Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Có nên chỉ trích hình ảnh GS Vũ Khiêu 'thơm' má...
Bình như bạch tuyết lô có cánh
Luận tựa kình dương xoáy vào lòng.
05:52 CH 27/02/2015
Kỳ bí một làng có ngôn ngữ cổ
Ngươì Việt cổ đại không thờ cha cúng mẹ chỉ thờ Mẫu mà hơn nghìn năm nay thờ cúng ngũ đại bên nội là do Khổng Tử, Phật giáo ở miền Bắc cũng là phái tiêủ thưà đấy bạn ơi.

Tục thờ cúng tổ tiên (bao gồm cả cha & mẹ) không phải là đặc trưng riêng biệt xuất phát từ dân Hán. Việc thờ cúng ngũ đại bên nội càng không phải xuất phát từ Nho giáo của Khổng Trọng Ni.
Do đó, chúng ta làm rõ thêm điều này để tránh sự hiểu nhầm tai hại rằng tục thờ cúng này có nguồn gốc từ người Hán. Đây là đặc trưng của đại đa số các dân tộc Á đông.
Quá trình phát triển của totem giáo (totem = vật tổ) trong thời kỳ mẫu hệ thì người ta thờ Mẫu, vì thời kỳ này người phụ nữ có uy quyền cao nhất và là thủ lĩnh của bộ tộc (xin lưu ý: các bộ tộc nguyên thủy hầu hết đều có cùng huyết thống). Khi người thủ lĩnh qua đời, với quan niệm "linh hồn bất tử" thì người ta thờ cúng để mong rằng linh hồn của người thủ lĩnh đầy quyền lực ấy tiếp tục che chở, bảo vệ và phù trì cho họ - người còn sống.
Khi chuyển sang thời kỳ phụ hệ, người đàn ông nắm quyền lực tối cao trong bộ tộc. Do đó mà như một hệ quả tất yếu, khi những người thủ lĩnh (đàn ông) này qua đời, việc thờ cúng được tập trung dành cho các vị ấy, cũng với mong muốn như trên.
Chế độ phụ hệ đặc trưng nhất ở người Việt cổ có thể thấy được khi Hùng Vương dựng nước (trước đó, ta có thể nhận thấy sự cân bằng qua chi tiết "50 con theo Mẹ lên núi, 50 con theo cha ra biển"), thời kỳ này trước khi Khổng Tử sinh ra (năm 551BC) rất nhiều. Điều này là minh chứng rõ ràng nhất cho việc thờ cúng bên nội của người Việt ta hoàn toàn độc lập và không hề xuất phát từ Nho giáo, có chăng ảnh hưởng của Nho giáo và Đạo giáo là ở chỗ "ngũ đại" tức là quan niệm về 5 đời tổ tiên trong quá trình giao thoa văn hóa về sau này.
Ngoài ra, nét đặc biệt lý thú trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt là vẫn duy trì việc thờ Mẫu và còn phát triển nâng lên thành Đạo, được dùng chung cho cả dân tộc chứ không riêng cho nhóm cá thể hoặc riêng gia đình nào.

Nhưng rõ ràng Việt Nam là quốc gia độc lâp tự chủ có lịch sử oai hùng chống giặc ngoại xâm, có nền văn hoá riêng, nhiêu nhân tài kiệt xuất được sử sách Tàu, Kim ( Korea ), Ly ( Japan ) ghi và chúng ta hiện nay hoàn toàn có thể tự hào vê Tổ quốc và các dân tộc Việt Nam.

Tôi cho rằng bạn có chút nhầm lẫn ở tên gọi các nước trong đoạn trên.
Theo hiểu biết của tôi thì:
- Korea = Triều Tiên (bao gồm cả Nam-Bắc Triều) = Cao Ly.
- Kim = một nước/triều đại được dựng nên bởi tộc người Nữ Chân sau khi diệt được Bắc Tống. Lãnh thổ của nước Kim (thuộc phía Bắc và Đông bắc của Trung Quốc) thì phía Bắc giáp với Mông Cổ, phía Tây giáp Tây Hạ và Thổ Phồn, phía Nam giáp Tống (còn gọi là nhà Nam Tống), phía Đông giáp với Cao Ly và biển (tiến ra biển về phía Đông sẽ tới nước Phù Tang - Nhật Bản).
- Japan = Nhật Bản = Phù Tang.
06:06 CH 05/06/2012
Kỳ bí một làng có ngôn ngữ cổ
Việc có thủ lĩnh là đàn ông không nhất thiết là phụ hệ, như người Chăm và 1 số dân tộc miền núi có vua là đàn ông nhưng theo mẫu hệ, vua này được xét lên ngôi dựa vào họ mẹ. Đến thời Hai Bà Trưng, bà Triệu, nghĩa là mấy trăm năm sau thời Hùng Vương, dấu ấn mẫu hệ vẫn rất đậm nét. Người Việt cũng chỉ thờ Âu Cơ chứ đâu có thờ Lạc Long Quân.
Chế độ thờ phụ hệ cũng chẳng phải do Khổng Tử lập ra. Trước KT hàng ngàn năm đã có bao nhiêu là vua, thời đại Ân, Thương, Chu, Chiến quốc... Chế độ phụ hệ là 1 xu hướng phát triển của tự nhiên. Khổng Tử cũng chỉ thu thập lễ lạc truyền thống lại viết thành sách, không phải do ông ấy sáng tạo ra. Nhưng hình thức thờ cúng ấy thì chẳng thể nói không phải của TQ (lễ tang, lễ tế, để tang, tang chế, kiêng kị, bàn thờ, giỗ kị...).

Một số trường hợp và ở một số nơi, những người làm vua chưa chắc đã phải là người có quyền lực tối cao.
Việc lấy họ mẹ để xét chưa thể chứng minh đó là chế độ mẫu hệ.
Nhưng thôi, có lẽ chúng ta dừng tranh luận về điều này ở đây vì sa đà vào nó sẽ lạc chủ đề. Khi nào có dịp về vấn đề này chúng ta lại trao đổi tiếp, bạn nhé.
10:24 SA 05/06/2012
Kỳ bí một làng có ngôn ngữ cổ
Những thông tin trong bài viết này quả là rất thú vị.
Tuy nhiên, phải rất thận trọng khi nhận định "đây là ngôn ngữ thời Văn Lang - Âu Lạc", kẻo mà lại bị hớ to. Vì nếu là tiếng Việt cổ thì nó phải có chút gì đó gần gũi với tiếng Mường.
Và căn cứ vào cách phát âm của hệ cơ số đếm thì có vẻ như ngôn ngữ này khá giống với... tiếng Thái/tiếng Quảng Đông.
Hãy so sánh và lưu ý tới âm và cao độ (thanh dấu) trong bảng sau:
Nhất (một), nhị (hai), thâm (ba), chớ (bốn), dâu (năm)… mười là lạp. Lái Lạp (hai mươi), thâm lạp (ba mươi)… bích (một trăm)

Việt:______Một___ Hai___ Ba___ Bốn___ Năm___ Sáu___ Bảy___Tám___ Chín___ Mười
Mường:____Môch__ Hal___ Pa___ Pươn___Đăm___Khẩu___Páy___Thảm__ Chỉn___ Mươl
Thái:______nung__ song__sam__ si_____ ha____ hok____ jet___ paet__ kau____ sip
Quảng Đông:yat___ yi____ sam__ sei____ ung____luk____ chat___băat__ gau____ sap
Thậm chí, "bích" là 100 thì cũng tương đồng với âm Hán-Việt là "bách", về cả âm lẫn cao độ.
12:24 CH 04/06/2012
Vì lợi ích dòng tộc, Trần Thủ Độ tận diệt tôn...
Để nhận định lịch sử và đánh giá các nhân vật lịch sử, hành trang tối thiểu đối với với nhà phê bình là 3 điều kiện: kiến thức phong phú, thái độ điềm tĩnh và nhận định khách quan.
Sự hằn học đối với bất cứ hiện tượng lịch sử nào cũng đều chứng tỏ sự yếu kém về 3 đk nói trên, sự yếu kém đó khiến cho đi vào vết xe đổ của những nhà "bẻ cong lịch sử".
07:00 CH 18/05/2012
Đau xương cụt, vùng xương chậu, xương mu và khớp...
Đau vùng xương chậu, đau lưng,... các bạn có thể sử dụng liệu pháp tượng số để hóa giải, chỉ cần đọc 5 - 15 phút là hết đau.
Lần 1 đọc: 720.650.380
Nếu sau 15' chưa hết đau thì chuyển qua đọc
Lần 2: đọc 00100.72006
Cách niệm: đọc bình thường, không đọc nhanh gấp, hơi thở đều, không cần đọc phát ra tiếng, vd "bảy hai không _ sáu năm không _ ba tám không". Khi đọc đến chỗ dấu chấm thì ngưng 1/2 giây rồi đọc đến các số tiếp theo.
Lúc đi đứng nằm ngồi đều có thể đọc. Khi đọc thì nên thả lỏng cơ thể, lúc đọc đến số nào thì tập trung tinh thần vào số ấy.
Giải thích: Số 7 là quẻ Cấn, tượng cho núi, xương khớp. Số 2 là quẻ Đoài kim cũng chủ sơ giải, chủ xương. Số 0 là tượng của Thái Cực nhằm hoạt hóa Âm Dương nhị khí. Nên lấy nhóm số 720 mà tác động thẳng vào và giải tỏa chỗ đau. Số 650 là dùng để ôn thông giả kinh, chấn thận, ôn bổ tinh huyết, ôn bổ hạ tiêu. Nhóm số 380 nhằm ôn bổ tỳ.
Đây là phương pháp dùng tượng số của Kinh Dịch, kết hợp với khí công, nhằm điều hòa âm dương, thông kinh lạc, bồi bổ lục phủ ngũ tạng.
01:15 CH 19/03/2012
Mơ thấy chồng chết - Mẹ nào thông thái, gỡ nỗi lo...
Hầu như đêm nào em cũng mơ, và mơ rất thực.
Như tối hôm cuối tuần vừa rồi, mơ thấy chồng bị người ta giết, vùi giấu xác dưới sông.
Vợ tất tả đi tìm, bước thấp bước cao...
Trở dậy mà toát mồ hôi.
Hai đêm rồi mà vẫn còn nhớ như in.
Sáng hôm qua, một người thân vừa mất, lại làm em nhớ và sợ hơn nữa.
Hic.
Không biết nằm mơ như vậy thì có ý nghĩa gì không nhỉ? Mẹ nào biết, gỡ giúp em cái "lo vớ vẩn" (chồng gọi thế) này với ạ!
Em cám ơn nhiều lắm.

Các cụ vẫn bảo "phu phụ như y phục, huynh đệ tựa thủ túc", nên mộng thấy vợ/chồng mất tích, chết,... là điềm báo quần áo y phục bị mất, bị trộm, bị rách, hỏng,...
Ngoài ra, mộng thuộc âm còn đời thực thuộc dương, vì vậy hễ mộng thấy người chết hoặc tự mình chết đều là điềm lành.
09:01 SA 19/03/2012
Áp huyết thấp + thiếu máu - nguồn gốc của mọi...


E chưa có gđ nhưng rất hay mệt mỏi ,ăn ít ,ngủ ít , hay bị chóng mặt nữa ,nhất là lúc đang ngồi mà đứng dậy,nói chung là e hay bị mệt lắm :((
Một lần nữa e cảm ơn nhiều nhiều ạ !

Hãy niệm số: 260
Cách đọc: đọc bình thường "Hai Sáu Không", đừng đọc nhanh. Không cần phát ra tiếng nhưng khi niệm đến số nào thì tập trung tư tưởng vào số ấy.
Số này dùng bồi bổ âm huyết, can huyết, bổ thận nạp khí. Tác dụng tư âm tiềm dương, chữa khí nghịch do âm hư mà sinh ra nhức đầu hoa mắt, mất ngủ, các bệnh về huyết áp,...
12:55 CH 18/03/2012
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
II. Cách đặt tên cho con
1. Phương pháp luận
a. Tiêu chí:

Chọn ra tên có ý nghĩa đẹp và hành phù hợp với gia đình, năm sinh. Có thêm càng nhiều thuận lợi khác càng tốt, nhưng không chọn cái cực đẹp vì theo lý (số) của phương đông học thì "vật cực tắc phản" (đẹp quá sẽ sinh ra xấu vì lúc đỉnh cao sẽ là lúc khởi đầu cho sự suy vi).
b. Xác định ý nghĩa của tên
Nghĩa của tên của người Việt phải dùng nghĩa theo tiếng Việt trước mới dùng nghĩa Hán - Việt, nghĩa Hán dùng sau cùng. Đó là hợp với quy luật tương tác “gần nhanh, xa chậm”, “tân mạnh, cổ bình”,… Mọi người có thể các loại từ điển Tiếng Việt, Hán Việt,… để biết chi tiết hơn.
c. Xác định hành cho tên:
Đây là phần khá khó vì cần phải xác định được ý nghĩa xong mới xác định đến hành.
Chọn hành thông qua “tượng” (tức bản chất, hình ảnh) của ý nghĩa cái tên và cấu tạo nét chữ hán (cái này chỉ là phần nhỏ). Khác với 1 số người có sử dụng cách tính số nét của chữ (chữ Hán hoặc chữ Việt viết in) rồi đối chiếu với số của Hà Đồ, Lạc Thư để tìm ngũ hành cho chữ đó, tôi không làm như vậy vì đơn giản là qua kinh nghiệm nghiên cứu & áp dụng thấy sai lệch lớn quá.
Khi nói hành này "đới" hành kia có nghĩa là ngoài cái hành chính đứng trước, nó còn mang tính chất vì liên quan (đới) đến hành đứng phía sau. Ví dụ:
- "Ngọc ở dưới nước" là thuộc Thổ đới Thủy vì bản thân Ngọc là thuộc hành Thổ do nó được cấu thành từ các khoáng chất, còn nó lại đang ở dưới nước được bao quanh bởi nước nữa nên nó đới Thủy.
- "Tùng Bách Mộc" là thuộc hành Mộc đới Kim vì nó là gỗ cây nên thuộc hành Mộc, nhưng gỗ các loại cây này thì cứng rắn như thép, như kim loại nên nói nó đới Kim.
- "Cây bèo" là hành Mộc đới Thủy vì bản thân nó cây cối là thuộc hành Mộc nhưng vì trong thân chứa đầy nước lại sống trôi nổi trên mặt nước nên nói nó đới Thủy là vậy.
-...
Tham Khảo:
- Các tên thuộc hành Hỏa như: Thu (trong chữ Thu 秋 có bộ Hỏa 火), Minh (trong Minh có bộ Nhật), Hân (rạng đông), Diệp (chói lọi), Hồng (đỏ), Dương (mặt trời), Giáng (đỏ sẫm), Huy, Quang, Ánh, Duy, Diễm, Viêm, Hạ, ...
- Những tên thuộc hành Thủy bạn nên tham khảo là: Vân, Giang, Hà, Hải, Thủy, Tuyền, Thúy, Băng, Tuyết, Tỉnh, Thẩm, Lệ, Triều, Vũ, Điềm, Điệp, Cổn, Huyền,... hoặc dùng làm tên đệm, phối với tên để vẫn mang nghĩa gắn với nước là được.
- Những tên thuộc hành Mộc bạn nên tham khảo là: Bích, Hạnh, Hoa, Hòa, Hoàn, Hương, Lâm, Linh, Liên, Mai, Lê, Liễu, Lương, Mỹ, Như, Ninh, Phương, Quỳnh, Lộc,...
- Các tên thuộc hành Kim bạn nên tham khảo là: Ngân, Khánh, Kim, Trâm, Thoa, Xuyến, Khôi, Giáp, Trụ, Tài,... hoặc dùng chúng làm tên đệm.
- Các tên thuộc hành Thổ bạn nên tham khảo là: Ngọc, Nguyên, San, Sơn, Bích, Thành, Trang, Châu, Đan, Đơn, Sa, Bảo, Bình, Doanh, Đình, Lĩnh, Đài, Khuê, Bội, Viên, Hoàn, Lộ,…
d. Xác định hành cho mệnh:
Hành của mệnh dùng hành của nạp âm năm sinh (ngũ hành nạp âm), giống các phương pháp khác. Các bạn nên tham khảo thêm về 60 hoa giáp qua các trang web về huyền học.
e. Xác định tính cân bằng về ngũ hành
Dùng tất cả các tính chất của luật tương sinh, khắc, tương thừa, tương vũ. Qua đó đối chiếu và tính toán sao cho tên dành cho người cần đặt phải đem lại sự cân bằng và hài hòa về ngũ hành sinh khắc chế hóa là tốt nhất.
Ví dụ, hành Thủy vượng quá cần dùng hành mà nó tương sinh cho là hành Mộc để làm cho Thủy tính hao bớt đi thì sẽ hài hòa (nhưng lưu ý nếu có tới 3 hành Thủy mà lại là những thứ có thủy tính dồi dào như Đại Hải Thủy, Hồng Giang, Thanh Hải mà chưa có hành Mộc nào hoặc có ít mộc tính như cỏ (Thảo), bèo (Bình), Lan,… thì cần bổ xung các hành Mộc mà có nhiều Mộc tính như rừng (Lâm), vườn (Uyển), Tùng, Bách,… thì mới bền vững được.
Bên cạnh đó, trường hợp này có thể dùng các tên thuộc hành Thổ (là hành khắc với Thủy) mà có nhiều Thổ tính như núi (Sơn, San, Lĩnh, Đỉnh,…), vùng đất rộng lớn (Nguyên, Bình, Phương,…),… thì cũng làm cho tính thủy vượng kia không bị tràn lan, ngập mà tạo được phong cảnh và thế quân bình ổn định. Tất nhiên vị chọn hành có tính chất khắc chế này cần khéo léo khi chính hành Thổ được chọn sẽ tương sinh (hoặc được tương sinh) bởi hành nào đó đang có sẵn trong gia đình.
f. Xác định âm vận
Tên khi đọc lên phải tương đối thuận âm, thuận miệng để tránh sự trúc trắc. Luật bằng trắc của tên gọi được phối hợp với luật bằng trắc trong văn thơ (nhất là thể thơ Đường Luật), mục đích và ý nghĩa sâu xa của nó nhằm hướng 1 cụm từ (hoặc 1 câu) khi xướng âm lên sẽ thuận âm, không bị trúc trắc - đó là hàm ý để cuộc đời (của người mang tên đó) sẽ giống như cái âm của tên là luôn được thuận lợi, suôn sẻ.
Do đó, về sau này trong khoa đặt tên người ta tạm tổng kết ra cái quy luật "Bằng - Trắc - Bằng" và "Trắc - Bằng - Trắc" vì nó tương đối phù hợp cho đa số các ngôn ngữ khác nhau.
Trong chữ viết Tiếng Việt thì có quy tắc những từ có dấu Huyền (`) và không có dấu thì được coi là "Bằng", những thanh dấu khác (sắc, hỏi, ngã, nặng) thì được coi là "Trắc". Nhưng vì âm thanh của Tiếng Việt rất phong phú nên có nhiều trường hợp trong cụm từ (hoặc câu) thì lại không thể áp dụng quy tắc đó do đôi khi từ không dấu phải lên giọng như âm trắc để xướng âm, hoặc từ có dấu ngã (~) phải hạ bằng giọng như âm bằng.
Trong tiếng Trung và 1 số ngôn ngữ khác cũng có trường hợp này.
Ngoài ra trong rất nhiều bài thơ thể Đường Luật có sử dụng thuật này mà vẫn được coi là hay và không thất niêm âm vận.
P/S: Bên cạnh những điều trên, các mẹ cũng nên bớt chút thời gian đọc thêm các bài tôi đã viết trước đây cho những người khác để rõ hơn về ý nghĩa của những cái tên, vì sao cùng là tên này nhưng lúc đi với đệm này thì lại mang nghĩa và hành ấy nhưng lúc đi với tên khác thì lại mang nghĩa và hành khác.
Hơi tiếc một chút là diễn đàn này không có chức năng "Print" để in topic ra đọc hoặc chuyển nó qua dạng pdf, nên đọc nhiều bài có thể các mẹ bầu bí sẽ mệt, vì vậy nên copy qua word rồi in ra giấy đọc.
Ngoài ra, xin vui lòng tham khảo thêm ở các địa chỉ sau:
http://meyeucon.org/14947/ten-hay-cho-be-gai-theo-van/
http://tenhay.net/
11:55 SA 25/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
2. Kiến thức sơ lược về cách đặt tên:
a. Những yếu tố cần biết khi dự định đặt tên:

- Cái tên được đặt nên phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…
- Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên tránh đặt trùng với tên ông, bà, chú, bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống của người Việt Nam ta. Điều này được giải thích bởi sự tế nhị khi phải gọi con, dạy dỗ, mắng con,… trước mặt những người khác, đặc biệt là lúc có mặt với người bề trên mà trùng tên.
- Tên cần có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc.
- Bản thân tên cần có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu vì có ý nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ.
- Tên nên cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng (huyền, không) thuộc Âm, vần trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) thuộc Dương. Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương cân bằng nên tốt hơn.
- Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh.
b. Đặt tên mang nghĩa của các từ Hán Việt
Ngày xưa, khi đặt tên con, các cụ thường đệm Văn cho con trai và Thị cho con gái giúp người khác phân biệt được giới tính của con người ngay trong cái tên gọi. Đây là một quan niệm từ thời phong kiến, rằng con trai lo việc văn chương đèn sách, con gái thì đảm đang việc chợ búa, nội trợ.
Ngày nay, các tên đệm như "Văn" dành cho nam và "Thị" dành cho nữ ngày càng ít dùng bởi có thể họ chưa hiểu hết ỹ nghĩa của những tên đệm đó. Mặt khác, ngày nay đã hình thành nhiều xu hướng đặt tên con mới nghe rất hay và lạ. Tuy nhiên, tùy theo quan điểm của mỗi người mà chọn tên khác nhau cho con. Miễn sao đừng ngược giới tính khiến trẻ sau này phải chịu nhiều phiền hà, rắc rối.
Những cái tên thời nay đã thể hiện rõ nét tính phóng khoáng trong cách đặt tên. Nhìn lại sự biến động của tên gọi người Việt từ trước đến nay, chúng ta nhận thấy một số cách đặt tên cũ gần như đã mất đi, thí dụ như cách đặt tên bằng những từ có âm thanh xa lạ, cách đặt tên bằng những từ chỉ các bộ phận cơ thể hay hoạt động sinh lý của con người, cách đặt tên bằng những từ chỉ dụng cụ sinh hoạt sản xuất hoặc các động vật... Duy chỉ có cách đặt tên vẫn còn duy trì được là đặt tên bằng từ Hán Việt có ý nghĩa tốt đẹp.
Những cách đặt tên theo Hán Việt thường gặp
Theo các bộ chữ:
Những gia đình theo Hán học thường đặt tên theo các bộ chữ Hán. Tức là tên các thành viên trong gia đình đều có chung một bộ chữ.
Ví dụ:
- Bộ Thuỷ trong các tên: Giang, Hà, Hải, Khê, Trạch, Nhuận…
- Bộ Thảo trong các tên: Cúc, Lan, Huệ, Hoa, Nhị…
- Bộ Mộc trong các tên: Tùng, Bách, Đào, Lâm, Sâm…
- Bộ Kim trong các tên: Kính, Tích, Khanh, Chung, Điếu…
- Bộ Hoả trong các tên: Thước, Lô, Huân, Hoán, Luyện, Noãn…
- Bộ Thạch trong các tên: Châm, Nghiễn, Nham, Bích, Kiệt, Thạc…
- Bộ Ngọc trong các tên: Trân, Châu, Anh, Lạc, Lý, Nhị, Chân, Côn…
Nói chung, các bộ chữ có ý nghĩa tốt đẹp, giàu sang, hương thơm như Kim, Ngọc, Thảo, Thuỷ, Mộc, Thạch…đều thường được chuộng để đặt tên.
c. Tính tương đối
Từ thuở Thiên Địa phân chia, Âm Dương đối lập nhưng tương hỗ, cứ thế sinh vạn vật và định bằng ngũ hành tương ứng. Được lợi ở mặt này thì khiếm khuyết ở mặt kia, được lợi lúc này thì bất lợi lúc khác, đâu có cái gì là tuyệt đối.
Nếu hỏi hoa Đào đẹp hơn hay hoa Mai đẹp hơn? Chim Yến đẹp hơn hay chim Oanh đẹp hơn?... thì chẳng ai trả lời được, vì cái đẹp tùy thuộc vào cảm xúc, và tri thức của mỗi người ở các thời điểm khác nhau, hoặc giả lại phải đi trả lời cho câu hỏi "Thế nào là đẹp?"... cứ thế thì đến vô cùng vô tận.
Chỉ khi nào thu về 1 hệ quy chiếu hẹp thì mới có câu trả lời tương đối đúng cho cái gì là nhất ở trong hệ quy chiếu đó mà thôi.
Thế nhưng, đối với cái tên nếu mà được lợi nhất về nghĩa mà không phù hợp về ngũ hành thì đâu có được hưởng cái đẹp đó.
Có người quan niệm con gái đẹp (hoặc điều lợi nhất cho nữ) là cần sự thùy mị nết na, có người lại thích là thông minh uyên bác, có người lại thích vẻ đẹp kiêu sa lộng lẫy, có người thích phải năng động và có cá tính mạnh mẽ, có người chỉ cần mỗi sự bình an thanh nhàn,... Tất nhiên, đa phần đều thích có tất cả những điều đó cộng lại, nhưng trời đâu có cho ai được tất cả.
Đạo của Vũ Trụ, phần dành cho con người là một định luật bảo toàn lớn về: tinh thần, vật chất, sức khỏe và danh vọng.
Thế cho nên cổ nhân có câu: "Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc" - Biết đủ là đủ, đợi đủ thì đến khi nào mới đủ (Nguyễn Công Trứ), "Tri túc, tri chỉ" - Biết đủ, biết dừng (Lão Tử).
11:47 SA 25/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Chào các bạn,
Xin lỗi vì vừa rồi tôi phải đi công tác nước ngoài đột xuất, và chuyến công tác này sẽ kéo khá dài với nhiều việc quan trọng nên tôi sẽ không vào topic này để trao đổi cùng mọi người (trong 1 tháng tới) được. Mong các mẹ hết sức thông cảm giùm tui.
Vì biết rằng, chuyện gì thì có thể đợi được chứ làm sao đau đẻ có thể đợi được nên tôi soạn 1 bài tổng hợp về cách đặt tên để các mẹ có thể dễ dàng tìm cho con yêu của mình cái tên ưng ý.
Cách đặt tên cho con
I. Những điều cần biết:
1. Kiến thức sơ lược về ngũ hành:

Ngũ hành là 5 dạng thuộc tính của vạn vật được người xưa quy nạp lại dùng để định tính cho mọi sự vật hiện tượng khi quán xét và nghiên cứu.
- Ngũ hành bản thể:
Bao gồm: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ
Quy luật:
a. Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
b. Tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Ngũ hành của Thiên Can:
Giáp, Ất thuộc Mộc
Bính, Đinh thuộc Hỏa
Mậu, Kỷ thuộc Thổ
Canh, Tân thuộc Kim
Nhâm, Quý thuộc Thủy
Ngũ hành của Địa Chi:
Hợi, Tý thuộc Thủy
Dần, Mão thuộc Mộc
Tị, Ngọ thuộc Hỏa
Thân, Dậu thuộc Kim
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ
- Ngũ hành nạp âm (NHNA):
Khi ghép 10 Thiên Can và 12 Địa Chi phối hợp với nhau thì tạo ra 60 hoa giáp từ Giáp Tý tới Quý Hợi.
Người ta lại định ngũ hành mới cho mỗi hoa giáp này gọi là Ngũ Hành Nạp Âm. Kết hợp Can Dương với Chi Dương, Can Âm với chi Âm, bắt đầu từ Giáp Tí đến Qúi Hợi có 30 ngũ hành nạp âm (mỗi hành gồm có 6 loại riêng biệt).
Quy luật:
NHNA có đầy đủ những tính chất và quy luật tương sinh, tương khắc như là ngũ hành bản thể. Ngoài ra, NHNA còn chi tiết hơn với:
a. Luật chế hóa:
* Kim
Trong cát, giáo gươm hai thứ Kim
Nếu nằm trên Chấn ắt tương xâm
Kim còn bốn thứ đều sợ Hỏa
Gươm cát vắng Hỏa chẳng thành hình
Ất Mùi là Sa Trung Kim (kim khí trong cát)
Quý Dậu là Kiếm Phong Kim (kim khí của gươm giáo)
Cả hai đều không nên gặp Mộc, vì cây không sống được, nếu trồng trên đất có chất kim khí và cây mà gặp gươm giáo sẽ bị chặt gãy. Nhưng hai thứ Kim đó mà gặp Hỏa lại tốt, có lửa mới rèn thành gươm giáo, có lửa thì chất Kim vùi trong cát (vàng cốm) mới trở thành nén vàng qúy giá. Còn các thứ Kim khác đều sợ Hỏa (khắc).
* Thủy
Thuỷ ở sông Ngân cùng biển cả
Cả hai chẳng sợ Thổ địch cừu
Ngoài còn mấy thứ đều kỵ Thổ
Một đời cơm áo thật khó cầu …
Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy (nước sông Ngân Hà) và Quý Hợi là Đại Hải Thủy (nước biển cả) không sợ Thổ vì nước sông Ngân Hà trên trời cách xa với mặt đất và đất thì không hút nổi hết nước của biển cả. Còn Thổ khắc tất cả các thứ Thủy khác.
* Mộc
Mộc tằm dâu, liễu dương, tùng bách
Thạch lựu, rừng sâu đều kỵ Kim
Duy chỉ cây trồng đồng bằng Mộc
Thiếu Kim sao được mọc lên cao?
Các thứ mộc như Quý Sửu là Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu tằm), Quý Mùi là Dương Liễu Mộc (gỗ cây dương liễu), Tân Mão là Tùng Bách Mộc (gỗ cây tùng bách), Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lựu), Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc (gỗ cây rừng lớn) đều sợ Kim. Đất mà có chất Kim khí thì cây sẽ chết, nếu gặp rìu búa, cây sẽ bị đốn gãy.
Duy chỉ các cây trồng ở đồng bằng như ngũ cốc, cây có trái, cây cảnh. Kỷ Hợi (Bình Địa Mộc) thì lại cần phải có đồ kim khí như cầy, cuốc, kéo, liềm .. để cầy, vun sới, tỉa xén, thì nó mọc tốt và cây cảnh mới đẹp đuợc.
* Hỏa
Đèn lồng, lò lửa, cùng đỉnh núi
Thấy Thủy, cả ba đều chẳng hay
Lại còn ba thứ chẳng kiêng Thủy
No Ấm một đời, giầu lại sang
Ất Tỵ là Phú Đăng Hỏa (lửa đèn lồng); Đinh Mão là Lò Trung Hỏa (lửa trong lò); Ất Hợi là Sơn Đầu Hỏa (lửa đỉnh núi) ba thứ đó kỵ Thủy, gặp Thủy là tắt liền.
Nhưng ba thứ khác là : Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa (lửa chân núi); Kỷ Sửu là Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét); Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) gặp Thủy, không bị ảnh hưởng gì hại mà lại còn tốt vì hợp với tình thế.
* Thổ
Thành lũy, mái nhà cùng trên vách
Ba Thổ đều sợ Mộc đâm xoi
Ngoài còn ba thứ chẳng sợ Mộc
Một đời thanh qúy, bước lên mây
Kỷ Mão là Thành Đầu Thổ (đất trên thành lũy); Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ (đất trên mái nhà); Tân Sửu là Bích Thượng Thổ (đất trên vách nhà). Ba thứ đất này đều sợ Mộc (Mộc khắc Thổ) vì nếu cây mà mọc trên các thứ đất đó, rễ sẽ đâm xuyên làm cho đất lở và nứt ra.
Còn ba thứ Thổ khác mà gặp Mộc lại tốt như :
– Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ (đất cạnh đường) cần có cây cối mọc bên đường cho rợp, mát
– Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ (đất ở nền nhà, trạm hay cầu, quán ..) cũng cần có cây mọc để cho trạm hay cầu quán được đẹp mắt và mát mẻ.
– Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ (đất trong cát) đất trong bãi cát rất tốt cho các việc trồng ngô, hoặc trên bãi sa mạc mà có cây mọc thì còn gì qúy bằng.
b. Luật tương thừa, tương vũ:
Kim do Thổ sinh ra, Thổ nhiều thì Kim bị chôn lấp
Mộc do Thủy sinh, Thủy nhiều thì Mộc bị trôi nổi phiêu bạt
Thổ do Hỏa sinh ra, Hỏa nhiều thì Thổ bị cháy tiêu
Thuỷ do Kim sinh ra, Kim nhiều thì nước bị đục
Hỏa do Mộc sinh sinh ra, Mộc nhiều thì Hỏa càng sáng tỏ.
Kim sinh Thủy, Thuỷ nhiều thì Kim bị chìm mất
Thuỷ sinh Mộc, Mộc nhiều thì Thủy bị cạn (thu rút lại)
Mộc sinh Hỏa, Hỏa nhiều thì Mộc bị cháy hết.
Hỏa sinh Thổ, Thổ nhiều thì Hỏa tối lại
Thổ sinh Kim, Kim nhiều thì Thổ yếu (mất nhiều năng lực)
Kim suy (ít) gặp Hỏa, tất bị đun, chảy ra
Hỏa yếu gặp Thủy, tất bị tắt, tiêu diệt
Thủy yếu (ít) gặp Thổ, tất bị ứ tắc
Thổ suy (ít) gặp Mộc, tất gặp sự đảo lộn bế hãm (mất tính chất nguyên thủy)
Mộc yếu gặp Kim, tất bị chém gãy.
Kim mạnh (nhiều) được Thủy, sự nhọn sắc mòn gãy bớt đi
Thuỷ mạnh (nhiều) được Mộc, thế sức mạnh bị tiết bớt đi
Mộc mạnh (nhiều) được Hỏa, sự cứng rắn bị hóa giải bớt đi
Hỏa mạnh (nhiều) được Thổ, sự sáng rực bị giữ bớt lại
Thổ mạnh (nhiều) được Kim, sự ủng hộ (giúp sức) bị chế bớt lại
Kim khắc Mộc, nhưng Mộc rắn thì Kim gãy, sứt mẻ
Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ nhiều, nặng thì Mộc gãy
Thổ khắc Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi đi
Thủy khắc Hỏa, nhưng Hỏa bốc cháy lớn, thì Thủy bị cạn bốc hơi đi
Hỏa khắc Kim, nhưng Kim nhiều chảy tràn ra thì Hỏa tắt.
11:41 SA 25/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
bác trieuvan ơi, hay quá, bác có thể xem tên con cho vc em với được không:
chồng: Nguyễn Bách Khoa, 1987, đinh mão
vợ: Trần Ái Thi, 1987, đinh mão
dự sinh khoảng tháng 2/2012, chưa bit giới tính nên bác có thể gợi ý cho em cả 2 tên cin trai và con gái lun được không ạ? vợ chồng em muốn đặt tên con theo họ đầu với bé trai là Nguyễn Bách, còn con gái là Nguyễn Cát.
thanks bác nhìu lắm!!!

Cả hai vợ chồng bạn đều mang mệnh Hỏa và tên đều thuộc hành Mộc (xem thêm bài phân tích của Qmobile), nay sinh con có mệnh Mộc (đới Kim) thì chỉ cần dùng cái tên thuộc hành Thủy đặt cho cháu là ok.
Khi ấy thì ngũ hành trong gia đình bạn được tính như sau: Kim (một phần mệnh con) sinh Thủy (tên con) sinh Mộc (mệnh con, tên bố mẹ) sinh Hỏa (mệnh bố mẹ)
Tuy nhiên vì có tới 3 hành Mộc nên bạn hãy chọn những tên mang dồi dào thủy tính là hay nhất vì như thế nó sẽ đủ để dưỡng cho Mộc.
Bạn hãy tham khảo các tên như: Giang, Hà, Hải, Tuyền, Thủy, Tuyết, Băng, Vũ, Triều, Cổn, Uyên, Đằng, Điệp...
Nếu là con trai hãy chọn các tên như: Nguyễn Bách Hải, Nguyễn Bách Đằng, Bách Triều,...
Nếu là con gái mà muốn dùng chữ Cát làm đệm thì thật là khó trong trường hợp này vì khi đi với từ giàu thủy tính thì chữ Cát dễ bị chuyển nghĩa thành có hại do úng ngập chứ ít còn mang nghĩa đẹp là "tốt lành" như mong muốn nữa.
Tôi suy nghĩ mãi cũng chỉ thấy có 2 cái tên đẹp là:
- Nguyễn Cát Khánh Uyên = hồ nước sâu thẳm đầy ắp điều tốt lành
- Nguyễn Cát Khánh Tuyền = Dòng suối chan chứa điều tốt lành, mừng vui (suối tiên).
07:44 CH 19/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Kính gửi Bác Trieuvan!
Em dự sinh bé vào tháng 12/2011 cũng chưa biết là bé trai hay gái, nhưng em thích bé gái lắm ạ! Kính nhờ bác xem giúp:
- Mẹ: Nguyễn Phương Diệp (1985 - Hải trung kim)
- Bố: Vũ Văn Thức (1985 - Hải trung kim)
Em dự định đặt tên cho con là Vũ Nguyên Anh, Vũ Nguyên Minh, Vũ Nguyên Hà... đây đều là những cái tên khá trung tính có thể dùng được cho cả nam và nữ, trong đó em rất thích cái tên Vũ Nguyên Anh vì định đặt cho các con cùng là anh chỉ khác đệm, rồi gọi con ở nhà bằng tên đệm. Mong bác cho em lời khuyên.
p/s: Vào topic của bác em mới biết tên là Diệp còn có nghĩa là chói loà, lúc trước mọi người toàn chê tên em ko hay, chữ Diệp nghe nặng lời, dù em đã dùng chữ Diệp với nghĩa là cái lúm đồng tiền nhưng vẫn bị chê là tên ko hay, buồn mãi. Đọc những gì bác viết thấy yêu cái tên mình hơn hẳn.

Về tên của bạn thì chữ Diệp có nhiều nghĩa, còn tùy thuộc vào chữ đi cùng nó trong cụm từ/câu hoặc ngữ cảnh thì sẽ mang nghĩa khác nhau, ví dụ như Phương Diệp = nơi có ánh sáng rực rỡ, sáng bừng, nơi phồn thịnh (thuộc hành Hỏa); còn Diệp Chi thì lại có nghĩa là cành lá (Diệp = lá) thuộc hành Mộc; nếu là Ngọc Diệp thì có nghĩa là chiếc lá bằng ngọc thuộc về hành Thổ (từ Ngọc Diệp này hay dùng nhất khi muốn chỉ dòng dõi cao sang như "Kim Chi Ngọc Diệp" = cành vàng lá ngọc).
Về tên con thì gia đình bạn nên chọn cái tên có hành Thủy (đới thêm chút Thổ) để đặt cho cháu nhằm kết hợp cho hài hòa về ngũ hành và được hưởng sự tương sinh từ hành Kim mà khiến cho Kim không vượng quá (nhà bạn cũng là 1 trường hợp tương đối khó nhưng lại rất may là có họ Vũ) như sau:
Kim (mệnh bố, mệnh mẹ, một phần mệnh con) sinh Thủy (tên con) sinh Mộc (mệnh con, tên bố) sinh Hỏa (tên mẹ) sinh Thổ (một phần tên con)
Trong các tên mà bạn dự định thì có tên Vũ Nguyên Anh và Vũ Nguyên Hà là rất phù hợp. Theo tôi thì nếu sinh con trai bạn dùng tên Nguyên Anh vì chữ này rất tốt cho phái nam, còn nếu sinh con gái thì dùng tên Nguyên Hà.
07:01 CH 19/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Chào bác Trieuvan, nhờ bác xem giúp tên giùm bé nhà em
Ba: Nguyễn Đức Hòa (1976-Sa Trung Thổ)
Mẹ: Trần Yến Minh (1985-Hải Trung Kim)
Dự sinh: 12/11/2011
- Bé gái:
Nguyễn Minh Lan
Nguyễn Minh Trúc
Nguyễn Minh Nghi
Nguyễn Minh Diệp
- Bé trai (em đi s.âm bs bảo con gái nhưng chưa chắc chắn):
Nguyễn Đức Trí
Nguyễn Đức Thiện
em cám ơn bác nhiều ạh!!:Rose::Rose::Rose::Rose::Rose:

Bố mệnh Thổ, tên thuộc hành Mộc
Mẹ mệnh Kim, tên thuộc hành Hỏa
Con mệnh Mộc (đới Kim)
Do đó nha bạn cần dùng cái tên thuộc hành Thủy để đặt cho cháu gái vì khi có được hành Thủy thì vừa dưỡng cho mệnh Mộc của cháu vùa là chiếc cầu kết nối chặt chẽ về ngũ hành trong gia đình theo:
Hỏa (tên mẹ) sinh Thổ (mệnh bố) sinh Kim (mệnh mẹ, một phần mệnh con) sinh Thủy (tên con) sinh Mộc (mệnh con, mệnh bố) sinh hỏa (tên mẹ)
Tất cả các tên bạn dự định đều chưa được phù hợp, vì vậy bạn hãy tham khảo thêm các tên khác thuộc hành Thủy như: Giang, Hà, Hải, Thủy, Tuyết, Băng, Vân, Tuyền, Tỉnh, Thẩm, Khê, Triều, Vũ, Cổn,...
Nếu là con gái dùng chữ Minh - tên mẹ - làm đệm thì ghép với những chữ trên thì rất dễ dàng rồi. Nếu là con trai, bạn muốn dùng chữ Đức - tên bố - làm đệm thì có thể chọn các chữ như Giang, Hà, Hải thì sẽ trọn nghĩa của cái đức lớn rộng mênh mang, đầy ắp,...
07:57 CH 18/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Xin được nhờ bác trieuvan xem tên cho bé nhà em với ạ.
Bé gái sẽ sinh vào tháng 7 dương năm nay.
Bố: Lê Thành Đức (1973)
Mẹ: Trần Phương Hoa (1982)
Nhà em định đặt tên em bé gái là Lê Trần Hoa Lê. Tên này có hợp với bé ko hả bác? Nhờ bác xem giùm
Kính chúc bác thật nhiều sức khỏe và hạnh phúc!

Bố mệnh Mộc, tên thuộc hành Thổ
Mẹ mệnh Thủy, tên thuộc hành Mộc
Con gái mệnh Mộc (đới Kim)
Từ đó, bạn có thể nhận thấy hành Mộc đang vượng quá do đó cần dùng cái tên thuộc hành Hỏa để đặt cho cháu thì sẽ được nhận tương sinh từ hành Mộc sang và đồng thời sẽ là chiếc cầu nối với hành Thổ của tên bố cháu. Như vậy thì ngũ hành trong gia đình sẽ được điều hòa hơn:
Thủy (mệnh mẹ) sinh Mộc (mệnh bố, mệnh con, tên mẹ) sinh Hỏa (tên con) sinh Thổ (tên bố) sinh Kim (một phần của mệnh con)
Cái tên Hoa Lê bạn dự định thuộc hành Mộc nên không phù hợp, bạn hãy tham khảo thêm các tên thuộc hành Hỏa như: Thu, Minh, Nhật, Dung, Dương, Hồng, Đan, Diễm, Diệp, Hân,...
07:39 CH 18/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Xin được nhờ bác trieuvan xem tên cho bé nhà bạn em với ạ.
Bé gái sẽ sinh vào tháng 9 dương năm nay.
Bố: Nguyễn Đắc Phú (1978)
Mẹ: Đỗ Thu Trang (1983)
Anh trai: Nguyễn Minh Quang (2008)
Nhà bạn em định đặt tên là Nguyễn Uyên Nhung. Tên này có hợp với bé ko hả bác? Nhờ bác xem giùm
Kính chúc bác thật nhiều sức khỏe và hạnh phúc!

Bố mệnh Hỏa, tên thuộc hành Kim
Mẹ mệnh Thủy, tên thuộc hành Thổ
Anh mệnh Hỏa, tên thuộc hành Hỏa
Em gái mệnh Mộc (đới Kim)
Vậy là nhà bạn vượng ở hành Hỏa, vì thế nên đặt cho cháu gái cái tên thuộc hành Thổ để vừa được hưởng tương sinh từ hành Hỏa vừa đồng thời khiến cho hành Hỏa trong gia đình đỡ bị quá vượng, vì nếu vượng quá nó sẽ làm cho hành Mộc bị hao tổn do phải dưỡng cho nó. Khi ấy thì ngũ hành trong gia đình bạn như sau:
Thủy (mệnh mẹ) sinh Mộc (mệnh con) sinh Hỏa (mệnh bố, mệnh&tên anh) sinh Thổ (tên mẹ, tên e gái) sinh Kim (một phần mệnh e gái).
Cái tên Uyên Nhung mà bạn dự định có nghĩa là bộ lông của chim phượng hoàng, thuộc về hành Hỏa không phù hợp để dùng.
Bạn có thể tham khảo thêm các tên thộc hành Thổ như: Ngọc, Châu, Phương, Bích, Bội, Nguyên, Hoàn, San, Lục,...
07:22 CH 18/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Chào bác Trieuvan
Mình là bà xã, nhưng lấy tên chồng lập nick.
Cho mình hỏi 1 chút với:
Ông xã sinh 15/5/1981, tên Vũ Duy Thuận
Mình sinh 25/8/1982, tên Vũ Nguyên Hạnh
Con gái sinh 15/5/2011, mình dự định đặt tên còn là Bảo Linh.
Xin bác cho biết tên này có hợp với vợ chồng mình không? Vì ông xã mình cũng thích con gái và đang có lộc (nhưng không thích đi xem đặt tên hay gì đó liên quan tới phong thủy).
Cảm ơn bác nhiều, nếu được xin bác trả lời sớm để mình còn đi làm giấy khai sinh :)

Nhà bạn dùng tên Bảo Linh cũng được nhưng nếu đổi chữ Linh thành chữ Minh thì hay hơn vì tên Bảo Minh thuộc hành Hỏa sẽ được nhận tương sinh từ hành Mộc đang vượng trong gia đình bạn (mệnh bố, mệnh con, tên mẹ), như thế sẽ giúp điều hòa cần bằng về ngũ hành trong gia đình hơn.
07:06 CH 18/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Bác ơi e đi lang thang giờ mới gặp topic này, bác tư vấn dùm em với
hai vợ chồng đều mạng hỏa 1978
con gái đầu 2006
em chuẩn bị thêm con gái sau vào cuối tháng 5 /2011
Bác cho e xin 1 cái tên với ạ, cám ơn bác

Vì chưa có thông tin về tên của vợ chồng của bạn (con gái đầu của bạn tôi thấy thông tin trên nick là Hân Hân - thuộc hành Hỏa), nên tôi chỉ biết căn cứ vào ngũ hành nạp âm của mệnh của cả gia đình (bố mẹ mệnh Hỏa, con đầu mệnh Thổ, con thứ mệnh Mộc) để khuyên bạn nên chọn cho cháu cái tên thuộc hành Thủy đới Kim.
Những tên như thế bạn có thể tham khảo như: Ngân Hà, Kim Hà, Ngân Giang, Kim Giang, Kim Vân,... hoặc bạn vui lòng cung cấp thêm thông tin để tôi xem kỹ hơn cho chính xác.
06:29 CH 18/05/2011
Đặt tên cho bé gái sinh năm Mèo
Bác Triệu vân ơi, nhờ bác xem giúp nhà em với ạ.
Bố: Nguyễn Đình Phúc(1979)
Mẹ: Nguyễn Phuơng Hạnh(1980)
Con trai: Nguyễn Thái Duy 2007
Em dự sinh 20/7/2011, bé gái và định đặt tên là Nguyễn Mai Phương. Bác xem hộ em với

Bố mệnh Hỏa, tên thuộc hành Thổ
Mẹ mệnh Mộc, tên thuộc hành Mộc
Con trai mệnh Thổ, tên thuộc hành Thổ đới Hỏa
Con gái mệnh Mộc (đới Kim)
Qua đó, nhận thấy nhà bạn nên chọn tên có hành Hỏa để đặt cho cháu thứ hai để cùng với hành Hỏa của mệnh bố và một chút ở tên của anh trai để làm cầu nối mà điều hòa và làm cân bằng cho ngũ hành trong gia đình theo thứ tự:
Mộc (mệnh&tên mẹ, mệnh con gái) sinh Hỏa (tên con gái, mệnh bố, một phần tên anh) sinh Thổ (mệnh&tên con trai, tên bố) sinh Kim (một phần mệnh con gái)
Cái tên Mai Phương mà bạn dự định chưa được phù hợp vì nó thuộc hành Mộc. Bạn nên đổi tên đệm từ chữ Mai thành các chữ như: Minh Phương, Hồng Phương, Ánh Phương, Chiêu Phương, Diệp Phương, Hoàng Phương, Hân Phương, Hy Phương, Huỳnh Phương,...
Bạn cũng có thể tham khảo thêm các tên thuộc hành Hỏa như: Minh, Nhật, Duơng, Diệp, Giáng, Hồng, Hân, Hy, Dung,...
06:09 CH 18/05/2011
Gấp!!! Bố mẹ tự sát hụt vì ko có 15 triệu đóng...
Sáng nay tôi đã gửi 500.000 ủng hộ cháu Huệ qua tk mẹ Loan. Tôi có nhóm máu O, đã hiến máu tại Viện Nhi rồi, nếu ca phẫu thuật cần hiến máu xin vui lòng liên lạc với tôi, tôi luôn sẵn sàng.
01:10 CH 18/05/2011
t
trieuvan
Bắt chuyện
2kĐiểm·0Bài viết
Báo cáo