Hạt đười ươi (còn gọi lười ươi) vị ngọt lờ lợ, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lợi cổ họng, giải độc, thông tiện, thường dùng chữa ho khan, cổ họng sưng đau, nôn ra máu, đi cầu ra máu, chảy máu cam, viêm đường tiết niệu, nhức răng, đau mắt đỏ, mụn nhọt. Dân gian hay dùng để làm mát và nhuận cơ thể, mỗi lần ngâm chừng 4 hạt trong 1 lít nước là đủ. Có thể uống nhiều lần trong ngày, dùng thường xuyên không độc, làm thức uống giải khát để trừ các bệnh nhiệt trong mùa hè. Để tăng tác dụng nhuận trường có thể dùng chung với hạt é.
Đười ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora. Theo lương y Huỳnh Văn Quang (Hội Đông y Q.5, TP.HCM): Đặc điểm của cây đười ươi là chỉ mọc ở miền Nam, không có ở miền Bắc, vì thế nó còn có tên là an nam tử (tử là hạt). Ở Trung Quốc, đười ươi có tên gọi là đại phát tử (vì hạt đười ươi nở thật to khi gặp nước). Dân gian hay dùng riêng trái đười ươi, hay kết hợp với hạt é ngâm nước có pha ít đường dùng để giải khát. Còn trong y học (cả thuốc Nam và thuốc Bắc), đười ươi có tác dụng chính là thanh nhiệt (làm mát cơ thể), dùng chữa trị đau và khô cổ họng, khàn tiếng, tắt tiếng, da khô do nóng nhiệt, chữa ho (lưu ý, chỉ dùng trong trường hợp ho khan; còn ho có đàm thì không được dùng)...
Khi hạt đã mềm lấy ra bóc bỏ, bỏ hạt, bỏ những gân sơ, chỉ lấy phần cơm đười ươi giống như cùi trái nhãn. Bỏ phần cơm đười ươi vào ly, pha chút đường, uống làm 3 lần trong một ngày, vừa uống nước vừa ăn hết cái.
Tìm tới
Trang bình luận
/ 1