Công ty Hồng Hà huy động vốn trái phép dự án giãn dân phố cổ Ban Giám đốc "trốn" (!)
(PL&XH) - Căn cứ vào điều khoản trong hợp đồng, nhiều khách hàng đã làm đơn rút tiền góp vốn, đáp lại chỉ là những lời hứa suông từ phía lãnh đạo Cty Hồng Hà, và khi không còn lí do để hứa, thì mất tăm... Chị Thu H. có kí một phụ lục hợp đồng góp vốn với Cty Hồng Hà từ tháng 6-2011 với số tiền 50% giá trị căn hộ 70m2 (đơn giá 15 triệu/m2) tương đương số tiền 562 triệu đồng. Chờ đợi quá lâu không thấy thông tin về tiến độ của dự án từ phía Cty Hồng Hà, đồng thời căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng có nêu rõ: Nếu trong Quý II-2011 mà phía Cty Hồng Hà không tiến hành khởi công dự án thì bên góp vốn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đồng thời sẽ hoàn lại số tiền đã góp cùng với lãi suất là 3%. Đầu tháng 12-2011, chị H. đã được ông Nguyễn Quốc Xương, Phó Tổng Giám đốc Cty Hồng Hà hướng dẫn làm đơn xin rút tiền và đến gặp ông Phan Văn Mai, Phó Ban Dự án khu đô thị giãn dân phố cổ (Cty Hồng Hà) để nộp đơn. Khi nhận đơn, ông Mai có thông báo trong vòng 30 ngày Cty sẽ liên lạc với chị H. hẹn ngày đến thanh lý hợp đồng và hoàn lại tiền chị H. đã góp vốn tại trụ sở Cty Hồng Hà. Chờ đến đủ 30 ngày không thấy phía Cty Hồng Hà liên lạc, chị H. liên lạc và được cho biết vì Tổng Giám đốc đi công tác vắng nên không có ai giải quyết. Cứ thế, năm lần bảy lượt, cứ gọi điện hay "rình" tại trụ sở nếu gặp được ông Tổng Giám đốc Trần Ứng Thanh thì ông Thanh cho biết tôi đã ủy quyền giải quyết việc này cho ông Xương, còn nếu gặp được ông Xương thì ông Xương cho biết vì ông Thanh là sếp tổng và chủ tài khoản nên mọi việc phải chờ ông Thanh quyết. Nếu "may mắn" gặp được cả hai ông, thì chị H. sẽ được chứng kiến màn quát tháo của ông Thanh với cấp dưới. Ông Thanh cho rằng việc kí hợp đồng với khách hàng có điều khoản "vô lý" là phải hoàn lại tiền góp vốn nếu không khởi công dự án vào một thời điểm nhất định là lỗi của ông Xương và ông Thanh hoàn toàn không biết?!. Ông Thanh cho rằng, Cty sẽ có trách nhiệm giao nhà trong vòng 24-30 tháng nữa còn khởi công thời điểm nào thì khách hàng không cần phải quan tâm. Cứ vậy, kẻ tung người hứng, cuối cùng với hàng chục lần đi lại để tìm gặp lãnh đạo Cty Hồng Hà, chị H. cũng có được một giấy hẹn trả tiền do ông Nguyễn Quốc Xương kí. Nhưng đến đúng ngày tháng ghi trong giấy hẹn, khi đến gặp ông Xương, tiền thì không được trả đổi lại chị được nghe một câu "xanh rờn" từ phía ông Xương là nếu kế toán báo không có tiền thì tôi cũng chịu, trách nhiệm giải quyết của tôi chỉ đến đây là hết. Được biết không chỉ chị H. mà hàng chục khách hàng khác đã góp vốn với Cty Hồng Hà đều gặp cảnh này. Diễn màn "kẻ đấm người xoa" chán mà không có tiền trả lại khách hàng. Giờ Ban giám đốc Cty Hồng Hà có lệnh cho bảo vệ bất kì ai đến hỏi về chuyện rút vốn phải chặn lại ở cổng không cho vào và bảo với họ lãnh đạo đi công tác hết. Bất kì ai muốn vào Cty phải có giấy hẹn của lãnh đạo Cty. Chiêu này có vẻ hiệu quả vì khách hàng hẹn qua điện thoại còn khó huống gì gặp trực tiếp lãnh đạo Cty này để có giấy hẹn. Hiện nay, khi được hỏi thông tin về dự án này, lãnh đạo Cty Hồng Hà cho biết về khả năng tài chính, chấp hành yêu cầu của chủ đầu tư, Cty Hồng Hà đã chuẩn bị xong các điều kiện để triển khai, trong đó về tài chính đã có Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cam kết cung ứng toàn bộ vốn tín dụng để Cty thực hiện dự án. Bên cạnh đó, Cty cũng đã ký hợp đồng liên doanh với Cty tư vấn đầu tư lục địa (I.I.C Group) với việc I.I.Group góp 50 triệu USD cho dự án trong ba năm. Theo tìm hiểu của chúng tôi, những thư bảo đảm hay cam kết góp vốn này tất cả cũng vẫn là trên giấy và mang tính hình thức. Chỉ khi Cty Hồng Hà chính thức được giao quyết định xây dựng và chính thức trở thành nhà thầu của dự án này mới đủ điều kiện để lập hồ sơ xin vay vốn với rất nhiều điều khoản ràng buộc khắt khe khác mà còn chưa chắc có vay được vốn hay không. Một cán bộ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cho biết, trong tình hình hạn chế đến mức gần như không cho vay dự án bất động sản nữa thì xem ra việc vay vốn này còn bất khả thi. Cùng với đó, nếu không chứng minh được tài chính và năng lực thi công theo đúng yêu cầu thì việc Cty Hồng Hà được giao thực hiện dự án này xem chừng là điều bất khả thi. Trong khi đó, Ban giám đốc Cty Hồng Hà vẫn cho rằng, trong tháng 3 tới, dự án sẽ được khởi công. Tuy nhiên khi được hỏi về việc đã có giấy phép xây dựng hay quyết định chỉ định thầu của chủ đầu tư giao cho Cty Hồng Hà hay chưa thì lãnh đạo Cty này lại lảng tránh không trả lời. Hành vi huy động vốn sai luật, sử dụng vốn sai mục đích và có dấu hiệu chiếm dụng tài sản của Cty Hồng Hà đang rất cần các cơ quan có thẩm quyền vào cuộc làm rõ. Nó cũng giống như tình trạng của dự án này: http://phantichnhandinh.*******************/co-dau-hieu-lua-dao-tai-du-chung-cu-binh-doan-12-KydVH1x_7sM1.html "Cuộc chiến" đòi lại tiền mua chung cư Binh đoàn 12 đang bước sang giai đoạn mới, dựa trên các chứng cứ pháp lý liên quan. PV báo điện tử Infonet đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trần Đình Triển - Trưởng Văn phòng luật Vì Dân xung quanh vấn đề này. Luật sư Trần Đình Triển đang trao đổi với PV Infonet Thưa luật sư, có hiện tượng các chủ đầu tư “tay không bắt dự án”, dùng đủ mọi cách lách luật để có được vốn. Ông nhìn nhận về vấn đề này thế nào? Thông thường, để xin được dự án bao giờ chủ đầu tư phải lập đề án đề trình lên Nhà nước, mà một điều kiện quan trọng là họ phải đảm bảo và cam kết với Nhà nước là họ có đủ năng lực tài chính, vốn tự có để xây dựng dự án. Nhưng khi được cấp các thủ tục xây dựng dự án thì có rất nhiều các dự án đều có vốn bằng không. Để có tiền xây dựng dự án họ có nhiều cách “lách luật” khác nhau. Một là họ lấy dự án và quyền sử dụng đất để thế chấp vay ngân hàng. Hai là họ bán một phần hoặc toàn bộ dự án cho một đối tác liên doanh khác. Các chủ đầu tư liên doanh liên kết cũng cam kết là đủ vốn để thực hiện dự án nhưng thực tế những đối tác liên doanh liên kết ấy thực tế cũng không đủ vốn. Để có tiền đầu tư thì họ “lách pháp luật” thường dùng hình thức vay vốn đầu tư của nhân dân, gây ra tình trạng xáo trộn trong xã hội. Vì lẽ đó, Chính phủ đã cho ra đời nghị định 71. Nghị định 71 không cho phép các chủ đầu tư huy động vốn khi chưa xây dựng cơ sở hạ tầng thì để 'lách luật' hay nói đúng hơn là 'vi phạm pháp luật' bằng cách họ làm các giấy tờ huy động vốn trước thời điểm Nghị định 71 có hiệu lực (trước ngày 8/8/2010- PV). Với trường hợp cụ thể Chung cư binh đoàn 12. Có thông tin cho rằng hợp đồng giữa công ty Thuận Thành và người dân có hiện tượng ký lùi ngày để “né” Nghị định 71. Nếu đủ cơ sở chứng minh thì có đặt ra vấn đề vi phạm pháp luật ở đây không? Nếu có đầy đủ cơ sở chứng minh việc cố tình lùi thời điểm ký hợp đồng để lách Nghị định 71 thì đây chính là sự vi phạm pháp luật mà cơ quan Nhà nước cần phải điều tra làm rõ. Luật sư có nhắc đến liên doanh liên kết giữa các chủ đầu tư dự án bất động sản, qua nghiên cứu hợp đồng vay vốn giữa Thuận Thành và người mua, theo luật sư, Thuận Thành có đủ tư cách để vay vốn người mua không? Trong hợp đồng vay vốn đầu tư, Công ty Đầu tư BĐS Thuận Thành là một bên liên doanh chứ không phải là chủ đầu tư nên Thuận Thành không được phép huy động vốn. Mặt khác, về nguyên tắc Thuận Thành cũng không phải là tổ chức tín dụng mà lại huy động vốn từ người dân. Như vậy là trái với Luật tổ chức tín dụng. Theo luật sư, trong hợp đồng vay vốn giữa Thuận Thành và người mua, có hay không sự “cài bẫy”? Trong hợp đồng này, tôi cho rằng đã có một sự suy tính đưa những câu chữ mà có mục đích lừa đảo người dân cụ thể là: Đối với sản phẩm dự án bất động sản thì theo quy định pháp luật thì dự án đó phải hoàn thiện cơ sở hạ tầng ví dụ như đường xá, cống rãnh… mới được giao dịch và bán bất động sản. Bản thân hợp đồng là vay vốn nhưng bản chất nó lại là hợp đồng bán sản phẩm. Thêm vào đó, họ dùng câu chữ để buộc người dân phải chịu trách nhiệm về hợp đồng. Ví dụ điều 7 của Hợp đồng nói về tiến độ của dự án, khi họ dùng chữ “dự kiến” nhưng khoảng dự kiến này là có chốt thời gian chậm nhất ngày 1/7/2010 dự án được khởi công, và thời hạn chậm nhất là 40 tháng tính từ ngày khởi công. Dùng chữ “dự kiến” nhưng chốt thời gian cụ thể thì không còn là dự kiến nữa. Từ đó đến nay gần 2 năm mà công trình vẫn chưa khởi công thì Thuận Thành đã ngang nhiên vi phạm pháp luật. Do đó, nếu người dân khiếu nại thì Thanh tra Bộ Quốc phòng phải vào cuộc và UBND TP. Hà Nội cũng phải vào cuộc để làm rõ những cái đúng cái sai của dự án này. Nếu hợp đồng vay vốn này có dấu hiệu lừa đảo thì đủ căn cứ để thu hồi toàn bộ dự án. Với lý do Thuận Thành vi phạm hợp đồng như đã kể ở trên, người mua đòi Thuận Thành phải trả toàn bộ vốn đã góp và lãi suất 14% và phạt 10% giá trị hợp đồng, theo luật sư có đúng không? Nếu hợp đồng giữa người dân và Thuận Thành được thực hiện nghiêm túc về thời gian tiến độ… nếu sản phẩm ra đời người dân không mua thì người dân phải chấp nhận 6% theo thỏa thuận dân sự. Nhưng Thuận Thành thực hiện không đúng hợp đồng thì công ty Thuận Thành phải trả gốc và lãi theo quy định của Nhà nước , lãi suất huy động là 14%/năm đồng thời phải chịu phạt 10 -15% tổng giá trị tài sản tranh chấp theo quy định của Bộ Luật dân sự, chứ không thể trả lời là không mua thì chỉ trả 6%. Đây là một câu trả lời vô trách nhiệm. Anh sử dụng tiền của dân chỉ cần gửi ngân hàng lãi lệch ra đến 8% rồi. Bằng cách này chiếm đoạt tiền của dân thế là không thể chấp nhận được. Nhưng Thuận Thành đưa ra trường hợp bất khả kháng để biện minh cho sự “chậm trễ” thực hiện hợp đồng của mình? Trường hợp bất khả kháng mà Thuận Thành nêu ra trong hợp đồng này là không đúng theo quy định của pháp luật. Trường hợp bất khả kháng là việc diễn ra ngoài ý thức chủ quan của các bên như hỏa hoạn, chiến tranh, cơ chế pháp luật có tính chất bắt buộc chung… Nếu là lỗi của chủ đầu tư vi phạm pháp luật hoặc không làm đúng pháp luật dẫn đến Nhà nước có biện pháp xử lý thì không thể coi là sự kiện bất khả kháng. Ngoài ra, luật sư có phát hiện gì “bất thường” trong giao kết giữa người dân và Thuận Thành? Ngay phiếu thu của Thuận Thành thu tiền người dân cũng là văn bản không đúng pháp luật. Theo quy định của Bộ tài chính phiếu thu phải có 5 chữ ký nhưng không có chữ ký của thủ quỹ. Thủ quỹ không có, vậy ai nhận số tiền này? Giám đốc hay người lập phiếu? Còn đóng cái dấu đã thu tiền thì không có ngày không có tháng không có năm. (?) "Phiếu thu không đúng pháp luật"- Luật sư Trần Đình Triển Hành vi này (những hành vi kể trên- PV) là vi phạm nghiêm trọng pháp luật đã có đủ căn cứ khởi tố vụ án, và có dấu hiệu lừa đảo rồi. Tóm lại các cơ quan chức năng phải vào cuộc và làm rõ vụ việc này. Trước mắt nếu đôi bên không thỏa thuận được thì người dân có quyền khởi kiện ra tòa án. Cần phải giải quyết nhanh, vì có gần 200 hộ được huy động vốn, nếu không giải quyết tốt sẽ gây nên tình hình rất xấu đến an ninh trật tự mà không ai mong muốn. Dự án chung cư Binh đoàn 12 có dấu hiệu lừa đảo? Sự việc căng thẳng khiến Cảnh sát 113 phải đến làm việc
Công ty Hồng Hà huy động vốn trái phép dự án giãn dân phố cổ
Ban Giám đốc "trốn" (!)
(PL&XH) - Căn cứ vào điều khoản trong hợp đồng, nhiều khách hàng đã làm đơn rút tiền góp vốn, đáp lại chỉ là những lời hứa suông từ phía lãnh đạo Cty Hồng Hà, và khi không còn lí do để hứa, thì mất tăm...
Chị Thu H. có kí một phụ lục hợp đồng góp vốn với Cty Hồng Hà từ tháng 6-2011 với số tiền 50% giá trị căn hộ 70m2 (đơn giá 15 triệu/m2) tương đương số tiền 562 triệu đồng. Chờ đợi quá lâu không thấy thông tin về tiến độ của dự án từ phía Cty Hồng Hà, đồng thời căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng có nêu rõ: Nếu trong Quý II-2011 mà phía Cty Hồng Hà không tiến hành khởi công dự án thì bên góp vốn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đồng thời sẽ hoàn lại số tiền đã góp cùng với lãi suất là 3%. Đầu tháng 12-2011, chị H. đã được ông Nguyễn Quốc Xương, Phó Tổng Giám đốc Cty Hồng Hà hướng dẫn làm đơn xin rút tiền và đến gặp ông Phan Văn Mai, Phó Ban Dự án khu đô thị giãn dân phố cổ (Cty Hồng Hà) để nộp đơn. Khi nhận đơn, ông Mai có thông báo trong vòng 30 ngày Cty sẽ liên lạc với chị H. hẹn ngày đến thanh lý hợp đồng và hoàn lại tiền chị H. đã góp vốn tại trụ sở Cty Hồng Hà. Chờ đến đủ 30 ngày không thấy phía Cty Hồng Hà liên lạc, chị H. liên lạc và được cho biết vì Tổng Giám đốc đi công tác vắng nên không có ai giải quyết. Cứ thế, năm lần bảy lượt, cứ gọi điện hay "rình" tại trụ sở nếu gặp được ông Tổng Giám đốc Trần Ứng Thanh thì ông Thanh cho biết tôi đã ủy quyền giải quyết việc này cho ông Xương, còn nếu gặp được ông Xương thì ông Xương cho biết vì ông Thanh là sếp tổng và chủ tài khoản nên mọi việc phải chờ ông Thanh quyết.
Nếu "may mắn" gặp được cả hai ông, thì chị H. sẽ được chứng kiến màn quát tháo của ông Thanh với cấp dưới. Ông Thanh cho rằng việc kí hợp đồng với khách hàng có điều khoản "vô lý" là phải hoàn lại tiền góp vốn nếu không khởi công dự án vào một thời điểm nhất định là lỗi của ông Xương và ông Thanh hoàn toàn không biết?!.
Ông Thanh cho rằng, Cty sẽ có trách nhiệm giao nhà trong vòng 24-30 tháng nữa còn khởi công thời điểm nào thì khách hàng không cần phải quan tâm.
Cứ vậy, kẻ tung người hứng, cuối cùng với hàng chục lần đi lại để tìm gặp lãnh đạo Cty Hồng Hà, chị H. cũng có được một giấy hẹn trả tiền do ông Nguyễn Quốc Xương kí. Nhưng đến đúng ngày tháng ghi trong giấy hẹn, khi đến gặp ông Xương, tiền thì không được trả đổi lại chị được nghe một câu "xanh rờn" từ phía ông Xương là nếu kế toán báo không có tiền thì tôi cũng chịu, trách nhiệm giải quyết của tôi chỉ đến đây là hết.
Được biết không chỉ chị H. mà hàng chục khách hàng khác đã góp vốn với Cty Hồng Hà đều gặp cảnh này.
Diễn màn "kẻ đấm người xoa" chán mà không có tiền trả lại khách hàng. Giờ Ban giám đốc Cty Hồng Hà có lệnh cho bảo vệ bất kì ai đến hỏi về chuyện rút vốn phải chặn lại ở cổng không cho vào và bảo với họ lãnh đạo đi công tác hết. Bất kì ai muốn vào Cty phải có giấy hẹn của lãnh đạo Cty. Chiêu này có vẻ hiệu quả vì khách hàng hẹn qua điện thoại còn khó huống gì gặp trực tiếp lãnh đạo Cty này để có giấy hẹn.
Hiện nay, khi được hỏi thông tin về dự án này, lãnh đạo Cty Hồng Hà cho biết về khả năng tài chính, chấp hành yêu cầu của chủ đầu tư, Cty Hồng Hà đã chuẩn bị xong các điều kiện để triển khai, trong đó về tài chính đã có Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cam kết cung ứng toàn bộ vốn tín dụng để Cty thực hiện dự án. Bên cạnh đó, Cty cũng đã ký hợp đồng liên doanh với Cty tư vấn đầu tư lục địa (I.I.C Group) với việc I.I.Group góp 50 triệu USD cho dự án trong ba năm. Theo tìm hiểu của chúng tôi, những thư bảo đảm hay cam kết góp vốn này tất cả cũng vẫn là trên giấy và mang tính hình thức. Chỉ khi Cty Hồng Hà chính thức được giao quyết định xây dựng và chính thức trở thành nhà thầu của dự án này mới đủ điều kiện để lập hồ sơ xin vay vốn với rất nhiều điều khoản ràng buộc khắt khe khác mà còn chưa chắc có vay được vốn hay không. Một cán bộ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cho biết, trong tình hình hạn chế đến mức gần như không cho vay dự án bất động sản nữa thì xem ra việc vay vốn này còn bất khả thi. Cùng với đó, nếu không chứng minh được tài chính và năng lực thi công theo đúng yêu cầu thì việc Cty Hồng Hà được giao thực hiện dự án này xem chừng là điều bất khả thi.
Trong khi đó, Ban giám đốc Cty Hồng Hà vẫn cho rằng, trong tháng 3 tới, dự án sẽ được khởi công. Tuy nhiên khi được hỏi về việc đã có giấy phép xây dựng hay quyết định chỉ định thầu của chủ đầu tư giao cho Cty Hồng Hà hay chưa thì lãnh đạo Cty này lại lảng tránh không trả lời. Hành vi huy động vốn sai luật, sử dụng vốn sai mục đích và có dấu hiệu chiếm dụng tài sản của Cty Hồng Hà đang rất cần các cơ quan có thẩm quyền vào cuộc làm rõ.
Nó cũng giống như tình trạng của dự án này: http://phantichnhandinh.*******************/co-dau-hieu-lua-dao-tai-du-chung-cu-binh-doan-12-KydVH1x_7sM1.html
"Cuộc chiến" đòi lại tiền mua chung cư Binh đoàn 12 đang bước sang giai đoạn mới, dựa trên các chứng cứ pháp lý liên quan. PV báo điện tử Infonet đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trần Đình Triển - Trưởng Văn phòng luật Vì Dân xung quanh vấn đề này.
Luật sư Trần Đình Triển đang trao đổi với PV Infonet
Thưa luật sư, có hiện tượng các chủ đầu tư “tay không bắt dự án”, dùng đủ mọi cách lách luật để có được vốn. Ông nhìn nhận về vấn đề này thế nào?
Thông thường, để xin được dự án bao giờ chủ đầu tư phải lập đề án đề trình lên Nhà nước, mà một điều kiện quan trọng là họ phải đảm bảo và cam kết với Nhà nước là họ có đủ năng lực tài chính, vốn tự có để xây dựng dự án. Nhưng khi được cấp các thủ tục xây dựng dự án thì có rất nhiều các dự án đều có vốn bằng không.
Để có tiền xây dựng dự án họ có nhiều cách “lách luật” khác nhau. Một là họ lấy dự án và quyền sử dụng đất để thế chấp vay ngân hàng. Hai là họ bán một phần hoặc toàn bộ dự án cho một đối tác liên doanh khác. Các chủ đầu tư liên doanh liên kết cũng cam kết là đủ vốn để thực hiện dự án nhưng thực tế những đối tác liên doanh liên kết ấy thực tế cũng không đủ vốn. Để có tiền đầu tư thì họ “lách pháp luật” thường dùng hình thức vay vốn đầu tư của nhân dân, gây ra tình trạng xáo trộn trong xã hội. Vì lẽ đó, Chính phủ đã cho ra đời nghị định 71. Nghị định 71 không cho phép các chủ đầu tư huy động vốn khi chưa xây dựng cơ sở hạ tầng thì để 'lách luật' hay nói đúng hơn là 'vi phạm pháp luật' bằng cách họ làm các giấy tờ huy động vốn trước thời điểm Nghị định 71 có hiệu lực (trước ngày 8/8/2010- PV).
Với trường hợp cụ thể Chung cư binh đoàn 12. Có thông tin cho rằng hợp đồng giữa công ty Thuận Thành và người dân có hiện tượng ký lùi ngày để “né” Nghị định 71. Nếu đủ cơ sở chứng minh thì có đặt ra vấn đề vi phạm pháp luật ở đây không?
Nếu có đầy đủ cơ sở chứng minh việc cố tình lùi thời điểm ký hợp đồng để lách Nghị định 71 thì đây chính là sự vi phạm pháp luật mà cơ quan Nhà nước cần phải điều tra làm rõ.
Luật sư có nhắc đến liên doanh liên kết giữa các chủ đầu tư dự án bất động sản, qua nghiên cứu hợp đồng vay vốn giữa Thuận Thành và người mua, theo luật sư, Thuận Thành có đủ tư cách để vay vốn người mua không?
Trong hợp đồng vay vốn đầu tư, Công ty Đầu tư BĐS Thuận Thành là một bên liên doanh chứ không phải là chủ đầu tư nên Thuận Thành không được phép huy động vốn. Mặt khác, về nguyên tắc Thuận Thành cũng không phải là tổ chức tín dụng mà lại huy động vốn từ người dân. Như vậy là trái với Luật tổ chức tín dụng.
Theo luật sư, trong hợp đồng vay vốn giữa Thuận Thành và người mua, có hay không sự “cài bẫy”?
Trong hợp đồng này, tôi cho rằng đã có một sự suy tính đưa những câu chữ mà có mục đích lừa đảo người dân cụ thể là:
Đối với sản phẩm dự án bất động sản thì theo quy định pháp luật thì dự án đó phải hoàn thiện cơ sở hạ tầng ví dụ như đường xá, cống rãnh… mới được giao dịch và bán bất động sản. Bản thân hợp đồng là vay vốn nhưng bản chất nó lại là hợp đồng bán sản phẩm.
Thêm vào đó, họ dùng câu chữ để buộc người dân phải chịu trách nhiệm về hợp đồng. Ví dụ điều 7 của Hợp đồng nói về tiến độ của dự án, khi họ dùng chữ “dự kiến” nhưng khoảng dự kiến này là có chốt thời gian chậm nhất ngày 1/7/2010 dự án được khởi công, và thời hạn chậm nhất là 40 tháng tính từ ngày khởi công. Dùng chữ “dự kiến” nhưng chốt thời gian cụ thể thì không còn là dự kiến nữa. Từ đó đến nay gần 2 năm mà công trình vẫn chưa khởi công thì Thuận Thành đã ngang nhiên vi phạm pháp luật.
Do đó, nếu người dân khiếu nại thì Thanh tra Bộ Quốc phòng phải vào cuộc và UBND TP. Hà Nội cũng phải vào cuộc để làm rõ những cái đúng cái sai của dự án này. Nếu hợp đồng vay vốn này có dấu hiệu lừa đảo thì đủ căn cứ để thu hồi toàn bộ dự án.
Với lý do Thuận Thành vi phạm hợp đồng như đã kể ở trên, người mua đòi Thuận Thành phải trả toàn bộ vốn đã góp và lãi suất 14% và phạt 10% giá trị hợp đồng, theo luật sư có đúng không?
Nếu hợp đồng giữa người dân và Thuận Thành được thực hiện nghiêm túc về thời gian tiến độ… nếu sản phẩm ra đời người dân không mua thì người dân phải chấp nhận 6% theo thỏa thuận dân sự. Nhưng Thuận Thành thực hiện không đúng hợp đồng thì công ty Thuận Thành phải trả gốc và lãi theo quy định của Nhà nước , lãi suất huy động là 14%/năm đồng thời phải chịu phạt 10 -15% tổng giá trị tài sản tranh chấp theo quy định của Bộ Luật dân sự, chứ không thể trả lời là không mua thì chỉ trả 6%. Đây là một câu trả lời vô trách nhiệm. Anh sử dụng tiền của dân chỉ cần gửi ngân hàng lãi lệch ra đến 8% rồi. Bằng cách này chiếm đoạt tiền của dân thế là không thể chấp nhận được.
Nhưng Thuận Thành đưa ra trường hợp bất khả kháng để biện minh cho sự “chậm trễ” thực hiện hợp đồng của mình?
Trường hợp bất khả kháng mà Thuận Thành nêu ra trong hợp đồng này là không đúng theo quy định của pháp luật. Trường hợp bất khả kháng là việc diễn ra ngoài ý thức chủ quan của các bên như hỏa hoạn, chiến tranh, cơ chế pháp luật có tính chất bắt buộc chung… Nếu là lỗi của chủ đầu tư vi phạm pháp luật hoặc không làm đúng pháp luật dẫn đến Nhà nước có biện pháp xử lý thì không thể coi là sự kiện bất khả kháng.
Ngoài ra, luật sư có phát hiện gì “bất thường” trong giao kết giữa người dân và Thuận Thành?
Ngay phiếu thu của Thuận Thành thu tiền người dân cũng là văn bản không đúng pháp luật. Theo quy định của Bộ tài chính phiếu thu phải có 5 chữ ký nhưng không có chữ ký của thủ quỹ. Thủ quỹ không có, vậy ai nhận số tiền này? Giám đốc hay người lập phiếu? Còn đóng cái dấu đã thu tiền thì không có ngày không có tháng không có năm. (?)
"Phiếu thu không đúng pháp luật"- Luật sư Trần Đình Triển
Hành vi này (những hành vi kể trên- PV) là vi phạm nghiêm trọng pháp luật đã có đủ căn cứ khởi tố vụ án, và có dấu hiệu lừa đảo rồi.
Tóm lại các cơ quan chức năng phải vào cuộc và làm rõ vụ việc này. Trước mắt nếu đôi bên không thỏa thuận được thì người dân có quyền khởi kiện ra tòa án. Cần phải giải quyết nhanh, vì có gần 200 hộ được huy động vốn, nếu không giải quyết tốt sẽ gây nên tình hình rất xấu đến an ninh trật tự mà không ai mong muốn.
Dự án chung cư Binh đoàn 12 có dấu hiệu lừa đảo?
Sự việc căng thẳng khiến Cảnh sát 113 phải đến làm việc