viêm quanh ống dẫn sữa: tiết dịch ở đầu vú; lỗ rò ở vú...
• Bệnh xơ nang: nang; quá sản biểu mô; dị sản biểu mô (epithelial metaplasia); u tuyến (adenosis).
• Liên quan đến thai nghén: ra sữa; áp-xe sau đẻ.
u xơ tuyến vú (íìbroadenoma)
: Là biến đổi lành tính ở vú, có cấu trúc xơ và mô tuyến. Loại tổn thương này không ung thư hoá. Biến đổi xơ hoá mô tuyến là sự phát triển quá mạnh mô các tiểu thuỳ vú, gây đau, tạo thành đám cứng và thường phải làm sinh thiết để phân biệt với ung thư.
Viêm vú (sau đẻ):
Trong giai đoạn đầu, viêm vú có thể chủ yếu do tắc tia sữa ở một phần hay toàn bộ vú, do trẻ mút yếu. Khi gặp hiện tượng này, cẩn sửa lại cách cho con bú, cho trẻ áp sát hơn với vú để sữa mẹ ra được nhiều hơn ở vùng bị tắc và không cần kiêng cho con bú. Khi bị viêm vú trong thời gian này, có thể dùng kháng sinh nếu tình trạng không được cải thiện trong vòng 12 - 24 giờ hoặc nếu tình trạng ban đầu rất cấp tính.
Trong một số ít trường hợp viêm vú có thể phát triển thành áp-xe vú. Lúc này, cách điều trị tốt nhất là trích dẫn lưu (nghĩa là rạch một đường nhỏ trên ổ áp-xe để mủ thoát ra). Khi bị áp xe vú, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con bú nếu không quá đau, hoặc cũng có thể lấy sữa ra bằng cách vắt. Nên cho con bú trở lại càng sớm càng tốt. Loại kháng sinh tốt nhất là Flucloxacillin, Erythromycin hoặc Cephalosporin vì vi khuẩn Staphylococcus aureus (tụ cẩu khuẩn vàng) nhạy cảm với những kháng sinh này. Làm cho sữa ra nhiều cũng đủ để chữa khỏi bệnh.
Vú quá to:
Do quá nhạy cảm với hormon giới nữ, có thể xảy ra với một số phụ nữ sau đẻ, nhưng cũng có thể gặp ở con gái còn trinh. Sửa lại vú quá to là một chỉ định y học khi bệnh nhân thực sự có những khó chịu như đau lưng, đau cổ, có vấn đề ở ngoài da, khó thở. Mô mỡ, mô tuyến và da sẽ được lấy bớt đi và khi thực hiện can thiệp này thầy thuốc luôn phải chú ý duy trì núm vú và bảo đảm sự cân đối của quầng vú với vú vì lí do thẩm mỹ. Sau khi tạo hình, có thể có các tác dụng phụ như giảm hay mất cảm giác ở khu vực vú, nếu lấy đi nhiều mô tuyến thì sau này không thể nuôi con bằng sữa mẹ.
Với những khó chịu mà người mẹ phải chịu đựng vì vú phát triển quá to (đau lưng, cổ và khó thở) thì những mất mát do việc tạo hình thẩm mỹ giống như cái giá phải trả. Một số quan niệm cho rằng vú nhỏ kém phần hấp dẫn cho nên có người đã yêu cẩu được phẫu thuật để làm cho vú to ra.
Xơ nang vú (íìbrocystic change):
Do trội estrogen (tức tỷ lệ giữa estrogen và progesterone cao so với nhóm phụ nữ làm đối chứng), điều trị bằng progesterone bôi ngoài da và kết quả là đa số người bệnh đã khỏi và vú trở lại bình thường sau 3 - 4 tháng. Trội estrogen là nguyên nhân gây bệnh u xơ nang và bổ sung progesterone tự nhiên bôi tại chỗ là phương pháp điều trị có hiệu quả, kết hợp với vitamin E 600 đơn vị quốc tế lúc đi ngủ, magiê (300mg mỗi ngày) và vitamin B6 (50mg mỗi ngày). Khi các nang xơ không còn nữa, có thể giảm liều lượng progesterone tới mức nhỏ nhất nhưng vẫn có hiệu quả và điều trị như thế nếu cần thiết trong suốt giai đoạn mãn kinh.
Mọi phụ nữ, kể cả khi còn trẻ, đều nên quan tâm đến những biến đổi ở vú. Bệnh lý vú ở phụ nữ cũng đa dạng như bệnh lý ở cơ quan sinh sản. Những dấu hiệu như có cục cứng ở vú, vú tiết ra dịch không bình thường hay những biến đổi trên bể mặt da có thể chỉ liên quan đến những biến đổi sinh lý thời kỳ kinh nguyệt và thai nghén.
05:40 CH 12/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Ngứa vùng sinh dục: Có thể do viêm âm đạo
Ngứa thường là triệu chứng của một bệnh chính nào đó chứ không phải là nguyên phát. Ngứa âm hộ có thể do sự ẩm ướt gây ra (mồ hôi, nước tiểu, dịch xuất tiết âm đạo) hoặc do nhiễm khuẩn âm đạo, viêm âm hộ, nhiễm HPV (virus gây u sùi), són phân, chế độ ăn có nhiều chất kích thích (cà phê, cà chua, lạc). Điều trị bằng kháng sinh có thể dẫn đến nhiễm khuẩn nấm và gây ngứa, kích thích vùng âm hộ. Một số bệnh cũng có thể tăng khả năng bị nhiễm nấm, ví dụ như bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) hay nhiễm HIV. Tình trạng viêm mãn tính vùng ầm hộ cũng tạo điều kiện thuận lợi để có những biến đổi dẫn đến ác tính ở mô
Ngoài ra còn có nhiều tình huống khác gây ngứa vùng sinh dục:
Có giun kim: Khi người nhiễm giun kim ngủ, giun cái di chuyển đến hậu môn và đẻ trứng quanh hậu môn với số lượng lớn (10-15 ngàn trứng) và gây ngứa.
Bệnh vẩy nến và các bệnh ngoài da khác: Vẩy nến là một dạng viêm da mãn tính, chưa rõ nguyên nhân nhưng có thể là bệnh gien di truyền.
Dị ứng: Với những chất liệu tiếp xúc (đồ lót, băng vệ sinh...) hay các hóa chất có trong xà bông, thuốc khử mùi, thuốc tránh thai.
Tóm lại, khi phụ nữ bị ngứa vùng cơ quan sinh dục, thầy thuốc cần khám để tìm những tác nhân có thể gây ra khó chịu này để có liệu pháp thích hợp.
05:34 CH 12/06/2017
Nhờ Admin sửa / xóa bài / khoá topic
Admin cho mình hỏi, mình muốn sửa lại bài viết số 1 để mọi người có thể đến được bài viết nhanh chóng hơn. Nhưng không biết là nick mình hay là do mình vi phạm mà không thể sửa được bài.
mong admin giúp đỡ
http://www.webtretho.com/forum/f77/nhung-dau-hieu-khac-thuong-bat-buoc-phai-di-kham-phu-khoa-2498401/
05:14 CH 10/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Hoàn toàn có thể giữ cho cơ quan sinh dục nữ sạch sẽ?
Có tác giả mô tả chức năng cơ bản của âm đạo là tạo ra con đường để dẫn tới tử cung và phần còn lại của cơ quan sinh dục trong (vòi trứng, buồng trứng), nếu như thế thì mới chỉ là 50% của chức năng, một nửa còn lại không kém quan trọng là để đảm bảo đời sống tình dục. Chính vì điều này mà nhiều phụ nữ muốn giữ cho bộ phận cơ thể này sạch sẽ và hấp dẫn.
Cũng nên nhắc lại là trong cuộc khảo sát được cho là lớn nhất kể từ 1994 về hành vi tình dục ở Mỹ (do một nhóm các nhà nghiên cứu của trung tâm phát triển sức khỏe tình dục của trường đại học Indiana tiến hành, nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình dục ở Mỹ khi bước vào thế kỷ 21) đã cho thấy hành vi tình dục hiện đại rất đa dạng: Với nam, 77% cho biết đã tiếp nhận và 75% cho biết đã có quan hệ tình dục theo đường miệng với bạn tình nữ. Còn nữ, 76% cho biết đã tiếp nhận và 73% đã có quan hệ tình dục theo đường miệng với bạn tình nam (những kết quả bước đầu của khảo sát đã được giới thiệu trong 9 bài báo khoa học công bố trên số đặc biệt của tạp chí The Ịournal of Sexual Medicine, 1 tháng 10/201 o ).
Điều quan trọng cần biết trước tiên
: Mọi phụ nữ cần biết sự xuất tiết ở âm đạo là tự nhiên vì ở cổ tử cung và âm đạo có những tuyến luôn tiết ra một lượng nhỏ dịch hàng ngày và mang theo những tế bào phủ bề mặt âm đạo ra ngoài. Chính sự xuất tiết bình thường này giúp làm sạch âm đạo, giữ cho âm đạo trơn ướt và không bị nhiễm khuẩn. Sự xuất tiết bình thường ở âm đạo thường hoàn toàn không có mùi, có màu trong hoặc trắng sữa khi khô để lại vết trắng trên đồ lót.
Cụm từ “khí hư” mà nhiều phụ nữ quen dùng không phải để chỉ sự xuất tiết bình thường mà chủ yếu là hậu quả của nhiễm khuẩn.
Vì sao có sự thay đổi ở chất xuất tiết âm đạo?
Có nhiều điều kiện gây ra sự thay đổi ở chất xuất tiết âm đạo về lượng cũng như về độ dai dính: Trong chu kỳ kinh - Khi có những cảm xúc căng thẳng (stress) - Đang có thai - Dùng thuốc, kể cả viên thuốc tránh thai - Hưng phấn tình dục - Cho con bú - Rụng trứng - Chế độ ăn.
Nhiều hoàn cảnh khác cũng có thể làm thay đổi cần bằng kiểm toan (pH) tự nhiên của môi trường âm đạo và dẫn đến nhiễm khuẩn âm đạo, ví dụ như thụt rửa hay rửa sâu vào âm đạo, dùng sản phẩm vệ sinh dành cho nữ không tốt, không hợp lý, dùng xà bông có mùi thơm hay để khử mùi, dùng kháng sinh, có bệnh tiểu đường hay có bệnh nhiễm khuẩn khác.
Chu kỳ kinh nguyệt có ảnh hưởng đến xuất tiết âm đạo như thế nào?
Rất nhiều và trong suốt chu kỳ kinh. Nhiều phụ nữ nhận thấy dễ bị nhiễm khuẩn âm đạo vài ngày trước hay trong khi đang hành kinh, nguyên nhân là do cân bằng kiểm-toan của môi trường âm đạo thay đổi, nồng độ toan trở nên thấp nhất vào những ngày này. Vào giữa 2 kỳ kinh, lượng xuất tiết âm đạo tăng (độ trơn ướt tăng) và chất xuất tiết trong hơn cũng là bình thường mà còn báo hiệu có rụng trứng.
Một số dấu hiệu có thể cho thấy sự xuất tiết âm đạo không bình thường và có nhiễm khuẩn
, bao gồm: Có sự thay đổi về màu sắc, độ dính hay số lượng - Xuất tiết âm đạo tăng thường xuyên - Ngứa, khó chịu hay có vết ban đỏ ở âm đạo - Cảm giác nóng rát ở âm đạo hay khi đi tiểu - Ra máu ngoài thời kỳ hành kinh - Chất xuất tiết âm đạo đặc giống như bã đậu hay pho mai
- Chất xuất tiết tụ thành đám có màu vàng, xanh hay hơi đen kèm có mùi hôi.
Nếu có xuất tiết âm đạo kèm với bất cứ dấu hiệu nào kể trên cần gặp thấy thuốc để được chẩn đoán và điều trị. Xuất tiết âm đạo không bình thường là thường gặp và phụ nữ nào cũng có thể trải qua ít nhất một lần trong đời.
Phòng ngừa xuất tiết âm đạo không bình thường và nhiễm khuẩn âm đạo như thế nào?
(Xem phần dưới: Làm gì để có hệ vi sinh âm đạo hoàn hảo hay một số khuyến cáo về vệ sinh phụ nữ).
Nhiều nam giới vẫn cho rằng bạn tình nữ có sức quyến rũ từ những nét duyên rất nhỏ, có thể là nụ cười, khóe mắt... và tất nhiên mùi cơ thể nói chung hay cảm nhận về sự sạch sẽ cũng rất hấp dẫn và để lại ấn tượng khi mà ngày nay hành vi tình dục rất đa dạng.
05:07 CH 10/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Xuất tiết âm đạo
Dịch xuất tiết có thể thay đổi về đậm độ (sệt hay loãng), màu sắc (trong, đục), mùi (không mùi hay hôi). Có một ít dịch âm đạo là chuyện bình thường, nhất là ở độ tuổi sinh sản. Các tuyến ở cổ tử cung tiết ra niêm dịch trong suốt nhưng có thể chuyển thành trắng hay vàng khi ra ngoài không khí. Đó là sự thay đổi bình thường.
Niêm dịch cổ tử cung thay đổi trong suốt chu kỳ kinh, phụ thuộc vào nổng độ estrogen lưu hành trong máu. Dịch tiết âm đạo bỗng nhiên thay đổi về màu sắc, mùi, hay đậm độ, tăng hay giảm về lượng xuất tiết có thể có vấn đề nào đó, ví dụ nhiễm khuẩn.
Dịch tiết âm đạo có thể thay đổi do
: Trong cuộc sống có stress (căng thẳng, đau buồn, lo lắng...) - Thời kỳ rụng trứng - Có hưng phấn tình dục.
Những bệnh lý gây thay đổi dịch tiết âm đạo bao gổm: Loạn khuẩn âm đạo - ung thư cổ tử cung - bệnh viêm âm đạo do chlamydia, do trùng doi, do nấm - quên tampon (một loại gạc cuộn dùng trong hành kinh) hay có dị vật trong âm đạo - các bệnh lây truyẽn qua đường tình dục khác.
Tự chăm sóc
: Giữ cho khu vực sinh dục khô ráo - Tránh thụt rửa sâu vào âm đạo vì làm mất cân bằng hệ vi sinh của âm đạo - Chữa viêm âm đạo theo nguyên nhân - Xây dựng cuộc sống không có stress - dùng bao cao su khi quan hệ tình dục - kiểm soát đường huyết nếu bị bệnh tiểu đường.
Gọi là bệnh phụ khoa thông thường khi có nhiễm khuẩn ở hệ sinh sản nữ, kể từ viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung cho đến tử cung và 2 phần phụ (gồm vòi trứng và buồng trứng). Khi tử cung và 2 phần phụ nhiễm khuẩn nặng còn gọi là bệnh nhiễm khuẩn vùng tiểu khung. Tuỳ thuộc vào từng bộ phận
bị bệnh và tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có các dấu hiệu và triệu chứng khác nhau nhưng khi có nhiễm khuẩn ở cơ quan sinh sản thường có bệnh cảnh: Sốt, gai rét - Đau vùng hố chậu (bụng dưới) - Ngứa - Xuất tiết âm đạo.
Sự tiết dịch âm đạo là một tín hiệu rất quan trọng để biết mức độ lành mạnh của âm đạo, giữ cho âm đạo không bị ẩm ướt, làm sạch và tự bảo vệ để không bị nhiễm các vi khuẩn gầy bệnh. Dịch tiết âm đạo bình thường có màu trong suốt đến trắng sữa và gần như không mùi. Sự thay đổi chút ít trong chu kỳ là hoàn toàn bình thường. Cả khi sự tiết dịch âm đạo nhiều lên cũng không là nguyên nhân để lo lắng, ví dụ khi có kích thích tình dục, khi có thai và dùng thuốc ngừa thai. Tất nhiên khi sự tiết dịch có thay đổi rõ rệt về màu sắc, tính chất hoặc có mùi thì đó có thể là dấu hiệu bệnh lý. Lúc này sự tiết dịch gọi là khí hư (còn gọi là huyết trắng). Biết nhận xét sự xuất tiết âm đạo không bình thường là biết khi nào hệ vi sinh âm đạo bị mất cân bằng.
Xuất tiết âm đạo nhiều do những nguyên nhân nào?
Có thể gặp trong nhiều tình huống:
• Khi mang thai: Sự tràn ngập hormon trong cơ thể làm tăng niêm dịch cổ tử cung, cơ thể giữ nước, tình trạng máu bị pha loãng, mô âm đạo dễ nhiễm khuẩn hơn so với khi không mang thai. Tăng xuất tiết âm đạo khi có thai nhưng dịch bình thường về màu sắc và tính chất, đó chỉ là một phản ứng của sự thay đổi hormon trong cơ thể.
• Dùng viên thuốc tránh thai: Người ta có thể cho rằng những phụ nữ dùng viên thuốc tránh thai có quan hệ tình dục thường xuyên hơn nên dễ phơi nhiễm hơn với nhiễm khuẩn nhưng cũng có thể do các viên thuốc tránh thai ngăn cản sự bài tiết niêm dịch ảm đạo do hormon gầy ra. Như vậy, viên thuốc tránh thai đã làm mất tác dụng của hormon cơ thể.
• Thiếu máu, suy nhược cơ thể cũng gây xuất tiết âm đạo nhiều và lỏng như nước.
• Xuất tiết nhiều vào thời điểm cực khoái, hiệu quả của cảm xúc tình dục, do tuyến Skene (được coi là tuyến tiền liệt của nữ) ở âm hộ tiết ra và chính dịch xuất tiết này cũng tham gia vào việc làm trơn ướt âm đạo.
• Thời kỳ rụng trứng giữa chu kỳ kinh thường tăng xuất tiết âm đạo.
Chỉ những trường hợp sau mới do nguyên nhân bệnh lý (thường gọi là khí hư hay huyết trắng)
• Chất xuất tiết âm đạo có màu trắng như bột và ngứa: Có thể bị viêm âm đạo do nấm, hay phối hợp với trùng doi. Bình thường trong môi trường âm đạo vẫn có vi khuẩn lành tính tạo ra độ toan nhẹ cho âm đạo để khống chế sự phát triển của nấm candida albicans. Bất cư nguyên nhân gì tiêu diệt vi khuẩn âm đạo tạo ra độ toan đểu làm cho nấm phát triển, ví dụ dùng thuốc kháng sinh dài hạn, thường xuyên thụt rửa âm đạo, xịt nước hoa...
Chất xuất tiết âm đạo có màu xanh hơi vàng và có mùi hôi: Nếu kèm đau bụng dưới thì cần đi khám ngay vì có thể do nhiễm khuẩn cấp ở tử cung, ở 2 vòi trứng và các mô xung quanh (nên gọi là viêm tiểu khung). Bệnh lý này có thể không có nguyên nhân rõ ràng nhưng thường lan truyền từ âm đạo, từ quan hệ tình dục, đôi khi từ dụng cụ tử cung hoặc sau nạo thai, sảy thai. Triệu chứng thường gặp nhất là xuất tiết âm đạo có màu sắc bất thường, mùi hôi (có khi như mủ) - đau vùng bụng dưới - sốt (không thường xuyên).
Ngoài ra, có thể có: gai rét - ra kinh không đều hay ra máu giữa kỳ - đau bụng kinh nhiều hơn - mất kinh - đau vào thời điểm rụng trứng nhiều hơn - đau khi quan hệ tình dục - ra máu sau quan hệ tình dục - đau vùng thắt lưng - mỏi mệt - ăn kém ngon - buồn nôn, có thể kèm nôn hoặc không - đái vặt nhiều lần - đái buốt - dễ đau khi đụng chạm vào vùng tiểu khung.
Xuất tiết âm đạo nhiều, hôi, kèm theo ngứa, rát: Có thể bị viêm âm đạo do trùng doi trichomonas.Khi mất cân bằng hệ vi sinh: Tức là bị loạn khuẩn âm đạo, nếu lại thêm cả nhiễm khuẩn sẽ là viêm âm đạo do loạn khuẩn. Biểu hiện của rối loạn này là các khó chịu như ngứa, đau rát hay mùi hôi.
• Chất xuất tiết đỏ hay có màu nâu hoặc đôi khi có ra máu giữa kỳ: Cần đi khám để loại trừ ung thư cổ tử cung. Bệnh nguy hiểm này thường không có những dấu hiệu hay triệu chứng sớm, vì thế điểu quan trọng là cần xét nghiệm tế bào âm đạo - cổ tử cung ít nhất mỗi năm 1 lần cho phụ nữ từ độ tuổi 40 trở lên, người có yếu tố nguy cơ còn cần làm sớm hơn (gia đình có người đã từng bị ung thư, quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình bị viêm nhiễm âm đạo do HPV loại virus gây viêm âm đạo và dễ làm phát triển tổn thương ung thư cổ tử cung). Khi đã xuẫt hiện các dẫu hiệu thì có thế bệnh đã tiến triến.
Các dấu hiệu và triệu chứng: ra khí hư (huyết trắng) bất thường (không phải vào ngày có kinh). Ra máu âm đạo ít, ngoài kỳ kinh. Đau và ra máu khi quan hệ tình dục. Bệnh cảnh nói trên chưa hẳn đã là do ung thư nhưng cần gặp thầy thuốc để xác định. Hiện nay, ở nước ta đã có chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung bằng việc làm phiến đồ tế bào âm đạo và phát hiện nhiễm HPV.
• Cũng có khi do quên tămpông (bấc gạc thấm máu hành kinh) hay màng ngăn âm đạo không rút ra.
04:56 CH 10/06/2017
Những Dấu Hiệu Khác Thường Bắt Buộc Phải Đi Khám...
Vú tiết dịch
Phiền phức nhưng hiếm khi là bệnh nguy hiểm.
Gọi là vú tiết dịch là khi có dịch tiết ra ở núm vú ngoài thời kỳ có thai hay cho con bú. Đây là trạng thái gây lo ngại đứng hàng thứ 3 khiến phụ nữ phải tìm gặp thầy thuốc sau cục cứng ở vú và đau vú.
Có nhiểu kiểu tiết dịch với đậm độ và màu sắc khác nhau:
* trắng đục (có thể là tiết sữa thực sự)
* trắng loãng (có thể do có thai)
* Lẫn máu (có thể do nhiễm khuẩn hay ung thư vú)
* Vàng nhạt hay xanh, có mủ (do nhiễm khuẩn).
Có thể một bên hay cả 2 bên vú đều tiết dịch, có thể tiết dịch tự nhiên hay phải nặn vú mới ra.
Vú tiết dịch là triệu chứng hay gặp ở phụ nữ nhưng nếu gặp ở nam giới thì là điểu khó hiểu và cần xem xét kỹ.
Nguyên nhân Vú tiết dịch:
Đôi khi sự tiết dịch ở vú có thể tự khỏi. Hầu hết các trường hợp tiết dịch là do bệnh lành tính nhưng cũng có thể do ung thư, nhất là khi: Phụ nữ trên 40 tuổi - Có cục cứng ở vú - Dịch tiết có lẫn máu - Chỉ một bên vú bị tiết dịch.
Những nguyên nhân có thể gây tiết dịch bao gồm
: Áp-xe (túi mủ) - ung thư - nhiễm khuẩn - vú bị kích thích quá nhiều - u xơ tuyến vú - nang xơ tuyến vú - ung thư tại chỗ ống dẫn sữa (ductal carcinoam in situ) - tiết sữa thực sự - mất cân bằng hormon.
Thương tích hay chấn thương ở vú - u gai trong ống dẫn sữa (intraductal papilloma) - dùng một số thuốc - bệnh Paget - có thai - u lành tính tuyến yên gây tăng prolactin.
Dù hiếm khi sự tiết dịch ở vú là dấu hiệu của ung thư vú nhưng cũng là biểu hiện của một bệnh chính cần điều trị. Nếu phụ nữ đang còn hành kinh và sự tiết dịch ở vú không tự qua đi sau 2 kỳ kinh hoặc sự tiết dịch gây nhiều phiền phức thì cần gặp thầy thuốc.
Nếu phụ nữ đã mãn kinh và có tiết dịch vú ở bất cứ thời điểm nào cũng cần gặp ngay thầy thuốc.
04:50 CH 10/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Những trạng thái bệnh lý liên quan đến kinh nguyệt
Nhức nửa bên đầu: Tỷ lệ phụ nữ bị nhức nửa bên đầu (migraine) trong 2 ngày đầu hành kinh gấp đôi so với thời gian còn lại của chu kỳ kinh nguyệt. Cũng có khi nhức đầu vào hai ngày trước kỳ kinh, đến thời điểm phóng noãn thì nguy cơ nhức đầu giảm đi. 70% số người bị nhức nửa bên đầu là phụ nữ, 28% không có triệu chứng báo trước và thường phối hợp với chu kỳ kinh nguyệt nhưng không có gì khác vê’ mức độ đau hay kéo dài so với những nguyên nhân khác ngoài kỳ kinh (ví dụ do uống rượu). Kinh nguyệt là một yếu tố phát động mạnh gây nhức nửa bên đầu - một bệnh thường thể hiện ngay từ tuổi vị thành niên, có liên quan đến sự dao động của hormon giới tính nữ trong chu kỳ kinh nguyệt, chủ yếu là do sự tụt giảm estrogen (cho nên mới thường đau đầu vào nửa sau của chu kỳ kinh là giai đoạn hoàng thể) và noãn tăng mức độ kích thích.
Ở Mỹ nhức nửa bên đầu là nguyên nhân gây tổn thất 157 triệu ngày công hàng năm, làm giảm năng suất lao động và chất lượng cuộc sống. Nhức nửa bên đầu do cơ thể kéo dài từ vài phút đến vài ngày, cảm giác đau giần giật nửa bên đầu kèm theo buồn nôn hoặc nôn, nhạy cảm với ánh sáng, tiếng động và mùi.
Rối loạn tiêu hóa: Không phải hiếm gặp trong chu kỳ kinh nguyệt. Có người bị tiêu chảy vào tuần lễ trước hành kinh và bị táo bón trong tuần lễ sau hành kinh. Trước hết nên xem lại chế độ ăn trong những thời gian này (đủ, cân đối, đa dạng). Có người thích hợp với chế độ ăn nhiểu rau quả, đậu đỗ, không mặn quá cũng không ngọt quá, tránh rượu, cà phê.
Có người ưng ăn làm nhiều bữa nhỏ hơn là 2 - 3 bữa chính. Ăn nhiều loại rau quả khác nhau là cung cấp những chất xơ khác nhau để chống đại tiện không thành khuôn. Những loại xơ tan trong nước (pectin) có trong nhiều loại quả có tác dụng hút nước làm cho phân cứng hơn, những loại xơ không tan trong nước có trong cám của đậu đỗ, hạt làm cho phân mềm ra. Nên ăn nhiều hoa quả trước khi hành kinh, rồi bổ sung đậu đỗ vào bữa ăn sáng vào tuần lễ sau hành kinh. Mỗi người nên thử tìm cách ăn và điều chỉnh cho tới khi cảm thấy thích hợp nhất cho 2 tuần lễ trước và sau hành kinh.
Tổn thương khớp gối:
Người ta nhận thấy rằng khi nồng độ estrogen ở mức cao nhất trong chu kỳ kinh thì người phụ nữ lại dễ bị tổn thương khớp gối - đặc biệt là dây chằng trước đùi (anterior cruciate ligament, viết tắt là ACL). Tổn thương loại này chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới gấp 8 lần, khiến phải can thiệp bằng phẫu thuật và phải mất 1 năm mới hồi phục. Sang chấn khớp gối thường xảy ra vào thời kỳ rụng trứng - thời kỳ có đặc trưng là sự tăng cao estrogen và hormon relaxacin.
Sự dao động của hormon có thể là yếu tố quan trọng gầy ra tổn thương rách ACL ở phụ nữ tuy chưa biết chính xác estrogen có vai trò như thế nào. Có thể estrogen và relaxin đã có tác động sâu sắc đến hệ thống thần kinh - cơ và chức năng cơ giới của các mô mềm như dầy chằng và gần.
Nếu đúng như thế thì tại sao các khớp khác như khớp cổ chân, khớp vai không bị tổn thương. ACL là dây chằng chạy qua trung tầm của khớp gối và kiểm soát cử động quay tròn của khớp gối. ACL cùng với các cơ của cẳng chân - cơ kheo và cơ tứ đầu đùi - giữ cho khớp gối vững chắc. Khi những cơ này bị căng giãn quá mức như trong các cử động cẳng chân giữ nguyên nhưng phần thân mình lại xoay chuyển thì có thể làm rách dây chằng trước đùi (trong các vận động như chơi bóng rổ, bóng đá và bóng chuyền).
Phụ nữ dễ bị tổn thương khớp gối vì do chính những đặc tính sinh lý của mình:
Khung chậu rộng tạo ra một sức ép mạnh hơn lên phần trong của khớp gối, sức mạnh của nhóm cơ ở cẳng chân yếu hơn và sức chịu đựng cũng kém hơn. Một giả thuyết khác cho rằng khớp gối của phụ nữ dễ bị tổn thương vì các vận động viên nữ dựa quá nhiểu vào cơ nhóm cơ tứ đầu đùi mà ít dựa vào nhóm cơ ở kheo chần, có lẽ là do luyện tập không đúng phương pháp.
Tiểu đường
: Phụ nữ bị bệnh tiểu đường típ I khó kiểm soát được đường huyết trong tuần lễ đầu trước kỳ kinh, với mức đường huyết hoặc cao hơn hoặc thấp hơn thường lệ. Vấn để này xem ra rất phổ biến ở những phụ nữ có những triệu chứng tiểu đường kết hợp với hội chứng tiền kinh nguyệt. Nguyên nhân có thể là do hormon estrogen và progesterone.
Trong nửa đầu của chu kỳ kinh, nồng độ của hai hormon này tương đối thấp. Nửa sau của chu kỳ kinh, sau khi đã rụng trứng, nồng độ estrogen và progesterone tăng lên, ỉàm cho nội mạc tử cung phát triển, dẩy lên, chuẩn bị để đón trứng đã thụ tinh. Nếu trứng không được thụ tinh thì buồng trứng ngừng bài tiết hai hormon nói trên và sự tụt đột ngột của hormon đã làm cho nội mạc tử cung bong, đó là kinh nguyệt.
Người ta cho rằng ở một số phụ nữ có nồng độ progesterone cao có thể làm cho nổng độ đường (glucoza) thấp hơn bình thường. Chính tình trạng phù nề, giữ nước, dễ cáu kỉnh, trầm cảm, thèm ăn đường và mỡ - đặc trưng của hội chứng tiền kinh nguyệt là nguyên nhân dẫn đến không kiểm soát được mức đường huyết.
Muốn biết chu kỳ kinh nguyệt có tác động gì đến sự kiểm soát đường huyết thì người phụ nữ cần theo dõi mức đường huyết cao hay thấp hàng ngày trong tuần lễ trước khi có kinh. Nếu mức đường huyết thường xuyên cao hay thấp hơn bình thường, như thế việc đầu tiên cần làm là điểu trị hội chứng tiền kinh nguyệt: kiên trì một chế độ ăn điều độ càng nhiều bữa càng tốt, hạn chế ăn mặn (muối làm tăng thêm sự phù nề), bỏ rượu, cà phê là những thứ có thể ảnh hưởng không chỉ đến nồng độ đường huyết mà cả trạng thái khí chất của con người.
Vận động thường xuyên giúp hạn chế sự thay đổi khí chất và giảm tăng cân. Một chế độ ăn uống, vận động kết hợp với sự chỉ dẫn của thầy thuốc trong những ngày trước hành kinh có thể giúp kiểm soát được đường huyết.
04:29 CH 10/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Tuổi nào có thể bắt đầu uống thuốc ngừng kinh nguyệt lâu dài?
Nhiều thầy thuốc chưa có sự đồng thuận về chuyện sau bao nhiêu năm có kinh bình thường thì có thể làm cho mất kinh.
Tuổi vị thành niên có được dùng không cũng là vấn đề khó trả lời vì chưa có hướng dẫn chính thức, chưa có nhiều nghiên cứu nhưng điều quan ngại là TTT dùng kéo dài có thể ảnh hưởng đến tỷ trọng xương. Điểu quan trọng này ngày càng được quan tâm.
Về lý thuyết, có thể tác động đến thời điểm ra kinh ở bất kể tuổi nào nhưng nhóm tuổi dùng TTT hầu hết là từ 18 - 22.
CÓ thuốc để giảm bớt các chu kỳ kinh của phụ nữ không?
Ngay từ năm 2006, FDA (cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ) đã ủng hộ viên TTT có tên là Seasonique, có tác dụng kéo dài và làm cho phụ nữ chỉ ra kinh 4 lần trong 1 năm thay vì ra kinh hàng tháng như các TTT trước đây. Seasonique là thế hệ TTT tiếp theo của viên thuốc có tên là Seasonale, cũng làm cho các chu kỳ kinh kéo dài, đã tung ra thị trường từ 2003. Sea- sonique có hiệu quả tránh thai đến 99% nếu dùng theo đúng chỉ dẫn, vì đã được trên khoảng 2500 phụ nữ Mỹ từ 18-44 tuổi, dùng thuốc trong 12 tháng mà chỉ có 4 kỳ hành kinh, mỗi chu kỳ kinh kéo dài 91 ngày và các tác dụng phụ cũng tương tự như các viên TTT uống khác.
Sự khác biệt giữa Seasonique và Seasonale là ở chỗ với Sea- sonale người phụ nữ vẫn dùng những viên thuốc có hormon trong 81 ngày, 7 ngày tiếp theo là những viên thuốc không có tác dụng (không chứa hormon), như vậy cứ 3 tháng phụ nữ ra kinh
1 lần (tức 4 kỳ hành kinh mỗi năm) trong khi với Seasonique, phụ nữ uống những viên thuốc có hormon trong 84 ngày và 7 ngày tiếp theo có bổ sung một hàm lượng estrogen thấp, như thế có thể đem lại lợi ích là giảm được ra máu giữa kỳ và vẫn ra kinh khoảng 4 lẩn mỗi năm. Những người dùng loại TTT có tác dụng kéo dài chu kỳ này có thể dễ bị chảy máu hay ra máu rải rác giữa
2 kỳ kinh, những sự cố này có xu hướng giảm ở những chu kỳ kinh sau này khi phụ nữ vẫn tiếp tục dùng thuốc. Nhà sản xuất thuốc cho rằng thuốc uống tránh thai không phải là thuốc dành cho mọi phụ nữ mà các tác dụng phụ nghiêm trọng cũng như nhẹ đểu có thể xảy ra với TTT có hormon và nguy cơ có các tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm tạo thành cục máu đông, đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị các tác dụng phụ tim mạch nặng, nhất là khi phụ nữ trên 35 tuổi. Tất nhiên, TTT uống không bảo vệ phụ nữ tránh bị nhiễm HIV (virus gảy bệnh AIDS) hay các bệnh lầy truyền qua đường tình dục khác.
Loại TTT uống có tên là Lybrel, luôn có hormon và uống liên tục trong 365 ngày, đã làm cho phụ nữ hoàn toàn không còn ra kinh.
Yasmin là TTT ít gây hội chứng tiền mãn kinh, ít gầy trứng cá, vỉ 28 viên mỗi tháng, 21 viên có tác dụng và 7 viên chỉ là thuốc vờ. Các kỳ kinh nhẹ ít ra máu và đều hơn.
Tóm lại, mọi phụ nữ dùng viên TTT đều cần được thầy thuốc khám định kỳ hàng năm, kiểm tra huyết áp, làm phiến đổ tế bào cổ tử cung, khám vú và tiểu khung. Vì hiện nay chưa có nhiểu nghiên cứu về TTT dùng dài hạn để không có kinh hoàn toàn hoặc để kinh thưa nên tốt nhất chỉ dùng trong một số trường hợp nhất định và theo chỉ dẫn của thầy thuốc chứ không thể dùng theo sự mách bảo nhau hoặc tự ý.
04:25 CH 10/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Việc có kinh hàng tháng có quan trọng không?
Nữ giáo sư về nội tiết và chuyển hoá trường đại học British Columbia, Jerilyn c. Prior nói về ý muốn “làm mất kinh cho sạch” của một số phụ nữ: Kinh nguyệt bình thường có ý nghĩa rất quan trọng với sức khỏe phụ nữ và chu kỳ kinh bình thường có một cơ chế cực kỳ phức tạp, do những hoạt động thần kinh của não tạo ra và có tác dụng đến sức khỏe toàn thần, chứ không chỉ vì mục đích sinh sản. Kinh nguyệt bình thường có lợi ích đến xương và hệ tim mạch của phụ nữ. Nếu giảm các kỳ kinh đến mức không còn nữa là phản khoa học.
Làm mất kinh hoàn toàn có an toàn?
Cho tới nay chưa có đủ dữ liệu để khẳng định làm mất kinh là an toàn. Cần có những nghiên cứu sầu và rộng hơn nữa về ảnh hưởng đến sức khỏe của thực hành này, kể cả ảnh hưởng đến xương, những nguy cơ tạo thành cục máu và đột quỵ, tác động đến khả năng sinh sản và nhiều vấn đẽ khác. Mối quan tâm hàng đầu là nếu dùng TTT liên tục thì có tăng nguy cơ ung thư vú không vì theo sinh lý bình thường thì vú cẩn có thời gian nghỉ, không chịu tác động của hormon mỗi tháng. Chính vì thế mà trong những ngày ra kinh nồng độ estrogen và progesterone thấp. Với việc cung cấp thường xuyên hormon, vú không bao giờ được nghỉ.
Có những tác dụng phụ gọi là chấp nhận được khi dùng TTT hormon, ví dụ tăng nguy cơ bị cục máu đông (một sự thoả hiệp để đạt mục đích tránh thai) nhưng nếu không để tránh thai mà chỉ vì không muốn có kinh nữa thì đó là sự lựa chọn vê' lối sống và cần phải nhìn nhận về nguy cơ với cách nhìn hoàn toàn khác, có đáng để làm như thế không.
Hiệu quả của thuốc làm mất kinh?
Làm mất kinh không phải là chuyện chắc chắn, không phải bao giờ cũng có hiệu quả. Rất hay bị ra máu bất thường, nhất là trong 3 - 6 tháng đầu, đó là khó khăn với phụ nữ. Sau khoảng 6 tháng, 70% phụ nữ dùng TTT dài hạn không còn ra máu nữa; sau 1 năm tăng lên 90%. Các nhà nghiên cứu vẫn cố gắng tìm cách giảm sự ra máu bất thường. Những phụ nữ nào không muốn bị ra máu có thể không muốn dùng loại thuốc mới.
04:22 CH 10/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Kinh nguyệt thưa
Bình thường một năm người phụ nữ có từ 11 đến 13 chu kỳ kinh, kinh thưa là khi số chu kỳ kinh 1 năm dưới con số nói trên, nói cách khác, khi chu kỳ kinh có khoảng cách trên 35 ngày, mỗi năm chỉ có từ 4 đến 6 chu kỳ kinh. Các kỳ kinh vẫn có thể bình thường và vẫn có rụng trứng chỉ có điều ít xảy ra hơn.
Kinh nguyệt thưa hay xảy ra nhất ở phụ nữ sắp đến tuổi mãn kinh nhưng một số phụ nữ có kinh thưa suốt những năm ở tuổi trưởng thành do họ có chu kỳ hormon đặc biệt. Không có lí do rõ ràng nhưng một số ít phụ nữ ra kinh (kèm có rụng trứng) đều đặn 2 tháng 1 lẩn, như thế cũng là bình thường và không có gì phải quan ngại.
Cũng rất thường gặp khi khởi đầu và khi kết thúc tuổi sinh sản phụ nữ hay bị mất kinh hoặc kinh nguyệt không đều; điều này thường là do có sự điều phối không hoàn hảo giữa vùng dưới đồi, tuyến yên và buồng trứng.
Kinh thưa có thể trở thành mất kinh nếu như không có kinh 6 tháng hoặc hơn. Kinh nguyệt thưa không gây nguy hiểm cho sức khỏe và thường không cần điều trị gì trừ phi muốn có thai vì có thể do bất thường ở trục tuyến dưới đồi, tuyến yên và buồng trứng.
Những yếu tố thể chất và cảm xúc có thể dẫn đến kinh thưa
• Trạng thái stress
• Có bệnh mãn tính.
• Ư của thùy trước tuyến yên; các khối u tiết ra estrogen; cường hormon tuyến giáp (bệnh Graves)
• Thay đổi hormon quanh tuổi mãn kinh
• Hội chứng Prader-Willi (bệnh về gien hiếm gặp, do có bất thường ở nhiễm sắc thể 15 của người bố).
• Vận động thể chất quá nhiều (vận động viên chạy, bơi, vũ nữ ballet... thường có kinh thưa so với phụ nữ cùng
độ tuổi, thậm chí mất kinh). Tam chứng của nữ vận động viên luyện tập quá nhiều là rối loạn kinh nguyệt - rối loạn về ăn uống và loãng xương. Tam chứng này đã được nói đến từ năm 1993 khi nhận thấy có sự kết hợp mất chất khoáng ở xương, gẫy xương do luyện tập căng thẳng và rối loạn ăn uống. Tỷ lệ mỡ cơ thể và cần nặng quá thấp.
• Dùng các thuốc steroid đổng hóa để tăng thành tích thể thao.
• Cho con bú cũng gây ra chu kỳ kinh không đểu do những hormon làm cho rụng trứng chậm xảy ra.
• Bệnh buồng trứng đa nang, gây kinh nguyệt không đều từ
kinh thưa cho đến mất kinh hoặc ra kinh rất nhiều. Bệnh này chiếm tỷ lệ khoảng 6% ở tuổi quanh mãn kinh và liên quan đến sự tiết quá nhiều androgen (hormon nam).
• Rối loạn về ăn uống, hay gặp trong bệnh chán ăn hay ăn quá nhiều do nguyên nhân thần kinh (anorexia ner- vosa, bulimia nervosa) gầy kinh thưa hay mất kinh. Cơ chế chính xác gây rối loạn kinh nguyệt của 2 bệnh này còn chưa rõ vì đôi khi mất kinh còn xảy ra trước cả hiện tượng sút cân nhiều do đó có liên quan đến yếu tố sinh học (thần kinh-nội tiết) nhiều hơn là do kết quả của thiếu hụt dinh dưỡng.
• Thiếu dinh dưỡng.
Chẩn đoán
Dựa vào khoảng cách chu kỳ kinh trên 35 ngày - các kỳ kinh không đều với lượng kinh thay đổi, không thể biết trước - một số phụ nữ có kinh thưa có thể khó có con.
Kinh thưa ở tuổi vị thành niên thường do hoạt động của trục hạ đồi, tuyến yên và buồng trứng không phối hợp tốt hoặc không có. Vùng hạ đồi là một phần của não kiểm soát sự điều hòa thân nhiệt, chuyển hóa tế bào và nhiều chức năng cơ bản khác như ăn, ngủ và sinh sản. Vùng hạ đồi tiết ra những hormone chi phối hoạt động của tuyến yên.
Tuyến yên được kích thích lại tiết ra những hormone ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sinh sản. Vào thời kỳ đầu của và cuối của đời sống sinh sản, một số những thông điệp hormone này có thể không đổng bộ và gây ra kinh nguyệt rối loạn.
Trong bệnh buồng trứng đa nang, kinh thưa có thể do nồng độ không thích hợp của cả hormon nam và nữ. Hormon nam tiết ra với lượng nhỏ ở phụ nữ nhưng ở bệnh buồng trứng đa nang nồng độ hormone nam (androgen) hơi cao hơn ở phụ nữ; gần đây các nhà khoa học nước Anh cho rằng buồng trứng trong bệnh buồng trứng đa nang cũng có sự khác biệt vê' nhiều mặt khác, ví dụ như sự phát triển số lượng các nang noãn.
Để chẩn đoán kinh thưa, thầy thuốc cần hỏi kỹ về tiền sử kinh nguyệt, các bệnh đã mắc (tiểu đường...), chế độ ăn, vận động các thuốc đã dùng, đang dùng... khám thể chất, đánh giá cân nặng, chiều cao, các dấu hiệu phát triển về giới tính, nhịp tim, tuyến giáp, làm một số xét nghiệm như Pap test, siêu ầm, cộng hưởng từ để loại trừ khối u ảnh hưởng đến hạ đổi, tuyến yên.
Điêu trị:
Phụ thuộc vào nguyên nhân. Với vị thành niên và phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, thường không cần điểu trị. Với các vận động viên, cẩn thay đổi chế độ luyện tập. Phần lớn bệnh nhân kinh thưa được điểu trị bằng viên thuốc tránh thai. Nhiều phụ nữ khác, kể cả phụ nữ bị bệnh buồng trứng đa nang, đều điều trị bằng hormone. Dùng hormon nào phụ thuộc vào điểu kiện hormon thiếu hoặc mất cân bằng. Nếu mất cân bằng hor- mone, liệu pháp hormone thay thế nên dùng các hormone tự nhiên (gồm 3 loại estrogen và progesterone).
Phòng ngừa:
Duy trì chế độ ăn uống đủ chất và giảm cường độ vận động thể chất. Khi kinh thưa do các yếu tố hormon, không thể phòng ngừa nhưng thường có thể chữa trị.
03:52 CH 09/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Những phương pháp để chuẩn đoán chảy máu do nguyên nhân tử cung
Tìm hiểu lịch sử bệnh: Nhiều nguyên nhân chảy máu có thể tìm ra chỉ nhờ nghiên cứu lịch sử bệnh của gia đình và bản thân người bệnh.
Soi buồng tử cung:
Có thể nhìn trực tiếp buồng tử cung và là một phương tiện để chẩn đoán chảy máu bất thường.
Nong và nạo buồng tử cung:
Phương pháp chuẩn để chẩn đoán chảy máu bất thường từ tử cung.
Khám toàn thể:
Đánh giá thể tích tử cung, tổn thương ở âm hộ, ầm đạo, cả khu vực trực tràng.
Ngoài ra, còn sử dụng nhiều phương pháp khác phục vụ cho chẩn đoán:
Nghiên cứu tế bào học:
Phiến đồ tế bào có thể gợi ý những tổn thương ở cổ tử cung, phát hiện tế bào nội mạc ở giai đoạn chế tiết hay phát triển...
Sinh thiết nội mạc tử cung:
Cần thiết để đánh giá tình trạng hiếm muộn và sự cần thiết dùng estrogen hay không.
Nghiên cứu về mô học:
Dùng dụng cụ đặc biệt để hút nội mạc tử cung, xem có hiện tượng quá sản hay ác tính.
Chụp tử cung vòi trứng:
Với chất cản quang và tia X, nhằm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung và nhiều bất thường khác.
Siêu âm vùng tiểu khung và soi ổ bụng để đánh giá các khối u ở tử cung và phần phụ.
Điều trị
Tuỳ theo nguyên nhân, nếu là ra máu bất thường có tính chất cơ năng (không do nguyên nhân thực thể) thường điều trị nội khoa vào giai đoạn đầu, với phụ nữ trẻ dùng viên thuốc tránh thai chỉ có progestin hay phối hợp trên cơ sở tôn trọng các chống chỉ định. Đến tuổi gần mãn kinh, nên dùng loại thuốc tránh thai chỉ có progestin và có hàm lượng như nhau mỗi viên, từ ngày thứ 8 đến ngày 26 của chu kỳ kinh. Cách điều trị này hay gây ra chảy máu ít và tỷ lệ thành công không quá 50%.
Khi các phương pháp điều trị tỏ ra không kết quả và khi phụ nữ không cần có con nữa thì vẫn có các phương pháp khác như:
Đặt dụng cụ tử cung
có chất progesterone (Mirena) đem lại tỷ lệ khả quan tới 88%.
Nạo buồng tử cung
(cho kết quả kém và còn có nguy cơ có biến chứng thủng tử cung)
Huỷ nội mạc tử cung
(bằng chất glycocol) qua soi buồng tử cung. Phương pháp này có hiệu quả hơn nhưng cũng có biến chứng (khoảng 5%) như thủng tử cung, nhiễm khuẩn, chảy máu, nhiễm độc (do glycocol thấm vào máu).
Phương pháp nhiệt đông
được thực hiện bằng cách cho quả bóng nhỏ vào buồng tử cung rồi làm nóng lên tới 87°c để huỷ diệt nội mạc, có hiệu quả tới 90% kéo dài trong 5 năm nhưng không thể áp dụng cho phụ nữ còn muốn có con.
Phương pháp cuối cùng và triệt để nhất là cắt tử cung
, 50% số cắt tử cung ở những nước tiên tiến được thực hiện cho các bệnh lành tính, 25% cho những trường hợp ra máu tử cung do nguyên nhân cơ năng.
03:44 CH 09/06/2017
Tổng hợp tất cả những lưu ý quan trọng về bệnh...
Kinh nguyệt nhiều
Cách dễ nhất để nhận biết ra kinh quá nhiều, ra kinh bất thường là ghi lại số băng vệ sinh hay tămpông phải thay. Nếu ra kinh nhiều đến mức chưa tới 1 hay 2 giờ đã phải thay băng vệ sinh hay kỳ hành kinh kéo dài quá 1 tuần thì có thể là bị ra kinh nhiều.
Sự cố ra kinh nhiều hay xảy ra ở phụ nữ trẻ - những người chưa hình thành các chu kỳ kinh có rụng trứng và những phụ nữ sắp đến tuổi mãn kinh. Ngoài sự bất tiện, ra kinh nhiều còn gây mỏi mệt. Cần gặp thầy thuốc khi ra kinh nhiều có máu cục, xối xả; khi tháng nào cũng ra máu nhiều có thể gây ra thể thiếu máu thiếu sắt.
Kinh nguyệt nhiều có thể xảy ra trong một số tình huống sau
1. Mất cần bằng về hormone:
Ở tuổi vị thành niên hay tuổi mãn kinh là nguyên nhân ra kinh nhiểu phổ biến nhất. Trong tuổi vị thành niên sau khi có kinh lần đầu và nhiều năm trước mãn kinh, nồng độ hormone rất dao động nên thường dẫn đến ra kinh quá nhiều. Tình trạng ra kinh nhiều do mất cân bằng hormone này có thể điều trị bằng viên thuốc tránh thai uống hay các hormone khác.
2. u xơ tử cung:
Nguyên nhân cũng rất thường gặp gây ra kinh nhiểu, thường lành tính, hay gặp ở phụ nữ nữ độ tuổi 30 hay 40. Nguyên nhân gây ra u xơ còn chưa rõ nhưng chắc chắn thuộc loại u phụ thuộc vào hormone estrogen. Có nhiểu cách can thiệp ngoại khoa để xử trí u xơ như bóc nhân xơ, lấy đi nội mạc tử cung, làm tắc động mạch tử cung, kể cả cắt tử cung... điều trị bằng thuốc cho u xơ tử cung, có thể dùng thuốc đồng vận GnRH, viên thuốc tránh thai uống, androgen, RU486 (viên thuốc gây sẩy thai)... Một số phụ nữ ưa dùng pro- gesterone tự nhiên cho u xơ tử cung. Thường thường, khi các triệu chứng không nghiêm trọng hay gầy phiền phức nhiều thì có thể “theo dõi và chờ đợi”. Khi đến tuổi mãn kinh, u xơ tử cung co nhỏ lại một cách rõ rệt và biến mất không cần điều trị.
3. Pô-líp cổ tử cung:
Là u nhỏ, mảnh mọc lên từ bề mặt niêm mạc của cổ tử cung hoặc từ ống cổ tử cung và lòi ra khỏi lỗ ngoài cổ tử cung. Nguyên nhân gầy ra pô-líp chưa rõ nhưng thường do nhiễm khuẩn và nhiều khi còn thể hiện đáp ứng bất thường khi nồng độ estrogen tăng cao hay các mạch máu khu trú ở cổ tử cung bị xung huyết. Phụ nữ dễ bị pô-líp cổ tử cung nhất là ở độ tuổi ngoài 20 và đã có con. Cách xử trí thông thường là cắt hay xoắn vặn pô-líp, kết hợp với dùng kháng sinh.
4. Pô-líp phát triển từ nội mạc tử cung:
Thường không ác tính. Nguyên nhân chưa rõ nhưng thường kết hợp với tình trạng quá nhiều estrogen sau khi điều trị bằng hormone hay một số thể u buồng trứng. Cách xử trí thường là soi buổng tử cung và nong nạo, lấy mẫu mô để xét nghiệm nhằm loại trừ ác tính.
5. Lupus:
Là bệnh viêm mãn tính và thuộc loại bệnh miễn dịch, có thể tác động đến nhiều bộ phận cơ thể, đặc biệt là da, khớp, máu và thận. Nguyên nhân chưa rõ nhưng các nhà khoa học tin rằng có yếu tố gien học và các yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, dùng một số loại kháng sinh, nhất là sulpha và penicillin, phơi nhiễm với tia cực tím, ảnh hưởng của stress nghiêm trọng, hormone và một số thuốc khác cũng đều có vai trò gây ra các triệu chứng của bệnh. Các triệu chứng của lupus khác nhau rất nhiều ở từng người bệnh, cách điều trị cũng vậy, có tính cá biệt lớn nhưng điểm chung là tránh bị stress, dùng các thuốc chống viêm không có nhân steroid (NSAIDS) hay các thuốc chống miễn dịch...
6. Bệnh viêm tiểu khung
: Là bệnh nhiễm khuẩn của một hay nhiều cơ quan trong tiểu khung như tử cung, vòi trứng và cổ tử cung. Viêm tiểu khung thường do bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưng đôi khi xảy ra sau sinh đẻ, Sẩy thai hay sau các thủ thuật phụ khoa khác. Cách điều trị là kháng sinh.
7. ưng thư cổ tử cung: T
hể ung thư khi các tế bào ở cổ tử cung trở nên bất thường, sinh sôi phát triển không thể kiểm soát và gây tổn thương gtoonr cho các phần lành mạnh khác của cơ thể. Virus gây u sùi (HPV) là nguyên nhân chính (trên 90%) của các trường hợp ung thư cổ tử cung. Điều trị bao gổm: can thiệp ngoại khoa, hóa liệu pháp và xạ trị.
8. Ưng thư nội mạc tử cung:
Khi các tế bào bất thường ở tử cung hay nội mạc tử cung (lớp tế bào che phủ buồng tử cung) sinh sôi không thể kiểm soát và làm tổn thương đến tử cung và các cơ quan khác. Nguyên nhân chưa rõ nhưng điều đã rõ là phụ nữ ngoài 50 thường bị quá sản nội mạc tử cung hoặc đã dùng nhiều lần liệu pháp thay thế. Cách chữa trị đầu tiên thường là cắt bỏ tử cung, sau đó có thể dùng hóa liệu pháp hoặc liệu pháp tia xạ.
9. Dụng cụ tử cung tránh thai:
Là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra ra kinh nhiều. Khi bị ra kinh nhiều và mang dụng cụ tử cung thì nên lấy ra và chọn phương pháp tránh thai thay thế.
10. Bệnh gây chảy máu:
Có nhiều loại bệnh và khó cầm máu. Cần được khám và phát hiện nguyên nhân, có thể cần bổ sung các yếu tố đông máu.
Lưu ý: Các trường hợp ra máu không bình thường có nguồn gốc tử cung bao giờ cũng là khó khăn trong chẩn đoán và xử trí (với thầy thuốc) nhưng với bệnh nhân thì không thể phân biệt được đó là ra máu từ âm đạo, niệu đạo hay trực tràng; nếu có thai thì còn lo ngại đó là biến chứng của thai nghén, do đó cần gặp thầy thuốc để xác định.
Phần lớn phụ nữ đều từng bị ra máu bất thường có nguồn gốc tử cung ít nhất một lần trong quãng đời sinh sản nhưng thường gặp nhất là ở vài năm đầu có kinh của tuổi vị thành niên và trong 2-3 năm cuối trước khi mãn kinh.
03:40 CH 09/06/2017
t
ThuyTinhMongManh
Hóng
294
Điểm
·
4
Bài viết
Gửi tin nhắn
Báo cáo
Lên đầu trang
http://www.webtretho.com/forum/f519/xin-tu-gioi-thieu-ve-phong-kham-da-khoa-phuong-do-o-tai-hai-phong-2496914/
Phòng khám bên em đang tạm dừng hoạt động rồi ạ
Mod xóa sớm dùm em với nhé
Cảm ơn Mod
http://www.webtretho.com/forum/f519/xin-tu-gioi-thieu-ve-phong-kham-da-khoa-phuong-do-o-tai-hai-phong-2496914/
Khô âm đạo hay tình trạng không bài tiết đủ dịch nhờn là sự cố thực sự khó chịu cho cả 2 người. Khi đó người phụ nữ cảm thấy ngứa, khó chịu; quan hệ tình dục giảm khoái cảm, đau, thậm chí không thể thực hiện được. Rất phổ biến và có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hiện nay đã có nhiểu cách chữa trị có hiệu quả.
Nguyên nhân
• Khi phụ nữ chưa đủ hưng phấn: cảm xúc tình dục ở nữ thường đến chậm.
• Tâm trí chưa sẵn sàng: có nhiều lí do, ví dụ đang có vấn đê' căng thẳng thần kinh (buồn, lo, bực bội...)
• Đang dùng một số thuốc có tác dụng làm khô âm đạo, thuốc chống xung huyết và thuốc kháng sinh histamin - dùng loại ma tuý có tên là Marijiuana trước khi quan hệ tình dục vì loại ma tuý này có thể gây mất nước.
• Đang trải qua một số trạnợ thái nội tiết hoặc điêu kiện bất thường làm thay đổi hoạt động của buồng trứng góp phần làm khô âm đạo. Một số bệnh hiếm gặp của buồng trứng như một số u nang buồng trứng, buồng trứng đa nang cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết hormon.
• Đang bị viêm âm đạo: nhiều khi người phụ nữ không tự nhận biết vì có đến hơn 50% viêm âm đạo do nấm candida không thể hiện triệu chứng gì, 70% phụ nữ không biết mình nhiễm vi khuẩn Chlamydia.
Bước vào tuổi mãn kinh: khác nhau tuỳ người nhưng thường ở độ tuổi ngoài 45, sự bài tiết estrogen giảm đi, làm cho âm đạo ít bài tiết dịch nhờn. Khi đó sự bài tiết
• dịch nhờn giảm đi, lớp niêm mạc âm đạo cũng mỏng, kém chun dãn và dễ tổn thương hơn.
Cơ địa: có thể gặp ở một số phụ nữ, dù không có bệnh thực thể.
Chưa quen với hoàn cảnh mới (buồng cô dầu không kín đáo...) người vợ rơi vào trạng thái ức chế, không hưng phấn.
Bị bệnh tự miễn dịch như hội chứng Sịogren: vừa gây ra những triệu chứng khô mắt và miệng vừa làm giảm độ ẩm ướt ở ầm đạo.
Thụt rửa âm đạo: làm thay đổi cân bằng hoá học ở môi trường âm đạo có thể gầy ra viêm âm đạo, vì thế có cảm giác khô.
Kinh nguyệt rất thưa, 1 năm chỉ khoảng 4-5 lẩn có thể do sự bài tiết hormon không thuận lợi cho sự bài tiết dịch nhờn âm đạo, cẩn gặp thầy thuốc phụ khoa vì sự bài tiết hormon liên quan đến hoạt động của trục dưới đổi - tuyến yên - buồng trứng, nếu không bình thường có thể đó là nguyên nhân gây khô âm đạo.
Về điều trị, còn có thể dùng:
Thuốc bôi trơn (lubricating gel K-Y của hãng JOHNSON-JO- HNSON đang có ở nhiều cửa hàng dược phẩm). Thuốc bôi trơn này tan trong nước làm trơn âm đạo trong nhiều giờ. Có thể bôi vào âm đạo hay bôi cho bạn tình nam. Riêng với loại này đủ để vợ chồng vượt qua khó khăn.
Thuốc làm ẩm ướt âm đạo (Replens, K-Y có tác dụng kéo dài). Tác động đến mô âm đạo và có tác dụng làm giảm khô có thể kéo dài hơn 1 ngày. Loại thuốc này thường có độ pH thấp nên duy trì được môi trường toan của ầm đạo do đó có thể giảm được nhiễm khuẩn,
Nếu thỉnh thoảng bị khô âm đạo khi đang quan hệ tình dục thì có thể do người phụ nữ chưa đạt đến mức hưng phấn cần thiết, do đó không nên vội vã mà cần có giai đoạn chuẩn bị tâm lý và cơ thể. Quan hệ tình dục thường xuyên cũng là cách để môi trường âm đạo không khô.
Chế độ ăn bổ sung: trong đậu tương có chất isoílavone được coi là estrogen thực vật cho nên cần ăn nhiều sản phẩm làm từ đậu tương có thể giúp giảm khô âm đạo.
Không nên thử các cách chữa khô âm đạo không hợp lý như rửa bằng dung dịch giấm - cho sữa chua hay môi trường có vi khuẩn lactobacilli vào âm đạo - xịt nước hoa - xà phòng - dầu tắm. Trừ dầu có vitamin E có thể làm trơn và giảm ngứa ở âm đạo.
Vì thiếu estrogen là nguyên nhân chính gây khô âm đạo cho nên liệu pháp hormon thế thường đem lại hiệu quả. Thuốc mỡ
CÓ estrogen, tên biệt dược là Colpotrophine đang có ở thị thường thuốc nước ta, bôi 3-4 lần mỗi tuần vào niêm mạc âm đạo. Hoặc bổ sung hormon hàng ngày, 2 loại estrogen phối hợp với progesterone hay estrogen đơn thuần đều có hiệu quả. Các cách nói trên làm tăng estrogen ở âm đạo và do đó giảm triệu chứng khô chừng nào còn dùng thuốc.
Đau khi giao hợp: Có thể ngay khi bắt đầu, có thể nguyên phát nghĩa là ngay lần giao hợp đầu, có thể thứ phát nghĩa là sau một số lần giao hợp không đau. Loại đau này là gây nhiều trở ngại cho sự hòa hợp tình dục của đôi bạn tình.
Nguyên nhân thực thể: Nhiễm khuẩn âm đạo - Hẹp âm hộ, âm đạo (do dị dạng, do thiếu hormon...) - Do có sẹo (cắt tầng sinh môn khi đẻ, mổ sa sinh dục...) - Lạc nội mạc tử cung - Khô âm đạo do thiếu estrogen thời kỳ mãn kinh - Di chứng của nhiễm khuẩn vùng tiểu khung...
Nguyên nhân tâm lý: Cũng hay gặp.
Việc chữa trị phụ thuộc vào từng nguyên nhân. Nếu không tìm thấy nguyên nhân thực thể nào thì cần đến liệu pháp tằm lý và những kỹ thuật của tình dục liệu pháp.
Co thắt đau âm đạo: Sự co thắt không chủ ý ở âm đạo, có thể nguyên phát hay thứ phát. Co thắt đau âm đạo không có nghĩa là không còn có khoái cảm đỉnh điểm bằng các cách khác (tự kích dục). Không thể khám phụ khoa vì bệnh nhân đau.
Một số nguyên nhân thực thể có thể điều trị như trầy trợt tại chỗ - viêm âm hộ, âm đạo - viêm teo âm đạo (mãn kinh) - mụn giộp hay eczema âm hộ - nứt nẻ hậu môn do trĩ hay không do trĩ.
Nguyên nhân thường gặp hơn là do tâm lý, có vấn đề về hình ảnh bản thân hoặc bị ức chế trong quan hệ tình dục do hoàn cảnh không thuận lợi...
Điều trị: Dùng nong Hegar cỡ nhỏ và tăng dẩn để âm đạo chấp nhận dần dẩn và để bệnh nhân hiểu rõ hơn vê' cơ thể mình. Liệu pháp tâm lý cũng rất quan trọng cho bệnh nhân và cho cả đôi bạn tình.
Đau vùng bụng dưới mãn tính không liên quan đến các kỳ kinh
Đó là kiểu đau bụng dưới lan tới âm hộ và cả vùng thắt lưng, kèm với cảm giác nóng rát, đau ở bàng quang, đái buốt, đái khó, đau trực tràng và cảm giác muốn đại tiện, ngứa âm hộ.
Những triệu chứng này thường do nhiều nguyên nhân khó phát hiện như có tổn thương ở cổ tử cung - tổn thương ở thân tử cung (tử cung gặp sau, u xơ tử cung (xoắn, hoại tử vô khuẩn) - sa sinh dục - viêm phần phụ mãn, viêm cùng đổ hay buồng trứng - lạc nội mạc tử cung - giãn tĩnh mạch tiểu lchung...
Đau không do nguyên nhân phụ khoa
Cũng gây ra đau vùng bụng dưới.
- Bệnh ở cột sống: Đau lưng do tư thế, thoái hóa khớp, thoát
vị đĩa đệm...
- Bệnh đường ruột: Viêm ruột thừa, viêm đại tràng, viêm túi mật, viêm đại tràng sigma...
- Bệnh ở đường tiết niệu: Viêm thận - bể thận, viêm bàng quang...
- Đau do nguyên nhân tâm lý.
Thầy thuốc cần khám toàn diện và cần làm thêm một số thăm dò theo định hướng của bệnh cảnh.
Những cơn đau cấp vùng bụng dưới: Nếu xảy ra ở phụ nữ vẫn có kinh đều và không kèm theo sốt thì trước tiên cần nghĩ đến chửa ngoài tử cung nhưng cũng có thể là u nang buổng trứng xoắn. Nếu kèm theo sốt, cần nghĩ đến viêm phần phụ nhưng không loại trừ viêm ruột thừa hay viêm đại tràng xích ma (đoạn cuối đại tràng trước trực tràng).
Đau vùng bụng dưới vào giữa kỳ kinh (còn gọi là triệu chứng Mittelschmerz): Có đặc trưng là đau vùng bụng dưới kèm ra nhiều chất xuất tiết âm đạo có màu trắng hay lẫn máu. Đau có tính chất lan tỏa xuống âm hộ, ầm đạo đôi khi ra vùng thắt lưng hay khắp vùng bụng, có thể đau rất cấp tính, kèm buồn nôn hay nôn. Đau thường xảy ra vào thời điểm rụng trứng (phóng noãn) từ ngày thứ 12 đến 16 của chu kỳ kinh, kéo dài từ vài giờ đến 48 giờ.
Khoảng 20% phụ nữ có kiểu đau này, một số chu kỳ kinh nào cũng đau, một số đau kiểu gián đoạn.
Nếu đau kéo dài và nghiêm trọng, cần phân biệt với viêm ruột thừa ở phụ nữ độ tuổi sinh sản.
Đau giữa kỳ kinh không quan trọng và không báo hiệu một bệnh gì, thường không cần điều trị. Thuốc giảm đau có thể cần khi đau kéo dài hay nghiêm trọng. Thuốc tránh thai hormon có thể dùng để ngăn cản rụng trứng để làm mất đau.
Ngoài 3 dấu hiệu chính thường được nói đến của phóng noãn (tăng nhiệt độ cơ bản, niêm dịch cổ tử cung, thay đổi vị trí cổ tử cung) còn có nhiều dấu hiệu khác như:
• Ra máu vào thời điểm phóng noãn: Được cho là do giảm đột ngột estrogen ngay trước khi phóng noãn.
• Âm hộ có thể sưng nề trước khi phóng noãn, nhất là ở bên diễn ra phóng noãn.
• Hạch bạch huyết một bên bẹn (bên sẽ diễn ra phóng noãn) sưng to như hột lạc và đau.
Có nhiều giả thuyết vẽ nguyên nhân gầy đau: Nang trứng phình to trước thời điểm phóng noãn - Thành của buồng trứng vị rách (vỡ)- Vòi trứng co thắt - Lớp cơ nhẵn ở vòi trứng co thắt - Do sự kích thích phúc mạc (vì máu hay dịch thoát ra khi phóng noãn).
Viêm tiểu khung có thể gây ra sẹo dính ở các cơ quan trong tiểu khung, vì thế có thể dẫn đến hiếm muộn, chửa ngoài tử cung và đau vùng tiểu khung mạn tính. Ngay cả khi đã điều trị viêm tiểu khung cũng có thể để lại biến chứng vô sinh vĩnh viễn cho khoảng 12% phụ nữ; nếu bị tái nhiễm lần thứ hai thì có đến 1/4 mất khả năng sinh con dù được chữa trị. Tái viêm nhiễm tiểu khung đến lần thứ ba thì có đến quá nửa bệnh nhân không bao giờ có thể có thai. Và dù có thai thì nguy cơ bị chửa ngoài tử cung cũng rất cao vì vòi trứng có sẹo làm cho trứng đã thụ tinh khó di chuyển vào tử cung để làm tổ.
Tiểu khung là gì?
Khung chậu (hay xương chậu) gồm đại khung và tiểu khung. Đại khung chỉ có tác dụng nâng đỡ tử cung khi có thai, tiểu khung là phẩn dưới của khung chậu, có chứa các bộ phận thuộc hệ niệu- sinh dục như: bàng quang, tử cung, buồng trứng, vòi trứng... Đau vùng tiểu khung thường do nhiễm khuẩn một hoặc nhiều các bộ phận kể trên do đó có ảnh hưởng sinh sản.
Yếu tố nguy cơ gây viêm tiểu khung
• Có quan hệ tình dục ngay từ tuổi vị thành niên.
• Có nhiều bạn tình: Phụ nữ có quan hệ tình dục với hơn một bạn tình nam thì khả năng bị viêm tiểu khung có thể tăng lên đến 100%.
• Có tiền sử bị viêm tiểu khung.
• Có tiền sử bị bệnh lây truyển qua đường tình dục. Hầu hết các trường hợp viêm tiểu khung do lậu cẩu khuẩn, vi khuẩn chlamydia và vi khuẩn kị khí gây ra. Ở những phụ nữ có quan hệ tình dục với hơn một bạn tình, khả năng viêm tiểu khung có thể tăng lên gấp 5 lần.
• Vi khuẩn lậu dễ xâm nhập và gây viêm tiểu khung cho phụ nữ qua quan hệ tình dục. Có đến 70% phụ nữ bị viêm tiểu khung do lậu ngay trong tuần lễ đầu tiên sau hành kinh vì quan hệ tình dục làm cho vi khuẩn lậu bám đuôi tinh trùng, dễ dàng lan lên trên gây nhiễm khuẩn cho tử cung, vòi trứng và buồng trứng.
• Có đặt dụng cụ tử cung: Nguy cơ bị viêm tiểu khung cũng tăng lên nhiều lần vì sợi dây gắn với dụng cụ tử cung nằm lơ lửng trong âm đạo (như TCU) là đường để vi khuẩn xâm nhập và đi lên.
• Viên thuốc tránh thai có thể dẫn đến lộn cổ tử cung, một tổn thương dễ làm cho vi khuẩn phát triển nhưng lại làm cho niêm dịch cổ tử cung trở nên dính hơn nên có thể bảo vệ người phụ nữ không bị viêm tiểu khung do tinh dịch khó đưa được vi khuẩn xâm nhập tử cung.
Nguyên nhân đau vùng tiểu khung ở phụ nữ
Thường gặp nhất bao gồm:
Đau vùng âm hộ: Kiểu đau này có thể đến rồi qua đi nhưng đau có tính chất bỏng rát hay nhức nhối, thường khu trú ngay tại hay quanh âm hộ và không phải luôn tại cùng một vị trí.
Lạc nội mạc tử cung: Đau nặng hơn khi hành kinh hoặc khi quan hệ tình dục. Cũng có thể gây ra máu bất thường và có thể dẫn đến hiếm muộn.
u xơ tử cung: Gây đau nhiều hơn trước và khi có kinh, khi quan hệ tình dục và cũng cảm thấy đau cả vùng thắt lưng.
Các dây chằng ở tiểu khung yếu, giãn: Đôi khi xảy ra sau sinh đẻ, gây đau vùng tiểu khung và vùng thắt lưng.
Chẩn đoán và những triệu chứng thường gặp
Do có nhiều nguyên nhân gây ra đau vùng tiểu khung cho nên thầy thuốc phải chẩn đoán bệnh bằng phương pháp loại trừ. Có thể cần làm một số thăm dò (test) như siêu âm, CT (chụp cắt lớp vi tính), MRI (cộng hưởng từ)... nhưng những thăm dò này không thể phát hiện được lạc nội mạc tử cung hay dính các cơ quan vùng tiểu khung cho nên có thể phải soi ổ bụng.
Dấu hiệu của viêm tiểu khung là đau ở vùng bụng dưới - Ra khí hư như mủ - Sốt - Đau khi di động tử cung, có khối nề cạnh tử cung, ấn đau.
Nếu có những triệu chứng này, cẩn đi gặp thầy thuốc, nhất là nếu nó xảy ra trong tuần lễ đầu tiên sau khi sạch kinh.
Ngoài ra, có thể có gai rét, ra kinh không đều hay ra máu giữa kỳ, đau bụng kinh nhiều hơn, mất kinh, đau vào thời điểm rụng trứng nhiều hơn, đau khi quan hệ tình dục, đau vùng thắt lưng, mỏi mệt, ăn kém ngon, buổn nôn, có thể kèm nôn hoặc không, đái vặt nhiều lẩn, đái buốt, dễ đau khi đụng chạm vào vùng tiểu khung.
Cũng cần lưu ý rằng có thể không có triệu chứng gì và nhiểu trường hợp chửa ngoài tử cung hay hiếm muộn không bộc lộ bệnh cảnh viêm tiểu khung rõ rệt và thường do nhiễm khuẩn chlamydia.
Đau vú là một trạng thái khó chịu thường gặp ở phụ nữ. Khoảng 70% phụ nữ bị đau vú ở một thời điểm nào đó trong đời. Phụ nữ trẻ và tiền mãn kinh thường bị đau vú hơn mặc dầu đến tuổi sau mãn kinh cũng vẫn có thể bị đau vú. Khoảng 1/10 phụ nữ bị đau vú từ nhẹ đến nặng hơn 5 ngày trong một tháng. Một số trường hợp phụ bị đau vú nặng suốt cả chu kỳ kinh, rất ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường và cả đời sống tình dục.
Đau vú đơn thuần, không kèm triệu chứng gì khác hiếm khi báo hiệu ung thư vú. Tuy nhiên, bị đau vú không rõ nguyên nhân gây khó chịu hay lo lắng nhiều thì cũng nên gặp thầy thuốc để được kiểm tra.
Các dấu hiệu và triệu chứng: Đau vú có thể diễn ra rõ rệt theo chu kỳ kinh; không có chu kỳ nghĩa là đau thường xuyên hay lúc đau lúc không và không liên quan đến chu kỳ kinh; và ngoài khu vực vú như đau cơ thành ngực nhưng vẫn cảm thấy có nguồn gốc từ vú. Những đặc điểm của đau vú có chu kỳ khác với đau vú không có chu kỳ:
• Đau vú có chu kỳ: Thường ở cả bên vú và ở toàn bộ vú, nhất là phần trên và phía ngoài của vú, lan ra nách. Có thể cảm thấy đau rất nhạy cảm, sưng hay có đám cứng ở VÚ đi kèm với đau. Phụ nữ thường mô tả cảm giác đau của mình là âm ỉ, nặng nề, nhiều nhất vào 1-2 tuần trước khi ra kinh, sau đó dễ chịu dẩn. Đau vú theo chu kỳ thường gặp nhất, có tỷ lệ khoảng 2/3 số trường hợp đau vú và hay gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30-40.
• Đau vú không có chu kỳ: Thường chỉ đau một bên vú và thường khu trú ở một vùng nhất định. Một số khác bị đau vú có tính chất lan toả và lan ra nách. Kiểu đau không theo chu kỳ này thường được mô tả dữ dội hơn, có tính chất nhức nhối, buốt nhói và thường gặp ở độ tuổi 40-50 hay sau mãn kinh.
Nguyên nhân: Không thể xác định được nguyên nhân đích thực trong phần lớn trường hợp mặc dầu đã có nhiều giả thuyết.
• Đau vú theo chu kỳ có vai trò của hormon dựa trên nhận xét sự giảm đau hay biến mất liên quan đến thai nghén hay mãn kinh; tuy nhiên hormon bất thường đến mức độ thì gây ra đau vú vẫn không thể xác định được.
• Đau vú không có chu kỳ không mấy khi kết hợp với một bệnh chính rõ rệt mà vì lí do giải phẫu nhiểu hơn là lí do hormon, có thể do nang vú, chấn thương vú hay các yếu tố khác khu trú tại vú gây ra. Cũng có khi đau vú có nguồn gốc bên ngoài vú như ở thành ngực, cơ, khớp hay tim và lan đến vú.
• Một số thuốc cũng có thể góp phần gây đau vú, như thuốc hormon dùng trong điều trị hiếm muộn và thuốc uống tránh thai. Vú cương đau có thể là do tác dụng của hormon liệu pháp với estrogen và progesterone, vì thế một số phụ nữ vẫn bị đau vú cả khi đã mãn kinh.
• Những phụ nữ có cặp vú đồ sộ có thể bị đau vú không theo chu kỳ chủ yếu do kích cỡ vú quá khổ, thường kết hợp với đau ở cổ, vai và lưng. Phẫu thuật giảm kích thước vú cũng là nguyên nhân gây đau vú vì sau khi vết mổ đã lành sẹo mà cảm giác đau vẫn tồn tại.
Khi nào cần gặp thầy thuốc? Khi đau vú kéo dài hay đau vú tái diễn. Nếu bị đau vú không có chu kỳ và khu trú ở một vùng nhất định của vú thì cũng cần được thầy thuốc khám. Khoảng 2-7% phụ nữ bị đau vú thể này có ung thư vú.
Tầm soát và chẩn đoán đau vú: Thầy thuốc trước tiên tìm hiểu về lịch sử bệnh - vị trí đau - những yếu tố có liên quan đến chu kỳ kinh... giúp giải thích nguyên nhân đau vú - Hỏi kỹ về thời gian đã bị đau vú - cường độ đau - đau 1 bên hay 2 bên - đã chụp vú lần cuối bao giờ - có tiết dịch ở núm vú - đã dùng thuốc gì - Đánh giá nguy cơ ung thư vú dựa trên các yếu tố như tuổi tác, lịch sử bệnh của gia đình, các tổn thương tiển ung thư nếu có - khám thực thể vú, các hạch bạch huyết vùng cổ và vùng nách - Kiểm tra tim phổi, thành ngực, bụng để loại trừ nguyên nhân đau từ ngoài vú và một sổ bệnh khác - Nếu bệnh nhân đã quá 35 tuổi thì nên chụp vú - Nếu có cục cứng hay vùng dấy rắn ở mô vú thì nên làm siêu âm và sinh thiết vú, kể cả với phụ nữ trẻ dưới 30 tuổi khi có nghi ngờ.
Điều trị: Rất ít phụ nữ bị đau vú cần một liệu pháp gì đặc biệt nếu không phát hiện bằng chứng nào về ung thư vú; rất nhiều khi đau vú tự qua đi sau vài tháng, có khi chỉ cần mang áo ngực hợp kích cỡ và dùng thuốc giảm đau thông thường.
• đầu tiên cần chữa bệnh chính hay những yếu tố gây đau vú (các thuốc đang dùng).
• Tiếp theo là biện pháp không dùng thuốc: thay đổi chế độ ăn uống (giảm ăn mỡ, hạn chế hay bỏ hẳn dùng cà phê có thể cải thiện triệu chứng đau theo kinh nghiệm của một số người), chườm lạnh, uống thuốc bổ sung như vitamin E; mang áo nâng vú khi vận động và cả khi ngủ nhất là khi vú nhạy cảm, dễ đau.
• Thuốc giảm đau không có nhân steroid có thể dùng cho kiểu đau không có chu kỳ hay thuốc bôi tại chỗ: Ace- taminophen (Tylenol)... Với kiểu đau có chu kỳ nặng, dùng loại thuốc có tác dụng mạnh hơn như Danazol, bromocryptine và tamoxifen.
• Dùng viên thuốc tránh thai hay điều chỉnh liều lượng thuốc tránh thai đang dùng.
• Bôi kem Progestogel cho đau vú do mất cân bằng giữa estrogen và progesterone.
• Nếu đang dùng liệu pháp hormon ở tuổi mãn kinh thì ngừng thuốc hay giảm liều.
Cuối cùng, cẩn ghi lại những ngày đau vú và những triệu chứng khác để phân biệt kiểu đau vú và giúp thầy thuốc có cách chữa hiệu quả.
Những băn khoăn về bệnh ở vú
Mọi phụ nữ, kể cả khi còn trẻ, đều nên quan tâm đến những biến đổi ở vú. Bệnh lý vú ở phụ nữ cũng đa dạng như bệnh lý ở cơ quan sinh sản, những dấu hiệu như có cục cứng ở vú, vú tiết ra dịch không bình thường hay những biến đổi trên bể mặt da vừa có thể báo hiệu một vấn đề nghiêm trọng nhưng cũng có thể không có gì đáng lo mà chỉ liên quan đến những biến đổi sinh lý thời kỳ kinh nguyệt và thai nghén. Phụ nữ chưa sinh đẻ cần biết ý nghĩa của một số biến đổi ở vú như sau:
Khi vú to nhỏ không đều hoặc núm vú tụt hoặc có cục nhỏ dính với mặt da, có thể kèm theo nổi hạch ở nách, trên xương đòn ĩ Chỉ cần có một trong các dấu hiệu trên đã cần đi khám ngay nhằm phát hiệu sớm ung thư vú. Phụ nữ cần được hướng dẫn để hiểu biết vể mô vú và có thói quen quan sát và sờ nắn vú của mình ngay từ tuổi dậy thì.
Khi vú mới bị cương và đau? Có thể là dấu hiệu sớm của thai nghén, cần làm xét nghiệm thai, nếu dương tính, gặp bác sĩ để được hướng dẫn chăm sóc thai.
Khi vú cương và đau đồng thời với chu kỳ kinh? Có thể do những thay đổi về hormon. Nếu thấy khó chịu, khó ngủ, tính tình thay đổi thì có thể là hội chứng tiền kinh nguyệt. Có thể dùng những viên thuốc thông thường để chống cương đau vú và tránh uống cà phê. Ibuproíen hoặc aspirin có tác dụng tốt cho những kỳ kinh đau.
Cảm thấy có cục cứng không đau ở sâu trong vú, có khả năng dính vào xương sườn, có thể là ung thứ vú. Cần gặp ngay bác sĩ.
Khi cả 2 bên vú đều cương đau hoặc thấy chậm kinh hoặc chu kỳ kinh không đều? Có thể liên quan tới hormon hoặc có thai, cũng có thể cả 2 vú đều có nang xơ. Để phân biệt, cẩn gặp ngay bác sĩ.
Khi có tổn thương vú như trầy loét mà không lành? Có thể là vấn đề nghiêm trọng, cẩn được bác sĩ khám càng sớm càng tốt.
Phần lớn những cục cứng ở vú là lành tính nhưng mọi phụ nữ ngay từ trẻ đều cần được hướng dẫn để biết tự kiểm tra vú: Đứng trước gương, hai tay để thõng hai bên sườn, rồi giơ cao 2 tay, quan sát xem có thay đổi gì về hình thái, kích thước của vú hay không. Đặt hai tay lên hông, ưỡn ngực và giơ cao hai tay lên quá đầu, làm như vậy để lộ rõ những gì bất thường ở giữa hai vú. Quan sát xem có gì nhăn nhúm, sưng, lõm và thay đổi ở bề mặt da hay không. Bóp nặn nhẹ hai núm vú bằng ngón cái và ngón trỏ xem có chất gì tiết ra không, màu trong hay lẫn máu. Giơ cao một tay, dùng tay phải để khám vú trái và tay trái để khám vú phải xem có cục cứng đau, dính...
Những tổn thương lành tính ở vú
Khi sờ thấy khối cứng ở vú, đừng vội hốt hoảng, vì đó có thể chỉ là một dạng biến đổi hoàn toàn lành tính. Trong thực tế, những biến đổi lành tính ở vú (u tuyến xơ, u mỡ, đau vú...) thường gặp hơn tổn thương ung thư.
Tổn thương lành tính thường thấy như:
• Do vi khuẩn, do tắc sữa, do bệnh quai bị, do lao, giang mai, nhiễm nấm.
• Bệnh bẩm sinh: núm vú tụt, nhiều núm vú.
• Phát triển sai lạc hay kém phát triển: nổi cục ở vú theo chu kỳ; nang vú; u xơ tuyến vú lành tính.
• Giãn ống dẫn sữa hoặc viêm quanh ống dẫn sữa: tiết dịch ở đầu vú; lỗ rò ở vú...
• Bệnh xơ nang: nang; quá sản biểu mô; dị sản biểu mô (epithelial metaplasia); u tuyến (adenosis).
• Liên quan đến thai nghén: ra sữa; áp-xe sau đẻ.
u xơ tuyến vú (íìbroadenoma): Là biến đổi lành tính ở vú, có cấu trúc xơ và mô tuyến. Loại tổn thương này không ung thư hoá. Biến đổi xơ hoá mô tuyến là sự phát triển quá mạnh mô các tiểu thuỳ vú, gây đau, tạo thành đám cứng và thường phải làm sinh thiết để phân biệt với ung thư.
Viêm vú (sau đẻ): Trong giai đoạn đầu, viêm vú có thể chủ yếu do tắc tia sữa ở một phần hay toàn bộ vú, do trẻ mút yếu. Khi gặp hiện tượng này, cẩn sửa lại cách cho con bú, cho trẻ áp sát hơn với vú để sữa mẹ ra được nhiều hơn ở vùng bị tắc và không cần kiêng cho con bú. Khi bị viêm vú trong thời gian này, có thể dùng kháng sinh nếu tình trạng không được cải thiện trong vòng 12 - 24 giờ hoặc nếu tình trạng ban đầu rất cấp tính.
Trong một số ít trường hợp viêm vú có thể phát triển thành áp-xe vú. Lúc này, cách điều trị tốt nhất là trích dẫn lưu (nghĩa là rạch một đường nhỏ trên ổ áp-xe để mủ thoát ra). Khi bị áp xe vú, người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con bú nếu không quá đau, hoặc cũng có thể lấy sữa ra bằng cách vắt. Nên cho con bú trở lại càng sớm càng tốt. Loại kháng sinh tốt nhất là Flucloxacillin, Erythromycin hoặc Cephalosporin vì vi khuẩn Staphylococcus aureus (tụ cẩu khuẩn vàng) nhạy cảm với những kháng sinh này. Làm cho sữa ra nhiều cũng đủ để chữa khỏi bệnh.
Vú quá to: Do quá nhạy cảm với hormon giới nữ, có thể xảy ra với một số phụ nữ sau đẻ, nhưng cũng có thể gặp ở con gái còn trinh. Sửa lại vú quá to là một chỉ định y học khi bệnh nhân thực sự có những khó chịu như đau lưng, đau cổ, có vấn đề ở ngoài da, khó thở. Mô mỡ, mô tuyến và da sẽ được lấy bớt đi và khi thực hiện can thiệp này thầy thuốc luôn phải chú ý duy trì núm vú và bảo đảm sự cân đối của quầng vú với vú vì lí do thẩm mỹ. Sau khi tạo hình, có thể có các tác dụng phụ như giảm hay mất cảm giác ở khu vực vú, nếu lấy đi nhiều mô tuyến thì sau này không thể nuôi con bằng sữa mẹ.
Với những khó chịu mà người mẹ phải chịu đựng vì vú phát triển quá to (đau lưng, cổ và khó thở) thì những mất mát do việc tạo hình thẩm mỹ giống như cái giá phải trả. Một số quan niệm cho rằng vú nhỏ kém phần hấp dẫn cho nên có người đã yêu cẩu được phẫu thuật để làm cho vú to ra.
Xơ nang vú (íìbrocystic change): Do trội estrogen (tức tỷ lệ giữa estrogen và progesterone cao so với nhóm phụ nữ làm đối chứng), điều trị bằng progesterone bôi ngoài da và kết quả là đa số người bệnh đã khỏi và vú trở lại bình thường sau 3 - 4 tháng. Trội estrogen là nguyên nhân gây bệnh u xơ nang và bổ sung progesterone tự nhiên bôi tại chỗ là phương pháp điều trị có hiệu quả, kết hợp với vitamin E 600 đơn vị quốc tế lúc đi ngủ, magiê (300mg mỗi ngày) và vitamin B6 (50mg mỗi ngày). Khi các nang xơ không còn nữa, có thể giảm liều lượng progesterone tới mức nhỏ nhất nhưng vẫn có hiệu quả và điều trị như thế nếu cần thiết trong suốt giai đoạn mãn kinh.
Mọi phụ nữ, kể cả khi còn trẻ, đều nên quan tâm đến những biến đổi ở vú. Bệnh lý vú ở phụ nữ cũng đa dạng như bệnh lý ở cơ quan sinh sản. Những dấu hiệu như có cục cứng ở vú, vú tiết ra dịch không bình thường hay những biến đổi trên bể mặt da có thể chỉ liên quan đến những biến đổi sinh lý thời kỳ kinh nguyệt và thai nghén.
Ngứa thường là triệu chứng của một bệnh chính nào đó chứ không phải là nguyên phát. Ngứa âm hộ có thể do sự ẩm ướt gây ra (mồ hôi, nước tiểu, dịch xuất tiết âm đạo) hoặc do nhiễm khuẩn âm đạo, viêm âm hộ, nhiễm HPV (virus gây u sùi), són phân, chế độ ăn có nhiều chất kích thích (cà phê, cà chua, lạc). Điều trị bằng kháng sinh có thể dẫn đến nhiễm khuẩn nấm và gây ngứa, kích thích vùng âm hộ. Một số bệnh cũng có thể tăng khả năng bị nhiễm nấm, ví dụ như bị bệnh tiểu đường (đái tháo đường) hay nhiễm HIV. Tình trạng viêm mãn tính vùng ầm hộ cũng tạo điều kiện thuận lợi để có những biến đổi dẫn đến ác tính ở mô
Ngoài ra còn có nhiều tình huống khác gây ngứa vùng sinh dục:
Có giun kim: Khi người nhiễm giun kim ngủ, giun cái di chuyển đến hậu môn và đẻ trứng quanh hậu môn với số lượng lớn (10-15 ngàn trứng) và gây ngứa.
Bệnh vẩy nến và các bệnh ngoài da khác: Vẩy nến là một dạng viêm da mãn tính, chưa rõ nguyên nhân nhưng có thể là bệnh gien di truyền.
Dị ứng: Với những chất liệu tiếp xúc (đồ lót, băng vệ sinh...) hay các hóa chất có trong xà bông, thuốc khử mùi, thuốc tránh thai.
Tóm lại, khi phụ nữ bị ngứa vùng cơ quan sinh dục, thầy thuốc cần khám để tìm những tác nhân có thể gây ra khó chịu này để có liệu pháp thích hợp.
mong admin giúp đỡ
http://www.webtretho.com/forum/f77/nhung-dau-hieu-khac-thuong-bat-buoc-phai-di-kham-phu-khoa-2498401/
Có tác giả mô tả chức năng cơ bản của âm đạo là tạo ra con đường để dẫn tới tử cung và phần còn lại của cơ quan sinh dục trong (vòi trứng, buồng trứng), nếu như thế thì mới chỉ là 50% của chức năng, một nửa còn lại không kém quan trọng là để đảm bảo đời sống tình dục. Chính vì điều này mà nhiều phụ nữ muốn giữ cho bộ phận cơ thể này sạch sẽ và hấp dẫn.
Cũng nên nhắc lại là trong cuộc khảo sát được cho là lớn nhất kể từ 1994 về hành vi tình dục ở Mỹ (do một nhóm các nhà nghiên cứu của trung tâm phát triển sức khỏe tình dục của trường đại học Indiana tiến hành, nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình dục ở Mỹ khi bước vào thế kỷ 21) đã cho thấy hành vi tình dục hiện đại rất đa dạng: Với nam, 77% cho biết đã tiếp nhận và 75% cho biết đã có quan hệ tình dục theo đường miệng với bạn tình nữ. Còn nữ, 76% cho biết đã tiếp nhận và 73% đã có quan hệ tình dục theo đường miệng với bạn tình nam (những kết quả bước đầu của khảo sát đã được giới thiệu trong 9 bài báo khoa học công bố trên số đặc biệt của tạp chí The Ịournal of Sexual Medicine, 1 tháng 10/201 o ).
Điều quan trọng cần biết trước tiên: Mọi phụ nữ cần biết sự xuất tiết ở âm đạo là tự nhiên vì ở cổ tử cung và âm đạo có những tuyến luôn tiết ra một lượng nhỏ dịch hàng ngày và mang theo những tế bào phủ bề mặt âm đạo ra ngoài. Chính sự xuất tiết bình thường này giúp làm sạch âm đạo, giữ cho âm đạo trơn ướt và không bị nhiễm khuẩn. Sự xuất tiết bình thường ở âm đạo thường hoàn toàn không có mùi, có màu trong hoặc trắng sữa khi khô để lại vết trắng trên đồ lót.
Cụm từ “khí hư” mà nhiều phụ nữ quen dùng không phải để chỉ sự xuất tiết bình thường mà chủ yếu là hậu quả của nhiễm khuẩn.
Vì sao có sự thay đổi ở chất xuất tiết âm đạo? Có nhiều điều kiện gây ra sự thay đổi ở chất xuất tiết âm đạo về lượng cũng như về độ dai dính: Trong chu kỳ kinh - Khi có những cảm xúc căng thẳng (stress) - Đang có thai - Dùng thuốc, kể cả viên thuốc tránh thai - Hưng phấn tình dục - Cho con bú - Rụng trứng - Chế độ ăn.
Nhiều hoàn cảnh khác cũng có thể làm thay đổi cần bằng kiểm toan (pH) tự nhiên của môi trường âm đạo và dẫn đến nhiễm khuẩn âm đạo, ví dụ như thụt rửa hay rửa sâu vào âm đạo, dùng sản phẩm vệ sinh dành cho nữ không tốt, không hợp lý, dùng xà bông có mùi thơm hay để khử mùi, dùng kháng sinh, có bệnh tiểu đường hay có bệnh nhiễm khuẩn khác.
Chu kỳ kinh nguyệt có ảnh hưởng đến xuất tiết âm đạo như thế nào? Rất nhiều và trong suốt chu kỳ kinh. Nhiều phụ nữ nhận thấy dễ bị nhiễm khuẩn âm đạo vài ngày trước hay trong khi đang hành kinh, nguyên nhân là do cân bằng kiểm-toan của môi trường âm đạo thay đổi, nồng độ toan trở nên thấp nhất vào những ngày này. Vào giữa 2 kỳ kinh, lượng xuất tiết âm đạo tăng (độ trơn ướt tăng) và chất xuất tiết trong hơn cũng là bình thường mà còn báo hiệu có rụng trứng.
Một số dấu hiệu có thể cho thấy sự xuất tiết âm đạo không bình thường và có nhiễm khuẩn, bao gồm: Có sự thay đổi về màu sắc, độ dính hay số lượng - Xuất tiết âm đạo tăng thường xuyên - Ngứa, khó chịu hay có vết ban đỏ ở âm đạo - Cảm giác nóng rát ở âm đạo hay khi đi tiểu - Ra máu ngoài thời kỳ hành kinh - Chất xuất tiết âm đạo đặc giống như bã đậu hay pho mai
- Chất xuất tiết tụ thành đám có màu vàng, xanh hay hơi đen kèm có mùi hôi.
Nếu có xuất tiết âm đạo kèm với bất cứ dấu hiệu nào kể trên cần gặp thấy thuốc để được chẩn đoán và điều trị. Xuất tiết âm đạo không bình thường là thường gặp và phụ nữ nào cũng có thể trải qua ít nhất một lần trong đời.
Phòng ngừa xuất tiết âm đạo không bình thường và nhiễm khuẩn âm đạo như thế nào?
(Xem phần dưới: Làm gì để có hệ vi sinh âm đạo hoàn hảo hay một số khuyến cáo về vệ sinh phụ nữ).
Nhiều nam giới vẫn cho rằng bạn tình nữ có sức quyến rũ từ những nét duyên rất nhỏ, có thể là nụ cười, khóe mắt... và tất nhiên mùi cơ thể nói chung hay cảm nhận về sự sạch sẽ cũng rất hấp dẫn và để lại ấn tượng khi mà ngày nay hành vi tình dục rất đa dạng.
Dịch xuất tiết có thể thay đổi về đậm độ (sệt hay loãng), màu sắc (trong, đục), mùi (không mùi hay hôi). Có một ít dịch âm đạo là chuyện bình thường, nhất là ở độ tuổi sinh sản. Các tuyến ở cổ tử cung tiết ra niêm dịch trong suốt nhưng có thể chuyển thành trắng hay vàng khi ra ngoài không khí. Đó là sự thay đổi bình thường.
Niêm dịch cổ tử cung thay đổi trong suốt chu kỳ kinh, phụ thuộc vào nổng độ estrogen lưu hành trong máu. Dịch tiết âm đạo bỗng nhiên thay đổi về màu sắc, mùi, hay đậm độ, tăng hay giảm về lượng xuất tiết có thể có vấn đề nào đó, ví dụ nhiễm khuẩn.
Dịch tiết âm đạo có thể thay đổi do: Trong cuộc sống có stress (căng thẳng, đau buồn, lo lắng...) - Thời kỳ rụng trứng - Có hưng phấn tình dục.
Những bệnh lý gây thay đổi dịch tiết âm đạo bao gổm: Loạn khuẩn âm đạo - ung thư cổ tử cung - bệnh viêm âm đạo do chlamydia, do trùng doi, do nấm - quên tampon (một loại gạc cuộn dùng trong hành kinh) hay có dị vật trong âm đạo - các bệnh lây truyẽn qua đường tình dục khác.
Tự chăm sóc: Giữ cho khu vực sinh dục khô ráo - Tránh thụt rửa sâu vào âm đạo vì làm mất cân bằng hệ vi sinh của âm đạo - Chữa viêm âm đạo theo nguyên nhân - Xây dựng cuộc sống không có stress - dùng bao cao su khi quan hệ tình dục - kiểm soát đường huyết nếu bị bệnh tiểu đường.
Gọi là bệnh phụ khoa thông thường khi có nhiễm khuẩn ở hệ sinh sản nữ, kể từ viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung cho đến tử cung và 2 phần phụ (gồm vòi trứng và buồng trứng). Khi tử cung và 2 phần phụ nhiễm khuẩn nặng còn gọi là bệnh nhiễm khuẩn vùng tiểu khung. Tuỳ thuộc vào từng bộ phận
bị bệnh và tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có các dấu hiệu và triệu chứng khác nhau nhưng khi có nhiễm khuẩn ở cơ quan sinh sản thường có bệnh cảnh: Sốt, gai rét - Đau vùng hố chậu (bụng dưới) - Ngứa - Xuất tiết âm đạo.
Sự tiết dịch âm đạo là một tín hiệu rất quan trọng để biết mức độ lành mạnh của âm đạo, giữ cho âm đạo không bị ẩm ướt, làm sạch và tự bảo vệ để không bị nhiễm các vi khuẩn gầy bệnh. Dịch tiết âm đạo bình thường có màu trong suốt đến trắng sữa và gần như không mùi. Sự thay đổi chút ít trong chu kỳ là hoàn toàn bình thường. Cả khi sự tiết dịch âm đạo nhiều lên cũng không là nguyên nhân để lo lắng, ví dụ khi có kích thích tình dục, khi có thai và dùng thuốc ngừa thai. Tất nhiên khi sự tiết dịch có thay đổi rõ rệt về màu sắc, tính chất hoặc có mùi thì đó có thể là dấu hiệu bệnh lý. Lúc này sự tiết dịch gọi là khí hư (còn gọi là huyết trắng). Biết nhận xét sự xuất tiết âm đạo không bình thường là biết khi nào hệ vi sinh âm đạo bị mất cân bằng.
Xuất tiết âm đạo nhiều do những nguyên nhân nào?
Có thể gặp trong nhiều tình huống:
• Khi mang thai: Sự tràn ngập hormon trong cơ thể làm tăng niêm dịch cổ tử cung, cơ thể giữ nước, tình trạng máu bị pha loãng, mô âm đạo dễ nhiễm khuẩn hơn so với khi không mang thai. Tăng xuất tiết âm đạo khi có thai nhưng dịch bình thường về màu sắc và tính chất, đó chỉ là một phản ứng của sự thay đổi hormon trong cơ thể.
• Dùng viên thuốc tránh thai: Người ta có thể cho rằng những phụ nữ dùng viên thuốc tránh thai có quan hệ tình dục thường xuyên hơn nên dễ phơi nhiễm hơn với nhiễm khuẩn nhưng cũng có thể do các viên thuốc tránh thai ngăn cản sự bài tiết niêm dịch ảm đạo do hormon gầy ra. Như vậy, viên thuốc tránh thai đã làm mất tác dụng của hormon cơ thể.
• Thiếu máu, suy nhược cơ thể cũng gây xuất tiết âm đạo nhiều và lỏng như nước.
• Xuất tiết nhiều vào thời điểm cực khoái, hiệu quả của cảm xúc tình dục, do tuyến Skene (được coi là tuyến tiền liệt của nữ) ở âm hộ tiết ra và chính dịch xuất tiết này cũng tham gia vào việc làm trơn ướt âm đạo.
• Thời kỳ rụng trứng giữa chu kỳ kinh thường tăng xuất tiết âm đạo.
Chỉ những trường hợp sau mới do nguyên nhân bệnh lý (thường gọi là khí hư hay huyết trắng)
• Chất xuất tiết âm đạo có màu trắng như bột và ngứa: Có thể bị viêm âm đạo do nấm, hay phối hợp với trùng doi. Bình thường trong môi trường âm đạo vẫn có vi khuẩn lành tính tạo ra độ toan nhẹ cho âm đạo để khống chế sự phát triển của nấm candida albicans. Bất cư nguyên nhân gì tiêu diệt vi khuẩn âm đạo tạo ra độ toan đểu làm cho nấm phát triển, ví dụ dùng thuốc kháng sinh dài hạn, thường xuyên thụt rửa âm đạo, xịt nước hoa...
Chất xuất tiết âm đạo có màu xanh hơi vàng và có mùi hôi: Nếu kèm đau bụng dưới thì cần đi khám ngay vì có thể do nhiễm khuẩn cấp ở tử cung, ở 2 vòi trứng và các mô xung quanh (nên gọi là viêm tiểu khung). Bệnh lý này có thể không có nguyên nhân rõ ràng nhưng thường lan truyền từ âm đạo, từ quan hệ tình dục, đôi khi từ dụng cụ tử cung hoặc sau nạo thai, sảy thai. Triệu chứng thường gặp nhất là xuất tiết âm đạo có màu sắc bất thường, mùi hôi (có khi như mủ) - đau vùng bụng dưới - sốt (không thường xuyên).
Ngoài ra, có thể có: gai rét - ra kinh không đều hay ra máu giữa kỳ - đau bụng kinh nhiều hơn - mất kinh - đau vào thời điểm rụng trứng nhiều hơn - đau khi quan hệ tình dục - ra máu sau quan hệ tình dục - đau vùng thắt lưng - mỏi mệt - ăn kém ngon - buồn nôn, có thể kèm nôn hoặc không - đái vặt nhiều lần - đái buốt - dễ đau khi đụng chạm vào vùng tiểu khung.
Xuất tiết âm đạo nhiều, hôi, kèm theo ngứa, rát: Có thể bị viêm âm đạo do trùng doi trichomonas.Khi mất cân bằng hệ vi sinh: Tức là bị loạn khuẩn âm đạo, nếu lại thêm cả nhiễm khuẩn sẽ là viêm âm đạo do loạn khuẩn. Biểu hiện của rối loạn này là các khó chịu như ngứa, đau rát hay mùi hôi.
• Chất xuất tiết đỏ hay có màu nâu hoặc đôi khi có ra máu giữa kỳ: Cần đi khám để loại trừ ung thư cổ tử cung. Bệnh nguy hiểm này thường không có những dấu hiệu hay triệu chứng sớm, vì thế điểu quan trọng là cần xét nghiệm tế bào âm đạo - cổ tử cung ít nhất mỗi năm 1 lần cho phụ nữ từ độ tuổi 40 trở lên, người có yếu tố nguy cơ còn cần làm sớm hơn (gia đình có người đã từng bị ung thư, quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình bị viêm nhiễm âm đạo do HPV loại virus gây viêm âm đạo và dễ làm phát triển tổn thương ung thư cổ tử cung). Khi đã xuẫt hiện các dẫu hiệu thì có thế bệnh đã tiến triến.
Các dấu hiệu và triệu chứng: ra khí hư (huyết trắng) bất thường (không phải vào ngày có kinh). Ra máu âm đạo ít, ngoài kỳ kinh. Đau và ra máu khi quan hệ tình dục. Bệnh cảnh nói trên chưa hẳn đã là do ung thư nhưng cần gặp thầy thuốc để xác định. Hiện nay, ở nước ta đã có chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung bằng việc làm phiến đồ tế bào âm đạo và phát hiện nhiễm HPV.
• Cũng có khi do quên tămpông (bấc gạc thấm máu hành kinh) hay màng ngăn âm đạo không rút ra.
Phiền phức nhưng hiếm khi là bệnh nguy hiểm.
Gọi là vú tiết dịch là khi có dịch tiết ra ở núm vú ngoài thời kỳ có thai hay cho con bú. Đây là trạng thái gây lo ngại đứng hàng thứ 3 khiến phụ nữ phải tìm gặp thầy thuốc sau cục cứng ở vú và đau vú.
Có nhiểu kiểu tiết dịch với đậm độ và màu sắc khác nhau:
* trắng đục (có thể là tiết sữa thực sự)
* trắng loãng (có thể do có thai)
* Lẫn máu (có thể do nhiễm khuẩn hay ung thư vú)
* Vàng nhạt hay xanh, có mủ (do nhiễm khuẩn).
Có thể một bên hay cả 2 bên vú đều tiết dịch, có thể tiết dịch tự nhiên hay phải nặn vú mới ra.
Vú tiết dịch là triệu chứng hay gặp ở phụ nữ nhưng nếu gặp ở nam giới thì là điểu khó hiểu và cần xem xét kỹ.
Nguyên nhân Vú tiết dịch: Đôi khi sự tiết dịch ở vú có thể tự khỏi. Hầu hết các trường hợp tiết dịch là do bệnh lành tính nhưng cũng có thể do ung thư, nhất là khi: Phụ nữ trên 40 tuổi - Có cục cứng ở vú - Dịch tiết có lẫn máu - Chỉ một bên vú bị tiết dịch.
Những nguyên nhân có thể gây tiết dịch bao gồm: Áp-xe (túi mủ) - ung thư - nhiễm khuẩn - vú bị kích thích quá nhiều - u xơ tuyến vú - nang xơ tuyến vú - ung thư tại chỗ ống dẫn sữa (ductal carcinoam in situ) - tiết sữa thực sự - mất cân bằng hormon.
Thương tích hay chấn thương ở vú - u gai trong ống dẫn sữa (intraductal papilloma) - dùng một số thuốc - bệnh Paget - có thai - u lành tính tuyến yên gây tăng prolactin.
Dù hiếm khi sự tiết dịch ở vú là dấu hiệu của ung thư vú nhưng cũng là biểu hiện của một bệnh chính cần điều trị. Nếu phụ nữ đang còn hành kinh và sự tiết dịch ở vú không tự qua đi sau 2 kỳ kinh hoặc sự tiết dịch gây nhiều phiền phức thì cần gặp thầy thuốc.
Nhức nửa bên đầu: Tỷ lệ phụ nữ bị nhức nửa bên đầu (migraine) trong 2 ngày đầu hành kinh gấp đôi so với thời gian còn lại của chu kỳ kinh nguyệt. Cũng có khi nhức đầu vào hai ngày trước kỳ kinh, đến thời điểm phóng noãn thì nguy cơ nhức đầu giảm đi. 70% số người bị nhức nửa bên đầu là phụ nữ, 28% không có triệu chứng báo trước và thường phối hợp với chu kỳ kinh nguyệt nhưng không có gì khác vê’ mức độ đau hay kéo dài so với những nguyên nhân khác ngoài kỳ kinh (ví dụ do uống rượu). Kinh nguyệt là một yếu tố phát động mạnh gây nhức nửa bên đầu - một bệnh thường thể hiện ngay từ tuổi vị thành niên, có liên quan đến sự dao động của hormon giới tính nữ trong chu kỳ kinh nguyệt, chủ yếu là do sự tụt giảm estrogen (cho nên mới thường đau đầu vào nửa sau của chu kỳ kinh là giai đoạn hoàng thể) và noãn tăng mức độ kích thích.
Ở Mỹ nhức nửa bên đầu là nguyên nhân gây tổn thất 157 triệu ngày công hàng năm, làm giảm năng suất lao động và chất lượng cuộc sống. Nhức nửa bên đầu do cơ thể kéo dài từ vài phút đến vài ngày, cảm giác đau giần giật nửa bên đầu kèm theo buồn nôn hoặc nôn, nhạy cảm với ánh sáng, tiếng động và mùi.
Rối loạn tiêu hóa: Không phải hiếm gặp trong chu kỳ kinh nguyệt. Có người bị tiêu chảy vào tuần lễ trước hành kinh và bị táo bón trong tuần lễ sau hành kinh. Trước hết nên xem lại chế độ ăn trong những thời gian này (đủ, cân đối, đa dạng). Có người thích hợp với chế độ ăn nhiểu rau quả, đậu đỗ, không mặn quá cũng không ngọt quá, tránh rượu, cà phê.
Có người ưng ăn làm nhiều bữa nhỏ hơn là 2 - 3 bữa chính. Ăn nhiều loại rau quả khác nhau là cung cấp những chất xơ khác nhau để chống đại tiện không thành khuôn. Những loại xơ tan trong nước (pectin) có trong nhiều loại quả có tác dụng hút nước làm cho phân cứng hơn, những loại xơ không tan trong nước có trong cám của đậu đỗ, hạt làm cho phân mềm ra. Nên ăn nhiều hoa quả trước khi hành kinh, rồi bổ sung đậu đỗ vào bữa ăn sáng vào tuần lễ sau hành kinh. Mỗi người nên thử tìm cách ăn và điều chỉnh cho tới khi cảm thấy thích hợp nhất cho 2 tuần lễ trước và sau hành kinh.
Tổn thương khớp gối: Người ta nhận thấy rằng khi nồng độ estrogen ở mức cao nhất trong chu kỳ kinh thì người phụ nữ lại dễ bị tổn thương khớp gối - đặc biệt là dây chằng trước đùi (anterior cruciate ligament, viết tắt là ACL). Tổn thương loại này chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới gấp 8 lần, khiến phải can thiệp bằng phẫu thuật và phải mất 1 năm mới hồi phục. Sang chấn khớp gối thường xảy ra vào thời kỳ rụng trứng - thời kỳ có đặc trưng là sự tăng cao estrogen và hormon relaxacin.
Sự dao động của hormon có thể là yếu tố quan trọng gầy ra tổn thương rách ACL ở phụ nữ tuy chưa biết chính xác estrogen có vai trò như thế nào. Có thể estrogen và relaxin đã có tác động sâu sắc đến hệ thống thần kinh - cơ và chức năng cơ giới của các mô mềm như dầy chằng và gần.
Nếu đúng như thế thì tại sao các khớp khác như khớp cổ chân, khớp vai không bị tổn thương. ACL là dây chằng chạy qua trung tầm của khớp gối và kiểm soát cử động quay tròn của khớp gối. ACL cùng với các cơ của cẳng chân - cơ kheo và cơ tứ đầu đùi - giữ cho khớp gối vững chắc. Khi những cơ này bị căng giãn quá mức như trong các cử động cẳng chân giữ nguyên nhưng phần thân mình lại xoay chuyển thì có thể làm rách dây chằng trước đùi (trong các vận động như chơi bóng rổ, bóng đá và bóng chuyền).
Phụ nữ dễ bị tổn thương khớp gối vì do chính những đặc tính sinh lý của mình: Khung chậu rộng tạo ra một sức ép mạnh hơn lên phần trong của khớp gối, sức mạnh của nhóm cơ ở cẳng chân yếu hơn và sức chịu đựng cũng kém hơn. Một giả thuyết khác cho rằng khớp gối của phụ nữ dễ bị tổn thương vì các vận động viên nữ dựa quá nhiểu vào cơ nhóm cơ tứ đầu đùi mà ít dựa vào nhóm cơ ở kheo chần, có lẽ là do luyện tập không đúng phương pháp.
Tiểu đường: Phụ nữ bị bệnh tiểu đường típ I khó kiểm soát được đường huyết trong tuần lễ đầu trước kỳ kinh, với mức đường huyết hoặc cao hơn hoặc thấp hơn thường lệ. Vấn để này xem ra rất phổ biến ở những phụ nữ có những triệu chứng tiểu đường kết hợp với hội chứng tiền kinh nguyệt. Nguyên nhân có thể là do hormon estrogen và progesterone.
Trong nửa đầu của chu kỳ kinh, nồng độ của hai hormon này tương đối thấp. Nửa sau của chu kỳ kinh, sau khi đã rụng trứng, nồng độ estrogen và progesterone tăng lên, ỉàm cho nội mạc tử cung phát triển, dẩy lên, chuẩn bị để đón trứng đã thụ tinh. Nếu trứng không được thụ tinh thì buồng trứng ngừng bài tiết hai hormon nói trên và sự tụt đột ngột của hormon đã làm cho nội mạc tử cung bong, đó là kinh nguyệt.
Người ta cho rằng ở một số phụ nữ có nồng độ progesterone cao có thể làm cho nổng độ đường (glucoza) thấp hơn bình thường. Chính tình trạng phù nề, giữ nước, dễ cáu kỉnh, trầm cảm, thèm ăn đường và mỡ - đặc trưng của hội chứng tiền kinh nguyệt là nguyên nhân dẫn đến không kiểm soát được mức đường huyết.
Muốn biết chu kỳ kinh nguyệt có tác động gì đến sự kiểm soát đường huyết thì người phụ nữ cần theo dõi mức đường huyết cao hay thấp hàng ngày trong tuần lễ trước khi có kinh. Nếu mức đường huyết thường xuyên cao hay thấp hơn bình thường, như thế việc đầu tiên cần làm là điểu trị hội chứng tiền kinh nguyệt: kiên trì một chế độ ăn điều độ càng nhiều bữa càng tốt, hạn chế ăn mặn (muối làm tăng thêm sự phù nề), bỏ rượu, cà phê là những thứ có thể ảnh hưởng không chỉ đến nồng độ đường huyết mà cả trạng thái khí chất của con người.
Vận động thường xuyên giúp hạn chế sự thay đổi khí chất và giảm tăng cân. Một chế độ ăn uống, vận động kết hợp với sự chỉ dẫn của thầy thuốc trong những ngày trước hành kinh có thể giúp kiểm soát được đường huyết.
Nhiều thầy thuốc chưa có sự đồng thuận về chuyện sau bao nhiêu năm có kinh bình thường thì có thể làm cho mất kinh.
Tuổi vị thành niên có được dùng không cũng là vấn đề khó trả lời vì chưa có hướng dẫn chính thức, chưa có nhiều nghiên cứu nhưng điều quan ngại là TTT dùng kéo dài có thể ảnh hưởng đến tỷ trọng xương. Điểu quan trọng này ngày càng được quan tâm.
Về lý thuyết, có thể tác động đến thời điểm ra kinh ở bất kể tuổi nào nhưng nhóm tuổi dùng TTT hầu hết là từ 18 - 22.
CÓ thuốc để giảm bớt các chu kỳ kinh của phụ nữ không?
Ngay từ năm 2006, FDA (cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ) đã ủng hộ viên TTT có tên là Seasonique, có tác dụng kéo dài và làm cho phụ nữ chỉ ra kinh 4 lần trong 1 năm thay vì ra kinh hàng tháng như các TTT trước đây. Seasonique là thế hệ TTT tiếp theo của viên thuốc có tên là Seasonale, cũng làm cho các chu kỳ kinh kéo dài, đã tung ra thị trường từ 2003. Sea- sonique có hiệu quả tránh thai đến 99% nếu dùng theo đúng chỉ dẫn, vì đã được trên khoảng 2500 phụ nữ Mỹ từ 18-44 tuổi, dùng thuốc trong 12 tháng mà chỉ có 4 kỳ hành kinh, mỗi chu kỳ kinh kéo dài 91 ngày và các tác dụng phụ cũng tương tự như các viên TTT uống khác.
Sự khác biệt giữa Seasonique và Seasonale là ở chỗ với Sea- sonale người phụ nữ vẫn dùng những viên thuốc có hormon trong 81 ngày, 7 ngày tiếp theo là những viên thuốc không có tác dụng (không chứa hormon), như vậy cứ 3 tháng phụ nữ ra kinh
1 lần (tức 4 kỳ hành kinh mỗi năm) trong khi với Seasonique, phụ nữ uống những viên thuốc có hormon trong 84 ngày và 7 ngày tiếp theo có bổ sung một hàm lượng estrogen thấp, như thế có thể đem lại lợi ích là giảm được ra máu giữa kỳ và vẫn ra kinh khoảng 4 lẩn mỗi năm. Những người dùng loại TTT có tác dụng kéo dài chu kỳ này có thể dễ bị chảy máu hay ra máu rải rác giữa
2 kỳ kinh, những sự cố này có xu hướng giảm ở những chu kỳ kinh sau này khi phụ nữ vẫn tiếp tục dùng thuốc. Nhà sản xuất thuốc cho rằng thuốc uống tránh thai không phải là thuốc dành cho mọi phụ nữ mà các tác dụng phụ nghiêm trọng cũng như nhẹ đểu có thể xảy ra với TTT có hormon và nguy cơ có các tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm tạo thành cục máu đông, đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị các tác dụng phụ tim mạch nặng, nhất là khi phụ nữ trên 35 tuổi. Tất nhiên, TTT uống không bảo vệ phụ nữ tránh bị nhiễm HIV (virus gảy bệnh AIDS) hay các bệnh lầy truyền qua đường tình dục khác.
Loại TTT uống có tên là Lybrel, luôn có hormon và uống liên tục trong 365 ngày, đã làm cho phụ nữ hoàn toàn không còn ra kinh.
Yasmin là TTT ít gây hội chứng tiền mãn kinh, ít gầy trứng cá, vỉ 28 viên mỗi tháng, 21 viên có tác dụng và 7 viên chỉ là thuốc vờ. Các kỳ kinh nhẹ ít ra máu và đều hơn.
Tóm lại, mọi phụ nữ dùng viên TTT đều cần được thầy thuốc khám định kỳ hàng năm, kiểm tra huyết áp, làm phiến đổ tế bào cổ tử cung, khám vú và tiểu khung. Vì hiện nay chưa có nhiểu nghiên cứu về TTT dùng dài hạn để không có kinh hoàn toàn hoặc để kinh thưa nên tốt nhất chỉ dùng trong một số trường hợp nhất định và theo chỉ dẫn của thầy thuốc chứ không thể dùng theo sự mách bảo nhau hoặc tự ý.
Nữ giáo sư về nội tiết và chuyển hoá trường đại học British Columbia, Jerilyn c. Prior nói về ý muốn “làm mất kinh cho sạch” của một số phụ nữ: Kinh nguyệt bình thường có ý nghĩa rất quan trọng với sức khỏe phụ nữ và chu kỳ kinh bình thường có một cơ chế cực kỳ phức tạp, do những hoạt động thần kinh của não tạo ra và có tác dụng đến sức khỏe toàn thần, chứ không chỉ vì mục đích sinh sản. Kinh nguyệt bình thường có lợi ích đến xương và hệ tim mạch của phụ nữ. Nếu giảm các kỳ kinh đến mức không còn nữa là phản khoa học.
Làm mất kinh hoàn toàn có an toàn?
Cho tới nay chưa có đủ dữ liệu để khẳng định làm mất kinh là an toàn. Cần có những nghiên cứu sầu và rộng hơn nữa về ảnh hưởng đến sức khỏe của thực hành này, kể cả ảnh hưởng đến xương, những nguy cơ tạo thành cục máu và đột quỵ, tác động đến khả năng sinh sản và nhiều vấn đẽ khác. Mối quan tâm hàng đầu là nếu dùng TTT liên tục thì có tăng nguy cơ ung thư vú không vì theo sinh lý bình thường thì vú cẩn có thời gian nghỉ, không chịu tác động của hormon mỗi tháng. Chính vì thế mà trong những ngày ra kinh nồng độ estrogen và progesterone thấp. Với việc cung cấp thường xuyên hormon, vú không bao giờ được nghỉ.
Có những tác dụng phụ gọi là chấp nhận được khi dùng TTT hormon, ví dụ tăng nguy cơ bị cục máu đông (một sự thoả hiệp để đạt mục đích tránh thai) nhưng nếu không để tránh thai mà chỉ vì không muốn có kinh nữa thì đó là sự lựa chọn vê' lối sống và cần phải nhìn nhận về nguy cơ với cách nhìn hoàn toàn khác, có đáng để làm như thế không.
Hiệu quả của thuốc làm mất kinh?
Làm mất kinh không phải là chuyện chắc chắn, không phải bao giờ cũng có hiệu quả. Rất hay bị ra máu bất thường, nhất là trong 3 - 6 tháng đầu, đó là khó khăn với phụ nữ. Sau khoảng 6 tháng, 70% phụ nữ dùng TTT dài hạn không còn ra máu nữa; sau 1 năm tăng lên 90%. Các nhà nghiên cứu vẫn cố gắng tìm cách giảm sự ra máu bất thường. Những phụ nữ nào không muốn bị ra máu có thể không muốn dùng loại thuốc mới.
Bình thường một năm người phụ nữ có từ 11 đến 13 chu kỳ kinh, kinh thưa là khi số chu kỳ kinh 1 năm dưới con số nói trên, nói cách khác, khi chu kỳ kinh có khoảng cách trên 35 ngày, mỗi năm chỉ có từ 4 đến 6 chu kỳ kinh. Các kỳ kinh vẫn có thể bình thường và vẫn có rụng trứng chỉ có điều ít xảy ra hơn.
Kinh nguyệt thưa hay xảy ra nhất ở phụ nữ sắp đến tuổi mãn kinh nhưng một số phụ nữ có kinh thưa suốt những năm ở tuổi trưởng thành do họ có chu kỳ hormon đặc biệt. Không có lí do rõ ràng nhưng một số ít phụ nữ ra kinh (kèm có rụng trứng) đều đặn 2 tháng 1 lẩn, như thế cũng là bình thường và không có gì phải quan ngại.
Cũng rất thường gặp khi khởi đầu và khi kết thúc tuổi sinh sản phụ nữ hay bị mất kinh hoặc kinh nguyệt không đều; điều này thường là do có sự điều phối không hoàn hảo giữa vùng dưới đồi, tuyến yên và buồng trứng.
Kinh thưa có thể trở thành mất kinh nếu như không có kinh 6 tháng hoặc hơn. Kinh nguyệt thưa không gây nguy hiểm cho sức khỏe và thường không cần điều trị gì trừ phi muốn có thai vì có thể do bất thường ở trục tuyến dưới đồi, tuyến yên và buồng trứng.
Những yếu tố thể chất và cảm xúc có thể dẫn đến kinh thưa
• Trạng thái stress
• Có bệnh mãn tính.
• Ư của thùy trước tuyến yên; các khối u tiết ra estrogen; cường hormon tuyến giáp (bệnh Graves)
• Thay đổi hormon quanh tuổi mãn kinh
• Hội chứng Prader-Willi (bệnh về gien hiếm gặp, do có bất thường ở nhiễm sắc thể 15 của người bố).
• Vận động thể chất quá nhiều (vận động viên chạy, bơi, vũ nữ ballet... thường có kinh thưa so với phụ nữ cùng
độ tuổi, thậm chí mất kinh). Tam chứng của nữ vận động viên luyện tập quá nhiều là rối loạn kinh nguyệt - rối loạn về ăn uống và loãng xương. Tam chứng này đã được nói đến từ năm 1993 khi nhận thấy có sự kết hợp mất chất khoáng ở xương, gẫy xương do luyện tập căng thẳng và rối loạn ăn uống. Tỷ lệ mỡ cơ thể và cần nặng quá thấp.
• Dùng các thuốc steroid đổng hóa để tăng thành tích thể thao.
• Cho con bú cũng gây ra chu kỳ kinh không đểu do những hormon làm cho rụng trứng chậm xảy ra.
• Bệnh buồng trứng đa nang, gây kinh nguyệt không đều từ
kinh thưa cho đến mất kinh hoặc ra kinh rất nhiều. Bệnh này chiếm tỷ lệ khoảng 6% ở tuổi quanh mãn kinh và liên quan đến sự tiết quá nhiều androgen (hormon nam).
• Rối loạn về ăn uống, hay gặp trong bệnh chán ăn hay ăn quá nhiều do nguyên nhân thần kinh (anorexia ner- vosa, bulimia nervosa) gầy kinh thưa hay mất kinh. Cơ chế chính xác gây rối loạn kinh nguyệt của 2 bệnh này còn chưa rõ vì đôi khi mất kinh còn xảy ra trước cả hiện tượng sút cân nhiều do đó có liên quan đến yếu tố sinh học (thần kinh-nội tiết) nhiều hơn là do kết quả của thiếu hụt dinh dưỡng.
• Thiếu dinh dưỡng.
Chẩn đoán
Dựa vào khoảng cách chu kỳ kinh trên 35 ngày - các kỳ kinh không đều với lượng kinh thay đổi, không thể biết trước - một số phụ nữ có kinh thưa có thể khó có con.
Kinh thưa ở tuổi vị thành niên thường do hoạt động của trục hạ đồi, tuyến yên và buồng trứng không phối hợp tốt hoặc không có. Vùng hạ đồi là một phần của não kiểm soát sự điều hòa thân nhiệt, chuyển hóa tế bào và nhiều chức năng cơ bản khác như ăn, ngủ và sinh sản. Vùng hạ đồi tiết ra những hormone chi phối hoạt động của tuyến yên.
Tuyến yên được kích thích lại tiết ra những hormone ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sinh sản. Vào thời kỳ đầu của và cuối của đời sống sinh sản, một số những thông điệp hormone này có thể không đổng bộ và gây ra kinh nguyệt rối loạn.
Trong bệnh buồng trứng đa nang, kinh thưa có thể do nồng độ không thích hợp của cả hormon nam và nữ. Hormon nam tiết ra với lượng nhỏ ở phụ nữ nhưng ở bệnh buồng trứng đa nang nồng độ hormone nam (androgen) hơi cao hơn ở phụ nữ; gần đây các nhà khoa học nước Anh cho rằng buồng trứng trong bệnh buồng trứng đa nang cũng có sự khác biệt vê' nhiều mặt khác, ví dụ như sự phát triển số lượng các nang noãn.
Để chẩn đoán kinh thưa, thầy thuốc cần hỏi kỹ về tiền sử kinh nguyệt, các bệnh đã mắc (tiểu đường...), chế độ ăn, vận động các thuốc đã dùng, đang dùng... khám thể chất, đánh giá cân nặng, chiều cao, các dấu hiệu phát triển về giới tính, nhịp tim, tuyến giáp, làm một số xét nghiệm như Pap test, siêu ầm, cộng hưởng từ để loại trừ khối u ảnh hưởng đến hạ đổi, tuyến yên.
Điêu trị: Phụ thuộc vào nguyên nhân. Với vị thành niên và phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, thường không cần điểu trị. Với các vận động viên, cẩn thay đổi chế độ luyện tập. Phần lớn bệnh nhân kinh thưa được điểu trị bằng viên thuốc tránh thai. Nhiều phụ nữ khác, kể cả phụ nữ bị bệnh buồng trứng đa nang, đều điều trị bằng hormone. Dùng hormon nào phụ thuộc vào điểu kiện hormon thiếu hoặc mất cân bằng. Nếu mất cân bằng hor- mone, liệu pháp hormone thay thế nên dùng các hormone tự nhiên (gồm 3 loại estrogen và progesterone).
Phòng ngừa: Duy trì chế độ ăn uống đủ chất và giảm cường độ vận động thể chất. Khi kinh thưa do các yếu tố hormon, không thể phòng ngừa nhưng thường có thể chữa trị.
Tìm hiểu lịch sử bệnh: Nhiều nguyên nhân chảy máu có thể tìm ra chỉ nhờ nghiên cứu lịch sử bệnh của gia đình và bản thân người bệnh.
Soi buồng tử cung: Có thể nhìn trực tiếp buồng tử cung và là một phương tiện để chẩn đoán chảy máu bất thường.
Nong và nạo buồng tử cung: Phương pháp chuẩn để chẩn đoán chảy máu bất thường từ tử cung.
Khám toàn thể: Đánh giá thể tích tử cung, tổn thương ở âm hộ, ầm đạo, cả khu vực trực tràng.
Ngoài ra, còn sử dụng nhiều phương pháp khác phục vụ cho chẩn đoán:
Nghiên cứu tế bào học: Phiến đồ tế bào có thể gợi ý những tổn thương ở cổ tử cung, phát hiện tế bào nội mạc ở giai đoạn chế tiết hay phát triển...
Sinh thiết nội mạc tử cung: Cần thiết để đánh giá tình trạng hiếm muộn và sự cần thiết dùng estrogen hay không.
Nghiên cứu về mô học: Dùng dụng cụ đặc biệt để hút nội mạc tử cung, xem có hiện tượng quá sản hay ác tính.
Chụp tử cung vòi trứng: Với chất cản quang và tia X, nhằm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung và nhiều bất thường khác.
Siêu âm vùng tiểu khung và soi ổ bụng để đánh giá các khối u ở tử cung và phần phụ.
Điều trị
Tuỳ theo nguyên nhân, nếu là ra máu bất thường có tính chất cơ năng (không do nguyên nhân thực thể) thường điều trị nội khoa vào giai đoạn đầu, với phụ nữ trẻ dùng viên thuốc tránh thai chỉ có progestin hay phối hợp trên cơ sở tôn trọng các chống chỉ định. Đến tuổi gần mãn kinh, nên dùng loại thuốc tránh thai chỉ có progestin và có hàm lượng như nhau mỗi viên, từ ngày thứ 8 đến ngày 26 của chu kỳ kinh. Cách điều trị này hay gây ra chảy máu ít và tỷ lệ thành công không quá 50%.
Khi các phương pháp điều trị tỏ ra không kết quả và khi phụ nữ không cần có con nữa thì vẫn có các phương pháp khác như:
Đặt dụng cụ tử cung có chất progesterone (Mirena) đem lại tỷ lệ khả quan tới 88%.
Nạo buồng tử cung (cho kết quả kém và còn có nguy cơ có biến chứng thủng tử cung)
Huỷ nội mạc tử cung (bằng chất glycocol) qua soi buồng tử cung. Phương pháp này có hiệu quả hơn nhưng cũng có biến chứng (khoảng 5%) như thủng tử cung, nhiễm khuẩn, chảy máu, nhiễm độc (do glycocol thấm vào máu).
Phương pháp nhiệt đông được thực hiện bằng cách cho quả bóng nhỏ vào buồng tử cung rồi làm nóng lên tới 87°c để huỷ diệt nội mạc, có hiệu quả tới 90% kéo dài trong 5 năm nhưng không thể áp dụng cho phụ nữ còn muốn có con.
Phương pháp cuối cùng và triệt để nhất là cắt tử cung, 50% số cắt tử cung ở những nước tiên tiến được thực hiện cho các bệnh lành tính, 25% cho những trường hợp ra máu tử cung do nguyên nhân cơ năng.
Cách dễ nhất để nhận biết ra kinh quá nhiều, ra kinh bất thường là ghi lại số băng vệ sinh hay tămpông phải thay. Nếu ra kinh nhiều đến mức chưa tới 1 hay 2 giờ đã phải thay băng vệ sinh hay kỳ hành kinh kéo dài quá 1 tuần thì có thể là bị ra kinh nhiều.
Sự cố ra kinh nhiều hay xảy ra ở phụ nữ trẻ - những người chưa hình thành các chu kỳ kinh có rụng trứng và những phụ nữ sắp đến tuổi mãn kinh. Ngoài sự bất tiện, ra kinh nhiều còn gây mỏi mệt. Cần gặp thầy thuốc khi ra kinh nhiều có máu cục, xối xả; khi tháng nào cũng ra máu nhiều có thể gây ra thể thiếu máu thiếu sắt.
Kinh nguyệt nhiều có thể xảy ra trong một số tình huống sau
1. Mất cần bằng về hormone: Ở tuổi vị thành niên hay tuổi mãn kinh là nguyên nhân ra kinh nhiểu phổ biến nhất. Trong tuổi vị thành niên sau khi có kinh lần đầu và nhiều năm trước mãn kinh, nồng độ hormone rất dao động nên thường dẫn đến ra kinh quá nhiều. Tình trạng ra kinh nhiều do mất cân bằng hormone này có thể điều trị bằng viên thuốc tránh thai uống hay các hormone khác.
2. u xơ tử cung: Nguyên nhân cũng rất thường gặp gây ra kinh nhiểu, thường lành tính, hay gặp ở phụ nữ nữ độ tuổi 30 hay 40. Nguyên nhân gây ra u xơ còn chưa rõ nhưng chắc chắn thuộc loại u phụ thuộc vào hormone estrogen. Có nhiểu cách can thiệp ngoại khoa để xử trí u xơ như bóc nhân xơ, lấy đi nội mạc tử cung, làm tắc động mạch tử cung, kể cả cắt tử cung... điều trị bằng thuốc cho u xơ tử cung, có thể dùng thuốc đồng vận GnRH, viên thuốc tránh thai uống, androgen, RU486 (viên thuốc gây sẩy thai)... Một số phụ nữ ưa dùng pro- gesterone tự nhiên cho u xơ tử cung. Thường thường, khi các triệu chứng không nghiêm trọng hay gầy phiền phức nhiều thì có thể “theo dõi và chờ đợi”. Khi đến tuổi mãn kinh, u xơ tử cung co nhỏ lại một cách rõ rệt và biến mất không cần điều trị.
3. Pô-líp cổ tử cung: Là u nhỏ, mảnh mọc lên từ bề mặt niêm mạc của cổ tử cung hoặc từ ống cổ tử cung và lòi ra khỏi lỗ ngoài cổ tử cung. Nguyên nhân gầy ra pô-líp chưa rõ nhưng thường do nhiễm khuẩn và nhiều khi còn thể hiện đáp ứng bất thường khi nồng độ estrogen tăng cao hay các mạch máu khu trú ở cổ tử cung bị xung huyết. Phụ nữ dễ bị pô-líp cổ tử cung nhất là ở độ tuổi ngoài 20 và đã có con. Cách xử trí thông thường là cắt hay xoắn vặn pô-líp, kết hợp với dùng kháng sinh.
4. Pô-líp phát triển từ nội mạc tử cung: Thường không ác tính. Nguyên nhân chưa rõ nhưng thường kết hợp với tình trạng quá nhiều estrogen sau khi điều trị bằng hormone hay một số thể u buồng trứng. Cách xử trí thường là soi buổng tử cung và nong nạo, lấy mẫu mô để xét nghiệm nhằm loại trừ ác tính.
5. Lupus: Là bệnh viêm mãn tính và thuộc loại bệnh miễn dịch, có thể tác động đến nhiều bộ phận cơ thể, đặc biệt là da, khớp, máu và thận. Nguyên nhân chưa rõ nhưng các nhà khoa học tin rằng có yếu tố gien học và các yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, dùng một số loại kháng sinh, nhất là sulpha và penicillin, phơi nhiễm với tia cực tím, ảnh hưởng của stress nghiêm trọng, hormone và một số thuốc khác cũng đều có vai trò gây ra các triệu chứng của bệnh. Các triệu chứng của lupus khác nhau rất nhiều ở từng người bệnh, cách điều trị cũng vậy, có tính cá biệt lớn nhưng điểm chung là tránh bị stress, dùng các thuốc chống viêm không có nhân steroid (NSAIDS) hay các thuốc chống miễn dịch...
6. Bệnh viêm tiểu khung: Là bệnh nhiễm khuẩn của một hay nhiều cơ quan trong tiểu khung như tử cung, vòi trứng và cổ tử cung. Viêm tiểu khung thường do bệnh lây truyền qua đường tình dục nhưng đôi khi xảy ra sau sinh đẻ, Sẩy thai hay sau các thủ thuật phụ khoa khác. Cách điều trị là kháng sinh.
7. ưng thư cổ tử cung: Thể ung thư khi các tế bào ở cổ tử cung trở nên bất thường, sinh sôi phát triển không thể kiểm soát và gây tổn thương gtoonr cho các phần lành mạnh khác của cơ thể. Virus gây u sùi (HPV) là nguyên nhân chính (trên 90%) của các trường hợp ung thư cổ tử cung. Điều trị bao gổm: can thiệp ngoại khoa, hóa liệu pháp và xạ trị.
8. Ưng thư nội mạc tử cung: Khi các tế bào bất thường ở tử cung hay nội mạc tử cung (lớp tế bào che phủ buồng tử cung) sinh sôi không thể kiểm soát và làm tổn thương đến tử cung và các cơ quan khác. Nguyên nhân chưa rõ nhưng điều đã rõ là phụ nữ ngoài 50 thường bị quá sản nội mạc tử cung hoặc đã dùng nhiều lần liệu pháp thay thế. Cách chữa trị đầu tiên thường là cắt bỏ tử cung, sau đó có thể dùng hóa liệu pháp hoặc liệu pháp tia xạ.
9. Dụng cụ tử cung tránh thai: Là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra ra kinh nhiều. Khi bị ra kinh nhiều và mang dụng cụ tử cung thì nên lấy ra và chọn phương pháp tránh thai thay thế.
10. Bệnh gây chảy máu: Có nhiều loại bệnh và khó cầm máu. Cần được khám và phát hiện nguyên nhân, có thể cần bổ sung các yếu tố đông máu.
Lưu ý: Các trường hợp ra máu không bình thường có nguồn gốc tử cung bao giờ cũng là khó khăn trong chẩn đoán và xử trí (với thầy thuốc) nhưng với bệnh nhân thì không thể phân biệt được đó là ra máu từ âm đạo, niệu đạo hay trực tràng; nếu có thai thì còn lo ngại đó là biến chứng của thai nghén, do đó cần gặp thầy thuốc để xác định.
Phần lớn phụ nữ đều từng bị ra máu bất thường có nguồn gốc tử cung ít nhất một lần trong quãng đời sinh sản nhưng thường gặp nhất là ở vài năm đầu có kinh của tuổi vị thành niên và trong 2-3 năm cuối trước khi mãn kinh.