Sách dạy Nghiên cứu sinh hay… “hàng nhái”? Chúng tôi đã tiếp cận với cuốn sách “Những vấn đề của Ngôn ngữ học cấu trúc dưới ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại” của GS.TS Nguyễn Đức Tồn. Sách do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào năm 2013. Đây chính là cuốn sách đã bị báo Phụ nữ Thủ đô chỉ mặt điểm tên là “đạo văn” (http://baophunuthudo.vn/article/27864/165/phat-hien-them-mot-cuon-sach-dao-van-cua-ong-nguyen-duc-ton), với đường link cuối bài dẫn chiếu đến 43 trang sách đạo văn của ông Tồn. Xem xét công trình này, chúng tôi nhận thấy ông Tồn đã cóp nhặt một cách tinh vi và liều lĩnh từ ít nhất 4 nguồn/tác giả, bao gồm Từ điển bách khoa trực tuyến Wikipedia tiếng Việt, Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1), bài báo của Đỗ Lai Thúy, giáo trình của Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán. Ông Nguyễn Đức Tồn là một “chuyên gia” về vấn đề “từ đồng nghĩa”. Bản thân ông đã xuất bản hẳn một chuyên khảo có nhan đề “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” (Nxb Khoa học Xã hội, 2006). Cuốn này là một trong hai cuốn đã được khai trong hồ sơ xin phong GS năm 2009, thay cho hai cuốn sách bị tố đạo văn trước đó. Những tưởng ông sẽ áp dụng thành quả nghiên cứu về từ đồng nghĩa vào thực tiễn giảng dạy, hóa ra ông đã không làm vậy. Thay vào đó, ông lại áp dụng triệt để khả năng sử dụng “từ đồng nghĩa” vào việc “thuổng” công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp. Để tránh bị phát hiện đạo văn, ông Tồn đã kì công sửa chữa từng đoạn văn một. Cách làm của ông thật đơn giản và dễ dàng như một… học sinh tiểu học được học về từ đồng nghĩa. Cụ thể, bằng các thay thê từ đồng nghĩa, ông sửa chữa câu cú, biến nội dung tri thức của tài liệu gốc thành của mình. Ở đây, chúng tôi chỉ trích một vài ví dụ điển hình trong suốt hơn 3 chương của cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học – Tập 1” của hai tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (Nxb Giáo dục, 2001), đã bị “đạo” một cách không thương tiếc. Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Tiếp đó, người nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi lại hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người khảo chứng trả lời “được” như vậy, chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 170). Ông Tồn tô vẽ lại thành “Tiếp theo, nhà nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người đó trả lời “được” thì chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 27). Một độc giả bình thường nhất, sau khi xem hai câu này, cũng nhận ra đâu là “hàng nhái”. “Hàng nhái” này được tạo ra bằng chiêu thức đơn giản: phép thế từ đồng nghĩa. Ông Tồn, một chuyên gia về từ đồng nghĩa, đã tỉ mẩn thay thể “tiếp đó” bằng từ đồng nghĩa “tiếp theo”, “người nghiên cứu” bằng “nhà nghiên cứu”, “người khảo chứng” bằng “người đó”… Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Trong ba mặt vật liệu, thể chất (chất liệu) hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thức mới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Bởi vậy khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ” (trang 188). Trong sách của mình, ông Tồn mông má thành: “Trong ba mặt: vật liệu, thể chất(chất liệu), hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thứcmới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Do đó, khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ”. Trong đoạn này, với tư cách là một biên tập viên dạn dày (ông đã nhiều năm làm Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ), ông Tồn đã cho thêm một dấu hai chấm, một dấu phẩy, in nghiêng một số thuật ngữ. Đồng thời, ông cũng không quên sử dụng ngón nghề tủ: phép thế đồng nghĩa. Ông “nâng tầm” tác phẩm của ông Châu và ông Toán bằng việc thay từ “bởi vậy” bằng từ… “do đó”. Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Giả định có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị A, B, C làm thành tố kế tiếp” (trang 170). Đến lượt mình, ông Tồn hùng hồn chữa: “Giả sử có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị X Y Z làm thành tố kế tiếp”. Từ “A, B, C” biến thành “X Y Z”, từ “giả định” biến thành “giả sử”, phải chăng đó là một “phát kiến vĩ đại” của ông Tồn? Với chiêu trò “kim thiền thoát xác” thông qua việc thay thế bằng từ đồng nghĩa, ông Tồn đã tút tát lại phần lớn các câu chữ của ông Châu và ông Toán, rồi thản nhiên bê cả ba chương này vào công trình của mình mà không thèm nhắc gì đến hai tác giả trên. Dĩ nhiên, ông Tồn rất tỉnh táo để không làm sai lạc nội dung của tài liệu gốc. Ông chỉ thay thế những từ ngữ đồng nghĩa vô thưởng vô phạt, không làm suy suyển gì đến nghĩa của cả câu, chẳng hạn: “mặc dù vậy” thay bằng “tuy vậy”, “xem” thay bằng “coi”, “khi” thay bằng “nếu”, “tiếp nhận” thay bằng “tiếp thu”, “công trình” bằng “tác phẩm”, “như đã biết” thay bằng “như đã nêu ở trên” v.v và v.v. Cho nên, sau lớp son phấn loẹt lòe che đậy của ngôn từ thì những luận điểm của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán vẫn được giữ y chang. Cũng đôi khi, do câu cú của “hàng xịn” khó mà mông má được bằng từ đồng nghĩa, ông hoặc phải ngậm ngùi giữ nguyên hoặc phải viện đến chiêu thức khác. Ông tiến hành cắt bỏ dăm ba từ, hoặc thêm một vài từ, hoặc đảo một vài cụm từ, thậm chí đưa câu này lên trước câu khác… Chẳng hạn, trong sách gốc viết: “Phương pháp cấu trúc luận theo kiểu L.Hjelmslev như trình bày ở trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát, có hiệu lực đối với việc nghiên cứu mọi hệ thống tín hiệu nói chung” (trang 191). Đến lượt mình, ông Tồn biến tấu: “Có thể thấy rằng phương pháp cấu trúc luận hiểu theo L.Hjelmslev như trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát…” (trang 43). Thậm chí, để cho không giống hoàn toàn với “hàng xịn”, ông nhấc luôn phần chú thích của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán thành đoạn chính văn… Chẳng hạn, ở trang 197, hai tác giả viết: “nhiệm vụ nghiên cứu các phương thức tuyến tính” và đặt chú thích ở cuối trang “còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)”, thì ông Tồn bỏ đoạn chú thích, bê lên thành đoạn chính văn và đặt trong ngoặc đơn: “nghiên cứu các phương thức tuyến tính (còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)” (trang 48). Một tuyệt chiêu nữa trong thâm kế “kim thiền thoát xác” của ông Tồn có thể tìm thấy trong các ví dụ. Ở đây, ý đồ của ông Tồn rất rõ ràng. Có những ví dụ mang tính chuyên môn sâu, ông đành phải giữ nguyên. Nhưng với những ví dụ thông thường khác, ông “mô đi phê” đôi chút. Nhưng ông cũng không đủ tự tin để thay một ví dụ mới hoàn toàn, mà vẫn sử dụng những câu đồng nghĩa na ná “hàng xịn” để thay thế. Chẳng hạn, ví dụ trong sách của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán: “Người công nhân bạn tôi đang đọc báo” (trang 174) bị ông Tồn thay bằng “Người sinh viên bạn tôi đang đọc sách” (trang 30); “Anh ấy mua cặp, áo và giày” (trang 185) được thay bằng “Mẹ mua cho con sách, giấy, bút, mực” (trang 39)… Ba sự thật từ cái đuôi cáo lòi ra… Đã là “hàng nhái” thì đương nhiên không giống 100% “hàng xịn” và chất lượng thì đương nhiên cũng thua xa “hàng xịn”. Điều này đúng cả với việc đạo văn của GS Tồn trong cuốn sách này của ông. Dù ông Tồn có biến báo giỏi đến đâu thì cái gót chân Achilles vẫn còn đó. Dù ông có thể nhuần nhuyễn trong việc sử dụng từ đồng nghĩa để tỉa tót câu chữ từ tác phẩm của người khác thì ông vẫn không che đậy được 3 sự thật hiển nhiên. Sự thật đầu tiên là ông Tồn đã trắng trợn và tinh vi đạo văn của các ông Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đỗ Lai Thúy… Việc này đã được báo Phụ nữ Thủ đô nêu rõ khi chiểu theo các định nghĩa về đạo văn cả trong nước và thế giới. Hành vi đạo văn của ông trong công trình này rõ ràng là có đạo văn có chủ đích, được ngụy trang một cách tinh xảo thông qua việc nhào nặn ngôn từ của các tác phẩm gốc và hoàn toàn không chú nguồn. Sự thật thứ hai là ông Tồn còn làm biến dạng, méo mó và xấu xí tác phẩm gốc bằng việc mông má của mình. Ông có thể là chuyên gia về từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc ông có thể áp dụng được với các ngoại ngữ. Gót chân Achilles của ông chính là ở đây. Như báo Phụ nữ Thủ đô đã nêu, để cho khác với tác phẩm gốc, đôi chỗ ông Tồn cao hứng chú thích thêm cả tiếng nước ngoài vào một số chỗ. Nhưng hãy xem ông chú thích tiếng nước ngoài ra sao? Cặp lưỡng phân nổi tiếng của Saussure là langue/parole (ngôn ngữ/lời nói) bằng tiếng Pháp bị ông nhào nặn thành một cặp ngớ ngẩn “language/parole” (trang 18), tức “langue” (tiếng Pháp) được thay bằng “language” (tiếng Anh) và như thế trở thành một cặp đối lập khập khiễng: một từ tiếng Anh, một từ tiếng Pháp. Trên thực tế, thuật ngữ “langue” mà Saussure sử dụng trong tiếng Pháp, mang nghĩa rộng hơn nhiều so với từ “language” trong tiếng Anh. Thuật ngữ “chủ nghĩa phân bố Mỹ” là “American distributionalism” thì ông hồn nhiên chua đến 2 lần thành “American distributionism” (?!) (trang 25 và 69). Thuật ngữ “morphophonème” nghĩa là “hình âm vị”, đã được hai tác giả trên chua đúng thì ông Tồn lại “phát minh” thành “hình âm vị học”. Ông bảo “ngôn ngữ học mô tả” là “desciptive linguistics” (đúng phải là “descriptive linguistics”). Tiếp theo, ông tuyên bố “mô tả” là “descibe” (trang 22) (!?) Lại nữa, khi ông sao chép một số từ tiếng nước ngoài từ văn bản gốc, nó cũng bị tam sao thất bản. Từ “glossématique” (trang 191) trong sách gốc bị ông chép thành “glossémantique” (trang 43). Tên nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha cũng bị ông đổi tên không thương tiếc: Horalek thành Horanek… Trớ trêu hơn, thuật ngữ “chức năng thi pháp” trong tiếng Pháp ở sách gốc bị đánh máy nhầm thành “function poétique” (đáng ra phải là “fonction poétique”) (trang 198). Thế nhưng, ông Tồn vẫn hồn nhiên bê nguyên cả cái sự “bé cái nhầm” này vào sách mình (trang 49). Nếu với những ví dụ khác, ông Tồn có thể bao biện sự trùng lặp là do “hai tư tưởng lớn gặp nhau”, thì với ví dụ này, ông không thể cãi là không đạo văn được, vì không thể có “hai tư tưởng sai gặp nhau” được. Nếu thông thường thì những lỗi sai trên có thể đổ cho bộ phận biên tập hay đánh máy. Thế nhưng, chính ông Tồn đã khẳng định trong lời nói đầu rằng cuốn sách của ông đã nhận được “nhiều công sức biên tập” của bà Vũ Thị Sao Chi, Phó Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ. Vậy, hà cớ gì đổ cho người biên tập hay đánh máy được. Sự thật thứ ba là đây không phải là lần đầu tiên ông Tồn dính líu đến việc đạo văn. Đây chỉ là một phần “tảng băng chìm” của hàng loạt các công trình đạo văn có hệ thống khác của ông Tồn đã và đang bị báo chí phanh phui trong suốt thời gian qua. Điều đáng nói là đây là nếu như các công trình bị quy là đạo văn trước kia được xuất bản trước khi ông được công nhận chức danh giáo sư thì cuốn sách có nội dung đạo văn mới bị phát hiện này lại xuất bản năm 2013, nghĩa là sau khi ông Tồn được nhận chức danh giáo sư 4 năm. Điều này càng củng cố cơ sở cho nhận định rằng việc đạo văn của ông Tồn là có hệ thống và liên tục trong một thời gian dài. Đúng là “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. PGS.TS Hoàng Dũng cho rằng “Với thêm phát hiện thành tích đạo văn mới, từ nay không nên hỏi “Cuốn sách nào của ông Nguyễn Đức Tồn là đạo văn?”, mà là “Công trình nào ký tên ông Nguyễn Đức Tồn mà… KHÔNG đạo văn?” Đáng sợ nhất là cuốn sách đạo văn này lại đang được sử dụng để giảng dạy cho các nghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học Xã hội. Ai có thể đảm bảo được rằng với những hàng nhái kiểu như thế này, chúng ta sẽ đào tạo được những tiến sĩ có chất lượng. Trong bối cảnh ngành giáo dục đào tạo đang quyết liệt với các vụ việc tiêu cực nổi cộm gần đây, như vụ gian luận điểm thi tốt nghiệp ở Hà Giang, liệu có thể tiếp tục dung túng cho vụ việc gian lận “gan nuốt búa” thế này? Liệu đến bao giờ hành vi đạo văn của ông Tồn mới được xử lý đích đáng để trả lại sự liêm chính, minh bạch và niềm tin trong học thuật Hoài Thu Nguồn https://thoisu24h.vn/phat-hien-cuon-sach-dao-van-moi-cua-gsts-nguyen-duc-ton-chieu-tro-dao-van-co-mot-khong-hai-cua-mot-chuyen-gia-ve-tu-dong-nghia-a24988.html
Kỳ 2: Cần phải miễn nhiệm học hàm của ông Nguyễn Đức Tồn! GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: "Ông Nguyễn Đức Tồn thực chất là đạo văn" GS.TS Nguyễn Minh Thuyết: "Đạo văn cần bị xử lý nghiêm" TS Nguyễn Thuý Khanh: Về vấn đề đạo văn của Giáo sư Nguyễn Đức Tồn
Người bị tố “đạo văn” là ông Nguyễn Đức Tồn, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học.
“Đạo văn” có hệ thống
Ông Nguyễn Đức Tồn ngay từ khi còn là Phó Giáo sư (PGS), làm Tổng biên tập tạp chí Ngôn ngữ (thuộc Viện Ngôn ngữ), đã ngang nhiên "đạo văn" ngay các tác phẩm của tác giả in trên tạp chí Ngôn ngữ, ông Tồn "biến" thành của mình.
Cụ thể là: trong cuốn sách “Những vấn đề dạy và học trong nhà trường, Phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở”, (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 5/2001) tác giả Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đức Tồn đã “bê” nguyên xi bài báo in trên Tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 2001 “Dạy từ láy cho học sinh trung học cơ sở” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà. PGS Tồn chỉ thay đổi tí chút ở đầu đề, rồi ngang nhiên chú thích “Bài viết có sự cộng tác của Nguyễn Thị Thanh Hà, nghiên cứu sinh Viện Ngôn ngữ học”. Trong khi đó, bài báo của Nguyễn Thị Thanh Hà đã được công bố trước khi cuốn sách của ông Tồn ra đời, lại không hề ghi tên ông này. Thời điểm đó, dư luận ở Viện Ngôn ngữ học và giới khoa học ngôn ngữ cũng đã "dậy sóng" bức xúc tố ông Nguyễn Đức Tồn rằng, ông là Tổng Biên tập Tạp chí Ngôn ngữ, nơi đăng bài của Ths Hà nên có quyền lấy bài đưa vào sách của mình và biến tác giả của nó thành một “kẻ ăn theo” bằng dòng chữ “có sự cộng tác”!
Tiếp theo truyền thống "đạo văn" này, năm 2002 ông Tồn lại xuất bản tiếp cuốn sách: “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002), thì ngay lập tức ông Tồn bị tố đã "đạo" hoàn toàn 2 luận án của 2 người khác để "hô biến" thành quyển sách của ông. Luận án thứ nhất bị ông Tồn “đạo” là luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thúy Khanh, đề tài: “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật”, bảo vệ năm 1996 tại Viện Ngôn ngữ học (ông Nguyễn Đức Tồn là người hướng dẫn).
Quyển sách "đạo văn" của ông Nguyễn Đức Tồn Các chuyên gia của ngành Ngôn ngữ đã so sánh là ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, luận án PTS của tác giả Nguyễn Thúy Khanh có 96 trang chính, thì có tới 82 trang trùng với sách của ông Tồn, và phần lớn số trang trùng nhau đều chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy. Vì luận án của tác giả Nguyễn Thúy Khanh được công bố 6 năm trước khi cuốn sách của ông Nguyễn Đức Tồn xuất bản, hơn nữa khi làm luận án khoa học người thực hiện phải cam kết “đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lặp, sao chép từ bất kỳ một đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác”, cho nên có thể khẳng định: ông Nguyễn Đức Tồn đã “đạo” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thúy Khanh! Luận văn thứ 2 bị ông Tồn "đạo" là luận văn tốt nghiệp đại học:
2 quyển luận án và luận văn bị ông Nguyễn Đức Tồn đạo văn “Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt” của Cao Thị Thu, chuyên ngành Ngôn ngữ học, đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa 36 (1991-1995), do GS.TS Nguyễn Thiện Giáp hướng dẫn. Ngoài phần mở đầu và mục tài liệu tham khảo, luận văn của tác giả Cao Thị Thu có 3 chương (74 trang) thì chương thứ hai (từ trang 20 đến trang 49) bao gồm kết quả nghiên cứu như: tư liệu, bảng biểu thống kê, ý tưởng khoa học và nhiều trang nhiều đoạn, được in nguyên xi trong sách của ông Tồn. Riêng chương ba của Luận văn (từ trang 50 đến trang 75) thì xuất hiện gần như nguyên bản vào chương thứ 8 trong sách của ông Tồn. Chỉ rõ việc “đạo văn” của ông Tồn, GS Lê Huy Bắc đã đưa lên fb của mình chi tiết đến kinh ngạc.
Cần tước danh hiệu giáo sư do “đạo văn” mà có
Đem những bức xúc của dư luận về việc ông Nguyễn Đức Tồn - nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Ngôn ngữ, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học thuộc Học viện KHXH, trong công trình nghiên cứu khoa học (sách) của mình đã sao chép hàng trăm trang luận văn, luận án của người khác mà vẫn được phong GS, chúng tôi phỏng vấn GS.TS Nguyễn Văn Lợi (nguyên Thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học, nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học) có biết thông tin này không và ý kiến của GS về thông tin này?
GS.TS Nguyễn Văn Lợi cho biết: "Đúng là tôi đã tham gia với tư cách Thư kí HĐ Chức danh GS ngành Ngôn ngữ học nhiệm kì 2000-2007. HĐ gồm: GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng (Chủ tịch), GS.TS Đinh Văn Đức (Phó Chủ tịch), GS.TS Nguyễn Văn Lợi (Thư kí), GS.TS Lê Quang Thiêm (Ủy viên), GS.TS Nguyễn Thiện Giáp (Ủy viên), GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (Ủy Viên), GS.TSKH Lý Toàn Thắng (Ủy viên), GS.TS Bùi Minh Toán (Ủy viên), PGS.TS Đinh Lê Thư (Ủy viên). Đối với tôi cũng như các GS đã tham gia HĐ này, không bất ngờ trước thông tin trong công trình khoa học của ông Nguyễn Đức Tồn đã sao chép gần như nguyên xi mấy chục trang luận án PTS của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thúy Khanh và mấy chục trang luận văn tốt nghiệp đại học của SV Cao Thị Thu (là cháu vợ của ông Tồn).
Thời kỳ đó tôi là Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học - một cơ sở đào tạo PTS Ngôn ngữ học; ông Tồn tham gia giảng dạy và hướng dẫn NCS (trong số NCS có chị Nguyễn Thúy Khanh). Sau đó năm 2002, ông Tồn đã nộp hồ sơ xin phong chức danh Giáo sư. Theo tiêu chuẩn xét phong chức danh GS lúc đó, ngoài các tiêu chuẩn về giờ dạy, đề tài nghiên cứu khoa học, ứng viên phải có kết quả đào tạo Phó Tiến sĩ, có sách chuyên khảo (như minh chứng về thành tích nghiên cứu khoa học).
Trong hồ sơ của ông Nguyễn Đức Tồn, thành tích đào tạo PTS là trường hợp NCS Nguyễn Thúy Khanh; sách chuyên khảo - minh chứng về thành tích nghiên cứu khoa học là cuốn “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)”. Xem xét hồ sơ của ông Nguyễn Đức Tồn, HĐ chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học đã phát hiện ra những điều không minh bạch, khuất tất. Theo quy định sách chuyên khảo phải được xuất bản (nộp lưu chiểu ở Cục Xuất bản) trước khi đưa vào hồ sơ. Nhưng ông Tồn nộp hồ sơ cho HĐ có cuốn sách đó với tư cách minh chứng cho thành tích nghiên cứu khoa học, khi thực tế cuốn sách đó chưa được xuất bản (Kết luận của HĐ căn cứ vào công văn trả lời của Cục Xuất bản, Bộ Văn hóa).
Nghiêm trọng hơn, HĐ đã phát hiện ra trong cuốn sách “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)” - với tư cách là minh chứng quan trọng cho thành tích nghiên cứu khoa học để ông Tồn được phong học hàm Giáo sư, chép nguyên xi mấy chục trang từ luận án Phó Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thúy Khanh (đã bảo vệ thành công từ năm 1996), người hướng dẫn khoa học là PTS Nguyễn Đức Tồn: “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật (Trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga)”.
Ngoài ra, HĐ cũng phát hiện thấy, trong công trình khoa học của ông Tồn có nhiều trang chép từ luận văn tốt nghiệp đại học của SV Cao Thị Thu. HĐ chuyên ngành đã họp nhiều lần (có lần có sự tham dự của ông Tổng thư kí và Thanh tra của HĐ chức danh Giáo sư Nhà nước) xem xét hồ sơ và cả các đơn khiếu nại của ứng viên Nguyễn Đức Tồn; đa số các thành viên HĐ nhận thấy những điều gian dối trong hồ sơ của ứng viên này là rõ ràng và bỏ phiếu không tán thành việc phong học hàm Giáo sư cho ứng viên Nguyễn Đức Tồn.
Năm 2007, do Viện Ngôn ngữ tách ra gồm 1/2 số cán bộ để xây dựng Viện Từ điển học và Bách khoa thư, ông Nguyễn Đức Tồn được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học và Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học của Học viện KHXHVN. Sau khi HĐ chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học mới được thành lập (lúc đó tôi và một số GS trong HĐ đã nghỉ, không tham gia HĐ nữa), năm 2008 ông Nguyễn Đức Tồn được phong Giáo sư.
Thiết nghĩ, đã đến lúc phải làm trong sạch, lành mạnh môi trường nghiên cứu, đào tạo, phong chức danh Giáo sư ở nước ta. Việc Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục vào cuộc xử lí các trường hợp không minh bạch, khuất tất trong đợt phong chức danh Giáo sư năm 2017 được dư luận xã hội hoan nghênh. Trường hợp đạo văn của Nguyễn Đức Tồn cũng phải được xử lí. Đó là trách nhiệm của HĐ chức danh Giáo sư các cấp, của Viện Hàn lâm KHXHVN, Học Viện KHXH, và Viện Ngôn ngữ học" - GS.TS Nguyễn Văn Lợi khẳng định.
PGS.TS Phạm Văn Tình (Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) cũng khẳng định: "Không thể tưởng tượng được hiện tượng đạo văn này lại xảy ra với một người nghiên cứu ngôn ngữ lâu năm, từng giữ những cương vị lãnh đạo chuyên môn Ngôn ngữ học như GS.TS Nguyễn Đức Tồn. Có mấy vấn đề mà theo tôi là nghiêm trọng: 1. sao chép của nhiều người; 2. sao chép quá nhiều, quá liều lĩnh (gần như không sửa chữa, thêm bớt) và 3. không hề dẫn nguồn, ghi xuất xứ ở bất cứ chỗ nào trong văn bản. Thực ra, chuyện này đã được nhiều người trong giới Ngôn ngữ học (và cả báo chí) lên tiếng từ lâu. Rất tiếc không hiểu sao mọi việc lại rơi vào im lặng và “chìm xuồng”. Tôi mong các cơ quan chức năng vào cuộc làm cho rõ và xử lí nghiêm khắc".
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (Viện Khoa học Giáo dục) tỏ ra "ngạc nhiên": "Nếu đúng là ông Nguyễn Đức Tồn "đạo văn" rõ thế này thì tôi không hiểu vì sao mà vẫn được phong Giáo sư? Dư luận bức xúc nêu lên như vậy thì sao không xem xét và tiến hành tước bỏ danh hiệu ấy cho hàng ngũ có học vị, học hàm trong sáng hơn, để được xã hội nể trọng hơn? Hiện nay rất nhiều ông quan chức cho dù về hưu rồi vẫn đã, đang và sẽ bị lôi ra ánh sáng, chịu án trừng phạt của pháp luật. Thế thì tại sao những GS bị phát hiện đạo văn như thế này vẫn ngang nhiên ngồi nhấm nháp danh vị lẽ ra không thuộc về mình?".
Điều đáng nói là, ông Nguyễn Đức Tồn đạo văn một cách có hệ thống từ năm 2002, với công trình đạo văn này, ông Nguyễn Đức Tồn được phong Giáo sư, được bổ nhiệm Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, Tổng Biên tập Tạp chí Ngôn ngữ. "Hồ sơ đạo văn" của ông Tồn (bao gồm sách xuất bản mang tên ông Tồn và các luận văn của 2 tác giả mà ông Tồn "đạo") đã từng được niêm yết công khai ở Viện Ngôn ngữ học, thế mà ông Tồn vẫn được phong Giáo sư, rồi được ngồi các Hội đồng chấm luận văn, luận án, thậm chí còn tham gia Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học để bỏ phiếu bầu hay không bầu cho các ứng viên chức danh GS/PGS, thì sao dư luận không bức xúc? Mong rằng Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm KHXH và Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước sớm xem xét, xử lý, tước hàm Giáo sư của ông Nguyễn Đức Tồn!
Tài liệu chứng minh đạo văn của ông Nguyễn Đức Tồn, với từng trang đối chiếu chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy.
21:09 - 2018/07/27
Sách dạy Nghiên cứu sinh hay… “hàng nhái”?
Chúng tôi đã tiếp cận với cuốn sách “Những vấn đề của Ngôn ngữ học cấu trúc dưới ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại” của GS.TS Nguyễn Đức Tồn. Sách do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào năm 2013. Đây chính là cuốn sách đã bị báo Phụ nữ Thủ đô chỉ mặt điểm tên là “đạo văn” (http://baophunuthudo.vn/article/27864/165/phat-hien-them-mot-cuon-sach-dao-van-cua-ong-nguyen-duc-ton), với đường link cuối bài dẫn chiếu đến 43 trang sách đạo văn của ông Tồn.
Xem xét công trình này, chúng tôi nhận thấy ông Tồn đã cóp nhặt một cách tinh vi và liều lĩnh từ ít nhất 4 nguồn/tác giả, bao gồm Từ điển bách khoa trực tuyến Wikipedia tiếng Việt, Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1), bài báo của Đỗ Lai Thúy, giáo trình của Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán.
Ông Nguyễn Đức Tồn là một “chuyên gia” về vấn đề “từ đồng nghĩa”. Bản thân ông đã xuất bản hẳn một chuyên khảo có nhan đề “Từ đồng nghĩa tiếng Việt” (Nxb Khoa học Xã hội, 2006). Cuốn này là một trong hai cuốn đã được khai trong hồ sơ xin phong GS năm 2009, thay cho hai cuốn sách bị tố đạo văn trước đó. Những tưởng ông sẽ áp dụng thành quả nghiên cứu về từ đồng nghĩa vào thực tiễn giảng dạy, hóa ra ông đã không làm vậy. Thay vào đó, ông lại áp dụng triệt để khả năng sử dụng “từ đồng nghĩa” vào việc “thuổng” công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp.
Để tránh bị phát hiện đạo văn, ông Tồn đã kì công sửa chữa từng đoạn văn một. Cách làm của ông thật đơn giản và dễ dàng như một… học sinh tiểu học được học về từ đồng nghĩa. Cụ thể, bằng các thay thê từ đồng nghĩa, ông sửa chữa câu cú, biến nội dung tri thức của tài liệu gốc thành của mình.
Ở đây, chúng tôi chỉ trích một vài ví dụ điển hình trong suốt hơn 3 chương của cuốn sách “Đại cương ngôn ngữ học – Tập 1” của hai tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (Nxb Giáo dục, 2001), đã bị “đạo” một cách không thương tiếc.
Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Tiếp đó, người nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi lại hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người khảo chứng trả lời “được” như vậy, chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 170).
Ông Tồn tô vẽ lại thành “Tiếp theo, nhà nghiên cứu lại dùng cái chia cắt được đó thay thế vào một chuỗi khác, rồi hỏi người khảo chứng cái chuỗi mới có chấp nhận được không. Nếu người đó trả lời “được” thì chắc chắn cái chia cắt được đó là một đơn vị” (trang 27).
Một độc giả bình thường nhất, sau khi xem hai câu này, cũng nhận ra đâu là “hàng nhái”. “Hàng nhái” này được tạo ra bằng chiêu thức đơn giản: phép thế từ đồng nghĩa. Ông Tồn, một chuyên gia về từ đồng nghĩa, đã tỉ mẩn thay thể “tiếp đó” bằng từ đồng nghĩa “tiếp theo”, “người nghiên cứu” bằng “nhà nghiên cứu”, “người khảo chứng” bằng “người đó”…
Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Trong ba mặt vật liệu, thể chất (chất liệu) hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thức mới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Bởi vậy khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ” (trang 188). Trong sách của mình, ông Tồn mông má thành: “Trong ba mặt: vật liệu, thể chất(chất liệu), hình thức thì vật liệu hoàn toàn nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ có thể chất và hình thứcmới thực sự thuộc về ngôn ngữ. Do đó, khi nói về ngôn ngữ, chỉ cần nói đến sự đối lập thể chất và hình thức là đủ”.
Trong đoạn này, với tư cách là một biên tập viên dạn dày (ông đã nhiều năm làm Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ), ông Tồn đã cho thêm một dấu hai chấm, một dấu phẩy, in nghiêng một số thuật ngữ. Đồng thời, ông cũng không quên sử dụng ngón nghề tủ: phép thế đồng nghĩa. Ông “nâng tầm” tác phẩm của ông Châu và ông Toán bằng việc thay từ “bởi vậy” bằng từ… “do đó”.
Ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán viết: “Giả định có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị A, B, C làm thành tố kế tiếp” (trang 170). Đến lượt mình, ông Tồn hùng hồn chữa: “Giả sử có một hình thái phức (một kết cấu, một câu) do ba đơn vị X Y Z làm thành tố kế tiếp”. Từ “A, B, C” biến thành “X Y Z”, từ “giả định” biến thành “giả sử”, phải chăng đó là một “phát kiến vĩ đại” của ông Tồn?
Với chiêu trò “kim thiền thoát xác” thông qua việc thay thế bằng từ đồng nghĩa, ông Tồn đã tút tát lại phần lớn các câu chữ của ông Châu và ông Toán, rồi thản nhiên bê cả ba chương này vào công trình của mình mà không thèm nhắc gì đến hai tác giả trên.
Dĩ nhiên, ông Tồn rất tỉnh táo để không làm sai lạc nội dung của tài liệu gốc. Ông chỉ thay thế những từ ngữ đồng nghĩa vô thưởng vô phạt, không làm suy suyển gì đến nghĩa của cả câu, chẳng hạn: “mặc dù vậy” thay bằng “tuy vậy”, “xem” thay bằng “coi”, “khi” thay bằng “nếu”, “tiếp nhận” thay bằng “tiếp thu”, “công trình” bằng “tác phẩm”, “như đã biết” thay bằng “như đã nêu ở trên” v.v và v.v. Cho nên, sau lớp son phấn loẹt lòe che đậy của ngôn từ thì những luận điểm của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán vẫn được giữ y chang.
Cũng đôi khi, do câu cú của “hàng xịn” khó mà mông má được bằng từ đồng nghĩa, ông hoặc phải ngậm ngùi giữ nguyên hoặc phải viện đến chiêu thức khác. Ông tiến hành cắt bỏ dăm ba từ, hoặc thêm một vài từ, hoặc đảo một vài cụm từ, thậm chí đưa câu này lên trước câu khác… Chẳng hạn, trong sách gốc viết: “Phương pháp cấu trúc luận theo kiểu L.Hjelmslev như trình bày ở trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát, có hiệu lực đối với việc nghiên cứu mọi hệ thống tín hiệu nói chung” (trang 191). Đến lượt mình, ông Tồn biến tấu: “Có thể thấy rằng phương pháp cấu trúc luận hiểu theo L.Hjelmslev như trên không chỉ có hiệu lực nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có tính phổ quát…” (trang 43).
Thậm chí, để cho không giống hoàn toàn với “hàng xịn”, ông nhấc luôn phần chú thích của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán thành đoạn chính văn… Chẳng hạn, ở trang 197, hai tác giả viết: “nhiệm vụ nghiên cứu các phương thức tuyến tính” và đặt chú thích ở cuối trang “còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)”, thì ông Tồn bỏ đoạn chú thích, bê lên thành đoạn chính văn và đặt trong ngoặc đơn: “nghiên cứu các phương thức tuyến tính (còn gọi là phương thức ngữ đoạn (syntagmatique)” (trang 48).
Một tuyệt chiêu nữa trong thâm kế “kim thiền thoát xác” của ông Tồn có thể tìm thấy trong các ví dụ. Ở đây, ý đồ của ông Tồn rất rõ ràng. Có những ví dụ mang tính chuyên môn sâu, ông đành phải giữ nguyên. Nhưng với những ví dụ thông thường khác, ông “mô đi phê” đôi chút. Nhưng ông cũng không đủ tự tin để thay một ví dụ mới hoàn toàn, mà vẫn sử dụng những câu đồng nghĩa na ná “hàng xịn” để thay thế. Chẳng hạn, ví dụ trong sách của ông Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán: “Người công nhân bạn tôi đang đọc báo” (trang 174) bị ông Tồn thay bằng “Người sinh viên bạn tôi đang đọc sách” (trang 30); “Anh ấy mua cặp, áo và giày” (trang 185) được thay bằng “Mẹ mua cho con sách, giấy, bút, mực” (trang 39)…
Ba sự thật từ cái đuôi cáo lòi ra…
Đã là “hàng nhái” thì đương nhiên không giống 100% “hàng xịn” và chất lượng thì đương nhiên cũng thua xa “hàng xịn”. Điều này đúng cả với việc đạo văn của GS Tồn trong cuốn sách này của ông.
Dù ông Tồn có biến báo giỏi đến đâu thì cái gót chân Achilles vẫn còn đó. Dù ông có thể nhuần nhuyễn trong việc sử dụng từ đồng nghĩa để tỉa tót câu chữ từ tác phẩm của người khác thì ông vẫn không che đậy được 3 sự thật hiển nhiên.
Sự thật đầu tiên là ông Tồn đã trắng trợn và tinh vi đạo văn của các ông Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Đỗ Lai Thúy… Việc này đã được báo Phụ nữ Thủ đô nêu rõ khi chiểu theo các định nghĩa về đạo văn cả trong nước và thế giới. Hành vi đạo văn của ông trong công trình này rõ ràng là có đạo văn có chủ đích, được ngụy trang một cách tinh xảo thông qua việc nhào nặn ngôn từ của các tác phẩm gốc và hoàn toàn không chú nguồn.
Sự thật thứ hai là ông Tồn còn làm biến dạng, méo mó và xấu xí tác phẩm gốc bằng việc mông má của mình. Ông có thể là chuyên gia về từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc ông có thể áp dụng được với các ngoại ngữ. Gót chân Achilles của ông chính là ở đây.
Như báo Phụ nữ Thủ đô đã nêu, để cho khác với tác phẩm gốc, đôi chỗ ông Tồn cao hứng chú thích thêm cả tiếng nước ngoài vào một số chỗ. Nhưng hãy xem ông chú thích tiếng nước ngoài ra sao? Cặp lưỡng phân nổi tiếng của Saussure là langue/parole (ngôn ngữ/lời nói) bằng tiếng Pháp bị ông nhào nặn thành một cặp ngớ ngẩn “language/parole” (trang 18), tức “langue” (tiếng Pháp) được thay bằng “language” (tiếng Anh) và như thế trở thành một cặp đối lập khập khiễng: một từ tiếng Anh, một từ tiếng Pháp. Trên thực tế, thuật ngữ “langue” mà Saussure sử dụng trong tiếng Pháp, mang nghĩa rộng hơn nhiều so với từ “language” trong tiếng Anh.
Thuật ngữ “chủ nghĩa phân bố Mỹ” là “American distributionalism” thì ông hồn nhiên chua đến 2 lần thành “American distributionism” (?!) (trang 25 và 69). Thuật ngữ “morphophonème” nghĩa là “hình âm vị”, đã được hai tác giả trên chua đúng thì ông Tồn lại “phát minh” thành “hình âm vị học”. Ông bảo “ngôn ngữ học mô tả” là “desciptive linguistics” (đúng phải là “descriptive linguistics”). Tiếp theo, ông tuyên bố “mô tả” là “descibe” (trang 22) (!?)
Lại nữa, khi ông sao chép một số từ tiếng nước ngoài từ văn bản gốc, nó cũng bị tam sao thất bản. Từ “glossématique” (trang 191) trong sách gốc bị ông chép thành “glossémantique” (trang 43). Tên nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha cũng bị ông đổi tên không thương tiếc: Horalek thành Horanek… Trớ trêu hơn, thuật ngữ “chức năng thi pháp” trong tiếng Pháp ở sách gốc bị đánh máy nhầm thành “function poétique” (đáng ra phải là “fonction poétique”) (trang 198). Thế nhưng, ông Tồn vẫn hồn nhiên bê nguyên cả cái sự “bé cái nhầm” này vào sách mình (trang 49). Nếu với những ví dụ khác, ông Tồn có thể bao biện sự trùng lặp là do “hai tư tưởng lớn gặp nhau”, thì với ví dụ này, ông không thể cãi là không đạo văn được, vì không thể có “hai tư tưởng sai gặp nhau” được.
Nếu thông thường thì những lỗi sai trên có thể đổ cho bộ phận biên tập hay đánh máy. Thế nhưng, chính ông Tồn đã khẳng định trong lời nói đầu rằng cuốn sách của ông đã nhận được “nhiều công sức biên tập” của bà Vũ Thị Sao Chi, Phó Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ. Vậy, hà cớ gì đổ cho người biên tập hay đánh máy được.
Sự thật thứ ba là đây không phải là lần đầu tiên ông Tồn dính líu đến việc đạo văn. Đây chỉ là một phần “tảng băng chìm” của hàng loạt các công trình đạo văn có hệ thống khác của ông Tồn đã và đang bị báo chí phanh phui trong suốt thời gian qua. Điều đáng nói là đây là nếu như các công trình bị quy là đạo văn trước kia được xuất bản trước khi ông được công nhận chức danh giáo sư thì cuốn sách có nội dung đạo văn mới bị phát hiện này lại xuất bản năm 2013, nghĩa là sau khi ông Tồn được nhận chức danh giáo sư 4 năm. Điều này càng củng cố cơ sở cho nhận định rằng việc đạo văn của ông Tồn là có hệ thống và liên tục trong một thời gian dài. Đúng là “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. PGS.TS Hoàng Dũng cho rằng “Với thêm phát hiện thành tích đạo văn mới, từ nay không nên hỏi “Cuốn sách nào của ông Nguyễn Đức Tồn là đạo văn?”, mà là “Công trình nào ký tên ông Nguyễn Đức Tồn mà… KHÔNG đạo văn?”
Đáng sợ nhất là cuốn sách đạo văn này lại đang được sử dụng để giảng dạy cho các nghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học Xã hội. Ai có thể đảm bảo được rằng với những hàng nhái kiểu như thế này, chúng ta sẽ đào tạo được những tiến sĩ có chất lượng.
Trong bối cảnh ngành giáo dục đào tạo đang quyết liệt với các vụ việc tiêu cực nổi cộm gần đây, như vụ gian luận điểm thi tốt nghiệp ở Hà Giang, liệu có thể tiếp tục dung túng cho vụ việc gian lận “gan nuốt búa” thế này? Liệu đến bao giờ hành vi đạo văn của ông Tồn mới được xử lý đích đáng để trả lại sự liêm chính, minh bạch và niềm tin trong học thuật
Hoài Thu
Nguồn https://thoisu24h.vn/phat-hien-cuon-sach-dao-van-moi-cua-gsts-nguyen-duc-ton-chieu-tro-dao-van-co-mot-khong-hai-cua-mot-chuyen-gia-ve-tu-dong-nghia-a24988.html