Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Chít hẹp bao qui đầu
Chị ơi chị còn không, bán lại cho em với


THUỐC NÀY CÓ THÀNH PHẦN LÀ
Betamethason
um

nÓI CHUNG LÀ KHÔNG TỐT ĐÂU BẠN ƠI THẦN DƯỢC NÀY CŨNG NGUY HIỂM ĐÓ (Chú ý đề phòng:
Suy tim sung huyết, nhồi mắu cơ tim gần đây hay tăng HA, tiểu đường, động kinh, glôcôm, suy giáp, suy gan, loãng xương, loét đường tiêu hóa, bệnh tâm thần hay các rối loạn xúc cảm nặng. Suy thận. Phụ nữ có thai và cho con bú. Trẻ em, người già.)

Thành phần:
Betamethason
um: 19.2mg

Chỉ định:

Chống chỉ định:
Các nhiễm trùng cấp không được kiểm soát bằng các thuốc kháng khuẩn thích hợp. Lao tiềm ẩn. Có thể gây các tác dụng toàn thân khi dùng trên diện rộng, da hở hoặc băng kín.
Chú ý đề phòng:
Suy tim sung huyết, nhồi mắu cơ tim gần đây hay tăng HA, tiểu đường, động kinh, glôcôm, suy giáp, suy gan, loãng xương, loét đường tiêu hóa, bệnh tâm thần hay các rối loạn xúc cảm nặng. Suy thận. Phụ nữ có thai và cho con bú. Trẻ em, người già.
Tương tác thuốc:
Barbiturat, carbamazepin, phenytoin, primidon, rifampicin. Thuốc lợi tiểu mất K: thiazid, furosemid. NSAID và thuốc kháng đông. Salicylate và các thuốc kháng muscarinic.
Tác dụng ngoài ý:
Loãng xương và gãy xương tự phát; teo cơ và mất Nitơ. Tăng đường huyết. Tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn. Mất kinh, tăng tiết mồ hôi, mỏng da, glôcôm, cườm mắt, rối loạn thần kinh và tâm thần, tăng áp lực nội sọ lành tính, viêm tụy cấp, hoại tử xương thiếu mạch máu. Huyết khối nghẽn mạch.
Liều lượng:
Bôi lên vùng da tổn thương 2 lần/ngày.
06:18 CH 13/05/2009
Máy Ozone khử chất độc trong rau quả !Các mẹ có...
vậy theo Namgiang thi dung cái gì để dùng dau quả cho an toàn đây, chắc phải tự trồng lấy ăn quá:Thinking::Thinking::Thinking:



Theo tôi nghĩ
Thứ 1 Các tiến sỹ hay các nhà khoa học VN đều vét đĩa hết vì họ chỉ nói khoác lác và giải thích theo sách vở thôi chứ họ có công trình nghên cứu thử nghiệm gì đâu toàn là dùng bằng cấp để hưởng lương thôi còn các nghiên cứu của họ thì không có. Tôi dám chắc là O3 là rất tốt cho việc xử lý độc hại diệt khuẩn và loại bỏ các thành phần hóa học trên rau củ quả, hay làm sạch không khí
nếu nói như họ thì các nhà máy sản xuất ra sản phẩm O3 phá sản hết à
Họ đã có các công trình nghiên cứu và có đầy đủ bản quyền để sản xuất chứ đơn giản vậy đâu .

Thứ 2 Nếu nhà bác nào đã có may OZON thử nghiệm đi thì biết
- Nếu tủ lạnh có mùi hôi chỉ cần sục vòi vào tủ và bật công tắc hẹn giờ 10 phút đảm bảo tủ lạnh sẽ hết sạch mùi hôi.
- Nếu nhà bạn ăn uống mà pha nước mắm tỏi mùi tỏi rất khó chịu ở khu vực chạn bếp sục O3 20 phút ok ngay
- Phòng nhà bạn có khách OX và bạn của OX hút thuốc mùi rất khó chịu bạn đóng cửa kín lại bật 30 phút Và đi ra ngoài lúc sau sẽ có ngay kết quả
Xin hãy tin vào nhừng gì khoa học và công nghệ nước ngoài để lại Xin đừng nghe các Cụ non có học lười thực hành Vn nói
05:55 CH 13/05/2009
Mua bàn học chống cận cho học sinh tiểu học
bây giờ còn có áo chống cận nữa cơ đấy nhưng thực sự chả có tác dụng là bao nhiêu
chắc là phải kèm cặp Con để cho có thói quen thôi chứ không thể có ấc dụng mấy với các loại dụng cụ phụ trợ mà càng vướng thêm thôi
Theo tôi nghĩ các Bố & Mẹ nên nhắc nhở hay làm cách gì đó để tạo cho con một thói quen thì dễ hơn chứ như hồi mình làm gì có các phụ kiện gì đâu
www.thegioiyte.com
11:37 SA 12/05/2009
Máy đo đường huyết
me bi ở đâu nhi??? Nếu ở hn thì bạn ra phương mai, nhiều cửa hàng bán lắm. Hãng beurer là hàng đức nhập khẩu đấy, cái của mình mua bảo hành chính hãng 2 năm. Mình cũng dùng cái nhiệt kế đo trán của hãng này.


các mẹ đừng nghĩ hàng của beurer là đức à nha tình cờ mình xem cái (co) (chứng nhận xuất xứ hàng hóa) ấy thấy cũng là china luôn đấy
mà thằng này có cái dở là bảo hành rất lâu mất ít nhất là 10 ngày mà như vậy người bị bệnh huyết áp nhỡ cần thì phải làm sao chứ
10:32 SA 11/05/2009
Máy đo đường huyết
Chị ơi chị xem lại cho em xem nhãn hiệu gì nhé.

Tháng 4 vừa rồi , chị mua cho bà ngoại nhân ngày 30-04 ở 27 Phương Mai vừa rẻ hơn và yên tâm hơn. Chị mua loại của ROSSMAX - USA 680K.
Còn omron có vẻ ko dc ưa chuộng vì made in China.
bà ngoại bị huyết áp cao dùng thương xuyên hàng ngày đấy.mà máy này đo thấy bà kêu là thích lắm mà chính xác nữa đo như ở viện
mọi người nên tìm hiểu thêm và bổ sung vào nhé
10:29 SA 11/05/2009
Chăm sóc và điều trị bé bị bệnh hen phế quản?
www.thuoc.net.vn
Các bạn nên lên phòng tư vấn HPQ của bệnh viện xanh pon và gặp bác sỹ Thu trưởng khoa nhi bác sỹ này tư vấn cho bạn thì khỏi phải suy nghĩ
Con tớ bị rất nặng khó thở đôi khi còn không thở được mặt mày tái tím thế mà nay bé con đã khỏi hẳn
Trộm vía cháu nay là 5 , tuổi đã 20Kg cao 1,02M
www.thegioiyte.com
11:45 SA 07/03/2009
Sốt cao - co giật
Hội chứng trẻ sốt cao co giật
Đây là một tình trạng bệnh lý đòi hỏi phải xử lý cấp cứu vì nó có thể đe doạ tính mạng bệnh nhi trước mặt hoặc để lại những di chứng nặng nề về sau như động kinh, chậm phát triển tâm trí và vận động đặc biệt là những trường hợp sốt cao co giật kéo dài.
Nguyên nhân: Có rất nhiều nhưng hai nguyên nhân thường gặp nhất là sốt cao co giật do nhiễm khuẩn (đặc biệt là nhiễm virus đường hô hấp trên) và yếu tố tiền sử gia đình về sốt cao co giật.
Triệu chứng lâm sàng: Có hai thể sốt cao co giật đó là sốt cao co giật lành tính và sốt cao co giật có biến chứng. Tuy nhiên để chuẩn đoán một cách chính xác phải khám bệnh cho trẻ thật kĩ càng đặc biệt là khám thần kinh, nếu có điều kiện thì làm điện não đồ ngay sau cơn co giật và một tuần sau giật để đánh giá.
Điều trị:
Xử lý sốt cao co giật tại gia đình trong khi chờ xe cấp cứu hoặc bác sĩ đến:
- Bình tĩnh đặt trẻ vào nơi yên tĩnh, thoáng mát, rời xa các vật sắc nhọn, đặt chăn hoặc gối mềm dưới đầu trẻ, để trẻ ở tư thế đầu nghiêng về một bên đề phòng tắc đờm dãi vì trong lúc giật trẻ thường tiết nhiều đờm, dãi. Lưu ý kiểm tra xem trẻ còn thở không, da có tím không.
- Nới rộng quần áo, tã lót cho trẻ.
- Hạ sốt bằng cách chườm mát cho trẻ, lưu ý không được dùng nước đá để chườm vì nếu lấy nước đá chườm sẽ gây co mạch mạnh ngoài da, hạn chế quá trình tỏa nhiệt của trẻ làm trẻ sốt cao hơn. Tốt nhất là dùng khăn sạch dấp vào nước mát (nhiệt độ khoảng 300C) rồi chườm ở trán, nách và bẹn.
Nên dùng thuốc hạ sốt Paracetamol loại viên đạn đặt hậu môn, nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng.
Theo dõi nhiệt độ bằng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc ở hậu môn, trẻ sốt khi nhiệt độ nách từ 380C trở lên còn ở hậu môn là >3708.
- Không còn giới hạn cử động của trẻ (không giữ, bế chặt) không cho trẻ ăn, uống bất cứ thứ gì kể cả thuốc hạ sốt Paracetamol (Efferalgan) trong khi trẻ còn co giật hoặc chưa tỉnh hẳn. Bởi vì khi trẻ còn đang giật nếu cho ăn, uống rất dễ sặc, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Mặt khác khi trẻ bị giật thường giật mạnh, người lớn ôm, giữ chặt trẻ sẽ gây chấn thương cho trẻ, hơn nữa trong lúc giật nhiều trẻ nghiến chặt răng có thể cắn vào lưỡi, nhiều gia đình đã lấy các vật cứng để vào miệng trẻ có thể gây gẫy răng đứa trẻ.
Trong trường hợp trẻ nghiến răng vào lưỡi có thể dùng khăn mềm, sạch quần lại thành hình trụ dài, khéo léo đặt vào giữa hai hàm răng trẻ. Làm như vậy có hai cái lợi, thứ nhất ngăn cho răng trẻ không cắn vào lưỡi mà không gây chấn thương, thứ hai khăn có tác dụng thấm bớt đờm dãi do trẻ tiết ra khi co giật.
- Gọi xe cấp cứu hoặc bác sĩ đến càng sớm càng tốt.
Điều trị tại bệnh viện:
Cắt cơn giật bằng Diazepam tiêm tĩnh mạch chậm hoặc đặt hậu môn sau đó nếu còn sốt cao cho uống Gardenal hoặc Depakin. Hạ sốt bằng chườm mát và Paracetamol.
Điều trị dự phòng co giật:
Nguy cơ tái phát sốt cao co giật ở trẻ khá cao cho nên biện pháp quan trọng là giữ làm sao để trẻ không bị sốt nhất là sốt do viêm đường hô hấp, do đó cần vệ sinh cho trẻ hằng ngày, không để trẻ bị lạnh, tiêm vacxin phòng một số bệnh đường hô hấp.
Khi thấy trẻ chớm sốt cần hạ sốt bằng chườm mát và Paracetamol. Người ta có thể ngừa cơn giật nặng tái phát bằng Gardenal hoặc Depakin, chỉ định dùng thuốc liên tục khi trẻ dưới một tuổi phát triển tâm thần vận động hoặc có cơn co giật kéo dài trên 15 phút hoặc có liệt vận động sau cơn việc điều trị dự phòng phải kéo dài liên tục ít nhất đến khi trẻ 4 tuổi.

www.thegioiyte.com
07:28 CH 19/12/2008
Thuốc hạ sốt
Sốt là khi nhiệt độ cơ thể tăng trên 37,5oC. Đây là một phản ứng của cơ thể và thường gặp ở trẻ em. Nguyên nhân có thể là do thời tiết hoặc do sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh như virut... Việc điều trị để làm giảm sốt, ngăn ngừa các cơn co giật có thể xảy ra do sốt là rất cần thiết. Trước khi điều trị nguyên nhân, với hầu hết các trường hợp điều quan trọng nhất là phải hạ sốt.
Hiện nay thuốc hạ sốt dùng cho trẻ em gồm 3 loại: aspirin (acid acetyl salicylic), ibuprofen và paracetamol (acetaminophen). Aspirin và ibuprofen là những thuốc kháng viêm không steroid có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống vón kết tiểu cầu. Tác dụng hạ sốt của aspirin và ibuprofen đạt được khi dùng ở liều thấp hơn so với điều trị kháng viêm. Paracetamol được đánh giá là được dung nạp tốt nhất. Aspirin được dung nạp tốt trong điều trị sốt ở trẻ em, song cũng như các thuốc kháng viêm không steroid khác, aspirin gây độc tính trên đường tiêu hóa và gây nhiều biến đổi trong cơ chế đông máu, hoặc gây dị ứng, đặc biệt là ở trẻ có cơ địa dị ứng. Còn ibuprofen gần đây mới được chỉ định điều trị sốt cho trẻ dưới 16 tuổi, nên việc dung nạp trong điều trị ngắn ngày và liều nhẹ (so với điều trị kháng viêm) chưa được đánh giá đúng mức. Cũng giống như aspirin thuốc này có những hạn chế của thuốc kháng viêm không steroid. Nhưng theo các tài liệu cảnh giác thuốc ở Bắc Âu, sử dụng ibuprofen trong điều trị sốt ở trẻ em được coi là an toàn. Dùng paracetamol quá liều có thể gây cạn kiệt glutathion của gan dẫn đến tiêu hủy tế bào gan.
Trong điều trị sốt, không cần thiết phải phối hợp nhiều thuốc hạ sốt cùng lúc, trừ trường hợp dùng đúng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc mà không thể hạ sốt.
Thông thường với trẻ dưới 3 tuổi, thuốc hạ sốt cần được chia đều trong 24 giờ. Bên cạnh đó cần để trẻ nằm ở nơi thoáng mát, nhiệt độ trong phòng mát hơn nhiệt độ của trẻ 2-3o, mặc quần áo rộng, thoáng, có thể lau người cho trẻ bằng khăn ướt, ấm. Đối với trẻ lớn hơn, ít có nguy cơ bị biến chứng của sốt có thể dùng điều trị mỗi khi có cơn sốt, không nhất thiết phải uống thường xuyên.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều dạng thuốc hạ sốt, phù hợp với từng lứa tuổi: dung dịch, hỗn dịch, sirô, thuốc bột, thuốc cốm, viêm nang, viên nén, viên sủi, thuốc đặt hậu môn... với các hàm lượng thích hợp. Tùy trường hợp mà dùng thuốc phù hợp nhằm bảo đảm an toàn, hợp lý và đạt hiệu quả điều trị cao nhất.
www.thegioiyte.com
07:24 CH 19/12/2008
Sốt cao - co giật
Đây là một tình trạng bệnh lý đòi hỏi phải xử lý cấp cứu vì nó có thể đe doạ tính mạng bệnh nhi trước mặt hoặc để lại những di chứng nặng nề về sau như động kinh, chậm phát triển tâm trí và vận động đặc biệt là những trường hợp sốt cao co giật kéo dài.
Nguyên nhân: Có rất nhiều nhưng hai nguyên nhân thường gặp nhất là sốt cao co giật do nhiễm khuẩn (đặc biệt là nhiễm virus đường hô hấp trên) và yếu tố tiền sử gia đình về sốt cao co giật.
Triệu chứng lâm sàng: Có hai thể sốt cao co giật đó là sốt cao co giật lành tính và sốt cao co giật có biến chứng. Tuy nhiên để chuẩn đoán một cách chính xác phải khám bệnh cho trẻ thật kĩ càng đặc biệt là khám thần kinh, nếu có điều kiện thì làm điện não đồ ngay sau cơn co giật và một tuần sau giật để đánh giá.
Điều trị:
Xử lý sốt cao co giật tại gia đình trong khi chờ xe cấp cứu hoặc bác sĩ đến:
- Bình tĩnh đặt trẻ vào nơi yên tĩnh, thoáng mát, rời xa các vật sắc nhọn, đặt chăn hoặc gối mềm dưới đầu trẻ, để trẻ ở tư thế đầu nghiêng về một bên đề phòng tắc đờm dãi vì trong lúc giật trẻ thường tiết nhiều đờm, dãi. Lưu ý kiểm tra xem trẻ còn thở không, da có tím không.
- Nới rộng quần áo, tã lót cho trẻ.
- Hạ sốt bằng cách chườm mát cho trẻ, lưu ý không được dùng nước đá để chườm vì nếu lấy nước đá chườm sẽ gây co mạch mạnh ngoài da, hạn chế quá trình tỏa nhiệt của trẻ làm trẻ sốt cao hơn. Tốt nhất là dùng khăn sạch dấp vào nước mát (nhiệt độ khoảng 300C) rồi chườm ở trán, nách và bẹn.
Nên dùng thuốc hạ sốt Paracetamol loại viên đạn đặt hậu môn, nhớ đọc kỹ hướng dẫn sử dụng.
Theo dõi nhiệt độ bằng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc ở hậu môn, trẻ sốt khi nhiệt độ nách từ 380C trở lên còn ở hậu môn là >3708.
- Không còn giới hạn cử động của trẻ (không giữ, bế chặt) không cho trẻ ăn, uống bất cứ thứ gì kể cả thuốc hạ sốt Paracetamol (Efferalgan) trong khi trẻ còn co giật hoặc chưa tỉnh hẳn. Bởi vì khi trẻ còn đang giật nếu cho ăn, uống rất dễ sặc, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Mặt khác khi trẻ bị giật thường giật mạnh, người lớn ôm, giữ chặt trẻ sẽ gây chấn thương cho trẻ, hơn nữa trong lúc giật nhiều trẻ nghiến chặt răng có thể cắn vào lưỡi, nhiều gia đình đã lấy các vật cứng để vào miệng trẻ có thể gây gẫy răng đứa trẻ.
Trong trường hợp trẻ nghiến răng vào lưỡi có thể dùng khăn mềm, sạch quần lại thành hình trụ dài, khéo léo đặt vào giữa hai hàm răng trẻ. Làm như vậy có hai cái lợi, thứ nhất ngăn cho răng trẻ không cắn vào lưỡi mà không gây chấn thương, thứ hai khăn có tác dụng thấm bớt đờm dãi do trẻ tiết ra khi co giật.
- Gọi xe cấp cứu hoặc bác sĩ đến càng sớm càng tốt.
Điều trị tại bệnh viện:
Cắt cơn giật bằng Diazepam tiêm tĩnh mạch chậm hoặc đặt hậu môn sau đó nếu còn sốt cao cho uống Gardenal hoặc Depakin. Hạ sốt bằng chườm mát và Paracetamol.
Điều trị dự phòng co giật:
Nguy cơ tái phát sốt cao co giật ở trẻ khá cao cho nên biện pháp quan trọng là giữ làm sao để trẻ không bị sốt nhất là sốt do viêm đường hô hấp, do đó cần vệ sinh cho trẻ hằng ngày, không để trẻ bị lạnh, tiêm vacxin phòng một số bệnh đường hô hấp.
Khi thấy trẻ chớm sốt cần hạ sốt bằng chườm mát và Paracetamol. Người ta có thể ngừa cơn giật nặng tái phát bằng Gardenal hoặc Depakin, chỉ định dùng thuốc liên tục khi trẻ dưới một tuổi phát triển tâm thần vận động hoặc có cơn co giật kéo dài trên 15 phút hoặc có liệt vận động sau cơn việc điều trị dự phòng phải kéo dài liên tục ít nhất đến khi trẻ 4 tuổi.

www.thegioiyte.com
07:21 CH 19/12/2008
Sốt cao - co giật
Sốt là một triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi, nhất là trong mùa hè nóng nực. Sốt có thể do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng phần lớn là do vi khuẩn, virut, mùa hè có thể gặp do say nắng, say nóng. Nhưng cho dù nguyên nhân gì thì sốt cũng gây nhiều tác hại cho cơ thể trẻ, có thể gây co giật, thậm chí tử vong. Vì vậy, các bậc cha mẹ phải phát hiện và có những biện pháp xử trí đúng, kịp thời khi trẻ sốt.
Sốt là hiện tượng tăng thân nhiệt trên 37,5oC (nhiệt độ cặp nách). Khi trẻ sốt cao trên 39oC có thể gây co giật toàn thân làm thiếu ôxy não, tổn thương các tế bào thần kinh dẫn tới hôn mê hoặc tử vong, nếu khỏi sau này hay để lại những di chứng tổn thương thần kinh (động kinh, giảm trí nhớ). Sốt cao làm mất nước, cô máu, gây rối loạn nước và điện giải, rối loạn huyết động, nhiễm toan chuyển hóa. Sốt cao từ 40-41oC có thể gây rối loạn đông máu, làm giảm các yếu tố đông máu, làm tăng các tranzaminaza, làm tăng đáng kể các men trong cơ thể như: oreatinin, kinaza...
Phải làm gì khi trẻ sốt?
Khi thấy trẻ nóng, ta phải cặp nhiệt độ, nếu cặp ở nách phải cộng thêm 0,5oC. Nếu thấy nhiệt độ từ 36,5 đến dưới 37,5oC là trẻ không sốt, nếu nhiệt độ trẻ từ 37,5-38,9oC là trẻ sốt vừa, nếu nhiệt độ trên 38,9oC là trẻ sốt cao. Phải lấy nhiệt độ ít nhất 3 lần trong ngày và 1 lần vào ban đêm.
Khi phát hiện trẻ sốt, trước hết các bậc cha mẹ phải nhanh chóng tìm mọi biện pháp làm tăng cường sự thải nhiệt của cơ thể như không được ủ, đắp chăn mà chỉ cho trẻ mặc áo lót mỏng; phải giảm nhiệt trong phòng (nếu quá nóng) bằng cách mở cửa, sử dụng quạt thông gió. Cho trẻ uống nhiều nước, trẻ lớn có thể uống tùy thích, trẻ nhỏ chưa biết đòi phải chủ động cho trẻ uống thêm hoặc pha thêm nước vào bình sữa khi bú từ 20-30ml/lần bú và tăng các bữa bú cho trẻ. Có thể cho trẻ uống nước quả như cam, chanh, nước orezol, không nên cho trẻ uống các loại nước giải khát công nghiệp. Mùa hè, khi trẻ sốt vẫn cần được tắm rửa bằng nước ấm thấp hơn nhiệt độ cơ thể trẻ 2oC trong 10-15 phút để tăng thải nhiệt. Chú ý cho trẻ gội cả đầu. Có thể đắp nước mát vùng trán, bẹn, tránh dùng cồn xoa người trẻ vì cồn có thể gây ngộ độc.
Khi trẻ sốt trên 38,5oC cần phải cho trẻ dùng các thuốc hạ nhiệt. Loại thuốc hạ nhiệt được Tổ chức y tế thế giới khuyên dùng cho trẻ em là paracetamol (biệt dược là efferalgan, babymol...) liều 15mg/kg/lần, ngày 6 lần. Tổng liều 50-60mg/kg/ngày. Có thể dùng đường uống hoặc đặt hậu môn (nếu trẻ không uống được), nhưng hấp thu qua đường hậu môn chậm hơn, thường dùng trong trường hợp sốt vừa phải, liều thường dùng 7-10mg/kg/lần, ngày đặt 2-3 lần. Ngoài paracetamol có thể dùng axitacetyl salicilic (aspirin, aspegic) với liều 10mg/kg/lần, cách 4-6 giờ một lần. Thuốc có tác dụng hạ sốt nhanh và duy trì được dài hơn nhưng phải thận trọng đối với những trường hợp theo dõi sốt xuất huyết hoặc có bệnh lý dạ dày, ruột.
Những trường hợp sốt cao 40-41oC ngoài dùng thuốc hạ sốt và các biện pháp hạ nhiệt như trên, cần cho trẻ uống thuốc an thần để phòng co giật cho trẻ, có thể dùng gardenal (phenobarbital) 0,5-1mg/kg/lần.
Tuy nhiên, khi trẻ sốt, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện để các thầy thuốc chuyên khoa phát hiện sớm nguyên nhân sốt và có cách xử trí kịp thời.
07:20 CH 19/12/2008
Bé ho và sổ mũi mãi mà chưa khỏi
Do vị trí V.A ở nóc vòm, ngay cửa lỗ mũi sau, cạnh vòi Eustachi nên khi V.A to sẽ gây ra một số ảnh hưởng được gọi là V.A quá phát.
V.A quá phát thường gặp ở trẻ nhỏ, có thể ngay sau khi đẻ nhưng đôi khi cũng gặp ở trẻ lớn.
1. Nguyên nhân
- Do cơ địa: thường gặp ửo trẻ có tạng tân, có từ sơ sinh.
- Di viêm: V.A bị nhiều đợt cấp, thường xuyên bị kích thích cũng đưa tới quá phát, thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi.
2. Chẩn đoán
Không khó, nhất là khi gia đình có chú ý theo dõi.
2.1. Lâm sàng
- Ngạt mũi, khó thở là chính, do V.A to che lấp lỗ mũi sau gây ngạt tắc mũi thường xuyên, tăng về đêm. Khi ngủ trẻ khụt khịt rõ, há mồm để thở, ngủ không sâu, giấc không dài. Có thể đưa tới tắc, ngừng thở ngắn khi ngủ.
- Khi bú, ăn dễ bị sặc hay nôn trớ.
- Nghe kém: do bán tắc hay tắc hoàn toàn vòi Eustachi. Trẻ thường chậm biết nói, nói ngọng kéo dài, lơ đễnh, kém phát triển trí tuệ.
2.2. Thực thể

- Soi mũi trước: nếu mũi sạch, không viêm nề, đặt thuốc co hồi thật tốt, nhìn dọc theo sàn mũi ra phía sau có thể thấy khối sùi hồng nhạt, mềm. Khi nuốt sẽ thấy rõ hơn vì V.A bị đẩy lên trên.
- Soi mũi sau: bằng gương hay nội soi có thể thấy được kích thước, hình dạng của khối V.A (thường chỉ thực hiện được với ngưới, trẻ lớn).
V.A là khối sùi hồng nhạt, mền nằm ở vòm che lấp một phần lỗ mũi sau, lấn tới loa vòi Eustachi một hoặc cả hai bên.
- Sờ vòm: với trẻ nhỏ, khi không có viêm ở mũi họng có thể đưa đầu ngón tay qua họng, ngược lên vòm, có cảm giác chạm vào khối mềm, vòm bị che hẹp một phần.
- Khám tai: thường thấy màng nhĩ đục, mất bóng sáng do vòi nhĩ không được luôn thông thoáng.
- Khám họng: thành sau họng thường không nhẵn, có các hạt lympho, khi kêu a..a..hay khóc thì lưỡi gà, màn hầu không bít hết vòm, sát đến thành sau.
2.3. Diễn biến: trẻ có V.A quá phát thường hay bị viêm V.A đợt cấp, dễ bị viêm đường hô hấp dưới
Nếu V.A quá to và để kéo dài dễ đưa tới bộ mặt V.A với: mũi hếch, gẫy, môi dày, luôn hở miệng, hàm trên vẩu, hàm dưới lẹm, hàm ếch lõm cao lên trên.
Ở người lớn nếu còn V.A thì có thể gây nhức đầu, ngủ hay mê sảng, ngáy to.
3. Biến chứng của V.A
3.1. Viêm tai giữa:
V.A quá phát thường là nguyên nhân vơ bản gây viêm tai ứ dịch, viêm tai giữa mủ nhầy.
3.2. Viêm mũi xoang:
Với trẻ nhỏ thường gặp viêm mũi xuất tiết, viêm mũi mủ nhầy kéo dài, điều trị không hết hẳn được.
3.3. Áp xe thành sau:
Do viêm tấy mủ hạch Gilette ở trẻ nhỏ.
3.4. Viêm họng, mũi họng cấp hay mãn
3.5. Viêm thanh quản co rít: Ở trẻ nhỏ, viêm thanh quản cả ở trẻ em và người lớn.
3.6. Viêm đường hô hấp dưới:
Trẻ có V.A rất hay bị viêm khí quản, viêm khí phế, viêm phổi. Đặc biệt lưu ý tới viêm khí – phế quản thể giống hen ở trẻ em, viêm thanh quản co thắt ở trẻ nhỏ.
3.7. Tiêu hóa: trẻ có V.A thường hay bị rối loạn tiêu hóa, dễ bị sặc, nôn trớ, ăn uống chậm, lười ăn.
3.8. Cơn tắc, ngừng thở khi ngủ, nếu kéo dài sẽ đưa tới suy tim.
3.9 Toàn thân:
V.A bị viêm thường xuyên hay quá phát làm ảnh hưởng nhiều đến trẻ.
- Phát triển thể trạng kém: trẻ thường chậm lớn có tỷ lệ suy dinh duỡng cao.
- Phát triển trí tuệ: trẻ nhỏ chậm nói, nói ngọng kéo dài, lơ đễnh, thiếu tập trung do đó thường lười học, kém thông minh.
07:16 CH 19/12/2008
Bé ho và sổ mũi mãi mà chưa khỏi
Các bệnh viêm mũi thường gặp
Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, có chức năng sinh lý rất quan trọng là làm ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí để thở. Ngoài ra mũi còn đảm nhận chức năng khứu giác (ngửi) và đóng vai trò như một hòm cộng minh, cộng hưởng trong phát âm. Khi nghiên cứu về chức năng của mũi, người ta còn thấy mũi có globuline iga bảo vệ niêm mạc mũi. Như vậy, khi mũi bị viêm, tất cả các chức năng sinh lý trên đều ít nhiều bị ảnh hưởng, không có lợi cho sức khỏe con người.
Viêm mũi cấp
Viêm mũi cấp tính là bệnh thường gặp nhất là ở trẻ em. Bệnh lây truyền nhanh qua không khí, đặc biệt vào những lúc thay đổi thời tiết như đôngxuân hoặc xuân-hè.
Phần lớn các ca bệnh do virus gây ra. Đầu tiên, bệnh nhân bị ngứa mũi, hắt hơi, nặng đầu, đau lưng, mỏi chân tay và các khớp xương. Sau đó chảy nước mũi (lúc đầu trong, mấy ngày sau dần đặc như lòng trắng trứng). Bệnh nhân ngạt mũi, nhức đầu, hơi sốt, người mệt mỏi. Khám mũi thấy niêm mạc mũi sung huyết đỏ, hốc mũi chứa đầy chất nhầy đục.
Sau 3-4 ngày, bệnh nhân bớt xì mũi, nước mũi giảm dần rồi hết. Mũi sẽ trở lại như cũ. Nếu viêm mũi kéo dài trên 1 tuần mà không đỡ, có thể bệnh đã chuyển sang biến chứng do bị nhiễm khuẩn. Nếu nước mũi tiếp tục chảy ngày một tăng kèm theo các triệu chứng khó chịu ở mũi xoang, khàn tiếng, chảy mủ tai thì cần kiểm tra xoang, thanh quản, phế quản và tai.
Viêm mũi dị ứng
Viêm mũi dị ứng là một bệnh rất thường gặp với cơ chế bệnh sinh là tình trạng mẫn cảm đặc biệt của cơ thể, phản ứng bất thường và quá mức sau khi tiếp xúc với một dị nguyên nhất định, biểu hiện trên lâm sàng bằng 3 triệu chứng chính là hắt hơi, sổ mũi và tắc mũi. Điều trị viêm mũi dị ứng đợt cấp tính thường không khó khăn lắm, nhưng khi bệnh đã chuyển sang mạn tính thì rất phức tạp, mặc dù cho đến nay, y học hiện đại đã có khá nhiều thuốc và kỹ thuật xử trí.
Nguyên nhân do dị nguyên gây bệnh bao gồm: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc, vải sợi, lông gia súc, gia cầm, một số thức ăn như: dâu, dứa, tôm, cua, cá; Một số thuốc như: aspirin, quinin; Hoặc vi khuẩn: liền cầu, tụ cầu, trực khuẩn E.coli…
Có 2 loại:
Viêm mũi dị ứng có chu kỳ: thường xảy ra đột ngột vào đầu mùa lạnh hoặc mùa nóng, với các triệu chứng như: nhột nhột, cay trong mũi rồi hắt hơi, có khi đến vài chục cái. Có thể chảy nước mắt, đỏ và ngứa mắt, chảy mũi nước trong, lượng nhiều và có thể kèm nhức đầu, uể oải. Thông thường thì triệu chứng hắt hơi xảy ra vào buổi sáng. Tuy nhiên vào buổi trưa, buổi chiều cũng có thể có và tình trạng này kéo dài khoảng 1 tuần đến 10 ngày sẽ khỏi. Khi soi mũi trong cơn thì thấy mũi hẹp, nhầy trong, niêm mạc mũi sung huyết, ngoài cơn thì thấy mũi khô, thoáng. Đây là cơn viêm mũi dị ứng ngắn hạn và nếu bệnh kéo dài thì nước mũi sẽ đặc lại, niêm mạc mũi phù nề, nhợt nhạt, cuống mũi bị phình to thường xuyên… làm nhức đầu, nhức trán, nên bệnh nhân dễ nghĩ có viêm xoang.
Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ: triệu chứng giống như loại có chu kỳ nhưng khác ở chỗ là bệnh xuất hiện không theo mùa, thời tiết, cơn viêm không kịch phát, chỉ hắt hơi vài cái nhưng nghẹt mũi tăng và kéo dài hơn giữa 2 cơn. Khi khám thì thấy niêm mạc mũi nhợt, có nhiều polype mũi và chụp X-quang thì thấy mờ hết các xoang.
Viêm xoang
Viêm xoang cấp là hiện tượng người bệnh bị viêm nhiễm một hoặc nhiều xoang, bao gồm xoang hàm, xoang sàng và xoang trán. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở người lớn tuổi. Viêm xoang cấp thường xảy ra sau những đợt cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp hoặc do dị ứng nhiễm nấm. Những nguyên nhân đó gây viêm màng nhầy làm cho các màng nhầy sưng lên và làm cho dịch từ các xoang không thể thoát được. Những người bị viêm xoang cấp thường có các triệu chứng: ho, ngạt mũi, đau và sưng nề xung quanh xoang bị tổn thương, chảy nước mũi, cảm giác nặng vùng mặt và vùng đầu, nước mũi xanh hoặc vàng. Viêm xoang hàm thường đau vùng xung quanh má và răng hàm trên. Viêm xoang sang thường đau vùng trên mũi và sau mắt, đau do tăng áp lực trên xoang, đôi khi có thể sốt.
Các biện pháp phòng bệnh
Giữ ấm khi trời trở lạnh .
Tránh dùng thuốc và thực phẩm gây dị ứng. Vệ sinh môi trường sống. Không nuôi hoặc tiếp xúc với vật nuôi (chó, mèo) gây dị ứng. Không dùng tay ngoáy mũi để tránh tổn thương niêm mạc mũi. Rèn luyện thân thể, tránh uống rượu, không hút thuốc lá để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý để vệ sinh, rửa mũi. Vệ sinh mũi giúp loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy, giúp ngăn ngừa và góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như: viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì và viêm xoang.
07:08 CH 19/12/2008
Viêm mũi kéo dài
http://www.thegioiyte.com/index.php?usv=thenewsdetail&id=49

Các bệnh viêm mũi thường gặp
Mũi là cửa ngõ của đường hô hấp, có chức năng sinh lý rất quan trọng là làm ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí để thở. Ngoài ra mũi còn đảm nhận chức năng khứu giác (ngửi) và đóng vai trò như một hòm cộng minh, cộng hưởng trong phát âm. Khi nghiên cứu về chức năng của mũi, người ta còn thấy mũi có globuline iga bảo vệ niêm mạc mũi. Như vậy, khi mũi bị viêm, tất cả các chức năng sinh lý trên đều ít nhiều bị ảnh hưởng, không có lợi cho sức khỏe con người.
Viêm mũi cấp
Viêm mũi cấp tính là bệnh thường gặp nhất là ở trẻ em. Bệnh lây truyền nhanh qua không khí, đặc biệt vào những lúc thay đổi thời tiết như đôngxuân hoặc xuân-hè.
Phần lớn các ca bệnh do virus gây ra. Đầu tiên, bệnh nhân bị ngứa mũi, hắt hơi, nặng đầu, đau lưng, mỏi chân tay và các khớp xương. Sau đó chảy nước mũi (lúc đầu trong, mấy ngày sau dần đặc như lòng trắng trứng). Bệnh nhân ngạt mũi, nhức đầu, hơi sốt, người mệt mỏi. Khám mũi thấy niêm mạc mũi sung huyết đỏ, hốc mũi chứa đầy chất nhầy đục.
Sau 3-4 ngày, bệnh nhân bớt xì mũi, nước mũi giảm dần rồi hết. Mũi sẽ trở lại như cũ. Nếu viêm mũi kéo dài trên 1 tuần mà không đỡ, có thể bệnh đã chuyển sang biến chứng do bị nhiễm khuẩn. Nếu nước mũi tiếp tục chảy ngày một tăng kèm theo các triệu chứng khó chịu ở mũi xoang, khàn tiếng, chảy mủ tai thì cần kiểm tra xoang, thanh quản, phế quản và tai.
Viêm mũi dị ứng
Viêm mũi dị ứng là một bệnh rất thường gặp với cơ chế bệnh sinh là tình trạng mẫn cảm đặc biệt của cơ thể, phản ứng bất thường và quá mức sau khi tiếp xúc với một dị nguyên nhất định, biểu hiện trên lâm sàng bằng 3 triệu chứng chính là hắt hơi, sổ mũi và tắc mũi. Điều trị viêm mũi dị ứng đợt cấp tính thường không khó khăn lắm, nhưng khi bệnh đã chuyển sang mạn tính thì rất phức tạp, mặc dù cho đến nay, y học hiện đại đã có khá nhiều thuốc và kỹ thuật xử trí.
Nguyên nhân do dị nguyên gây bệnh bao gồm: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc, vải sợi, lông gia súc, gia cầm, một số thức ăn như: dâu, dứa, tôm, cua, cá; Một số thuốc như: aspirin, quinin; Hoặc vi khuẩn: liền cầu, tụ cầu, trực khuẩn E.coli…
Có 2 loại:
Viêm mũi dị ứng có chu kỳ: thường xảy ra đột ngột vào đầu mùa lạnh hoặc mùa nóng, với các triệu chứng như: nhột nhột, cay trong mũi rồi hắt hơi, có khi đến vài chục cái. Có thể chảy nước mắt, đỏ và ngứa mắt, chảy mũi nước trong, lượng nhiều và có thể kèm nhức đầu, uể oải. Thông thường thì triệu chứng hắt hơi xảy ra vào buổi sáng. Tuy nhiên vào buổi trưa, buổi chiều cũng có thể có và tình trạng này kéo dài khoảng 1 tuần đến 10 ngày sẽ khỏi. Khi soi mũi trong cơn thì thấy mũi hẹp, nhầy trong, niêm mạc mũi sung huyết, ngoài cơn thì thấy mũi khô, thoáng. Đây là cơn viêm mũi dị ứng ngắn hạn và nếu bệnh kéo dài thì nước mũi sẽ đặc lại, niêm mạc mũi phù nề, nhợt nhạt, cuống mũi bị phình to thường xuyên… làm nhức đầu, nhức trán, nên bệnh nhân dễ nghĩ có viêm xoang.
Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ: triệu chứng giống như loại có chu kỳ nhưng khác ở chỗ là bệnh xuất hiện không theo mùa, thời tiết, cơn viêm không kịch phát, chỉ hắt hơi vài cái nhưng nghẹt mũi tăng và kéo dài hơn giữa 2 cơn. Khi khám thì thấy niêm mạc mũi nhợt, có nhiều polype mũi và chụp X-quang thì thấy mờ hết các xoang.
Viêm xoang
Viêm xoang cấp là hiện tượng người bệnh bị viêm nhiễm một hoặc nhiều xoang, bao gồm xoang hàm, xoang sàng và xoang trán. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở người lớn tuổi. Viêm xoang cấp thường xảy ra sau những đợt cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp hoặc do dị ứng nhiễm nấm. Những nguyên nhân đó gây viêm màng nhầy làm cho các màng nhầy sưng lên và làm cho dịch từ các xoang không thể thoát được. Những người bị viêm xoang cấp thường có các triệu chứng: ho, ngạt mũi, đau và sưng nề xung quanh xoang bị tổn thương, chảy nước mũi, cảm giác nặng vùng mặt và vùng đầu, nước mũi xanh hoặc vàng. Viêm xoang hàm thường đau vùng xung quanh má và răng hàm trên. Viêm xoang sang thường đau vùng trên mũi và sau mắt, đau do tăng áp lực trên xoang, đôi khi có thể sốt.
Các biện pháp phòng bệnh
Giữ ấm khi trời trở lạnh .
Tránh dùng thuốc và thực phẩm gây dị ứng. Vệ sinh môi trường sống. Không nuôi hoặc tiếp xúc với vật nuôi (chó, mèo) gây dị ứng. Không dùng tay ngoáy mũi để tránh tổn thương niêm mạc mũi. Rèn luyện thân thể, tránh uống rượu, không hút thuốc lá để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý để vệ sinh, rửa mũi. Vệ sinh mũi giúp loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy, giúp ngăn ngừa và góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như: viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì và viêm xoang.
07:05 CH 19/12/2008
Viêm mũi kéo dài
Viêm mũi họng cấp rất thường gặp ở trẻ em từ 6 tháng đến 7 – 8 tuổi. Ở Việt Nam theo điều tra trên 8620 trẻ cho thấy viêm mũi họng cấp chiếm 20,33%, thường bị nhiều lần trong năm (trên 50% số trẻ mắc trên 3 lần/năm) là bệnh thường gặp nhất trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính.
Với các nước phát triển, viêm mũi họng cấp cũng thường gặp với tỷ lệ cao tương tự ở các lứa tuổi nói trên do:
Mũi họng là phần đầu của đường hô hấp trên, không khí ô nhiễm với virus và vi khuẩn là tác nhân chính. Cũng cần nhớ về miễn dịch: kháng thể có sẵn của mẹ truyền cho chỉ có tác dụng đến tháng thứ 4, thứ 6. sau đó mỗi tác nhân viêm nhiễm đều tác động đến niêm mạch mũi họng gây viễm mũi họng cấp. Cho nên những đợt viêm mũi họng cấp cũng được coi là cần thiết để tạo lập nên yếu tố miễn dịch của trẻ, chỉ khi nào nó gây nên các biến chứng mới thực sự là hiện tượng bệnh lý.
1. Nguyên nhân
1.1. Nhiễm khuẩn
- Virus chủ yếu (theo nhiều nghiên cứu thường chiếm 70 – 80%) với nhiều chủng loại khác nhau mà chủ yếu là Rhinovirus, Adenovirus,…
- Các vi khuẩn dễ gây nên bội nhiễm, thường là Hemophilus influenzae, liên cầu tan huyết nhóm A, phế cầu…
1.2. Các yếu tố thuận lợi thường được kể đến là:
- Ô nhiễm không khí: đặc biệt khói thuốc lá, bụi.
- Vệ sinh môi trường: nhà ở, vường trẻ quá chật, thiếu vệ sinh.
- Trẻ suy yếu: đẻ non, suy dinh dưỡng, không được nuôi bằng sữa mẹ,…
2. Chẩn đoán
Là một viêm toàn bộ niêm mạc mũi họng.
Với viêm mũi họng cấp không có biến chứng, có các triệu chứng sau:
2.1. Toàn thân:
- Sốt cao: thường gặp nhất (90%)
Nhiệt độ thường tới 39 – 40 độ C trong 2 – 3 ngày đầu.
- Trẻ trong trạng thái kích thích: quấy khóc, ngủ không yên…đôi khi ở trẻ nhỏ có nôn, ỉa chảy.
- Trẻ > 2 tuổi thường có sưng nhẹ và đau hạch gốc hàm.
2.2. Cơ năng:
- Ho; hầu hết có ho nhiều hoặc ít, có thể ho thành cơn và nôn trớ.
- Chảy mũi, ngạt tắc mũi thường không rõ rệt, chảy mũi nhày trong.
2.3. Thực thể:
- Toàn bộ niêm mạc mũi họng sung huyết đỏ, nhiều xuất tiết.
- Tai: màng tai hai bên thường đỏ, mất bóng sáng nhưng không thấy căng phồng.
3. Các biến chứng
Viêm mũi họng cấp hay bội nhiễm vi khuẩn dễ đua tới các biến chứng:
3.1 Viêm tai giữa cấp:
Thường gặp ở trẻ < 2 tuổi.
3.2 Viêm thanh quản cấp:
Thường ở trẻ 1 – 4 tuổi
Đặc biệt lưu ý tới viêm thanh quản hạ thanh môn và viêm thanh khí phế quản với bệnh cảnh nguy cấp thường do viêm mũi họng cấp gây ra.
3.3 Viêm xoang hàm cấp:
Gặp ở trẻ lớn 3 – 7 tuổi, thường bị bỏ qua với sốt kéo dài 5 – 7 ngày, chảy mũi mủ đặc, đục, nhức đầu.
3.4 Áp xe thành sau họng:
Hiếm gặp, thường gặp ở trẻ < 2 tuổi.
4. Xử trí
4.1 Cần nhớ
Viêm mũi họng thực ra là một phản ứng tạo miễn dịch cho trẻ, do đó tránh không để có biến chứng là chính:
- Giữ ấm, giảm hoạt động, nằm nghỉ.
- săn sóc vệ sinh mũi họng tốt.
- Có thể rỏ mũi với các thuốc co mạch thông thường. Không nên dùng ngay thuốc kháng sinh, corticoid.
4.2. Chỉ dùng kháng sinh và corticoid khi có dấu hiệu có biến chứng
Thuốc hạ nhiệt cũng chỉ dùng khi sốt cao, kéo dài. Nên dùng aspirin vừa hạ nhiệt, vừa giảm yếu tố viêm do nhiễm khuẩn.
4.3 Chủ yếu là phòng tránh các đợt tái phát:
- Tiêm chủng vacxin chống virus, vi khuẩn thường gặp như Hemophilus influenzae.
- Nâng cao thể trạng, sức đề kháng của trẻ.
- Đảm bảo đủ dinh dưỡng, lưu ý các vi lượng Ca, zn…
- Loại trừ các ổ viêm kế cận: V.A, răng sâu.
- Chống ô nhiễm môi trường chủ yếu ở gia đình, nhà trẻ như người lớn không hút thuốc, chỗ ở thoáng khí, sạch…
Cần nhớ

1. Viêm mũi họng cấp là bệnh thường gặp nhất ở trẻ trên 6 tháng tuổ.
2. Là hiện tượng tạo miễn dịch chủ yếu ở trẻ.
3. Chỉ sử dụng thuốc khi thật cần thiết, khi có biến chứng.
4. Vệ sinh môi trường, nuôi dưỡng tốt để phòng tránh tái phát
THỰC RA MÙA NÀY TRẺ CON RẤT RẤT HAY BỊ VIÊM MŨI LÀ DO NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU THỜI TIẾT QUÁ HANH KHÔ NÊN KHI CHO BÉ NGỦ CÁC MẸ NÊN PHẢI NHỎ THẬT NHIỀU NƯỚC MUỐI SINH LÝ LÀM ẨM MŨI HOẶC MUA MÁY TẠO ẨM DÙNG TRONG NHÀ KHOẢN 280 K ĐẾN 300 K / CÁI LÀ BÉ SẼ ĐỠ NGAY
NẾU BÉ ĐÃ BỊ VIÊM MŨI VÀ UỐNG THUỐC RỒI THÌ NÊN DÙNG THUỐC NHỎ MŨI KHI CẦN THIẾT THÔI TRÁNH DÙNG THUỐC DÀI NGÀY KHÔNG CÓ LỢI CHO BÉ ĐÂU
- CÁC MẸ CÓ THỂ DÙNG MÁY XÔNG KHÍ DUNG VÀ XÔNG NƯỚC MUỐI SINH LÝ CHO BÉ TRƯỚC KHI ĐI NGỦ VÀ SAU KHI NGỦ DẬY HÀNG NGÀY CŨNG LÀ CÁCH PHÒNG TỐT NHẤT CHO TRẺ
www.thegioiyte.com
07:00 CH 19/12/2008
t
tinhyeucontre
Bắt chuyện
678Điểm·0Bài viết
Báo cáo