images
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Bản dịch Lolita (tầng II)
Cuối cùng thì việc dịch Lolita cũng hoàn thành sau 18 tháng. Những chương cuối cùng sẽ được biên tập và đưa lên trang blog http://vietnamlolita.blogspot.com/ của tôi. Nhớ những ngày bắt đầu, đã có rất nhiều người tham gia, mà chỉ đến trang thứ 5 thì chia tay nhau hết. Và sau này tôi cũng phải sửa lại hết toàn bộ các chương đã dịch chung. Đúng là việc dịch không thể làm theo nhóm được. Nhưng cũng có một số bạn đã giúp tôi kiểm tra bản dịch hàng ngày đến khoảng 1/4 cuốn sách.
Xin cảm ơn tất cả các bạn. Những người đã bên cạnh tôi, những người đã viết dù chỉ một lời động viên, ở đây và qua PM. Cảm ơn ban quản trị WTT đã dành tài nguyên của diễn đàn cho tôi, và giúp tôi có một công cụ dịch khá thú vị, dù đi đâu, chỉ cần có internet là tôi có thể làm việc được.
Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả!
02:33 CH 29/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
Chương 34

На первой же бензиновой станции в Паркингтоне мне очень ясно объяснили, как добраться до улицы Гримма. Желая быть уверенным, что застану Куильти, я попытался ему позвонить, но выяснилось, что его телефон недавно разъединили. Значило ли это, что он в отъезде? Я направился туда, — его дом находился в двенадцати милях на север от города. К этому времени ночь убрала большую часть ландшафта, и, когда я поехал по узкому извилистому шоссе, череда призрачно-белых столбиков с рефлекторами стала занимать мой же свет, чтобы указать тот или другой поворот дороги. Можно было смутно различить речную долину с одной стороны и лесистые склоны — с другой; впереди же, как беспризорные снежинки, ночные мотыльки плыли из чѐрного мрака в пытливый свет моих фаров. На двенадцатой миле, как и было предсказано, появился диковинный крытый мост, вермонтского образца, который на меня натянулся, как чехол; за ним справа выросла белѐная скала, а ещѐ через несколько саженей я свернул, направо же, по гравийной дороге, которая и была “Улица Гримма”. Минуты две-три я ехал по сырому, тѐмному, глухому лесу. Наконец, посреди округлой прогалины, вырос замок ужаса, огромный деревянный домище с башней. Окна горели красным и жѐлтым огнѐм, и полдюжины автомобилей запрудило подъездную аллею. Остановившись под прикрытием деревьев и потушив фары, я стал спокойно обдумывать следующий ход. Господина Ку, наверное, окружали его приспешники и гетеры. Поневоле я видел внутренность этого празднично освещѐнного и необыкновенно запущенного шато, сквозь призму “Тревог Отрочества”, повести в одном из Лолитиных журнальчиков, о довольно смутных “оргиях”, взрослом злодее с приапической сигарой, наркотиках, телохранителях. По крайней мере, Ку был тут. Ничего, вернусь утром, в час сонной неги.


Я не спеша поехал обратно в Паркингтон, в этом своѐм старом, преданном Икаре, который так спокойно, так бодро работал для меня. Моя Лолита! Ещѐ валялась с 1949-го года одна из еѐ заколочек в глубине “перчатного” отделения. Ещѐ текли бледные бабочки, вытягиваемые из ночи сифоном моего света. Ещѐ держались, опираясь на костыли, тѐмные амбары там и сям вдоль шоссе. Ещѐ ездили люди смотреть фильмы. В поисках ночлега я проехал мимо драйвина — кино на вольном воздухе. Сияя лунной белизной, прямо-таки мистической по сравнению с безлунной и бесформенной ночью, гигантский экран косо уходил в сумрак дремотных, ни в чѐм не повинных полей, и на нѐм узкий призрак поднимал пистолет, растворяясь, как в мыльной воде, при обострявшемся крене удалявшегося мира, и уже в следующий миг ряд тополей скрыл бесплотную жестикуляцию.


A gas station attendant in Parkington explained to me very clearly how to get to Grimm Road. Wishing to be sure Quilty would be at home, I attempted to ring him up but learned that his private telephone had recently been disconnected. Did that mean he was gone? I started to drive to Grimm Road, twelve miles north of the town. By that time night had eliminated most of the landscape and as I followed the narrow winding highway, a series of short posts, ghostly white, with reflectors, borrowed my own lights to indicate this or that curve. I could make out a dark valley on one side of the road and wooded slopes on the other, and in front of me, like derelict snowflakes, moths drifted out of the blackness into my probing aura. At the twelfth mile, as foretold, a curiously hooded bridge sheathed me for a moment and, beyond it, a white-washed rock loomed on the right, and a few car lengths further, on the same side, I turned off the highway up gravelly Grimm Road. For a couple of minutes all was dank, dark, dense forest. Then, Pavor Manor, a wooden house with a turret, arose in a circular clearing. Its windows glowed yellow and red; its drive was cluttered with half a dozen cars. I stopped in the shelter of the trees and abolished my lights to ponder the next move quietly. He would be surrounded by his henchmen and whores. I could not help seeing the inside of that festive and ramshackle castle in terms of “Troubled Teens,” a story in one of her magazines, vague “orgies,” a sinister adult with penele cigar, drugs, bodyguards. At least, he was there. I would return in the torpid morning.

Gently I rolled back to town, in that old faithful car of mine which was serenely, almost cheerfully working for me. My Lolita! There was still a three-year-old bobby pin of hers in the depths of the glove compartment. There was still that stream of pale moths siphoned out of the night by my headlights. Dark barns still propped themselves up here and there by the roadside. People were still going to the movies. While searching for night lodgings, I passed a drive-in. In a selenian glow, truly mystical in its contrast with the moonless and massive night, on a gigantic screen slanting away among dark drowsy fields, a thin phantom raised a gun, both he and his arm reduced to tremulous dish- water by the oblique angle of that receding world,—and the next moment a row of trees shut off the gesticulation.

Phương án 2:

Người bán xăng ở trạm xăng tại Parkington giải thích rất rõ ràng cho tôi hiểu cách đi đến phố Grimm. Muốn chắc chắn là Quilty có ở nhà, tôi thử gọi cho gã nhưng nghe thấy rằng số điện thoại riêng của gã vừa mới bị cắt. Liệu điều đó có nghĩa là gã đã rời đi không nhỉ? Tôi bắt đầu lái xe đến phố Grimm, cách thị trấn mười hai dặm về phía Bắc. Vào lúc ấy, đêm đã xóa nhòa phần lớn phong cảnh và trong lúc tôi bám theo xa lộ hẹp và quanh co, một chuỗi những cây cột thấp, trắng một cách ma quái, với những tấm phản quang, mượn ánh sáng của chính tôi để báo hiệu hết khúc quanh này đến vòng cua kia. Tôi có thể nhận ra thung lũng tối đen ở một bên đường và sườn dốc mọc đầy cây cối rậm rạp ở bên kia, và ngay trước mặt tôi, như những bông tuyết bơ vơ, những con bướm đêm trôi ra từ bóng tối lao vào vầng hào quang thăm dò của tôi. Tại dặm thứ mười hai, như đã nói trước, một cây cầu có mái che nhìn rất lạ đã bọc tôi lại một lúc và, đằng sau nó, một khối đá sơn trắng hiện ra lờ mờ phía bên phải, và vài thân xe xa hơn, tại cùng một bên đường, tôi quay xe rời khỏi xa lộ và rẽ vào phố Grimm rải sỏi. Trong đôi ba phút, tất cả là rừng cây ẩm ướt, tối đen, rậm rạp. Sau đó, Pavor Manor, một ngôi nhà gỗ với một tháp canh, mọc lên trong một khoảng rừng thưa hình tròn. Những cửa sổ của nó rực sáng sắc màu vàng và đỏ; đường vào nhà bề bộn nửa tá ô tô. Tôi dừng xe dưới một vòm cây và tắt đèn xe để bình tĩnh cân nhắc bước đi tiếp theo. Có lẽ gã được vây quanh bởi lũ người hầu và những con điếm. Tôi không thể tránh được việc nhìn vào bên trong tòa lâu đài hội hè và đổ nát qua lăng kính của "Tuổi Teen Không Yên," một truyện ngắn trong một trong những tạp chí của nàng, "những cuộc truy hoan" mơ hồ, một gã người lớn hung hãn ngậm điếu xì gà hình cái nõ, ma túy, vệ sĩ. Ít nhất thì gã cũng ở nơi đó. Tôi sẽ quay lại vào lúc buổi sáng còn đang ngái ngủ.


Tôi nhẹ nhàng lăn bánh về lại thị trấn, trong chiếc xe cũ trung thành của mình, chiếc xe đã lặng lẽ, hầu như vui vẻ phục vụ tôi. Lolita của tôi! Vẫn còn chiếc kẹp tóc ba năm tuổi của nàng trong đáy ngăn để găng tay. Vẫn còn dòng bướm đêm nhợt nhạt bị hút ra từ trong màn đêm bởi những chiếc đèn pha của tôi. Những chuồng gia súc tối om om vẫn tự chống chúng đứng lên tại chỗ này chỗ kia ven đường. Người ta vẫn đi xem phim. Trong lúc đi tìm chỗ trọ qua đêm, tôi đi ngang qua một rạp chiếu phim ngoài trời cho khách đi xe hơi. Dưới ánh trăng rực rỡ, thật sự huyền bí trong sự tương phản với màn đêm không trăng đặc quánh, trên màn chiếu khổng lồ ngả ra xa giữa cánh đồng mịt mùng lơ mơ ngủ, một bóng ma gầy đét giơ khẩu súng lên, cả gã và cánh tay của gã tan ra thành vũng nước rửa bát rung rinh bởi góc xiên của thế giới đang lùi xa ấy, — và vào khoảnh khắc sau, một hàng cây đã che khuất những điệu bộ đó.
10:13 SA 18/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
Chương 34

На первой же бензиновой станции в Паркингтоне мне очень ясно объяснили, как добраться до улицы Гримма. Желая быть уверенным, что застану Куильти, я попытался ему позвонить, но выяснилось, что его телефон недавно разъединили. Значило ли это, что он в отъезде? Я направился туда, — его дом находился в двенадцати милях на север от города. К этому времени ночь убрала большую часть ландшафта, и, когда я поехал по узкому извилистому шоссе, череда призрачно-белых столбиков с рефлекторами стала занимать мой же свет, чтобы указать тот или другой поворот дороги. Можно было смутно различить речную долину с одной стороны и лесистые склоны — с другой; впереди же, как беспризорные снежинки, ночные мотыльки плыли из чѐрного мрака в пытливый свет моих фаров. На двенадцатой миле, как и было предсказано, появился диковинный крытый мост, вермонтского образца, который на меня натянулся, как чехол; за ним справа выросла белѐная скала, а ещѐ через несколько саженей я свернул, направо же, по гравийной дороге, которая и была “Улица Гримма”. Минуты две-три я ехал по сырому, тѐмному, глухому лесу. Наконец, посреди округлой прогалины, вырос замок ужаса, огромный деревянный домище с башней. Окна горели красным и жѐлтым огнѐм, и полдюжины автомобилей запрудило подъездную аллею. Остановившись под прикрытием деревьев и потушив фары, я стал спокойно обдумывать следующий ход. Господина Ку, наверное, окружали его приспешники и гетеры. Поневоле я видел внутренность этого празднично освещѐнного и необыкновенно запущенного шато, сквозь призму “Тревог Отрочества”, повести в одном из Лолитиных журнальчиков, о довольно смутных “оргиях”, взрослом злодее с приапической сигарой, наркотиках, телохранителях. По крайней мере, Ку был тут. Ничего, вернусь утром, в час сонной неги.


Я не спеша поехал обратно в Паркингтон, в этом своѐм старом, преданном Икаре, который так спокойно, так бодро работал для меня. Моя Лолита! Ещѐ валялась с 1949-го года одна из еѐ заколочек в глубине “перчатного” отделения. Ещѐ текли бледные бабочки, вытягиваемые из ночи сифоном моего света. Ещѐ держались, опираясь на костыли, тѐмные амбары там и сям вдоль шоссе. Ещѐ ездили люди смотреть фильмы. В поисках ночлега я проехал мимо драйвина — кино на вольном воздухе. Сияя лунной белизной, прямо-таки мистической по сравнению с безлунной и бесформенной ночью, гигантский экран косо уходил в сумрак дремотных, ни в чѐм не повинных полей, и на нѐм узкий призрак поднимал пистолет, растворяясь, как в мыльной воде, при обострявшемся крене удалявшегося мира, и уже в следующий миг ряд тополей скрыл бесплотную жестикуляцию.


A gas station attendant in Parkington explained to me very clearly how to get to Grimm Road. Wishing to be sure Quilty would be at home, I attempted to ring him up but learned that his private telephone had recently been disconnected. Did that mean he was gone? I started to drive to Grimm Road, twelve miles north of the town. By that time night had eliminated most of the landscape and as I followed the narrow winding highway, a series of short posts, ghostly white, with reflectors, borrowed my own lights to indicate this or that curve. I could make out a dark valley on one side of the road and wooded slopes on the other, and in front of me, like derelict snowflakes, moths drifted out of the blackness into my probing aura. At the twelfth mile, as foretold, a curiously hooded bridge sheathed me for a moment and, beyond it, a white-washed rock loomed on the right, and a few car lengths further, on the same side, I turned off the highway up gravelly Grimm Road. For a couple of minutes all was dank, dark, dense forest. Then, Pavor Manor, a wooden house with a turret, arose in a circular clearing. Its windows glowed yellow and red; its drive was cluttered with half a dozen cars. I stopped in the shelter of the trees and abolished my lights to ponder the next move quietly. He would be surrounded by his henchmen and whores. I could not help seeing the inside of that festive and ramshackle castle in terms of “Troubled Teens,” a story in one of her magazines, vague “orgies,” a sinister adult with penele cigar, drugs, bodyguards. At least, he was there. I would return in the torpid morning.

Gently I rolled back to town, in that old faithful car of mine which was serenely, almost cheerfully working for me. My Lolita! There was still a three-year-old bobby pin of hers in the depths of the glove compartment. There was still that stream of pale moths siphoned out of the night by my headlights. Dark barns still propped themselves up here and there by the roadside. People were still going to the movies. While searching for night lodgings, I passed a drive-in. In a selenian glow, truly mystical in its contrast with the moonless and massive night, on a gigantic screen slanting away among dark drowsy fields, a thin phantom raised a gun, both he and his arm reduced to tremulous dish- water by the oblique angle of that receding world,—and the next moment a row of trees shut off the gesticulation.

Phương án 1:

Người bán xăng ở trạm xăng tại Parkington giải thích rất rõ ràng cho tôi hiểu cách đi đến phố Grimm. Muốn chắc chắn là Quilty có ở nhà, tôi thử gọi cho gã nhưng nghe thấy rằng số điện thoại riêng của gã vừa mới bị cắt. Liệu điều đó có nghĩa là gã đã rời đi không nhỉ? Tôi bắt đầu lái xe đến phố Grimm, cách thị trấn mười hai dặm về phía Bắc. Vào lúc ấy, đêm đã xóa nhòa phần lớn phong cảnh và trong lúc tôi bám theo xa lộ hẹp và quanh co, một chuỗi những cây cột thấp, trắng một cách ma quái, với những tấm phản quang, mượn ánh sáng của chính tôi để báo hiệu những khúc quanh này nọ. Tôi có thể nhận ra một thung lũng tối đen ở một bên đường và một sườn dốc cây cối rậm rạp ở bên kia, và ngay trước mặt tôi, như những bông tuyết bơ vơ, những con bướm đêm trôi ra từ bóng tối vào vầng hào quang thăm dò của tôi. Tại dặm thứ mười hai, như đã nói trước, một cây cầu có mái che nhìn rất lạ đã bọc tôi lại một lúc và, đằng sau nó, một núi đã bạc trắng hiện ra lờ mờ phía bên phải, và vài thân xe xa hơn, tại cùng một bên đường, tôi quay xe rời khỏi xa lộ và rẽ vào phố Grimm rải sỏi. Trong đôi ba phút, tất cả là rừng cây ẩm ướt, tối đen, rậm rạp. Sau đó, Pavor Manor, một ngôi nhà gỗ với một tháp canh, mọc lên trong một khoảng rừng thưa hình tròn. Những cửa sổ của nó rực sáng sắc màu vàng và đỏ; nửa tá ô tô đỗ lộn xộn trên đường vào. Tôi dừng xe dưới một vòm cây và tắt đèn xe để bình tĩnh cân nhắc bước đi tiếp theo. Có lẽ gã được vây quanh bởi lũ người hầu và những con điếm. Tôi không thể nào nhìn được bên trong tòa lâu đài hội hè và đổ nát qua thuật ngữ "Tuổi Teen Không Yên," một câu chuyện trong một trong những tạp chí của nàng, "những cuộc truy hoan" mơ hồ, một gã người lớn hung hãn với thuốc lá penele, ma túy, vệ sĩ. Ít nhất thì gã cũng ở nơi đó. Tôi sẽ quay lại vào lúc buổi sáng còn đang ngái ngủ.

Tôi nhẹ nhàng lăn bánh về lại thị trấn, trong chiếc xe cũ trung thành của tôi, chiếc xe đã lặng lẽ, gần như vui vẻ phục vụ tôi. Lolita của anh! Vẫn còn chiếc kẹp tóc ba năm tuổi của nàng trong đáy ngăn để găng tay. Vẫn còn dòng bướm đêm nhợt nhạt bị hút ra từ trong màn đêm bởi những chiếc đèn pha của tôi. Những chuồng gia súc tối om om vẫn tự chống tại chỗ này chỗ kia ven đường. Người ta vẫn đi xem phim. Trong lúc đi tìm chỗ trọ qua đêm, tôi đi ngang qua một rạp chiếu phim ngoài trời. Dưới ánh trăng, thật sự huyền bí trong sự tương phản với màn đêm không trăng đặc quánh, trên tấm màn khổng lồ ngả ra xa giữa cánh đồng mịt mùng lơ mơ ngủ, một bóng ma gầy đét giơ khẩu súng lên, cả gã và cánh tay của gã tan ra như thành vũng nước rửa bát rung rinh bởi góc xiên của thế giới đang lùi xa ấy, — và vào khoảnh khắc sau, một hàng cây đã che khuất những điệu bộ ấy.
05:24 CH 17/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
Toàn bộ chương 33:

33.2.1-9


Thăm lại Ramsdale. Tôi tiếp cận nó từ phía con Hồ. Mặt trời giữa trưa thao láo nhìn đời. Lúc tôi lướt qua trên chiếc xe lấm bùn của mình, tôi có thể nhận ra những mảy nước lóng lánh ánh kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và bước giữa những tấm bia đá cái dài cái ngắn. Bonzhur, Charlotte. Trên một số ngôi mộ có những lá quốc kỳ nhỏ, trong suốt, nhạt màu, rủ xuống trong bầu không khí lặng gió dưới bóng những hàng cây thường xuân. Ê, Ed, mày xui xẻo quá đi — tôi ám chỉ đến Edward Grammar nào đó, một gã trưởng phòng ba-mươi-lăm-tuổi ở NewYork, kẻ vừa mới bị tóm vì tội giết cô vợ Dorothy ba-mươi-ba-tuổi của gã. Cố gắng cho vụ phạm tội hoàn hảo, Ed đã tẩn cô vợ gã bằng dùi cui và đặt vào trong xe. Vụ án bị phát giác khi hai viên cảnh sát tỉnh đi tuần nhìn thấy chiếc Chrysler mới tinh, to tướng, màu xanh lơ của Bà. Grammar, một món quà kỷ niệm sinh nhật từ chồng bà, đang lao như điên xuống một quả đồi, ngay trong phạm vi quyền hạn pháp lý của họ (Cầu Chúa phù hộ cho các anh cớm tử tế của chúng ta!). Chiếc xe đập mạnh sườn vào một cái cột, chạy lên trên con đê phủ đầy cỏ ngạnh, dâu dại và ỷ lăng, và lật úp. Những cái bánh xe vẫn nhẹ nhàng quay tròn trong ánh nắng êm dịu trong lúc các nhân viên công vụ lôi thi thể bà G ra. Thoạt nhìn thì nó có vẻ như một vụ tai nạn thông thường trên đường cao tốc. Than ôi, thi thể bầm dập của người phụ nữ chẳng phù hợp với chút hư hại không đáng kể mà chiếc xe phải chịu. Tôi đã làm tốt hơn.

Tôi lăn bánh đi tiếp. Thật là vui khi lại được nhìn thấy ngôi nhà thờ thanh mảnh màu trắng và những cây du khổng lồ. Do quên mất là trên một con phố vùng ngoại ô ở Mỹ thì một khách bộ hành đơn độc còn làm người ta để ý đến nhiều hơn là một người lái xe đơn độc, nên tôi để chiếc xe lại trên đại lộ và kín đáo đi bộ ngang qua số nhà 342 phố Lawn. Trước trận huyết chiến vĩ đại, tôi được quyền thư giãn đôi chút, được quyền ọe ra những tàn dư tinh thần để làm sạch mình. Những cánh cửa chớp màu trắng của lâu đài Đồng Nát đã đóng chặt, và ai đó đã gắn một ruy băng buộc tóc bằng nhung đen mà họ lượm được lên tấm biển "BÁN NHÀ" màu trắng dựng nghiêng về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có gã làm vườn nào gọi điện. Không có Bà Cô Đối Diện nào ngồi trên hàng hiên mọc đầy cây leo — nơi, vị khách bộ hành đơn độc bực mình vì thấy, có hai phụ nữ trẻ để tóc đuôi ngựa và mặc tạp dề chấm bi giống hệt nhau dừng mọi việc họ đang làm để chằm chằm nhìn gã: chắc chắn là bà đã chết từ lâu, và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của bà ở Philadelphia.

Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang — cửa sổ phòng khách: tâm hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún xuống và dập dờn vỗ sóng trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.

Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi phóng xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi hơn năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar vẫn tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu đựng được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi lại ngồi tại cái bàn nhỏ nơi mà vào đúng lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy thích hợp để ăn mừng sự kiện đặc biệt ấy bằng cách lịch thiệp cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như hồi ấy, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là đám cưới Murphy với Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Một bà đâm bổ vào tôi với một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc trang phục xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy bừng bừng sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ rất trẻ và rất giỏi giang đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...

"Ồ vâng, tất nhiên," tôi bình thản nói. "Tôi nhớ Phyllis. Phyllis và Trại Q. vâng, tất nhiên rồi. Nhân thể, con bé có bao giờ kể cho bà nghe ở nơi đó thằng Charlie Holmes đã dìu dắt những con bé học viên của mẹ nó vào đời như thế nào không?"

Nụ cười đã vỡ vụn của Bà Chatfiled lúc này hoàn toàn tan biến.

"Thật xấu hổ," mụ gào lên, "thật xấu hổ, thưa ông Humbert! Thằng bé tội nghiệp ấy vừa bị giết ở Triều Tiên."

Tôi nói, phải chăng mụ nghĩ "vient de," với động từ nguyên thể, diễn đạt sự việc gần đây rành mạch nhiều hơn rất nhiều so với “just” trong tiếng Anh với động từ quá khứ? Mà thôi tôi phải phắn đây, tôi nói.

Gã chào đón tôi với một cái ôm rất chậm, rất bảo bọc, mạnh mẽ, dò hỏi. Gã tưởng tôi ở California. Có phải tôi đã sống một thời gian ở Beardsley? Con gái gã vừa mới nhập học vào trường Đại Học Beardsley. Thế cuộc sống thế nào...? Tôi cung cấp mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc thảo luận công việc rất dễ chịu. Khi bước ra ngoài, vào nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã thành một kẻ cùng khổ vô ưu.

Giờ đây, khi mọi thứ đã được gạt khỏi lối đi, tôi có thể hiến trọn mình cho mục đích chính của chuyến đi thăm Ramsdale. Theo quy củ mà tôi vẫn luôn tự hào, tôi đã giữ cho gương mặt của Clare Quilty bị che khuất trong ngục tối của tôi, nơi gã chờ tôi đến với thợ cắt tóc và linh mục: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” Ngay lúc này thì tôi chẳng có thời gian để tranh luận về thuật ghi nhớ tướng mạo — tôi đang trên đường đến chỗ ông chú của gã và đang đi bộ rất nhanh — nhưng hãy cho phép tôi ngoáy vài chữ thế này: tôi đã lưu giữ được gương mặt cóc của ai đó trong chất cồn của ký ức u u minh minh. Trong vài lần thoáng nhìn, tôi để ý thấy nó hơi giống với một người buôn rượu vui tính và khá là đáng ghét, một người bà con của tôi ở Thụy Sỹ. Với những quả tạ của ông ta và bộ quần áo dệt kim hôi hám, và cánh tay to béo lông lá, và mảng đầu hói, và con-hầu-nô-lệ mặt-lợn, nói chung ông ta là một thằng già vô hại. Trong thực tế là quá vô hại, để có thể nhầm lẫn với con mồi của tôi. Trong tâm trạng mà lúc này tôi thấy mình đang rơi vào, tôi đã đánh mất liên hệ với hình ảnh của Trapp. Nó bị nhận chìm hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được miêu tả, với sự chính xác của nghệ thuật, bởi một bức ảnh chụp hắn, được đóng khung để dựng trên bàn chú hắn.

Ở Beardsley, dưới bàn tay của bác sỹ Molnar đáng mến, tôi đã trải qua một ca phẫu thuật răng khá quan trọng, chỉ giữ lại vài chiếc răng cửa trên và dưới. Những chiếc răng giả dựa vào một hệ thống nướu răng giả với một hệ dây kim loại kín đáo, chạy suốt theo lợi trên của tôi. Toàn bộ thiết bị này là một kiệt tác tiện lợi, và những chiếc răng nanh của tôi trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, để tô điểm cho mục đích bí mật của tôi bằng một lý do đáng tin cậy, tôi bảo bác sỹ Quilty rằng, với hy vọng giảm bớt chứng đau dây thần kinh mặt, tôi quyết định cho nhổ hết răng mình. Một bộ răng giả đầy đủ sẽ tốn mất bao nhiêu tiền? Quá trình điều trị sẽ mất bao lâu, giả dụ như ta chốt được buổi hẹn đầu tiên đâu đó trong tháng Mười Một? Thằng cháu trai nổi tiếng của ông hiện nay đang ở đâu? Liệu có thể nhổ hết chúng trong một buổi điều trị kịch tính hay không?

Bác sỹ Quilty — một người đàn ông tóc hoa râm, mặc bờ lu trắng, với mái tóc húi cua và đôi má phẳng to bự của một chính trị gia — ngự trên góc chiếc bàn của gã, một bàn chân đu đưa đầy vẻ mơ màng và cám dỗ trong lúc gã giới thiệu một kế hoạch dài hạn hoành tráng. Đầu tiên gã sẽ cung cấp cho tôi những hàm răng giả tạm thời cho đến khi lợi ổn định lại. Rồi gã sẽ là cho tôi một bộ lâu dài. Gã muốn được nhòm vào cái miệng ấy của tôi. Gã đi đôi giày tổ ong hai màu. Gã không đến thăm thằng cháu từ năm 1946, nhưng cho là có thể tìm thấy nó tại căn nhà tổ tiên để lại cho gã, Đường Grimm, không xa Parkington. Đây thật là một giấc mộng huy hoàng. Chân gã đu đưa, cái nhìn chằm chằm của gã đầy cảm hứng. Việc này sẽ làm tôi tốn khoảng sáu trăm đô. Gã đề nghị là gã sẽ lấy kích thước ngay bây giờ, và làm bộ đầu tiên trước khi bắt đầu phẫu thuật. Miệng tôi đối với gã quả là một hang động tráng lệ đầy ắp châu báu vô giá, nhưng tôi không cho gã vào.

"Không," tôi nói. "Nghĩ lại, tôi sẽ để bác sỹ Molnar làm hết mọi chuyện này. Giá của ông ta cao hơn, nhưng ông ta dĩ nhiên là một nha sỹ giỏi hơn ông nhiều."

Tôi không biết liệu có ai trong số độc giả của tôi sẽ có lúc nào đó có cơ hội nói câu ấy. Đó là cảm giác sướng mê. Ông chú của Clare vẫn còn ngồi trên bàn, vẫn còn nhìn mơ màng, nhưng bàn chân gã ngừng đẩy và đu đưa cái nôi hy vọng màu hồng. Mặt khác, cô y tá của gã, một cô gái héo hon, gầy dơ xương, có cặp mắt buồn thảm của những cô gái tóc vàng không thành đạt, lao theo sau tôi đặng có thể kịp đóng sập cánh cửa theo gót tôi.

Nhét băng đạn vào báng súng. Nhấn vào cho đến khi bạn nghe thấy hoặc cảm thấy băng đạn ăn vào khớp. Nhỏ gọn hấp dẫn. Sức chứa: tám viên đạn. Nước thép xanh biếc. Đau đáu chờ nhả đạn.




06:57 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
32.2.8

Доктор Айвор (Ай-да-вор!) Куильти, толстяк в белом балахоне, с седым ежом и обширными плоскими щеками политикана-масона, присел на угол письменного стола, покачивая одной ногой, мечтательно и заманчиво, между тем как он развивал передо мной грандиозный дальнобойный план. Он сказал, что сначала построит мне “предварительный” аппаратик, — я буду его носить, пока не осядут дѐсны. Затем он мне соорудит перманентный протез. Хорошо было бы уже сейчас осмотреть полость рта. Он носил двухцветные башмачки с узором из дырочек на концах. Он не видал “негодяя” с 1946 года, но был уверен, что его можно найти в родовом замке, улица Гримма, на окраине Паркинггона. Мечта художника-дантиста продолжала расти. Нога качалась. Взор блистал вдохновением. Мне это будет стоить около шестисот долларов. Он предлагал, что тут же предпримет необходимые измерения, чтобы заготовить предварительный протез. Мой рот был для него волшебной пещерой, полной бесценных сокровищ, но я туда его не пустил.


A white-smocked, gray-haired man, with a crew cut and the big flat cheeks of a politician, Dr. Quilty perched on the corner of his desk, one foot dreamily and seductively rocking as he launched on a glorious long-range plan. He would first provide me with provisional plates until the gums settled. Then he would make me a permanent set. He would like to have a look at that mouth of mine. He wore perforated pied shoes. He had not visited with the rascal since 1946, but supposed he could be found at his ancestral home, Grimm Road, not far from Parkington. It was a noble dream. His foot rocked, his gaze was inspired. It would cost me around six hundred. He suggested he take measurements right away, and make the first set before starting operations. My mouth was to him a splendid cave full of priceless treasures, but I denied him entrance.

Phương án 2:


Bác sỹ Quilty — một người đàn ông tóc hoa râm, mặc bờ lu trắng, với mái tóc húi cua và đôi má phẳng to bự của một chính trị gia — ngự trên góc chiếc bàn của gã, một bàn chân đu đưa đầy vẻ mơ màng và cám dỗ trong lúc gã giới thiệu một kế hoạch dài hạn hoành tráng. Đầu tiên gã sẽ cung cấp cho tôi những hàm răng giả tạm thời cho đến khi lợi ổn định lại. Rồi gã sẽ là cho tôi một bộ lâu dài. Gã muốn được nhòm vào cái miệng ấy của tôi. Gã đi đôi giày tổ ong hai màu. Gã không đến thăm thằng cháu từ năm 1946, nhưng cho là có thể tìm thấy nó tại căn nhà tổ tiên để lại cho gã, Đường Grimm, không xa Parkington. Đây thật là một giấc mộng huy hoàng. Chân gã đu đưa, cái nhìn chằm chằm của gã đầy cảm hứng. Việc này sẽ làm tôi tốn khoảng sáu trăm đô. Gã đề nghị là gã sẽ lấy kích thước ngay bây giờ, và làm bộ đầu tiên trước khi bắt đầu phẫu thuật. Miệng tôi với gã là một hang động tráng lệ đầy ắp châu báu vô giá, nhưng tôi không cho gã vào.
06:42 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.1-7

Thăm lại Ramsdale. Tôi tiếp cận nó từ phía con Hồ. Mặt trời giữa trưa thao láo nhìn đời. Lúc tôi lướt qua trên chiếc xe lấm bùn của mình, tôi có thể nhận ra những mảy nước lóng lánh ánh kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và bước giữa những tấm bia đá cái dài cái ngắn. Bonzhur, Charlotte. Trên một số ngôi mộ có những lá quốc kỳ nhỏ, trong suốt, nhạt màu, rủ xuống trong bầu không khí lặng gió dưới bóng những hàng cây thường xuân. Ê, Ed, mày xui xẻo quá đi — tôi ám chỉ đến Edward Grammar nào đó, một gã trưởng phòng ba-mươi-lăm-tuổi ở NewYork, kẻ vừa mới bị tóm vì tội giết cô vợ Dorothy ba-mươi-ba-tuổi của gã. Cố gắng cho vụ phạm tội hoàn hảo, Ed đã tẩn cô vợ gã bằng dùi cui và đặt vào trong xe. Vụ án bị phát giác khi hai viên cảnh sát tỉnh đi tuần nhìn thấy chiếc Chrysler mới tinh, to tướng, màu xanh lơ của Bà. Grammar, một món quà kỷ niệm sinh nhật từ chồng bà, đang lao như điên xuống một quả đồi, ngay trong phạm vi quyền hạn pháp lý của họ (Cầu Chúa phù hộ cho các anh cớm tử tế của chúng ta!). Chiếc xe đập mạnh sườn vào một cái cột, chạy lên trên con đê phủ đầy cỏ ngạnh, dâu dại và ỷ lăng, và lật úp. Những cái bánh xe vẫn nhẹ nhàng quay tròn trong ánh nắng êm dịu trong lúc các nhân viên công vụ lôi thi thể bà G ra. Thoạt nhìn thì nó có vẻ như một vụ tai nạn thông thường trên đường cao tốc. Than ôi, thi thể bầm dập của người phụ nữ chẳng phù hợp với chút hư hại không đáng kể mà chiếc xe phải chịu. Tôi đã làm tốt hơn.

Tôi lăn bánh đi tiếp. Thật là vui khi lại được nhìn thấy ngôi nhà thờ thanh mảnh màu trắng và những cây du khổng lồ. Do quên mất là trên một con phố vùng ngoại ô ở Mỹ thì một khách bộ hành đơn độc còn làm người ta để ý đến nhiều hơn là một người lái xe đơn độc, nên tôi để chiếc xe lại trên đại lộ và kín đáo đi bộ ngang qua số nhà 342 phố Lawn. Trước trận huyết chiến vĩ đại, tôi được quyền thư giãn đôi chút, được quyền ọe ra những tàn dư tinh thần để làm sạch mình. Những cánh cửa chớp màu trắng của lâu đài Đồng Nát đã đóng chặt, và ai đó đã gắn một ruy băng buộc tóc bằng nhung đen mà họ lượm được lên tấm biển "BÁN NHÀ" màu trắng dựng nghiêng về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có gã làm vườn nào gọi điện. Không có Bà Cô Đối Diện nào ngồi trên hàng hiên mọc đầy cây leo — nơi, vị khách bộ hành đơn độc bực mình vì thấy, có hai phụ nữ trẻ để tóc đuôi ngựa và mặc tạp dề chấm bi giống hệt nhau dừng mọi việc họ đang làm để chằm chằm nhìn gã: chắc chắn là bà đã chết từ lâu, và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của bà ở Philadelphia.

Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang — cửa sổ phòng khách: tâm hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún xuống và dập dờn vỗ sóng trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.

Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi phóng xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi hơn năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar vẫn tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu đựng được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi lại ngồi tại cái bàn nhỏ nơi mà vào đúng lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy thích hợp để ăn mừng sự kiện đặc biệt ấy bằng cách lịch thiệp cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như hồi ấy, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là đám cưới Murphy với Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Một bà đâm bổ vào tôi với một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc trang phục xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy bừng bừng sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ rất trẻ và rất giỏi giang đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...

"Ồ vâng, tất nhiên," tôi bình thản nói. "Tôi nhớ Phyllis. Phyllis và Trại Q. vâng, tất nhiên rồi. Nhân thể, con bé có bao giờ kể cho bà nghe ở nơi đó thằng Charlie Holmes đã dìu dắt những con bé học viên của mẹ nó vào đời như thế nào không?"

Nụ cười đã vỡ vụn của Bà Chatfiled lúc này hoàn toàn tan biến.

"Thật xấu hổ," mụ gào lên, "thật xấu hổ, thưa ông Humbert! Thằng bé tội nghiệp ấy vừa bị giết ở Triều Tiên."

Tôi nói, phải chăng mụ nghĩ "vient de," với động từ nguyên thể, diễn đạt sự việc gần đây rành mạch nhiều hơn rất nhiều so với “just” trong tiếng Anh với động từ quá khứ? Mà thôi tôi phải phắn đây, tôi nói.

Gã chào đón tôi với một cái ôm rất chậm, rất bảo bọc, mạnh mẽ, dò hỏi. Gã tưởng tôi ở California. Có phải tôi đã sống một thời gian ở Beardsley? Con gái gã vừa mới nhập học vào trường Đại Học Beardsley. Thế cuộc sống thế nào...? Tôi cung cấp mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc thảo luận công việc rất dễ chịu. Khi bước ra ngoài, vào nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã thành một kẻ cùng khổ vô ưu.

Giờ đây, khi mọi thứ đã được gạt khỏi lối đi, tôi có thể hiến trọn mình cho mục đích chính của chuyến đi thăm Ramsdale. Theo quy củ mà tôi vẫn luôn tự hào, tôi đã giữ cho gương mặt của Clare Quilty bị che khuất trong ngục tối của tôi, nơi gã chờ tôi đến với thợ cắt tóc và linh mục: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” Ngay lúc này thì tôi chẳng có thời gian để tranh luận về thuật ghi nhớ tướng mạo — tôi đang trên đường đến chỗ ông chú của gã và đang đi bộ rất nhanh — nhưng hãy cho phép tôi ngoáy vài chữ thế này: tôi đã lưu giữ được gương mặt cóc của ai đó trong chất cồn của ký ức u u minh minh. Trong vài lần thoáng nhìn, tôi để ý thấy nó hơi giống với một người buôn rượu vui tính và khá là đáng ghét, một người bà con của tôi ở Thụy Sỹ. Với những quả tạ của ông ta và bộ quần áo dệt kim hôi hám, và cánh tay to béo lông lá, và mảng đầu hói, và con-hầu-nô-lệ mặt-lợn, nói chung ông ta là một thằng già vô hại. Trong thực tế là quá vô hại, để có thể nhầm lẫn với con mồi của tôi. Trong tâm trạng mà lúc này tôi thấy mình đang rơi vào, tôi đã đánh mất liên hệ với hình ảnh của Trapp. Nó bị nhận chìm hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được miêu tả, với sự chính xác của nghệ thuật, bởi một bức ảnh chụp hắn, được đóng khung để dựng trên bàn chú hắn.

Ở Beardsley, dưới bàn tay của bác sỹ Molnar đáng mến, tôi đã trải qua một ca phẫu thuật răng khá quan trọng, chỉ giữ lại vài chiếc răng cửa trên và dưới. Những chiếc răng giả dựa vào một hệ thống nướu răng giả với một hệ dây kim loại kín đáo, chạy suốt theo lợi trên của tôi. Toàn bộ thiết bị này là một kiệt tác tiện lợi, và những chiếc răng nanh của tôi trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, để tô điểm cho mục đích bí mật của tôi bằng một lý do đáng tin cậy, tôi bảo bác sỹ Quilty rằng, với hy vọng giảm bớt chứng đau dây thần kinh mặt, tôi quyết định cho nhổ hết răng mình. Một bộ răng giả đầy đủ sẽ tốn mất bao nhiêu tiền? Quá trình điều trị sẽ mất bao lâu, giả dụ như ta chốt được buổi hẹn đầu tiên đâu đó trong tháng Mười Một? Thằng cháu trai nổi tiếng của ông hiện nay đang ở đâu? Liệu có thể nhổ hết chúng trong một buổi điều trị kịch tính hay không?


06:30 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.6

Теперь, когда я покончил с делами, я мог посвятить себя главной цели поездки в Рамздэль. До сих пор, придерживаясь той методичности, которой недаром горжусь, я не снимы маски с лица Клэра Куильти; он сидел у меня в подземелье, ожидая моего прихода со служителем культа и брадобреем: “Reveillez-vous, Tropman, il est temps de mourir!” Мне сейчас недосуг заниматься вопросом, как запоминаются физиономии (нахожусь на пути к его дядюшке и иду скорым шагом); но позволю себе отчеркнуть следующее: в спирту мутной памяти я сохранял чьѐ-то жабье лицо. Я видал это лицо мельком несколько раз и заметил в нѐм некоторое сходство с жизнерадостным и довольно противным родственником моим, жившим и умершим в Швейцарии. Помню его гантели, вонючее трико, толстые волосатые руки, и плешь, и свиноподобную горничнуюналожницу, — но в общем этот паршивец был довольно безобидный; слишком безобидный, добавлю, чтобы сойти за мою добычу. В странном состоянии ума, в котором я сейчас находился, я как-то потерял связь с образом Густава Траппа: его полностью поглотило лицо драматурга Клэра Куильти, таким, каким он был представлен, с художественной точностью, на рекламах папирос “Дромадер” и на кабинетной фотографии, стоявшей у его дядюшки на письменном столе.

Now that everything had been put out of the way, I could dedicate myself freely to the main object of my visit to Ramsdale. In the methodical manner on which I have always prided myself, I had been keeping Clare Quilty’s face masked in my dark dungeon, where he was waiting for me to come with barber and priest: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” I have no time right now to discuss the mnemonics of physiognomization—I am on my way to his uncle and walking fast—but let me jot down this: I had preserved in the alcohol of a clouded memory the toad of a face. In the course of a few glimpses, I had noticed its slight resemblance to a cheery and rather repulsive wine dealer, a relative of mine in Switzerland. With his dumbbells and stinking tricot, and fat hairy arms, and bald patch, and pig-faced servant-concubine, he was on the whole a harmless old rascal. Too harmless, in fact, to be confused with my prey. In the state of mind I now found myself, I had lost contact with Trapp’s image. It had become completely engulfed by the face of Clare Quilty—as represented, with artistic precision, by an easeled photograph of him that stood on his uncle’s desk.


Phương án 3:

Giờ đây, khi mọi thứ đã được gạt khỏi lối đi, tôi có thể hiến trọn mình cho mục đích chính của chuyến đi thăm Ramsdale. Theo quy củ mà tôi vẫn luôn tự hào, tôi đã giữ cho gương mặt của Clare Quilty bị che khuất trong ngục tối của tôi, nơi gã chờ tôi đến với thợ cắt tóc và linh mục: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” Ngay lúc này thì tôi chẳng có thời gian để tranh luận về thuật ghi nhớ tướng mạo — tôi đang trên đường đến chỗ ông chú của gã và đang đi bộ rất nhanh — nhưng hãy cho phép tôi ngoáy vài chữ thế này: tôi đã lưu giữ được gương mặt cóc của ai đó trong chất cồn của ký ức u u minh minh. Trong vài lần thoáng nhìn, tôi để ý thấy nó hơi giống với một người buôn rượu vui tính và khá là đáng ghét, một người bà con của tôi ở Thụy Sỹ. Với những quả tạ của ông ta và bộ quần áo dệt kim hôi hám, và cánh tay to béo lông lá, và mảng đầu hói, và con-hầu-nô-lệ mặt-lợn, nói chung ông ta là một thằng già vô hại. Trong thực tế là quá vô hại, để có thể nhầm lẫn với con mồi của tôi. Trong tâm trạng mà lúc này tôi thấy mình đang rơi vào, tôi đã đánh mất liên hệ với hình ảnh của Trapp. Nó bị nhận chìm hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được miêu tả, với sự chính xác của nghệ thuật, bởi một bức ảnh chụp hắn, được đóng khung để dựng trên bàn chú hắn.
06:21 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
Phần cuối cùng C33.2

33.2.9


“Нет”, сказал я. “Я передумал. Мне всѐ это сделает доктор Мольнар. Его цены выше, но как дантист он, конечно, гораздо лучше вас”.

Не знаю, доведѐтся ли когда-нибудь моему читателю сказать такую фразу. Я уже испытал это дивное чувство сонной свободы в разговоре с госпожой Чатфильд. Дядюшка моего Клэра остался сидеть на столе, всѐ ещѐ с мечтательным выражением на лице, но нога перестала толкать и качать люльку розового упования. Зато всѐ слышавшая секретарша, бледная, тощая девица, с трагическими глазами непреуспевших блондинок, кинулась за мной, чтобы успеть бахнуть дверью мне вслед.

Вдавите обойму в рукоятку. Нажимайте, пока не услышите или не почувствуете, как захватило защѐлку. Упоительно плотно. Вместимость: восемь патронов. Вороной отлив. Мучительно готов разрядиться.


“No,” I said. “On second thoughts, I shall have it all done by Dr. Molnar. His price is higher, but he is of course a much better dentist than you.”

I do not know if any of my readers will ever have a chance to say that. It is a delicious dream feeling. Clare’s uncle remained sitting on the desk, still looking dreamy, but his foot had stopped push-rocking the cradle of rosy anticipation. On the other hand, his nurse, a skeleton-thin, faded girl, with the tragic eyes of unsuccessful blondes, rushed after me so as to be able to slam the door in my wake.

Push the magazine into the butt. Press home until you hear or feel the magazine catch engage. Delightfully snug. Capacity: eight cartridges. Full Blued. Aching to be discharged.


Phương án 1:

"Không," tôi nói. "Nghĩ lại, tôi sẽ để bác sỹ Molnar làm hết mọi chuyện này. Giá của ông ta cao hơn, nhưng ông ta dĩ nhiên là một nha sỹ tốt hơn ông nhiều."

Tôi không biết liệu có ai trong số độc giả của tôi sẽ có lúc nào đó có cơ hội nói câu ấy. Đó là cảm giác sướng mê. Ông chú của Clare vẫn còn ngồi trên bàn, vẫn còn nhìn mơ màng, nhưng bàn chân gã ngừng đẩy và đu đưa cái nôi hy vọng màu hồng. Mặt khác, cô y tá của gã, một cô gái héo hon, gầy dơ xương, có cặp mắt buồn thảm của những cô gái tóc vàng không thành đạt, lao theo sau tôi đặng có thể đóng sập cánh cửa theo gót tôi.

Nhét băng đạn vào báng súng. Nhấn vào cho đến khi bạn nghe thấy hoặc cảm thấy băng đạn ăn vào khớp. Nhỏ gọn hấp dẫn. Sức chứa: tám viên đạn. Nước thép xanh biếc. Đau đáu chờ nhả đạn.
05:37 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
32.2.8

Доктор Айвор (Ай-да-вор!) Куильти, толстяк в белом балахоне, с седым ежом и обширными плоскими щеками политикана-масона, присел на угол письменного стола, покачивая одной ногой, мечтательно и заманчиво, между тем как он развивал передо мной грандиозный дальнобойный план. Он сказал, что сначала построит мне “предварительный” аппаратик, — я буду его носить, пока не осядут дѐсны. Затем он мне соорудит перманентный протез. Хорошо было бы уже сейчас осмотреть полость рта. Он носил двухцветные башмачки с узором из дырочек на концах. Он не видал “негодяя” с 1946 года, но был уверен, что его можно найти в родовом замке, улица Гримма, на окраине Паркинггона. Мечта художника-дантиста продолжала расти. Нога качалась. Взор блистал вдохновением. Мне это будет стоить около шестисот долларов. Он предлагал, что тут же предпримет необходимые измерения, чтобы заготовить предварительный протез. Мой рот был для него волшебной пещерой, полной бесценных сокровищ, но я туда его не пустил.


A white-smocked, gray-haired man, with a crew cut and the big flat cheeks of a politician, Dr. Quilty perched on the corner of his desk, one foot dreamily and seductively rocking as he launched on a glorious long-range plan. He would first provide me with provisional plates until the gums settled. Then he would make me a permanent set. He would like to have a look at that mouth of mine. He wore perforated pied shoes. He had not visited with the rascal since 1946, but supposed he could be found at his ancestral home, Grimm Road, not far from Parkington. It was a noble dream. His foot rocked, his gaze was inspired. It would cost me around six hundred. He suggested he take measurements right away, and make the first set before starting operations. My mouth was to him a splendid cave full of priceless treasures, but I denied him entrance.

Phương án 1:


Bác sỹ Quilty — một người đàn ông tóc hoa râm, mặc áo bờ lu trắng, với mái tóc húi cua và đôi má phẳng to bự của một chính trị gia — ngự trên góc chiếc bàn của gã, một bàn chân đu đưa mơ màng và cám dỗ trong lúc gã giới thiệu một kế hoạch dài hạn hoành tráng. Đầu tiên gã sẽ cung cấp cho tôi những nướu răng giả tạm thời cho đến khi lợi ổn định lại. Rồi gã sẽ là cho tôi một bộ lâu dài. Gã muốn được nhòm vào cái miệng ấy của tôi. Gã đi đôi giày tổ ong hai màu. Gã không đến thăm thằng cháu từ năm 1946, nhưng cho là có thể tìm thấy nó tại căn nhà tổ tiên để lại cho gã, Đường Grimm, không xa Parkington. Giấc mộng huy hoàng. Chân gã đu đưa, cái nhìn chằm chằm của gã đầy cảm hứng. Việc này sẽ làm tôi tốn khoảng sáu trăm đô. Gã đề nghị là gã sẽ lấy kích thước ngay bây giờ, và làm bộ đầu tiên trước khi bắt đầu phẫu thuật. Miệng tôi với gã là một hang động tráng lệ đầy ắp châu báu vô giá, nhưng tôi không cho gã vào.
05:16 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.7

В своѐ время, когда я был пациентом другого, бердслейского, зубного врача, симпатичнейшего доктора Мольнара, я подвергся серьѐзной операции, после которой у меня осталось довольно мало передних зубов. Искусственные зубы, замещающие прорехи, держались при помощи пластиковых пластинок и незаметной проволоки, идущей по верхней десне. В рассуждении удобства, это устройство было шедевром, тем более что боковые зубы остались совершенно здоровыми. Однако, дабы снабдить тайную цель правдоподобным предлогом, я объявил доктору Айвору Куильти, что в надежде облегчить лицевую невралгию я решил удалить все зубы. Во что обойдѐтся аппарат? Сколько это всѐ займѐт времени, если он назначит мне первый визит, скажем, в начале ноября? Где сейчас находится его знаменитый племянник? Можно ли будет всѐ вырвать за один раз?


In Beardsley, at the hands of charming Dr. Molnar, I had undergone a rather serious dental operation, retaining only a few upper and lower front teeth. The substitutes were dependent on a system of plates with an inconspicuous wire affair running along my upper gums. The whole arrangement was a masterpiece of comfort, and my canines were in perfect health. However, to garnish my secret purpose with a plausible pretext, I told Dr. Quilty that, in hope of alleviating facial neuralgia, I had decided to have all my teeth removed. What would a complete set of dentures cost? How long would the process take, assuming we fixed our first appointment for some time in November? Where was his famous nephew now? Would it be possible to have them all out in one dramatic session?


Phương án 1:

Ở Beardsley, dưới bàn tay của bác sỹ Molnar đáng mến, tôi đã trải qua một ca phẫu thuật răng khá quan trọng, chỉ giữ lại vài chiếc răng cửa trên và dưới. Những chiếc răng giả dựa vào một hệ thống nướu răng giả với một sợi dây kim loại kín đáo, chạy suốt theo lợi trên của tôi. Toàn bộ thiết bị này là một kiệt tác tiện lợi, và những chiếc răng nanh của tôi trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, để tô điểm cho mục đích bí mật của tôi bằng một lý do đáng tin cậy, tôi bảo bác sỹ Quilty rằng, với hy vọng giảm bớt chứng đau dây thần kinh mặt, tôi quyết định cho nhổ hết răng mình. Một bộ răng giả đầy đủ sẽ tốn mất bao nhiêu tiền? Quá trình điều trị sẽ mất bao lâu, giả dụ như ta chốt được buổi hẹn đầu tiên đâu đó trong tháng Mười Một? Thằng cháu trai nổi tiếng của ông hiện nay đang ở đâu? Liệu có thể nhổ hết chúng trong một buổi điều trị kịch tính.
03:49 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.6

Теперь, когда я покончил с делами, я мог посвятить себя главной цели поездки в Рамздэль. До сих пор, придерживаясь той методичности, которой недаром горжусь, я не снимы маски с лица Клэра Куильти; он сидел у меня в подземелье, ожидая моего прихода со служителем культа и брадобреем: “Reveillez-vous, Tropman, il est temps de mourir!” Мне сейчас недосуг заниматься вопросом, как запоминаются физиономии (нахожусь на пути к его дядюшке и иду скорым шагом); но позволю себе отчеркнуть следующее: в спирту мутной памяти я сохранял чьѐ-то жабье лицо. Я видал это лицо мельком несколько раз и заметил в нѐм некоторое сходство с жизнерадостным и довольно противным родственником моим, жившим и умершим в Швейцарии. Помню его гантели, вонючее трико, толстые волосатые руки, и плешь, и свиноподобную горничнуюналожницу, — но в общем этот паршивец был довольно безобидный; слишком безобидный, добавлю, чтобы сойти за мою добычу. В странном состоянии ума, в котором я сейчас находился, я как-то потерял связь с образом Густава Траппа: его полностью поглотило лицо драматурга Клэра Куильти, таким, каким он был представлен, с художественной точностью, на рекламах папирос “Дромадер” и на кабинетной фотографии, стоявшей у его дядюшки на письменном столе.

Now that everything had been put out of the way, I could dedicate myself freely to the main object of my visit to Ramsdale. In the methodical manner on which I have always prided myself, I had been keeping Clare Quilty’s face masked in my dark dungeon, where he was waiting for me to come with barber and priest: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” I have no time right now to discuss the mnemonics of physiognomization—I am on my way to his uncle and walking fast—but let me jot down this: I had preserved in the alcohol of a clouded memory the toad of a face. In the course of a few glimpses, I had noticed its slight resemblance to a cheery and rather repulsive wine dealer, a relative of mine in Switzerland. With his dumbbells and stinking tricot, and fat hairy arms, and bald patch, and pig-faced servant-concubine, he was on the whole a harmless old rascal. Too harmless, in fact, to be confused with my prey. In the state of mind I now found myself, I had lost contact with Trapp’s image. It had become completely engulfed by the face of Clare Quilty—as represented, with artistic precision, by an easeled photograph of him that stood on his uncle’s desk.


Phương án 2:

Giờ đây, khi mọi thứ đã được gạt khỏi lối đi, tôi có thể hiến trọn mình cho mục đích chính của chuyến đi thăm Ramsdale. Theo quy củ mà tôi vẫn luôn tự hào, tôi đã giữ cho gương mặt của Clare Quilty bị che khuất trong ngục tối của tôi, nơi gã chờ tôi đến với thợ cắt tóc và linh mục: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” Ngay lúc này thì tôi chẳng có thời gian để tranh luận về tính dễ nhớ của thuật xem tướng — tôi đang trên đường đến chỗ ông chú của gã và đang đi bộ rất nhanh — nhưng hãy cho phép tôi ngoáy vài chữ thế này: tôi đã giữ được gương mặt cóc của ai đó trong chất cồn của ký ức u u minh minh. Trong vài lần thoáng nhìn, tôi để ý thấy nó hơi giống với một người buôn rượu vui tính và khá là đáng ghét, một người bà con của tôi ở Thụy Sỹ. Với những quả tạ của ông ta và bộ quần áo dệt kim hôi hám, và cánh tay to béo lông lá, và mảng đầu hói, và con-hầu-nô-lệ mặt-lợn, nói chung ông ta là một thằng già vô hại. Trong thực tế là quá vô hại, để có thể nhầm lẫn với con mồi của tôi, trong tâm trạng mà lúc này tôi thấy mình đang rơi vào, tôi đã đánh mất liên hệ với hình ảnh của Trapp. Nó bị nhận chìm hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được miêu tả, với sự chính xác của nghệ thuật, bởi một bức ảnh chụp hắn, được đóng khung để dựng trên bàn chú hắn.
03:45 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.6
Теперь, когда я покончил с делами, я мог посвятить себя главной цели поездки в Рамздэль. До сих пор, придерживаясь той методичности, которой недаром горжусь, я не снимы маски с лица Клэра Куильти; он сидел у меня в подземелье, ожидая моего прихода со служителем культа и брадобреем: “Reveillez-vous, Tropman, il est temps de mourir!” Мне сейчас недосуг заниматься вопросом, как запоминаются физиономии (нахожусь на пути к его дядюшке и иду скорым шагом); но позволю себе отчеркнуть следующее: в спирту мутной памяти я сохранял чьѐ-то жабье лицо. Я видал это лицо мельком несколько раз и заметил в нѐм некоторое сходство с жизнерадостным и довольно противным родственником моим, жившим и умершим в Швейцарии. Помню его гантели, вонючее трико, толстые волосатые руки, и плешь, и свиноподобную горничнуюналожницу, — но в общем этот паршивец был довольно безобидный; слишком безобидный, добавлю, чтобы сойти за мою добычу. В странном состоянии ума, в котором я сейчас находился, я как-то потерял связь с образом Густава Траппа: его полностью поглотило лицо драматурга Клэра Куильти, таким, каким он был представлен, с художественной точностью, на рекламах папирос “Дромадер” и на кабинетной фотографии, стоявшей у его дядюшки на письменном столе.

Now that everything had been put out of the way, I could dedicate myself freely to the main object of my visit to Ramsdale. In the methodical manner on which I have always prided myself, I had been keeping Clare Quilty’s face masked in my dark dungeon, where he was waiting for me to come with barber and priest: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” I have no time right now to discuss the mnemonics of physiognomization—I am on my way to his uncle and walking fast—but let me jot down this: I had preserved in the alcohol of a clouded memory the toad of a face. In the course of a few glimpses, I had noticed its slight resemblance to a cheery and rather repulsive wine dealer, a relative of mine in Switzerland. With his dumbbells and stinking tricot, and fat hairy arms, and bald patch, and pig-faced servant-concubine, he was on the whole a harmless old rascal. Too harmless, in fact, to be confused with my prey. In the state of mind I now found myself, I had lost contact with Trapp’s image. It had become completely engulfed by the face of Clare Quilty—as represented, with artistic precision, by an easeled photograph of him that stood on his uncle’s desk.

Phương án 1:

Giờ đây, khi mọi thứ đã được gạt khỏi lối đi, tôi có thể hiến trọn mình cho mục đích chính của chuyến đi thăm Ramsdale. Theo quy củ mà tôi vẫn luôn tự hào, tôi đã giữ cho gương mặt của Clare Quilty được che khuất trong ngục tối của tôi, nơi gã chờ tôi đến với thợ cắt tóc và linh mục: “Réveillez-vous, Laqueue, il est temps de mourir!” Ngay lúc này thì tôi chẳng có thời gian để tranh luận về tính dễ nhớ của diện mạo — tôi đang trên đường đến chỗ ông chú của gã và đang đi bộ rất nhanh — nhưng hãy cho phép tôi ngoáy vài chữ thế này: tôi đã giữ được gương mặt cóc của ai đó trong chất cồn của ký ức u u minh minh. Trong vài lần thoáng nhìn, tôi để ý thấy nó hơi giống với một người buôn rượu vui tính và khá là đáng ghét, một người bà con của tôi ở Thụy Sỹ. Với những quả tạ của gã và vải đan hôi hám, và cánh tay to béo lông lá, và mảng đầu hói, và con-hầu-nô-lệ mặt-lợn, nói chung gã là một thằng già vô hại. Trong thực tế là quá vô hại, để có thể nhầm lẫn với con mồi của tôi, trong tâm trạng mà lúc này tôi đang thấy mình phải chịu đựng, tôi đã đánh mất liên hệ với hình ảnh của Trapp. Nó bị nhận chìm hoàn toàn bởi gương mặt của Clare Quilty - như được miêu tả, với sự chính xác nghệ sỹ, bởi một bức ảnh chụp hắn, được đóng khung để dựng trên bàn chú hắn.
03:11 CH 15/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.1-4

Thăm lại Ramsdale. Tôi tiếp cận nó từ phía con Hồ. Mặt trời giữa trưa mở to mọi con mắt. Lúc tôi lướt qua trên chiếc xe lấm bùn của mình, tôi có thể nhận ra những mảy nước lóng lánh ánh kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và bước giữa những tấm bia đá cái dài cái ngắn. Bonzhur, Charlotte. Trên một số ngôi mộ có những lá quốc kỳ nhỏ, trong suốt, nhạt màu, rủ xuống trong bầu không khí lặng gió dưới bóng những hàng cây thường xuân. Ê, Ed, mày xui xẻo quá đi — tôi ám chỉ đến Edward Grammar nào đó, một gã trưởng phòng ba-mươi-lăm-tuổi ở NewYork, kẻ vừa mới bị tóm vì tội giết cô vợ Dorothy ba-mươi-ba-tuổi của gã. Cố gắng cho vụ phạm tội hoàn hảo, Ed đã tẩn cô vợ gã bằng dùi cui và đặt vào trong xe. Vụ án bị phát giác khi hai viên cảnh sát tỉnh đi tuần nhìn thấy chiếc Chrysler mới tinh, to tướng, màu xanh lơ của Bà. Grammar, một món quà kỷ niệm sinh nhật từ chồng bà, đang lao như điên xuống một quả đồi, ngay trong phạm vi quyền hạn pháp lý của họ (Cầu Chúa phù hộ cho các anh cớm tử tế của chúng ta!). Chiếc xe đập mạnh sườn vào một cái cột, chạy lên trên con đê phủ đầy cỏ ngạnh, dâu dại và ỷ lăng, và lật úp. Những cái bánh xe vẫn nhẹ nhàng quay tròn trong ánh nắng êm dịu trong lúc các nhân viên công vụ lôi thi thể bà G ra. Thoạt nhìn thì nó có vẻ như một vụ tai nạn thông thường trên đường cao tốc. Than ôi, thi thể bầm dập của người phụ nữ chẳng phù hợp với chút hư hại không đáng kể mà chiếc xe phải chịu. Tôi đã làm tốt hơn.


Tôi lăn bánh đi tiếp. Thật là vui khi lại được nhìn thấy ngôi nhà thờ thanh mảnh màu trắng và những cây du khổng lồ. Do quên mất là trên một con phố vùng ngoại ô ở Mỹ thì một khách bộ hành đơn độc còn làm người ta để ý đến nhiều hơn là một người lái xe đơn độc, nên tôi để chiếc xe lại trên đại lộ và kín đáo đi bộ ngang qua số nhà 342 phố Lawn. Trước trận huyết chiến vĩ đại, tôi được quyền thư giãn đôi chút, được quyền ọe ra những tàn dư tinh thần để làm sạch mình. Những cánh cửa chớp màu trắng của lâu đài Đồng Nát đã đóng chặt, và ai đó đã gắn một ruy băng buộc tóc bằng nhung đen mà họ lượm được lên tấm biển "BÁN NHÀ" màu trắng dựng nghiêng về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có gã làm vườn nào gọi điện. Không có Bà Cô Đối Diện nào ngồi trên hàng hiên mọc đầy cây leo — nơi, vị khách bộ hành đơn độc bực mình vì thấy, có hai phụ nữ trẻ để tóc đuôi ngựa và mặc tạp dề chấm bi giống hệt nhau dừng mọi việc họ đang làm để chằm chằm nhìn gã: chắc chắn là bà đã chết từ lâu, và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của bà ở Philadelphia.


Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang — cửa sổ phòng khách: tâm hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún xuống và dập dờn vỗ sóng trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.


Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi phóng xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi hơn năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar vẫn tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu đựng được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi lại ngồi tại cái bàn nhỏ nơi mà vào đúng lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy thích hợp để ăn mừng sự kiện đặc biệt ấy bằng cách lịch thiệp cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như hồi ấy, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là đám cưới Murphy với Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Một bà đâm bổ vào tôi v
ới một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi
. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc trang phục xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy bừng bừng sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ rất trẻ và rất giỏi giang đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...


05:48 CH 14/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.5

“Ах, конечно”, сказал я спокойно. “Конечно, помню Филлис. Филлис и лагерь Кувшинка. Да, конечно. Кстати, ваша дочурка никогда не рассказывала вам, как Чарли Хольмс развращал там маленьких пансионерок своей гнусной матери?”

“Стыдно!”, крикнула миссис Чатфильд, “как вам не стыдно, мистер Гумберт! Бедного мальчика только что убили в Корее”.

“В самом деле”, сказал я (пользуясь дивной свободою, свойственной сновидениям). “Вот так судьба! Бедный мальчик пробивал нежнейшие, невосстановимейшие перепоночки, прыскал гадючьим ядом — и ничего, жил превесело, да ещѐ получил посмертный орденок. Впрочем, извините меня, мне пора к адвокату”.

До конторы Виндмюллера было всего два блока. Рукопожатье его оказалось очень медленным, очень обстоятельным, очень крепким, но как бы вопросительным. Он думал, что я живу в Калифорнии. Не преподавал ли я одно время в Бердслейском университете? Туда только что поступила его дочь. А как поживает? Я дал полный отчѐт о миссис Скиллер. Деловой разговор оказался приятнейшим. Я перевѐл всѐ своѐ имущество на еѐ имя и вышел в сентябрьский зной беззаботным нищим.


“Oh yes, of course,” I said quietly. “I remember Phyllis. Phyllis and Camp Q. Yes, of course. By the way, did she ever tell you how Charlie Holmes debauched there his mother’s little charges?”

Mrs. Chatfield’s already broken smile now disintegrated completely.

“For shame,” she cried, “for shame, Mr. Humbert! The poor boy has just been killed in Korea.”

I said didn’t she think “vient de,” with the infinitive, expressed recent events so much more neatly than the English “just,” with the past? But I had to be trotting off, I said.

There were only two blocks to Windmuller’s office. He greeted me with a very slow, very enveloping, strong, searching grip. He thought I was in California. Had I not lived at one time at Beardsley? His daughter had just entered Beardsley College. And how was—? I gave all necessary information about Mrs. Schiller. We had a pleasant business conference. I walked out into the hot September sunshine a contented pauper.

Phương án 1:

"Ồ vâng, tất nhiên," tôi bình thản nói. "Tôi nhớ Phyllis. Phyllis và Trại Q. vâng, tất nhiên rồi. Nhân thể, thế con bé có bao giờ kể cho bà nghe ở nơi đó thằng Charlie Holmes đã dắt vào đời những con bé được giao cho mẹ nó trông nom
như thế nào không?"

Nụ cười đã vỡ vụn của Bà Chatfiled lúc này hoàn toàn tan biến.

"Thật xấu hổ," mụ gào lên, "thật xấu hổ, thưa ông Humbert! Thẳng bé tội nghiệp ấy vừa bị giết ở Triều Tiên."

Tôi nói phải chăng mụ nghĩ "vient de," với đông từ nguyên thể, diễn đạt sự việc gần đây rành mạch nhiều hơn rất nhiều so với từ “just” trong tiếng Anh với động từ quá khứ? Mà thôi tôi phải phắn đây, tôi nói.

Gã chào đón tôi với một cái bắt tay rất chậm, bảo bọc, mạnh mẽ, xuyên thấu. Gã tưởng tôi ở California. Có phải tôi đã sống một thời gian ở Beardsley? Con gái gã vừa mới nhập học vào trường Đại Học Beardsley. Thế cuộc sống thế nào...? Tôi cung cấp mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc thảo luận công việc rất thú vị. Khi bước ra ngoài, vào nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã thành một kẻ cùng khổ mãn nguyện.
05:06 CH 14/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.4

Сердясь на себя, что трачу попусту время, я устремился в гостиницу, — ту самую, в которую заехал с новым чемоданом пять лет тому назад. Взял комнату с ванной, назначил по телефону два свидания — деловое и медицинское, — побрился, выкупался надел чѐрный костюм и спустился в бар. Там ничего не изменилось. Узкий зал был залит всѐ тем же тусклым, невозможно-гранатовым светом — которым когда-то в Европе отличались притоны, но который здесь просто “создавал настроение” в приличном, “семейном” отеле. Я сел за тот же столик, за которым сидел в самом начале моего пребывания в Рамздэле, в тот день, когда, став жильцом Шарлотты, я нашѐл нужным отпраздновать новоселье тем, что по-светски с ней распил полбутылки шампанского, — чем роковым образом покорил еѐ бедное, полное до краѐв сердце. Как и тогда, лакей с лицом как луна распределял по астральной схеме пятьдесят рюмочек хереса на большом подносе для свадебного приѐма (Мурфи, этот раз, сочетался браком с Фантазией). Без восьми три. Идя через холл, я должен был обойти группу дам, которые с mille grâces прощались и расходились после клубного завтрака. Одна из них с приветственным клѐкотом набросилась на меня. Это была толстая, низенькая женщина, вся в жемчужно-сером, с длинным, серым пером на шляпке. Я узнал в ней миссис Чатфильд. Она напала на меня с приторной улыбкой, вся горя злобным любопытством (не проделал ли я, например, с Долли того, что Франк Ласелль, пятидесятилетний механик, проделал с одиннадцатилетней Салли Горнер в 1948-ом году). Очень скоро я это жадное злорадство совершенно взял под контроль. Она думала, что я живу в Калифорнии. А как поживает?.. С изысканнейшим наслаждением, я сообщил ей, что моя падчерица только что вышла за блестящего молодого инженера-горняка, выполняющего секретное правительственное задание в северо-западном штате. Взятая врасплох, она возразила, что не одобряет таких ранних браков, что никогда бы она не позволила своей Филлис, которой теперь восемнадцать лет…

Feeling I was losing my time, I drove energetically to the downtown hotel where I had arrived with a new bag more than five years before. I took a room, made two appointments by telephone, shaved, bathed, put on black clothes and went down for a drink in the bar. Nothing had changed. The barroom was suffused with the same dim, impossible garnet-red light that in Europe years ago went with low haunts, but here meant a bit of atmosphere in a family hotel. I sat at the same little table where at the very start of my stay, immediately after becoming Charlotte’s lodger, I had thought fit to celebrate the occasion by suavely sharing with her half a bottle of champagne, which had fatally conquered her poor brimming heart. As then, a moonfaced waiter was arranging with stellar care fifty sherries on a round tray for a wedding party. Murphy-Fantasia, this time. It was eight minutes to three. As I walked through the lobby, I had to skirt a group of ladies who with mille grâces were taking leave of each other after a luncheon party. With a harsh cry of recognition, one pounced upon me. She was a stout, short woman in pearl-gray, with a long, gray, slim plume to her small hat. It was Mrs. Chatfield. She attacked me with a fake smile, all aglow with evil curiosity. (Had I done to Dolly, perhaps, what Frank Lasalle, a fifty-year-old mechanic, had done to eleven-year-old Sally Horner in 1948?) Very soon I had that avid glee well under control. She thought I was in California. How was—? With exquisite pleasure I informed her that my stepdaughter had just married a brilliant young mining engineer with a hush-hush job in the Northwest. She said she disapproved of such early marriages, she would never let her Phyllis, who was now eighteen—

Phương án 2:

Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi phóng xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi hơn năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar vẫn tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu đựng được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi ngồi tại cùng một cái bàn nhỏ nơi mà vào ngay lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy thích hợp để ăn mừng sự kiện đặc biệt ấy bằng cách lịch thiệp cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như hồi ấy, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu
sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là đám cưới Murphy với Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Với một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi, một bà đâm bổ vào tôi. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc bộ đồ xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy ngời lên với sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ trẻ và rất giỏi đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...
04:34 CH 14/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.1-5

Thăm lại Ramsdale. Tôi tiếp cận nó từ phía con Hồ. Mặt trời giữa trưa thao láo nhìn đời. Lúc tôi lướt qua trên chiếc xe lấm bùn của mình, tôi có thể nhận ra những mảy nước lóng lánh ánh kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và bước giữa những tấm bia đá cái dài cái ngắn. Bonzhur, Charlotte. Trên một số ngôi mộ có những lá quốc kỳ nhỏ, trong suốt, nhạt màu, rủ xuống trong bầu không khí lặng gió dưới bóng những hàng cây thường xuân. Ê, Ed, mày xui xẻo quá đi — tôi ám chỉ đến Edward Grammar nào đó, một gã trưởng phòng ba-mươi-lăm-tuổi ở NewYork, kẻ vừa mới bị tóm vì tội giết cô vợ Dorothy ba-mươi-ba-tuổi của gã. Cố gắng cho vụ phạm tội hoàn hảo, Ed đã tẩn cô vợ gã bằng dùi cui và đặt vào trong xe. Vụ án bị phát giác khi hai viên cảnh sát tỉnh đi tuần nhìn thấy chiếc Chrysler mới tinh, to tướng, màu xanh lơ của Bà. Grammar, một món quà kỷ niệm sinh nhật từ chồng bà, đang lao như điên xuống một quả đồi, ngay trong phạm vi quyền hạn pháp lý của họ (Cầu Chúa phù hộ cho các anh cớm tử tế của chúng ta!). Chiếc xe đập mạnh sườn vào một cái cột, chạy lên trên con đê phủ đầy cỏ ngạnh, dâu dại và ỷ lăng, và lật úp. Những cái bánh xe vẫn nhẹ nhàng quay tròn trong ánh nắng êm dịu trong lúc các nhân viên công vụ lôi thi thể bà G ra. Thoạt nhìn thì nó có vẻ như một vụ tai nạn thông thường trên đường cao tốc. Than ôi, thi thể bầm dập của người phụ nữ chẳng phù hợp với chút hư hại không đáng kể mà chiếc xe phải chịu. Tôi đã làm tốt hơn.


Tôi lăn bánh đi tiếp. Thật là vui khi lại được nhìn thấy ngôi nhà thờ thanh mảnh màu trắng và những cây du khổng lồ. Do quên mất là trên một con phố vùng ngoại ô ở Mỹ thì một khách bộ hành đơn độc còn làm người ta để ý đến nhiều hơn là một người lái xe đơn độc, nên tôi để chiếc xe lại trên đại lộ và kín đáo đi bộ ngang qua số nhà 342 phố Lawn. Trước trận huyết chiến vĩ đại, tôi được quyền thư giãn đôi chút, được quyền ọe ra những tàn dư tinh thần để làm sạch mình. Những cánh cửa chớp màu trắng của lâu đài Đồng Nát đã đóng chặt, và ai đó đã gắn một ruy băng buộc tóc bằng nhung đen mà họ lượm được lên tấm biển "BÁN NHÀ" màu trắng dựng nghiêng về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có gã làm vườn nào gọi điện. Không có Bà Cô Đối Diện nào ngồi trên hàng hiên mọc đầy cây leo — nơi, vị khách bộ hành đơn độc bực mình vì thấy, có hai phụ nữ trẻ để tóc đuôi ngựa và mặc tạp dề chấm bi giống hệt nhau dừng mọi việc họ đang làm để chằm chằm nhìn gã: chắc chắn là bà đã chết từ lâu, và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của bà ở Philadelphia.


Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang — cửa sổ phòng khách: tâm hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún xuống và dập dờn vỗ sóng trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.


Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi phóng xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi hơn năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar vẫn tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu đựng được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi lại ngồi tại cái bàn nhỏ nơi mà vào đúng lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy thích hợp để ăn mừng sự kiện đặc biệt ấy bằng cách lịch thiệp cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như hồi ấy, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là đám cưới Murphy với Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Một bà đâm bổ vào tôi v
ới một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi
. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc trang phục xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy bừng bừng sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ rất trẻ và rất giỏi giang đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...


"Ồ vâng, tất nhiên," tôi bình thản nói. "Tôi nhớ Phyllis. Phyllis và Trại Q. vâng, tất nhiên rồi. Nhân thể, con bé có bao giờ kể cho bà nghe ở nơi đó thằng Charlie Holmes đã dìu dắt những con bé học viên của mẹ nó vào đời như thế nào không?"

Nụ cười đã vỡ vụn của Bà Chatfiled lúc này hoàn toàn tan biến.
"Thật xấu hổ," mụ gào lên, "thật xấu hổ, thưa ông Humbert! Thằng bé tội nghiệp ấy vừa bị giết ở Triều Tiên."

Tôi nói, phải chăng mụ nghĩ "vient de," với động từ nguyên thể, diễn đạt sự việc gần đây rành mạch nhiều hơn rất nhiều so với “just” trong tiếng Anh với động từ quá khứ? Mà thôi tôi phải phắn đây, tôi nói.

Gã chào đón tôi với một cái ôm rất chậm, rất bảo bọc, mạnh mẽ, dò hỏi. Gã tưởng tôi ở California. Có phải tôi đã sống một thời gian ở Beardsley? Con gái gã vừa mới nhập học vào trường Đại Học Beardsley. Thế cuộc sống thế nào...? Tôi cung cấp mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc thảo luận công việc rất dễ chịu. Khi bước ra ngoài, vào nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã thành một kẻ cùng khổ vô ưu.
08:46 SA 14/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.5

“Ах, конечно”, сказал я спокойно. “Конечно, помню Филлис. Филлис и лагерь Кувшинка. Да, конечно. Кстати, ваша дочурка никогда не рассказывала вам, как Чарли Хольмс развращал там маленьких пансионерок своей гнусной матери?”

“Стыдно!”, крикнула миссис Чатфильд, “как вам не стыдно, мистер Гумберт! Бедного мальчика только что убили в Корее”.

“В самом деле”, сказал я (пользуясь дивной свободою, свойственной сновидениям). “Вот так судьба! Бедный мальчик пробивал нежнейшие, невосстановимейшие перепоночки, прыскал гадючьим ядом — и ничего, жил превесело, да ещѐ получил посмертный орденок. Впрочем, извините меня, мне пора к адвокату”.

До конторы Виндмюллера было всего два блока. Рукопожатье его оказалось очень медленным, очень обстоятельным, очень крепким, но как бы вопросительным. Он думал, что я живу в Калифорнии. Не преподавал ли я одно время в Бердслейском университете? Туда только что поступила его дочь. А как поживает? Я дал полный отчѐт о миссис Скиллер. Деловой разговор оказался приятнейшим. Я перевѐл всѐ своѐ имущество на еѐ имя и вышел в сентябрьский зной беззаботным нищим.


“Oh yes, of course,” I said quietly. “I remember Phyllis. Phyllis and Camp Q. Yes, of course. By the way, did she ever tell you how Charlie Holmes debauched there his mother’s little charges?”

Mrs. Chatfield’s already broken smile now disintegrated completely.

“For shame,” she cried, “for shame, Mr. Humbert! The poor boy has just been killed in Korea.”

I said didn’t she think “vient de,” with the infinitive, expressed recent events so much more neatly than the English “just,” with the past? But I had to be trotting off, I said.

There were only two blocks to Windmuller’s office. He greeted me with a very slow, very enveloping, strong, searching grip. He thought I was in California. Had I not lived at one time at Beardsley? His daughter had just entered Beardsley College. And how was—? I gave all necessary information about Mrs. Schiller. We had a pleasant business conference. I walked out into the hot September sunshine a contented pauper.

Phương án 2:

"Ồ vâng, tất nhiên," tôi bình thản nói. "Tôi nhớ Phyllis. Phyllis và Trại Q. vâng, tất nhiên rồi. Nhân thể, con bé có bao giờ kể cho bà nghe ở nơi đó thằng Charlie Holmes đã dắt những con bé học viên của mẹ nó vào đời
như thế nào không?"

Nụ cười đã vỡ vụn của Bà Chatfiled lúc này hoàn toàn tan biến.

"Thật xấu hổ," mụ gào lên, "thật xấu hổ, thưa ông Humbert! Thằng bé tội nghiệp ấy vừa bị giết ở Triều Tiên."

Tôi nói phải chăng mụ nghĩ "vient de," với động từ nguyên thể, diễn đạt sự việc gần đây rành mạch nhiều hơn rất nhiều so với “just” trong tiếng Anh với động từ quá khứ? Mà thôi tôi phải phắn đây, tôi nói.

Gã chào đón tôi với một cái ôm rất chậm, rất bảo bọc, mạnh mẽ, dò hỏi. Gã tưởng tôi ở California. Có phải tôi đã sống một thời gian ở Beardsley? Con gái gã vừa mới nhập học vào trường Đại Học Beardsley. Thế cuộc sống thế nào...? Tôi cung cấp mọi thông tin cần thiết về bà Schiller. Chúng tôi có một cuộc thảo luận công việc rất dễ chịu. Khi bước ra ngoài, vào nắng tháng Chín nóng nực, tôi đã thành một kẻ cùng khổ vô ưu.
08:41 SA 14/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.3

Войти ли в свой бывший дом? Как в Тургеневской повести, поток итальянской музыки лился из растворѐнного окна — окна гостиной. Какая романтическая душа играла на рояле там, где никакие клавиши не ныряли и не всплѐскивали в тот заколдованный воскресный день, когда ласкало солнце голые ноги моей девочки? Вдруг я заметил, что с газона, который я некогда стриг, смуглая, темнокудрая нимфетка лет десяти, в белых трусиках, глядит на меня с чем-то диким в заворожѐнном взоре больших чѐрно-синих глаз. Я сказал ей два-три милых слова, совершенно невинных, — старомодный комплимент, вроде “какие у тебя прелестные глаза”, но она поспешно попятилась, и музыка оборвалась, и весьма вспыльчивого вида черноволосый мужчина с блестящим от пота лицом выскочил в сад и грубо уставился на меня. Я было хотел представиться, но тут, с тем острым смущением, которое бывает во сне, я увидел, что на мне запачканные глиной синие рабочие брюки и отвратительно грязный дырявый свитер, ощутил щетину на подбородке, почувствовал, как налиты кровью мои глаза, глаза проходимца… Не говоря ни слова, я повернул и поплѐлся назад к автомобилю. Чахлый цветочек, вроде маленькой астры, рос из памятной мне щели в тротуаре. Преспокойно воскресшую мисс Визави племянницы выкатили на веранду, точно эта веранда была ложей, а я актѐром. Внутренне умоляя еѐ не окликнуть меня, я ускорил шаг. Ну и крутая улочка! Я дошѐл до глубокой тени бульвара. Красный билетик, означающий штраф за незаконное паркование, был засунут полицейским под одну из лапок на ветровом стекле. Билетик этот я тщательно разорвал на две, четыре, восемь частей.

Should I enter my old house? As in a Turgenev story, a torrent of Italian music came from an open window—that of the living room: what romantic soul was playing the piano where no piano had plunged and plashed on that bewitched Sunday with the sun on her beloved legs? All at once I noticed that from the lawn I had mown a golden-skinned, brown-haired nymphet of nine or ten, in white shorts, was looking at me with wild fascination in her large blue-black eyes. I said something pleasant to her, meaning no harm, an old-world compliment, what nice eyes you have, but she retreated in haste and the music stopped abruptly, and a violent-looking dark man, glistening with sweat, came out and glared at me. I was on the point of identifying myself when, with a pang of dream-embarrassment, I became aware of my mud-caked dungarees, my filthy and torn sweater, my bristly chin, my bum’s bloodshot eyes. Without saying a word, I turned and plodded back the way I had come. An aster-like anemic flower grew out of a remembered chink in the sidewalk. Quietly resurrected, Miss Opposite was being wheeled out by her nieces, onto her porch, as if it were a stage and I the star performer. Praying she would not call to me, I hurried to my car. What a steep little street. What a profound avenue. A red ticket showed between wiper and windshield; I carefully tore it into two, four, eight pieces.


Phương án 1:


Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong một tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang
—
cửa sổ phòng khách: linh hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún nhẩy trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thức thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.


07:26 CH 13/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.4

Сердясь на себя, что трачу попусту время, я устремился в гостиницу, — ту самую, в которую заехал с новым чемоданом пять лет тому назад. Взял комнату с ванной, назначил по телефону два свидания — деловое и медицинское, — побрился, выкупался надел чѐрный костюм и спустился в бар. Там ничего не изменилось. Узкий зал был залит всѐ тем же тусклым, невозможно-гранатовым светом — которым когда-то в Европе отличались притоны, но который здесь просто “создавал настроение” в приличном, “семейном” отеле. Я сел за тот же столик, за которым сидел в самом начале моего пребывания в Рамздэле, в тот день, когда, став жильцом Шарлотты, я нашѐл нужным отпраздновать новоселье тем, что по-светски с ней распил полбутылки шампанского, — чем роковым образом покорил еѐ бедное, полное до краѐв сердце. Как и тогда, лакей с лицом как луна распределял по астральной схеме пятьдесят рюмочек хереса на большом подносе для свадебного приѐма (Мурфи, этот раз, сочетался браком с Фантазией). Без восьми три. Идя через холл, я должен был обойти группу дам, которые с mille grâces прощались и расходились после клубного завтрака. Одна из них с приветственным клѐкотом набросилась на меня. Это была толстая, низенькая женщина, вся в жемчужно-сером, с длинным, серым пером на шляпке. Я узнал в ней миссис Чатфильд. Она напала на меня с приторной улыбкой, вся горя злобным любопытством (не проделал ли я, например, с Долли того, что Франк Ласелль, пятидесятилетний механик, проделал с одиннадцатилетней Салли Горнер в 1948-ом году). Очень скоро я это жадное злорадство совершенно взял под контроль. Она думала, что я живу в Калифорнии. А как поживает?.. С изысканнейшим наслаждением, я сообщил ей, что моя падчерица только что вышла за блестящего молодого инженера-горняка, выполняющего секретное правительственное задание в северо-западном штате. Взятая врасплох, она возразила, что не одобряет таких ранних браков, что никогда бы она не позволила своей Филлис, которой теперь восемнадцать лет…

Feeling I was losing my time, I drove energetically to the downtown hotel where I had arrived with a new bag more than five years before. I took a room, made two appointments by telephone, shaved, bathed, put on black clothes and went down for a drink in the bar. Nothing had changed. The barroom was suffused with the same dim, impossible garnet-red light that in Europe years ago went with low haunts, but here meant a bit of atmosphere in a family hotel. I sat at the same little table where at the very start of my stay, immediately after becoming Charlotte’s lodger, I had thought fit to celebrate the occasion by suavely sharing with her half a bottle of champagne, which had fatally conquered her poor brimming heart. As then, a moonfaced waiter was arranging with stellar care fifty sherries on a round tray for a wedding party. Murphy-Fantasia, this time. It was eight minutes to three. As I walked through the lobby, I had to skirt a group of ladies who with mille grâces were taking leave of each other after a luncheon party. With a harsh cry of recognition, one pounced upon me. She was a stout, short woman in pearl-gray, with a long, gray, slim plume to her small hat. It was Mrs. Chatfield. She attacked me with a fake smile, all aglow with evil curiosity. (Had I done to Dolly, perhaps, what Frank Lasalle, a fifty-year-old mechanic, had done to eleven-year-old Sally Horner in 1948?) Very soon I had that avid glee well under control. She thought I was in California. How was—? With exquisite pleasure I informed her that my stepdaughter had just married a brilliant young mining engineer with a hush-hush job in the Northwest. She said she disapproved of such early marriages, she would never let her Phyllis, who was now eighteen—

Phương án 1:

Cảm thấy mình đang lãng phí thời gian, tôi hùng hổ lái xe về khách sạn ở trung tâm thành phố, nơi năm năm trước tôi đã tới với một chiếc vali mới tinh. Tôi lấy phòng, thu xếp qua điện thoại hai cuộc hẹn, cạo râu, tắm rửa, mặc bộ quần áo màu đen và đi xuống uống rượu ở bar. Chẳng có gì thay đổi. Quán bar tràn ngập cùng một thứ ánh sáng mờ ảo, màu ngọc hồng lựu không thể chịu được mà ở Châu Âu những năm trước đây thường đi cùng các hắc điếm, nhưng ở đây lại có nghĩa là một chút xíu không khí trong một khách sạn gia đình. Tôi ngồi tại cúng một cái bàn nhỏ nơi tại ngay lúc tôi bắt đầu lưu lại, ngay sau khi trở thành khách trọ của Charlotte, tôi đã thấy cần phải đánh dấu dịp này bằng cách khéo léo cưa đôi với ả nửa chai sâm panh, và nhờ vậy đã đánh gục trái tim tội nghiệp, chan chứa của thị. Cũng như lúc này, một người hầu bàn khuôn trăng đầy đặn đang cực kỳ cẩn trọng sắp xếp năm mươi li rượu
sherry trên một cái khay tròn cho tiệc cưới. Lần này là Murphy- Fantasia. Ba giờ kém tám phút. Lúc đi ngang qua tiền sảnh, tôi đi vòng qua một nhóm quý bà với vẻ mille grâces đang chia tay nhau sau bữa tiệc trưa. Với một tiếng rú chói tai vì nhận ra tôi, một bà đâm bổ vào tôi. Mụ ta là một phụ nữ lùn, mập mạp mặc bộ đồ xám ngọc trai, với một cái lông chim dài, xám, mảnh gắn trên chiếc mũ nhỏ của mụ. Mụ Chatfield. Mụ tấn công tôi bằng nụ cười giả tạo, hết thảy ngời lên với sự hiếu kỳ độc địa. (Tôi có làm với Dolly, chẳng hạn, cái mà Frank Lasalle, một gã thợ máy năm-mươi-tuổi, đã làm với bé Sally Horner mười-một-tuổi vào năm 1948?) Tôi sớm đặt được niềm hân hoan háo hức ấy hoàn toàn dưới sự kiểm soát. Mụ cứ tưởng tôi ở California. Chuyện thế nào rồi?... Với niềm vui thích tao nhã, tôi thông báo cho mụ biết là cô con gái riêng của vợ tôi vừa mới lập gia đình với một kỹ sư mỏ trẻ và rất giỏi đang làm một công việc bí mật ở Northwest. Mụ bảo mụ không tán thành chuyện cưới xin sớm như vậy, mụ sẽ không bao giờ cho phép Phyllis của mụ làm thế, con bé giờ mới có mười tám tuổi...
06:06 CH 13/11/2013
Bản dịch Lolita (tầng II)
33.2.1-3

Thăm lại Ramsdale. Tôi tiếp cận nó từ phía con Hồ. Mặt trời giữa trưa mở to mọi con mắt. Lúc tôi lướt qua trên chiếc xe lấm bùn của mình, tôi có thể nhận ra những mảy nước lóng lánh ánh kim cương giữa những cây thông xa xa. Tôi rẽ vào nghĩa trang và bước giữa những tấm bia đá cái dài cái ngắn. Bonzhur, Charlotte. Trên một số ngôi mộ có những lá quốc kỳ nhỏ, trong suốt, nhạt màu, rủ xuống trong bầu không khí lặng gió dưới bóng những hàng cây thường xuân. Ê, Ed, mày xui xẻo quá đi — tôi ám chỉ đến Edward Grammar nào đó, một gã trưởng phòng ba-mươi-lăm-tuổi ở NewYork, kẻ vừa mới bị tóm vì tội giết cô vợ Dorothy ba-mươi-ba-tuổi của gã. Cố gắng cho vụ phạm tội hoàn hảo, Ed đã tẩn cô vợ gã bằng dùi cui và đặt vào trong xe. Vụ án bị phát giác khi hai viên cảnh sát tỉnh đi tuần nhìn thấy chiếc Chrysler mới tinh, to tướng, màu xanh lơ của Bà. Grammar, một món quà kỷ niệm sinh nhật từ chồng bà, đang lao như điên xuống một quả đồi, ngay trong phạm vi quyền hạn pháp lý của họ (Cầu Chúa phù hộ cho các anh cớm tử tế của chúng ta!). Chiếc xe đập mạnh sườn vào một cái cột, chạy lên trên con đê phủ đầy cỏ ngạnh, dâu dại và ỷ lăng, và lật úp. Những cái bánh xe vẫn nhẹ nhàng quay tròn trong ánh nắng êm dịu trong lúc các nhân viên công vụ lôi thi thể bà G ra. Thoạt nhìn thì nó có vẻ như một vụ tai nạn thông thường trên đường cao tốc. Than ôi, thi thể bầm dập của người phụ nữ chẳng phù hợp với chút hư hại không đáng kể mà chiếc xe phải chịu. Tôi đã làm tốt hơn.


Tôi lăn bánh đi tiếp. Thật là vui khi lại được nhìn thấy ngôi nhà thờ thanh mảnh màu trắng và những cây du khổng lồ. Do quên mất là trên một con phố vùng ngoại ô ở Mỹ thì một khách bộ hành đơn độc còn làm người ta để ý đến nhiều hơn là một người lái xe đơn độc, nên tôi để chiếc xe lại trên đại lộ và kín đáo đi bộ ngang qua số nhà 342 phố Lawn. Trước trận huyết chiến vĩ đại, tôi được quyền thư giãn đôi chút, được quyền ọe ra những tàn dư tinh thần để làm sạch mình. Những cánh cửa chớp màu trắng của lâu đài Đồng Nát đã đóng chặt, và ai đó đã gắn một ruy băng buộc tóc bằng nhung đen mà họ lượm được lên tấm biển "BÁN NHÀ" màu trắng dựng nghiêng về phía vỉa hè. Không có con chó nào sủa. Không có gã làm vườn nào gọi điện. Không có Bà Cô Đối Diện nào ngồi trên hàng hiên mọc đầy cây leo — nơi, vị khách bộ hành đơn độc bực mình vì thấy, có hai phụ nữ trẻ để tóc đuôi ngựa và mặc tạp dề chấm bi giống hệt nhau dừng mọi việc họ đang làm để chằm chằm nhìn gã: chắc chắn là bà đã chết từ lâu, và đây có lẽ là hai cô cháu gái sinh đôi của bà ở Philadelphia.


Tôi có nên vào ngôi nhà cũ của mình không nhỉ? Như trong tiểu thuyết của Turgenev, một suối nhạc Ý trôi đến từ một cửa sổ mở toang — cửa sổ phòng khách: tâm hồn lãng mạn nào đang chơi piano nơi không có phím piano nào nhún xuống và dập dờn vỗ sóng trong Chủ Nhật mê hoặc ấy với ánh nắng vờn trên đôi chân yêu dấu của nàng? Bỗng nhiên tôi để ý thấy rằng từ bãi cỏ mà tôi từng cắt, có một nymphet tóc nâu khoảng chín hay mười tuổi, mặc quần sọc trắng, đang nhìn tôi với vẻ mê hoặc hoang dại trong đôi mắt xanh-đen rất to của bé. Tôi buông vài lời bỡn cợt với bé, không có ý làm hại, một lời ngợi ca theo kiểu cựu lục địa, cháu có đôi mắt đẹp làm sao, nhưng cô bé hấp tấp lùi lại và tiếng nhạc bất ngờ ngưng bặt, và một gã đàn ông tóc đen tướng tá hung dữ, nhấp nhánh mồ hôi, đi ra ngoài và trừng mắt nhìn tôi. Tôi đang định tự giới thiệu mình thì đúng lúc ấy, giật mình luống cuống như trong mơ, tôi chợt nhận thấy chiếc quần jean công nhân đóng kết bùn đất, chiếc áo len dài tay rách tươm dơ dáy, cái cằm râu ria lởm chởm, cặp mắt đỏ ngầu máu của một kẻ vô công rồi nghề của mình. Chẳng nói chẳng rằng, tôi quay lưng lê bước ngược lối tôi vừa đi qua. Một bông hoa xanh rớt nhìn giống hoa cúc tây mọc ra từ một kẽ nứt vỉa hè mà tôi vẫn còn nhớ. Lặng lẽ hồi sinh, Bà Cô Đối Diện được những cô cháu gái của bà đẩy ra ngoài trên chiếc xe lăn, lên hàng hiên của bà, như thể hàng hiên ấy là một khoang lô, đây là sân khấu còn tôi là một diễn viên ngôi sao. Vừa cầu nguyện cho mụ không gọi mình, tôi vừa vội vã chạy đến chiếc xe. Con phố nhỏ mới dốc làm sao. Đại lộ mới thăm thẳm làm sao. Một giấy phạt màu đỏ phơi mình giữa cần gạt nước và kính chắn gió; tôi cẩn thận xé nó thành hai, bốn, tám mảnh.


09:58 SA 13/11/2013
r
Riviera
Bắt chuyện
1.6kĐiểm·1Bài viết
Báo cáo