Trong nhật ký của mình hồi ấy, cô sinh viên Ngọc Toản đã viết “Tôi còn đòi hỏi: Yêu là phải tôn trọng nhau, đừng làm cản trở những nguyện vọng cá nhân, sự bình đẳng giới. Tôi lo sợ nếu lập gia đình bước đường công tác hoạt động, nhất là anh nhiều tuổi có thể sẽ gia trưởng. Nhưng là người khiêm tốn và đã chín chắn trong cuộc sống, anh hiểu và đã chinh phục tôi. Qua trao đổi, trong lời nói khi tiếp xúc cũng như qua từng câu viết trong thư thể hiện một nhân cách cao thượng”.
Nhưng phải chờ đến tháng 12 năm 1953, từ hậu phương Thái nguyên, Đại đoàn 308 lên đường hành quân đi chiến dịch Trần Đình (tên gọi bí mât của chiến dịch Điện Biên Phủ) hai người mới thực sự gặp lại nhau ở Chiêm Hóa. Một sự kiện đã đến với Ngọc Toản. Khi đi tìm đơn vị mới, bà bỗng lạc vào đúng chỗ ông đóng quân khi vừa trở về từ Luan Prabang. Giữa núi rừng Tây bắc bao la, hai người yêu nhau bỗng tình cờ tìm lại được nhau, bà thầm nghĩ duyên số đã đưa họ đến với nhau.“Buổi gặp gỡ tình cờ đó ở giữa núi rừng Điện biên đã làm tôi thấy rõ lòng mình đã thật sự yêu anh. Chia tay nhau mà lòng tràn ngập niềm vui của cuộc gặp gỡ, tôi đi nhận nhiệm vụ ở T59. Âu cũng là một sự kiện mà Trời Phật sắp xếp để tiếp thêm sức mạnh cho tôi vượt qua được những thử thách của những ngày sắp đến” (Ghi chép của bà Nguyễn Thị Ngọc Toản).
Từ thời điểm đó, Ngọc Toản đã thầm nghĩ đây sẽ là người đàn ông của đời mình. Nhưng cưới ngay tại chiến hào Điện Biên còn khét lẹt khói súng, chưa xin phép Mẹ, không có mặt gia đình, anh chị em và bạn bè, là điều mà Toản chưa bao giờ nghĩ tới. Lại còn phải sắm sửa áo quần…. Dù là kháng chiến nhưng người con gái đi lấy chồng là một sự kiện lớn trong đời làm gì mà chuẩn bị vội vã như vậy được.
Rồi mọi người tham gia ý kiến: “nhỡ về hậu phương mà anh Khánh không được phép nghỉ, phải đi nhận nhiệm vụ ngay thì làm sao cưới được!”. Ông Trần Lương còn đảm bảo sẽ thay mặt đơn vị về xin phép Mẹ bà. Biết tính người yêu, Cao Văn Khánh chỉ nói: “Tất cả là do em quyết định”. Ông nói đơn giản: căn bản là việc chính thức hóa tình yêu của hai anh em, và tranh thủ thời gian trên một quãng đường dài được sống cùng nhau sau chiến dịch… chắc là gia đình cũng sẽ hiểu thôi.
Tất cả chiến hữu của Cao Văn Khánh mà Ngọc Toản đã gặp, ai cũng vun vào cho hạnh phúc hai người. Tướng Lê Trọng Tấn (16) kể về lần đầu tiên gặp bà tại đây: “Một chiếc xe gip từ hầm Đờ Cát đi ra. Tôi gặp anh Cao Văn Khánh trên xe. Anh Khánh đươc phân công trao trả thương binh địch tại Điện Biên Phủ. Thấp thoáng phía sau là một phụ nữ trẻ. Cô chào tôi, giọng Huế ngọt ngào. Anh Khánh giới thiệu cô Toản, y sĩ. Tôi có biết tên nhưng nay mới gặp người. Và tôi cũng biết chỉ vài ngày nữa, cô gái Huế dịu dàng thùy mị này sẽ trở thành chị Khánh ở ngay trên mảnh đất Điện Biên lịch sử này. Tôi chúc mừng hạnh phúc của hai anh chị”(17)
Từ trái qua phải: Đại tá Lê Trọng Tấn (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312) Đạo diễn Roman Karmen (18), Đại tá Cao Văn Khánh- Đại đoàn phó Đại đoàn 308, chụp tại Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954
Cao Văn Khánh và Ngọc Toản chụp trên chếc xe Jeep tại Điện Biên Phủ 5-1954
Do chiến trường không có hoa nên bộ đội trang trí hầm với các dù Pháp đủ màu, và sắp xếp có chỗ ngồi cho gần 40 đại biểu của hai họ. Bên nhà gái là các cán bộ quân y, bên nhà trai là cán bộ của F308 và bộ phận ở lại thu dọn chiến trường.
Ngày 22 tháng 5 năm 1954, lễ cưới được tổ chức trong hầm De Castries trong ánh đèn măng-sông. Tình cảm dâng trào khi hai người sóng đôi dắt tay nhau vào hầm trong sự hồ hởi của tất cả những vị khách, tất cả đều là đồng đội nơi chiến trường. Giây phút xúc động này nhiều năm sau Cao Văn Khánh vẫn còn nhắc lại “Em có nhớ lúc anh và em âu yếm bước vào Chỉ huy sở De Castries để làm lễ không?” (20). Ông Trần Lương chủ hôn tuyên bố và ông Cẩm, chính ủy mặt trận của Cục Quân y đại diện đơn vị cô dâu, một số người có chụp ảnh quay phim (trong số những người có mang máy để chụp ảnh là ông Hoàng Xuân Tùy, trưởng ban tuyên huấn của mặt trận (sau này là Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, lại là người bà con, gọi bà Toản là "o" tuy ông Tùy nhiều tuổi ơn song lại là vai cháu).
Kẹo nuga, thuốc lá Philip, rượu Tây, là chiến lợi phẩm khách khứa đem tới chung vui. Văn nghệ cây nhà lá vườn. Chú rể hát bài “Bộ đội về làng”, cô dâu hát bài “Em bé Mường Thanh”. Trang phục cưới của cô dâu chú rể cũng là bộ quân phục cũ màu lá cơi như thường lệ không có gì khác. Đám cưới chỉ ngập tràn những nụ cười tươi như hoa và những lời chúc phúc trong niềm vui thắng trận vẫn còn ngây ngất.
“Tôi còn nhớ lần đầu tiên anh hôn tôi trước mặt đông người, trong tiếng hoan hô vang dậy, để chính thức giới thiệu chúng tôi đã là vợ chồng và đêm tân hôn của hai vợ chồng người chiến sĩ Điện biên trên chiến địa Mường Thanh mở đầu cho cuộc sống tiếp diễn. Họ chiến đấu cho cái chung và cho cả cái riêng. Hạnh phúc của đôi lứa bình dị như cuộc sống mà họ suy nghĩ. Bà viết “Những nghi lễ nói cho cùng đúng là những hình thức thủ tục mà thiếu nó cũng không làm giảm được thi vị của hạnh phúc tình yêu khi hai người đã thực sự yêu nhau và vì nhau”.
Tìm tới
Trang bình luận
/ 1
Đám cưới trong hầm De Castries (Phan 1
Đại đoàn phó Đại đoàn Quân Tiên phong 308, đại tá Cao Văn Khánh, đón ngày 1/5/1954, sinh nhật...