Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Trẻ biếng ăn, trẻ chậm tăng cân: Nguyên nhân và...
Cách dạy con tự lập ngay trong bữa ăn hàng ngày
Chỉ với 30 phút trong bữa ăn nhưng nhiều ông bố bà mẹ đã bỏ qua “cơ hội vàng” này để dạy con những tính cách tích cực.
Hãy từ bỏ thói quen làm hộ trẻ

Cứ tầm 5h chiều, sân chơi khu chung cư lại rộn rã tiếng trẻ con. Không phải các cháu đang chơi đùa, mà vừa chơi vừa ăn. Bà ngoại, bà nội, mẹ, ô sin, mỗi người cầm một bát cháo chạy theo đút từng thìa. Mà không phải chỉ là em bé, có cả những anh chị lớn 3-5 tuổi.

Chị Vân, mẹ bé Quỳnh Anh 4 tuổi than thở: Quen rồi, nếu mình không đút thì con chẳng chịu ăn, chỉ ngồi bốc thức ăn nghịch thôi. Bà nội bé Khánh Đan 2 tuổi giãi bày: đầu tiên cũng cho cháu tập xúc ăn đấy chứ, nhưng mà bẩn lắm, rơi vãi lung tung, bôi cả lên đầu tóc quần áo, mà lại không ăn được mấy, nên không tiếp tục được. Khi nào lớn, bày dạy dễ hơn…

Theo các tài liệu chuyên môn, năng lực tự giác của trẻ phát triển rất mạnh trong những năm đầu đời. Nếu biết khuyến khích, nuối dưỡng ý muốn tự làm của trẻ trong giai đoạn này, ngay từ chuyện ăn uống, trẻ sẽ dần hình thành tính cách tự lập.Và ngược lại, vì gia đình quá chăm sóc, việc gì cũng làm hộ sẽ khiến cho năng lực ấy bị ức chế, thậm chí là thui chột, biến trẻ thành một con người thụ động, yếu đuối, tự ti.

Giúp trẻ tự phục vụ chính mình

Tập cho trẻ thói quen tự đưa thức ăn vào miệng

Khi trẻ bắt đầu biết cầm nắm, gặm nhấm đồ vật là bạn có thể cho trẻ tập cầm nắm thức ăn và hướng dẫn trẻ cách đưa vào miệng được rồi. Hãy bắt đầu bằng những loại hoa quả chín mềm như xoài, đu đủ, hồng xiêm….hoặc các loại rau củ luộc kĩ, các loại bánh ăn dặm (Wakodo, Hipp, Bibica, …)
Click me:
http://mangthai.vn/tin-tuc/giao-duc-t1p1c583/Cach-day-con-tu-lap-ngay-trong-bua-an-hang-ngay-i2064
11:01 SA 18/01/2011
Bệnh Tiểu Đường
Ngủ nhiều gây tiểu đường
Nhiều người có sở thích ngủ, mỗi khi có điều kiện là vùi vào giấc ngủ. Có người thức khuya và hôm sau ngủ bù đến trưa mới dậy.
Tất cả những thói quen này tưởng chừng như đơn giản, nhưng lại để lại nhiều hậu quả.
Người trưởng thành nên ngủ 7 - 8 tiếng/ngày
Đó là ý kiến của ThS.BS Phan Hướng Dương, Bệnh viện Nội tiết TƯ. BS Dương cho rằng, một nghiên cứu tại Mỹ trên 9.000 người cho thấy, tăng hơn 50% nguy cơ bị tiểu đường ở nhóm người ngủ nhiều trên 9 giờ mỗi ngày và nguy cơ này cũng tăng cao ở nhóm người ngủ ít dưới 5 tiếng/ngày.
Bởi lẽ trong khi ngủ bộ não và các cơ quan ít hoạt động hơn, rất dễ dẫn đến tình trạng béo phì, mà béo phì là một trong những nguyên nhân của tiểu đường. Đồng thời, ngủ dậy quá muộn sẽ phá vỡ nhịp đồng hồ sinh học của mỗi người, gây rối loạn nội tiết và ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần, thậm chí có thể gây trầm cảm.
Người trưởng thành thì một ngày nên ngủ khoảng 7 - 8 giờ.
Vì thế, càng ngủ càng thấy mệt, chứ không hề thoải mái như chúng ta vẫn nghĩ. Thế nhưng, ngủ ít dưới 5 giờ/ngày cũng có nguy cơ tăng bệnh tiểu đường gấp 2 so với người bình thường, bởi lẽ khi thức chúng ta thường suy nghĩ, làm việc... tốn năng lượng và phải nạp năng lượng, dẫn đến cơ thể có khả năng thừa chất béo.
Vì vậy, tốt nhất người trưởng thành thì một ngày nên ngủ khoảng 7 - 8 giờ, còn trẻ em khoảng 9 giờ, người già khoảng 6 giờ là phù hợp.
Ngủ nhiều gây đau đầu
TS.BS Trần Văn Khoa, Học viện Quân y chia sẻ, ngủ nhiều có thể bị bệnh tim mạch. Khi chúng ta hoạt động, nhịp tim sẽ đập tương đối nhanh và thúc đẩy máu lên não. Còn khi cơ thể nghỉ ngơi, nhịp tim sẽ đập chậm đi, lượng máu bơm lên não cũng vì thế mà giảm xuống.
Ngủ nướng sẽ khiến bạn ăn uống không đúng giờ gây co thắt đường tiêu hóa. Lâu dần sẽ khiến bạn bị viêm dạ dày mạn tính. Mặt khác, ngủ nhiều ban ngày, ngủ ít ban đêm cũng hay gây đau đầu buổi sáng vì liên quan đến chất dẫn truyền thần kinh serotonin.
Theo BS Nguyễn Thanh Bình, khoa Tâm thần kinh, Viện Lão khoa Quốc gia, người trưởng thành bình thường cần ngủ khoảng 7 - 8 tiếng/ngày. Với người già, chỉ cần khoảng 5 - 6 tiếng/ngày là đủ. Một số người già do ít hoạt động, đặc biệt là người bị tai biến dẫn đến phải nằm một chỗ thường ngủ li bì cả ngày hoặc ngược lại, lại không có nhu cầu ngủ về đêm.
Các trường hợp này, BS Thanh Bình cho biết, người nhà cần có chế độ chăm sóc tốt, thường xuyên đưa người thân ra ngoài trời vào buổi sáng, chiều để người thân có cảm giác mình vẫn hoạt động như người bình thường. Chỉ đến tối, người bệnh mới được ngủ như người bình thường...
Click me:
http://www.mangthai.vn/tin-tuc/suc-khoe---y-te-t1p1c582/Ngu-nhieu-gay-tieu-duong-i2094
10:54 SA 18/01/2011
Tiêm chủng cho bé từ 2-3 tuổi
Tiêm phòng cho bé
Các bệnh như sởi, quai bị, ho gà, sởi Đức, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, viêm màng não là những bệnh hết sức nguy hiểm nơi trẻ, có thể dẫn đến tử vong. Việc tiêm phòng là cách kéo dài sự bảo vệ trẻ chống lại những căn bệnh này. Nếu bạn có những nghi ngại gì về vấn đề tiêm phòng, như trẻ có những dị ứng về đồ ăn, hay có tiền sử gia đình về chứng co giật. Bạn không nên quyết định không chủng ngừa cho trẻ mà cần hỏi bác sĩ.
Loại vaccine ngừa bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà thường được tiêm một lần vào hai tháng, bốn tháng và sáu tháng tuổi. Vaccine ngừa viêm màng não được tiêm cùng thời gian ngừa 3 loại trên. Vaccine ngừa bại liệt thường được uống ba lần, đồng thời với 3 loại bệnh trên. Tất cả những loại này cần thực hiện đúng trình tự, đủ ba lần để bé đảm bảo được miễn nhiễm, riêng loại uống ngừa bại liệt lần thứ ba chỉ dành cho những vùng đang có nguy cơ dịch bệnh hoành hành. MMR được tiêm ngừa các bệnh sởi, quai bị và sởi Đức một lần thường là vào giữa 12 -15 tháng tuổi.
Lúc bé được một năm, nên đưa bé đi thử lao, vì nó không gây đau đớn gì cả.
Nếu bạn nhiễm viêm gan siêu vi B, bé cần được tiêm ngừa bằng globulin ngay sau khi sinh, và được chủng ngừa lại khi bé được từ 1-6 tháng tuổi.
Tác dụng thứ yếu của vaccine
Nhiều cha mẹ lo ngại về những tác dụng thứ yếu của vaccine, đặc biệt vaccine ho gà và MMR. Qua nghiên cứu cho thấy, những biến chứng nguy hại từ bất cứ vaccine nào trong danh mục đều hết sức nhỏ và chính nguy cơ đau bệnh còn nguy hiểm hơn việc tiêm phòng nhiều.
Sau khi tiêm ngừa, bé có thể cảm thấy khó chịu một chút, thậm chí sốt nhẹ. Mẩn đỏ, sưng nhẹ, và hơi nhức quanh vùng tiêm là chuyện bình thường, nếu bé gặp vấn đề khác thường, bạn nên đưa bé đến bác sĩ.
Những tác dụng dụng phụ của việc tiêm ngừa đều không đáng kể, và thời gian cũng chỉ trong vòng một ngày, rất hiếm khi có những biến chứng nguy hiểm như co giật do sốt cao. Nếu có thì cũng nhanh qua và không ảnh hưởng lâu dài. Ngừa ho gà là đáng ngại nhất, nhưng cũng ít khi sốt cao. Ngừa viêm màng não cũng có ảnh hưởng phụ như ngừa bạch hầu, uốn ván, ho gà, bé sưng đỏ quanh vùng tiêm, sốt nhẹ và khó chịu.
Ngừa MMR không có ảnh hưởng phụ ngay, nhưng sau đó khoảng 7-10 ngày, bé sốt nhẹ và mẩn đỏ. Những thứ khác cũng vậy.
Nếu trước ngày tiêm ngừa, bé bị sốt, khó chịu, bạn không muốn tiêm thì có thể hỏi bác sĩ. Trường hợp bé bị nôn mửa, ỉa chảy, bạn có thể bỏ qua lần ngừa bại liệt, chờ khi bé khỏe.
Click me:
http://www.mangthai.vn/so-sinh-va-nhu-nhi/cham-soc-be/benh-thuong-gap-va-so-cuu-t1p557c566/tiem-phong-cho-be-i1636
10:45 SA 18/01/2011
Bé bị vàng da
Đôi nét về nguyên nhân gây ra chứng vàng da ở trẻ sơ sinh
Để cha mẹ yên tâm, trong bài viết này, Parentslink Việt Nam xin giới thiệu tới các bạn nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chứng vàng da của trẻ.
Chứng vàng da xuất hiện với tần số cao khi em bé được khoảng 3 ngày tuổi. Thông thường chứng vàng da của trẻ sẽ mất dần sau một khoảng thời gian tùy thuộc vào cơ địa của mỗi bé. Có bé chỉ khoảng một tuần là hết nhưng có bé sẽ mất khoảng nửa tháng, thậm chí nhiều bé mất đến 3 tuần mới hết. Tuy rất phổ biến nhưng không phải cha mẹ nào cũng biết nguyên nhân thực sự của chứng vàng da.
Chứng vàng da xuất hiện là do sự phá hủy hồng huyết cầu sớm ngay sau sinh gây nên. Tiến trình phá hủy này tạo ra tình trạng dư thừa sắc tố bilirubin trong máu và chính sắc tố này đã khiến cho da em bé sơ sinh bị nhuốm màu vàng vàng. Chứng vàng da ở trẻ sơ sinh sẽ mất dần khi gan bé hoàn thiện, giúp bé có khả năng bài xuất bilirubin đủ nhanh để cân bằng thành phần này trong máu. Thời điểm gan hoàn thiện thường là sau khi bé được khoảng 1 tuần đến 10 ngày tuổi.
Thông thường ở đại đa số trẻ sơ sinh, chứng vàng da không cần thiết phải điều trị và tự nhiên chúng sẽ biến mất trong vòng một tuần sau khi xuất hiện. Tuy nhiên, khi cha mẹ nhận thấy việc bị vàng da ở trẻ không phải là hiện tượng thông thường mà mang màu sắc bệnh lý thì nên cho trẻ đi kiểm tra mức bilirubin bằng cách xét nghiệm máu. Nếu trẻ bị vàng da bệnh lý thì phương pháp điều trị cũng rất đơn giản. Y học hiện nay áp dụng phương pháp phototherapy (tức là liệu pháp ánh sáng) để chữa vàng da bệnh lý ở trẻ. Phương pháp này chữa trị vàng da ở trẻ bằng cách chiếu ánh sáng cực tím trong vòng khoảng 12 tiếng.
Ngoài việc dư thừa sắc tố bilirubin ở trẻ dẫn đến vàng da sinh lý, một nguyên nhân nữa cũng gây vàng da cho trẻ, đó là nhóm máu không tương thích giữa mẹ và con. Y học còn gọi tình trạng này là nhóm máu Rhesus, tức là mẹ có máu Rhesus âm trong khi con lại là Rhesus dương. Nếu chứng vàng da của trẻ mà do nguyên nhân nhóm máu Rhesus này thì nó khá nghiêm trọng vì nó thường được chẩn đoán từ trước khi sinh và có sự can thiệp phù hợp.
Bên cạnh hai nguyên nhân trên, chứng vàng da ở trẻ cũng có thể do nguyên nhân khác như bệnh viêm gan và hẹp ống dẫn mật (tiếng anh là biliary atresia) - đây là bệnh hiếm gặp mà tình trạng cụ thể là ống dẫn mật phát triển lệch đi so với ống dẫn mật bình thường.
Nhìn chung, bệnh vàng da ở trẻ có thể do nhiều nguyên nhân. Yêu cầu đối với cha mẹ là cần quan sát kỹ để phát hiện xem hiện tượng vàng da của trẻ là sinh lý hay bệnh lý. Thông thường cha mẹ xác định chủ yếu dựa vào thời gian em bé bị vàng da. Nếu hiện tượng vàng da mất dần trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 tuần thì được coi là vàng da sinh lý. Tuy nhiên, khi thời gian kéo dài hơn thì được coi là vàng da bệnh lý. Vàng da bệnh lý không được phát hiện và chữa trị kịp thời sẽ biến chứng vào não trẻ, gây ra hiện tượng vàng nhân não.Hiện tượng này nếu không có những cách thức chữa trị phù hợp thì rất dễ dẫn đến não trẻ bị dị tật suốt đời, thậm chí trẻ sẽ bị giảm khả năng nghe,bị điếc hoặc giảm khả năng nhìn.
Chính vì thế, các bậc cha mẹ phải rất chú ý theo dõi để có những đối phó phù hợp với hiện tượng vàng da rất phổ biến ở trẻ vừa sinh.
Nguồn:
http://www.mangthai.vn/so-sinh-va-nhu-nhi/cham-soc-be/benh-thuong-gap-va-so-cuu-t1p557c566/doi-net-ve-nguyen-nhan-gay-ra-chung-vang-da-o-tre-so-sinh-i2716
10:40 SA 18/01/2011
Cai sữa cho bé!
Thời gian và cách cai sữa cho trẻ
Cai sữa - hiểu đơn giản là dừng việc cung cấp các chất dinh dưỡng từ nguồn sữa mẹ cho trẻ. Việc cai sữa là một bước chuyển rất quan trọng đối với bé. Vì vậy, khi bắt đầu cai sữa, các bà mẹ trẻ nên đề ra kế hoạch khoa học cho việc cai sữa diễn ra thuận lợi.
Khi nào nên cai sữa cho bé?
Theo các bác sĩ nhi khoa, không có thời điểm nào là tuyệt đối chính xác để cai sữa cho trẻ. Việc lựa chọn thời gian cai sữa cho bé phần lớn phụ thuộc vào lựa chọn của người mẹ.
Theo khuyến cáo của tổ chức Y tế Thế giới, các bà mẹ nên cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ cho đến khi trẻ được 6 tháng tuổi. Viện Y tế Hoa Kỳ cũng đưa ra khuyến cáo, không nên cai sữa cho trẻ trước 1 tuổi để đảm bảo dinh dưỡng cũng như sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.
Bạn nên chủ động cai sữa khi bé có các dấu hiệu sau:
- Có thể tự kiểm soát được những hoạt động của đầu. Khi bế trẻ, đầu đã cứng cáp, không cần dùng tay đỡ sau gáy.
- Trẻ có thể ngồi vững mà không cần sự trợ giúp.
- Có sự vận động cơ hàm (nhai).
- Trọng lượng cơ thể bé tăng gấp đôi so với khi mới sinh ra.
- Có những biểu hiện không hài lòng như: quấy khóc, mặc dù đã được bú no sữa mẹ.
- Bú mẹ lâu hơn so với bình thường.
- Cho những vật mà bé tìm thấy vào miệng.
- Giấc ngủ ban đêm bị gián đoạn, bé thức giấc và quấy khóc do đói.
- Biểu lộ sự tò mò khi trông thấy người khác ăn.
Không nên cai sữa cho trẻ khi nào?
Khi trẻ sốt cao, viêm họng là những điều kiện khiến cho trẻ có nguy cơ yếu ớt hơn, ít thích hợp cho việc thay đổi thức ăn và đòi hỏi cơ thể phải nỗ lực thích ứng, vì thế trong thời điểm trẻ đang ốm, sốt, viêm họng, đặc biệt là khi bị tiêu chảy (lúc này, hệ tiêu hoá còn yếu nên sữa mẹ là thức ăn an toàn nhất)…thì không nên cai sữa cho trẻ. Điều này sẽ làm cho tình trạng sức khỏe của bé sẽ càng tồi tệ hơn về sau, và rất dễ gây nên hiện tượng biếng ăn, còi xương.
Các bà mẹ không nên cho bé cai sữa trước 6 tháng tuổi. Ngành y tế khuyến cáo, các bà mẹ nên cho con bú ít nhất đến 12 tháng tuổi. Tuỳ vào hoàn cảnh, một số người có thể cai sữa sớm hơn. Tuy nhiên, việc cai sữa trước 6 tháng tuổi sẽ gây thiệt thòi nhiều cho bé, bởi sữa mẹ không chỉ là nguồn dưỡng chất hoàn hảo mà còn chứa các kháng thể, giúp bé phòng chống bệnh tật - những yếu tố mà thực phẩm khác không có được.
Không nên cai sữa cho trẻ vào những ngày thời tiết xấu như: trời quá nóng, quá ẩm hay quá rét, khi mà ngay cả người lớn cũng thấy mệt mỏi, khó chịu. Sự thay đổi một thói quen ăn uống và các stress xuất hiện lúc này dễ làm trẻ ốm.
Cai sữa cho bé như thế nào?
Bạn có thể chọn các phương pháp cai sữa đơn giản mà hiệu quả sau:
- Bắt đầu từ từ ngưng không cho trẻ bú sữa. Đồng thời, kết hợp cho trẻ ăn ngoài bằng các loại sữa thay thế như: sữa bột, sữa hộp, sữa đặc hay sữa bò (chỉ nên áp dụng phương pháp này sau khi trẻ đã lớn trên 1 tuổi).
Thời gian đầu trẻ sẽ khó có thể quen được, và có thể sinh ra quấy khóc, đòi bú. Đây là những biểu hiện rất bình thường, không đáng lo ngại, nhưng rất cần sự vững tâm của người mẹ để không cho trẻ bú lại. Sau dần, tự trẻ sẽ tìm lại được “cân bằng” cho mình.
Việc ngưng không cho con bú, có thể khiến cho bạn bị tức sữa hay ứ sữa, thậm chí là sưng và viêm đầu vú. Trong thời gian này, lượng sữa của người mẹ cũng giảm đi rõ rệt.
- Rút ngắn thời gian cho bú. Người mẹ sẽ chủ động cắt giảm thời gian cho bé tiếp cận với “ti”. Ví dụ, trước đây bé thường bú mẹ trong 5 phút/lần thì bây giờ cần phải rút xuống còn 3 phút/lần, dần dần cai hẳn sữa cho bé.
- Trì hoãn việc cho trẻ bú cũng là một trong những cách cai sữa cho trẻ hữu hiệu. Bạn nên rút ngắn số lần cho trẻ bú. Ví dụ, trước đây bạn cho trẻ bú 4 lần/ngày thì giờ đây rút dần xuống còn 3 và 2 lần/ngày. Việc rút số lần cho trẻ bú một cách từ từ sẽ giúp ích cho cả mẹ và bé, vì bé sẽ quen với việc rứt sữa từ từ và người mẹ cũng ít bị đau nhức khi ứ sữa lại.
Nếu bé đòi bú, bạn hãy nói là sẽ cho bú sau, và bằng cách này hay cách khác làm cho trẻ quên đi việc thèm sữa.
Những chú ý khi cai sữa cho trẻ
- Khi bắt đầu cai sữa cho trẻ, bạn nên chuẩn bị các dụng cụ như sau: 3 cái yếm dãi có lót bên trong bằng nilông, 2 - 3 cái thìa nhỏ bằng chất dẻo, 1 cái ca có miệng rót và tay nắm, 2 cái đĩa có trôn dầy nặng.
- Khi cai sữa, nên bắt đầu từ từ thay vì quá đột ngột và ngưng hẳn không cho trẻ bú. Điều này có nghĩa là các bà mẹ hãy chủ động rút ngắn thời gian và cường độ cho trẻ bú, tránh những sang chấn bất lợi đối với tâm lý của trẻ sau này.
- Khi cho bé ăn dặm, cần chế biến những món ăn thật mềm, nhỏ như: cháo loãng hay bột, vừa tốt cho tiêu hóa và sự phát triển răng của trẻ vừa loại trừ những nguy cơ bị hóc, nghẹn.
- Cho trẻ ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày, nên biết cách đa dạng các loại thực phẩm cho bé để tạo cảm giác hứng thú khi bé ăn.
Nguồn:
http://www.mangthai.vn/au-nhi/cham-soc-be/dinh-duong-t1p501c509/thoi-gian-va-cach-cai-sua-cho-tre-i428
10:38 SA 18/01/2011
Bé chậm mọc răng - Mỗi bé một khác, các mẹ cùng...
Nguyên nhân và các giải pháp khi bé chậm mọc răng
Thông thường khoảng 6 tháng tuổi, bé sẽ mọc những chiếc răng sữa đầu tiên. Và khi bé từ 2 - 2 tuổi rưỡi, bé có thể đã mọc được 20 chiếc răng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, bé 18 tháng tuổi mới mọc răng tức là chậm hơn mức bình thường hơn 1 năm. Vậy phải làm gì khi bé yêu của bạn mọc răng chậm?
Các nguyên nhân bé chậm mọc răng
Do sinh lý
Bác sĩ có thể dựa vào số lượng răng để theo dõi sự phát triển thể chất ở bé. Số răng của bé có liên
Con bạn mọc răng vào tháng thứ mấy?
* Trước 6 tháng
* Tháng thứ 6
* Tháng thứ 7
* Tháng thứ 8
* Tháng thứ 9
* Tháng thứ 10
* Sau tháng thứ 10
Xem kết quả Bình chọn!
quan đến số tháng tuổi (bình thường, số răng của bé bằng số tháng tuổi trừ đi 4). Tuy nhiên, nếu bé 8 - 9 tháng tuổi mới mọc răng nhưng thể chất và tinh thần vẫn phát triển tốt thì không có vấn đề gì đáng lo ngại. Còn trường hợp, bé 18 tháng tuổi mới mọc răng tức là chậm hơn mức bình thường hơn 1 năm thì đây là do nguyên nhân về sinh lý
Bé bị thiếu canxi
Nguồn dinh dưỡng chính của bé khoảng 6 tháng tuổi vẫn là sữa mẹ. Thông thường, bé bú mẹ hoàn toàn sẽ được cung cấp đầy đủ canxi. Trường hợp thiếu canxi dễ xảy ra với nhóm bú bình hoặc chất lượng sữa mẹ kém (nguyên nhân là do người mẹ ăn uống kiêng kem hoặc chế độ dinh dưỡng nghèo nàn).
Bé hấp thụ quá nhiều photpho cũng có nguy cơ thiếu canxi. Bởi vì khi ấy sự hấp thụ canxi tự nhiên trong cơ thể bé sẽ bị sụt giảm. Thiếu canxi khiến cho răng bé mọc chậm hơn so với thông thường.
Bé bị còi xương
Tình trạng này có liên quan đến giảm khả năng hấp thụ vitamin D ở bé. Thức ăn và ánh nắng mặt trời là 2 nguồn cung cấp vitamin D tự nhiên cho cơ thể. Trong đó, các loại thịt, cá, trứng, sữa thường dồi dào vitamin D hơn các loại rau, củ. Người mẹ cũng nên lưu ý rằng vì vitamin D là loại vitamin có khả năng tan trong dầu nên nếu chế độ ăn của bé không đủ chất béo thì vitamin D cũng khó hấp thụ
Các triệu chứng còi xương khác ở bé như thường xuyên quấy khóc khi ngủ; bé đổ mồ hôi trộm; lồng ngực lép, thóp rộng…. Để tránh nguy cơ bé chậm mọc răng do còi xương, bạn nên lưu ý một số điểm:
*
Trong giai đoạn có thai và cho con bú, người mẹ nên ăn uống đa dạng và đủ chất. Tuyệt đối không nên ăn kiêng.
*
Bạn có thể bắt đầu cho bé một tháng tuổi tắm nắng. Mỗi ngày khoảng 15-20 phút trước 9h sáng. Nên duy trì hoạt động tắm nắng cho bé liên tục hàng ngày.
*
Nên chú ý cung cấp đầy đủ chất đạm và chất béo trong quá trình ăn dặm của bé. Bạn nên nêm thêm dầu ăn trong bát bột (hoặc cháo) cho bé.
Bé bị suy dinh dưỡng
Nếu trong vòng vài tháng liên tục bé không tăng cân, có khả năng bé bị suy dinh dưỡng. Thực đơn cho bé ăn dặm nên đảm bảo các yếu tố chất đường, đạm, tinh bột, chất béo.
Tuy nhiên, bạn nên chú ý đến nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của bé thay vì ép bé ăn. Có thể tăng khẩu phần ăn cho bé nhưng nên từ từ. Mỗi tuần, bạn cho bé ăn nhiều hơn một chút. Tốt nhất là hãy đưa bé đi gặp bác sĩ để có lời khuyên chính xác nhất cho chế độ dinh dưỡng của bé.

Để tránh nguy cơ bé chậm mọc răng do suy dinh dưỡng, bạn nên chú ý một số điểm sau:
*
Lượng sữa cần thiết cho bé là khoảng 500-800ml mỗi ngày. Bạn cũng có thể cho bé dùng thêm sữa chua hoặc phômai.
*
Bé 8-12 tháng tuổi có thể ăn 3 bữa cháo mỗi ngày. Bạn nên nấu kèm cháo với thịt (hoặc tôm, cua, cá, lươn), các loại rau (bồ ngót, rau dền…) để thay đổi khẩu vị cho bé. Mỗi tuần, bạn nên cho bé ăn thêm 2-3 bữa cà rốt hoặc bí đỏ. Nấu bữa nào, bạn nên cho bé ăn dứt điểm bữa đó; tránh hâm lại đồ ăn cho bé.
*
Nên cho bé ăn thêm các loại hoa quả tươi: Bạn có thể ép lấy nước cho bé uống hoặc xay cả bã và cho bé dùng.
*
Ngủ đủ giấc và khuyến khích bé vận động cũng là biện pháp kích thích bé ăn ngon miệng, tránh suy dinh dưỡng...
Click me:
http://www.mangthai.vn/so-sinh-va-nhu-nhi/cham-soc-be/cac-cham-soc-thiet-yeu-t1p557c567/nguyen-nhan-va-cac-giai-phap-khi-be-cham-moc-rang-i830
10:36 SA 18/01/2011
Bé 7 tuổi đái dầm
Chữa chứng đái dầm ở trẻ
Đái dầm là chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng 15-20% trẻ em từ 5 tuổi trở xuống mắc chứng đái dầm.
- Khoảng 15-20% trẻ sơ sinh tới 5 tuổi đái dầm liên miên, không bao giờ giường ngủ khô ráo, đây là dạng đái dầm typ-1
- Khoảng 3-8% trẻ em từ 5-12 tuổi có lúc đã ngừng đái dầm được 6 tháng, rồi lại đái dầm trở lại, là dạng đái dầm typ-2.
Ảnh minh họa
- Có tới 2-5% trẻ em đã lớn, ở tuổi vị thành niên, vẫn còn đái dầm. Chứng đái dầm có tính chất di truyền: Nếu bố hoặc mẹ thuở nhỏ hay đái dầm thì 40% con cái của họ cũng sẽ bị đái dầm. Nếu cả bố lẫn mẹ thuở nhỏ bị đái dầm thì 70-75% con cái của họ sẽ bị đái dầm.
Nguyên nhân
Nguyên nhân hiện vẫn chưa biết được rõ ràng. Tuy nhiên, kiểm soát tiểu tiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như:
- Khả năng phát triển bàng quang không tốt, hay bàng quang quá nhỏ.
- Không kiểm soát được cơ của ống dẫn tiểu.
- Không kiểm soát được cơ bàng quang.
- Chậm phát triển hệ thống thần kinh cũng có thể sinh ra đái dầm.
Khi bàng quang đã đầy nước tiểu mà bệnh nhân vẫn chưa muốn thức giấc, sẽ dẫn đến đái dầm. Các bậc phụ huynh thường than phiền rằng con cái ngủ say quá nên đái dầm, nhưng sự thực đái dầm không liên quan tới giấc ngủ.
Trẻ bị những chứng bệnh sau đây có thể hay đái dầm:
- Bị căng thẳng tâm lý.
- Khi ngủ hay ngáy to, vì bị sùi vòm họng hay còn gọi là V.A, hay có cục thịt thừa trong cổ họng.
- Đi tiểu thường xuyên, bị buốt đường tiểu (nhiễm trùng đường tiểu).
- Đi tiểu són.
- Đi tiểu nhiều (bị bệnh tiểu đường hay bệnh thận).
- Đường tiểu yếu, cả đêm hay ngày đều hay tiểu són (bị nghẹt đường tiểu).
Đái dầm ảnh hưởng tới tâm lý trẻ em
Phụ huynh thường than phiền rằng con cái đái dầm gây phiền hà cho mọi người; những người trong gia đình đổ lỗi cho nhau vì con cái đái dầm; đôi khi phụ huynh còn trừng phạt con em vì tội đái dầm… điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý trẻ.
Lớn hơn 10 tuổi mà còn bị đái dầm, trẻ em thường bị chứng bệnh tâm lý, bị căng thẳng, buồn rầu, không thích chơi với những trẻ khác. Tâm tính trẻ em bất bình thường, khó chịu, vì cảm thấy không kiểm soát được chính mình.
Chữa trị
- Những thuốc chữa đái dầm gồm có: Oxybutynin clhoride (Ditropan), Imipramine HCL (Tofranil), Desmopressinacetate (DDAVP). Thuốc chữa đái dầm thường phức tạp, tùy theo những trường hợp khác nhau, cần có đơn và theo dõi của bác sĩ.
- Tùy theo môi trường xung quanh: Thường thì khi đưa con đi khám bệnh đái dầm, bố mẹ đã thử nhiều phương pháp khác nhau để tìm cách giảm bệnh đái dầm. Ví dụ như hạn chế không cho con uống nhiều nước trước khi đi ngủ, hay đánh thức con dậy đi tiểu trước khi bố mẹ đi ngủ. Đôi khi bố mẹ còn hạn chế không cho con ăn uống một số thứ như chocolate, sữa, nước cam, hay những loại dễ làm đi tiểu như nước trà, nước ngọt có gas.
- Khi trẻ đã đến tuổi đi học thì nên trải miếng nilông trên giường, tốt hơn là bắt trẻ đóng tã giấy.
- Nên để đèn gần chỗ đi tiểu để trẻ không ngại khi trở dậy đi tiểu.
- Nên giúp đỡ trẻ qua những lúc khó khăn, đừng trừng phạt trẻ. Không nên đổ lỗi cho trẻ, mà ngược lại nên giúp trẻ hiểu biết, để có thể làm được những gì cần phải làm. Ví dụ trẻ có thể giúp bố mẹ lau rửa giường, đệm hay tự tắm rửa...
Click me:
http://mangthai.vn/tin-tuc/suc-khoe---y-te-t1p1c582/chua-chung-dai-dam-o-tre-i1007
10:34 SA 18/01/2011
Bé 7 tuổi đái dầm
Mình có cách này chữa chứng đái dàm hay lắm, các mẹ tham khảo nhé:
Chữa chứng đái dầm ở trẻ
Đái dầm là chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng 15-20% trẻ em từ 5 tuổi trở xuống mắc chứng đái dầm.
- Khoảng 15-20% trẻ sơ sinh tới 5 tuổi đái dầm liên miên, không bao giờ giường ngủ khô ráo, đây là dạng đái dầm typ-1
- Khoảng 3-8% trẻ em từ 5-12 tuổi có lúc đã ngừng đái dầm được 6 tháng, rồi lại đái dầm trở lại, là dạng đái dầm typ-2.
Ảnh minh họa
- Có tới 2-5% trẻ em đã lớn, ở tuổi vị thành niên, vẫn còn đái dầm. Chứng đái dầm có tính chất di truyền: Nếu bố hoặc mẹ thuở nhỏ hay đái dầm thì 40% con cái của họ cũng sẽ bị đái dầm. Nếu cả bố lẫn mẹ thuở nhỏ bị đái dầm thì 70-75% con cái của họ sẽ bị đái dầm.
Nguyên nhân
Nguyên nhân hiện vẫn chưa biết được rõ ràng. Tuy nhiên, kiểm soát tiểu tiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như:
- Khả năng phát triển bàng quang không tốt, hay bàng quang quá nhỏ.
- Không kiểm soát được cơ của ống dẫn tiểu.
- Không kiểm soát được cơ bàng quang.
- Chậm phát triển hệ thống thần kinh cũng có thể sinh ra đái dầm.
Khi bàng quang đã đầy nước tiểu mà bệnh nhân vẫn chưa muốn thức giấc, sẽ dẫn đến đái dầm. Các bậc phụ huynh thường than phiền rằng con cái ngủ say quá nên đái dầm, nhưng sự thực đái dầm không liên quan tới giấc ngủ.
Trẻ bị những chứng bệnh sau đây có thể hay đái dầm:
- Bị căng thẳng tâm lý.
- Khi ngủ hay ngáy to, vì bị sùi vòm họng hay còn gọi là V.A, hay có cục thịt thừa trong cổ họng.
- Đi tiểu thường xuyên, bị buốt đường tiểu (nhiễm trùng đường tiểu).
- Đi tiểu són.
- Đi tiểu nhiều (bị bệnh tiểu đường hay bệnh thận).
- Đường tiểu yếu, cả đêm hay ngày đều hay tiểu són (bị nghẹt đường tiểu).
Đái dầm ảnh hưởng tới tâm lý trẻ em
Phụ huynh thường than phiền rằng con cái đái dầm gây phiền hà cho mọi người; những người trong gia đình đổ lỗi cho nhau vì con cái đái dầm; đôi khi phụ huynh còn trừng phạt con em vì tội đái dầm… điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý trẻ.
Lớn hơn 10 tuổi mà còn bị đái dầm, trẻ em thường bị chứng bệnh tâm lý, bị căng thẳng, buồn rầu, không thích chơi với những trẻ khác. Tâm tính trẻ em bất bình thường, khó chịu, vì cảm thấy không kiểm soát được chính mình.
Chữa trị
- Những thuốc chữa đái dầm gồm có: Oxybutynin clhoride (Ditropan), Imipramine HCL (Tofranil), Desmopressinacetate (DDAVP). Thuốc chữa đái dầm thường phức tạp, tùy theo những trường hợp khác nhau, cần có đơn và theo dõi của bác sĩ.
- Tùy theo môi trường xung quanh: Thường thì khi đưa con đi khám bệnh đái dầm, bố mẹ đã thử nhiều phương pháp khác nhau để tìm cách giảm bệnh đái dầm. Ví dụ như hạn chế không cho con uống nhiều nước trước khi đi ngủ, hay đánh thức con dậy đi tiểu trước khi bố mẹ đi ngủ. Đôi khi bố mẹ còn hạn chế không cho con ăn uống một số thứ như chocolate, sữa, nước cam, hay những loại dễ làm đi tiểu như nước trà, nước ngọt có gas....
Click me:
http://mangthai.vn/tin-tuc/suc-khoe---y-te-t1p1c582/chua-chung-dai-dam-o-tre-i1007
10:33 SA 18/01/2011
v
vuthihuong_cn
Bắt chuyện
521Điểm·1Bài viết
Báo cáo