Nên bỏ mô hình “hộ khẩu” của thời kỳ bao cấp (06/05/2013)
Đó là góp ý của Tiến sĩ Võ Trí Hảo (Giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM) trong cuộc trao đổi với PV Đại Đoàn Kết về các bất cập liên quan đến công tác quản lý hộ tịch cư trú tại nhiều địa phương hiện nay.


Mô hình quản lý hộ tịch cư trú, đặc biệt là tại các đô thị ở nước ta hiện nay đang tồn tại những bất cập gì thưa ông?


TS Võ Trí Hảo: Các quy định về hộ tịch cư trú ở nước ta hiện nay có thể chia làm hai loại: thường trú và tạm trú/lưu trú. Ở từng lĩnh vực cụ thể, cách quản lý này gây ra một số bất cập, chẳng hạn: người dân ở các địa phương khác khi di cư tới các thành phố lớn hoặc ngược lại phải thực hiện nhiều lần thủ tục gia hạn lưu trú tại chính quyền sở tại.


Ông có thể nêu một số trường hợp điển hình mà ông biết có liên quan đến các bất cập vừa nêu không ?


Tôi còn nhớ cách nay chưa lâu, có hai trường hợp rất đau lòng liên quan đến các bất cập trong công tác quản lý hộ tịch cư trú. Đó là trường hợp cháu Thân Trọng Nguyên đã gửi một bức thư cho lãnh đạo Ủy ban MTTQ TP.HCM. Trong thư, cháu viết: "Cháu có hai anh em. Anh cháu sinh năm 1982, còn cháu sinh năm 1984. Cho đến nay chúng cháu vẫn chưa làm được giấy khai sinh. Cháu biết đây cũng là nỗi đau của mẹ cháu. Cháu đã hỏi cơ quan pháp lý... Nhưng ông ơi, tờ giấy xác nhận đã tạm trú 24 năm cũng không thể làm khai sinh cho chúng cháu được”. Hoặc trong một bức thư khác của cháu Nguyễn Ngọc Thương cũng rất xót xa: "Cháu sinh năm 1985, tạm trú ở 40/1B ấp 4 Lương Định Của, Q2, TP.HCM. Vì gia cảnh mà cha mẹ, anh chị em cháu không có hộ khẩu. Do vậy, ngay cả cái tên cháu đang mang cũng là cái tên vay mượn để được cắp sách tới trường như các bạn cùng lứa tuổi. Từ cấp 1, để cho cháu đi học, mẹ cháu đã mượn giấy khai sinh của con người cậu để cháu được đến trường... Để trở thành một người công dân thật sự khó quá ông ơi?”.


Ông có nói tới quyền tự do cư trú của công dân. Đây là quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp?


Điều 68 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã quy định "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú trong nước”. Quy định này nghĩa là mọi công dân đều có quyền sống bất kỳ nơi nào trên Tổ quốc mình và thời hạn sống bao lâu là do nhu cầu thực tế của gia đình họ, hoàn toàn không phụ thuộc vào các rào cản hành chính. Tuy nhiên, các luật thực thi hiện hành lại chưa bám theo Hiến pháp do các quy định chưa phù hợp với thực tế của Việt Nam, chưa nói tới việc đã quá tụt hậu so với các hình thức quản lý hộ tịch cư trú trên thế giới.


Cụ thể, chúng ta đã tụt hậu bao xa so với thế giới trong quản lý hộ tịch cư trú, thưa ông?


Tôi đã tìm hiểu nhiều mô hình quản lý hộ tịch cư trú ở các nước tiên tiến trên thế giới và thấy rằng hầu hết các nước đảm bảo cho công dân của nước họ có quyền tự do cư trú và tự do lựa chọn nơi sinh sống. Luật của họ không có khái niệm hộ khẩu, hay tạm trú mà chỉ đặt ra một số điều kiện đối với một số công việc đặc biệt. Họ cũng không đặt ra bất kỳ hạn chế nào đối với người dân vì lý do thời gian cư trú để khuyến khích công dân tự do dịch chuyển, tìm kiếm việc làm, khuyến khích kinh tế phát triển, tăng cường giao lưu giữa các bộ phận dân cư trong cùng một quốc gia, góp phần giảm bớt khoảng cách giữa nông thôn và thành thị,…


Vậy giải pháp mà ông đưa ra là gì?


Nhìn từ các mô hình quản lý cư trú hộ tịch điển hình trên thế giới đối chiếu với thực tế tại Việt Nam hiện nay thì có thể rút ra kết luận: Nên bỏ mô hình quản lý theo "hộ khẩu” của thời bao cấp và triển khai đồng bộ cả 3 vấn đề: a) thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch; b) quản lý khai thác dữ liệu hộ tịch, chống các hành vi lạm dụng; c) công nhận giá trị của các giấy tờ hộ tịch trong các thủ tục hành chính, các giao dịch dân sự khác. Hiện nay ở Việt Nam, 3 vấn đề nêu trên đang bị tách biệt và được điều chỉnh bởi các văn bản khác nhau. Mặt khác, các luật quy định về hộ tịch cư trú cần thiết phải đặt lợi ích của công dân lên hàng đầu để khuyến khích tự do dịch chuyển lao động, khuyến khích kinh tế phát triển. Để đối phó với sự quá tải của các đô thị lớn Việt Nam nên chuyển sang sử dụng các biện pháp kinh tế để điều tiết vấn đề cư trú. Tôi cũng đề nghị, Luật Hộ tịch nếu được thông qua trong năm 2013, nên lùi thời gian có hiệu lực khoảng 2 năm, đủ để xây dựng các trung tâm dữ liệu, hoàn thiện các quy định liên quan chế tài hình sự đối với hành vi lạm dụng dữ liệu hộ tịch, Luật Cư trú, quản lý đô thị. Về lâu dài nên hợp nhất Luật Cư trú và Luật Hộ tịch, tránh hiện tượng lệch pha giữa hai vấn đề vốn gắn bó mật thiết.


THÀNH LUÂN



Link :http://daidoanket.vn/Index.aspx?Menu=1547&chitiet=64141&Style=1