Đây là kết quả một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nature của các nhà khoa học Anh. Các nhà khoa học tại đại học Cambridge và đại học Nottingham của Anh đã giải mã được bước đầu tiên trong tiến trình kiểm soát huyết áp - sự thải ra một loại hoóc-môn được gọi là angiotensin từ protein nguồn của chúng (angiotensinogen). Trong thí nghiệm nghiên cứu, các nhà khoa học đã sử dụng một chùm tia X-quang cường độ cao nhằm phân tích cấu trúc của angiotensinogen và nhận thấy rằng nó có thể bị oxy hóa, thay đổi hình dạng thâm nhập vào một enzyme gọi là renin (thận tố). Sau đó, renin này tương tác với loại protein sản xuất ra hoóc-môn angiotensin, từ đó gây ra chứng tăng huyết áp. Qua phân tích các mẫu máu của những phụ nữ bị tiền sản giật và những những phụ nữ có huyết áp bình thường, các nhà khoa học phát hiện ra nồng độ các chất angiotensiogen bị oxy hóa cao hơn ở những phụ nữ bị tiền sản giật. Tiền sản giật là tình trạng cao huyết áp do thai kỳ đi kèm với đạm niệu. Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ và biến mất hoàn toàn sau sinh. Tuy nhiên, tiền sản giật có thể xuất hiện sớm hơn, trước tuần thứ 20 của thai kỳ, trong những trường hợp đa thai và thai trứng. Tiền sản giật là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ, tử vong thai nhi, thai chậm phát triển trong tử cung. Nếu các bà mẹ và thai nhi sống sót thì người mẹ sau đó cũng có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao, bệnh tim mạch, đột quỵ hay tiểu đường. Trong khi đó, thai nhi cũng dễ bị sinh non và có thể chậm phát triển tâm thần sau này. Các chuyên gia ước tính rằng chi phí điều trị những phụ nữ mang thai bị tiền sản giật ước tính lên tới 45 tỷ USD mỗi năm ở Mỹ, châu Âu, châu Á, Australia và New Zealand. Ở các nước đang phát triển, có khoảng 75.000 phụ nữ tử vong vì triệu chứng này mỗi năm./. http://suckhoenhaban.blogspot.com/
Sử dụng chất béo ở mức độ vừa phải, với tỷ lệ hợp lý giữa nguồn thức ăn từ động và thực vật, đồng thời tăng cường các chất chống oxy hóa được coi là một chế độ dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe hệ tim mạch nói chung và mạch vành nói riêng. Các bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước công nghiệp hóa. Bệnh cũng đang có xu hướng gia tăng ở nước ta trong thời gian gần đây. Mối quan hệ giữa bệnh tim mạch với chế độ ăn đã được quan sát từ cuối thế kỷ 19 khi con người có thể gây thực nghiệm xơ vữa động mạch trên thỏ bằng chế độ ăn nhiều cholesterol và axit béo bão hòa. Năm 1933, người ta đã phát hiện thấy các quần thể dân cư sử dụng nhiều axit béo no có nguy cơ cao bị xơ mỡ động mạch và bệnh mạch vành (CHD). Nhu cầu về chất béo Bệnh mạch vành hay bệnh tim do mạch vành là nguyên nhân gây hội chứng lâm sàng đau thắt ngực và nhiều hội chứng lâm sàng khác như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, đột tử (do mạch vành). Có tới 90% trường hợp bị bệnh mạch vành là do xơ vữa động mạch do đó có thể gọi là bệnh tim xơ vữa động mạch. Nhìn chung người ta vẫn coi một lượng thừa chất béo và năng lượng là không tốt với sức khỏe tim mạch. Cơ chế chính là do chất béo và cholesterol trong khẩu phần làm tăng lipoprotein huyết thanh, đặc biệt là thành phần lipoprotein có tỷ trọng thấp (LCL). LDL-C oxy hóa làm tăng ngưng tụ tiểu cầu và kích thích sự tăng sinh cơ trơn thành mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa. Đồng thời, LDL-C oxy hóa bị những đại thực bào bắt giữ tạo nên các tế bào bọt (foam cell), các tế bào này tích tụ lại thành mảng chất béo bám vào thành động mạch gây hẹp lòng mạch máu. Bởi vậy, có ý kiến khuyên giảm tổng chất béo thay bằng gluxit nhưng nhiều bằng chứng cho thấy thay thế các axit béo bão hòa bằng gluxit dẫn đến giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và tăng triglyxerit, ngược lại nếu thay thế bằng axit béo chưa bão hòa một nối kép (MUFA), triglyxerit huyết thanh giảm, còn HDL không thay đổi. Như vậy, chế độ ăn có lượng axit béo no thấp, axit béo chưa no một nối kép cao sẽ có lợi với sức khỏe tim mạch.
Ảnh minh họa
Dựa vào những hiểu biết hiện nay cho thấy, chất béo không phải là thành phần dinh dưỡng duy nhất có ảnh hưởng đến bệnh mạch vành nhưng vẫn là thành phần quan trọng nhất. Do vậy, lời khuyên được các nhà dinh dưỡng đưa ra: tổng số chất béo không có vai trò quan trọng đến bệnh mạch vành bằng loại chất béo cụ thể. Nên không phải kiêng hẳn chất béo mà là sử dụng chất béo ở tỷ lệ thích hợp (không quá 30% năng lượng ở các xứ lạnh và 25% ở các xứ nóng). Đồng thời, cần có tỷ lệ cân đối giữa các thành phần axit béo, các axit béo bão hòa không nên quá 7% nhu cầu năng lượng của khẩu phần. Bên cạnh mối tương quan giữa các axit béo bão hòa/chưa bão hòa có nhiều nối kép còn cần chú ý tương quan giữa các axit béo chưa bão hòa nhóm n-6 (linoleic) và nhóm n-3 (DHA và EPA). Do vậy trong chế độ ăn nên bớt chất béo từ mỡ, thịt, bơ, sữa toàn phần mà thay vào đó các axit béo chưa bão hòa từ dầu thực vật và cá. Vai trò các chất chống oxy hóa Nhiều chất chống oxy hóa đã được nghiên cứu mà trước hết là vai trò bảo vệ của vitamin E đối với sự oxy hóa LDL trong bệnh sinh xơ vữa động mạch. Bổ sung vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành ở nam và nữ. Vitamin E còn có tác dụng bảo vệ hệ thần kinh, hệ cơ xương và võng mạc mắt chống oxy hóa. Vitamin C cũng có đặc tính chống oxy hóa cao. Một số công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận về mối liên quan giữa mức vitamin C trong khẩu phần với bệnh tim mạch. Người ta thấy tác dụng của vitamin C có ở trong thức ăn tự nhiên tốt hơn ở dạng tách biệt. Beta-caroten và các carotenoid khác thường được xếp nhóm cùng với vitamin E và C như là các chất chống oxy hóa và đã có những công trình khoa học chỉ rõ mối liên quan giữa hàm lượng beta-caroten trong cơ thể với nguy cơ ung thư phổi và bệnh tim mạch ở những người hút thuốc lá. Tuy nhiên các bằng chứng này vẫn chưa nhất quán. Hiện nay, bên cạnh các chất chống oxy hóa trên, người ta còn phát hiện thấy trong một số thực phẩm mặc dù không có vai trò dinh dưỡng nhưng cũng có vai trò chống oxy hóa, đặc biệt là các bioflavonoid có ở trong chè, rượu vang, nước quả nho và ở vỏ nhiều loại quả. Lời khuyên được các nhà dinh dưỡng khuyến cáo: tăng cường sử dụng các loại rau tươi và quả là những thức ăn giàu các chất chống oxy hóa để phòng chống các bệnh tim mạch. Việc bổ sung các chất chống oxy hóa cũng như tăng cường trong chế độ ăn chỉ nên coi là liệu pháp hỗ trợ cho các biện pháp đã biết như: ngừng hút thuốc lá, giám sát huyết áp và cholesterol, tránh béo phì và tăng cường hoạt động thể lực.
Các chất hóa thực vật Các chất hóa thực vật là các phức hợp có hoạt tính sinh học tìm thấy ở quả, rau và các loại hạt nguyên vẹn. Nhiều nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng cho thấy các hợp chất này có vai trò giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư. Chẳng hạn như: flavonoid là các hợp chất đa phenol có ở rau quả, hạt có vỏ cứng, chè và rượu vang. Flavonol và flavon là các nhóm trong flavonoid có vai trò đối với bệnh tim mạch theo các cơ chế khác nhau. Đậu tương có nhiều isoflavon có tác dụng giảm cholesterol huyết thanh. Các thực phẩm thực vật có sunfua thuộc họ hành, tỏi, chủ yếu dưới dạng các dẫn xuất của cystein đã được nhiều công trình kiểm chứng cho thấy: hành và tỏi có tác dụng giảm cholesterol, giảm nguy cơ tắc mạch và ức chế ngưng tụ tiểu cầu. Đã có nghiên cứu đưa ra rằng, mỗi ngày dùng một nhánh tỏi có thể làm giảm 0,59 mmol/l (23mg/dl) cholesterol. Nguồn: http://suckhoenhaban.blogspot.com
Dấu hiệu sớm của tự kỷ 6 tháng tuổi: Không cười lớn hoặc có biểu hiện vui vẻ hay yêu thương. 9 tháng tuổi: Không phát ra các âm thanh chia sẻ qua lại, cười hoặc những biểu hiện cảm xúc qua nét mặt. 12 tháng tuổi: Không nói bập bẹ; Không có những cử chỉ giao tiếp qua lại như: chỉ, khoe, với, và vẫy; Không phản ứng với tên của mình. 14 tháng tuổi: Không chỉ vào những đồ vật để chia sẻ hứng thú (chỉ vào một chiếc máy bay bay ngang qua bầu trời). 16 tháng tuổi: Không nói được từ nào. 18 tháng tuổi: Không chơi trò chơi “giả vờ” (giả vờ cho búp bê “ăn”). 24 tháng tuổi: Không có những cụm 2 từ có nghĩa (bao gồm cả bắt chước hoặc nhắc lại); Tránh giao tiếp mắt và muốn ở một mình; Gặp vấn đề hiểu cảm xúc của người khác hoặc nói về cảm xúc của chính mình. Có những chậm trễ về những kỹ năng ngôn ngữ và lời nói; Lặp đi lặp lại từ hoặc cụm từ (nhại lời); Đưa ra những câu trả lời không phù hợp; Dễ buồn hay tức giận với những thay đổi nhỏ. Có những hứng thú mang tính chất ám ảnh. Thích mãi một thứ và bị hút vào đó không tách ra được; Vẫy tay, rung người, hoặc quay vòng tròn; Có những phản ứng bất thường với âm thanh, mùi vị, cảm nhận, hoặc hình ảnh của đồ vật. Mất đi kỹ năng đã có (lời nói, kỹ năng xã hội) ở bất cứ độ tuổi nào. Phương pháp dạy trẻ tự kỷ hiệu quả cao đã được áp dụng thành công tại hơn 100 quốc gia và mang lại hạnh phúc cho hàng trăm nghìn gia đình: http://tuvantretuky.com/2014/06/12/khoi-dau-cho-tre-tu-ky/
Đây là kết quả một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nature của các nhà khoa học Anh.
Các nhà khoa học tại đại học Cambridge và đại học Nottingham của Anh đã giải mã được bước đầu tiên trong tiến trình kiểm soát huyết áp - sự thải ra một loại hoóc-môn được gọi là angiotensin từ protein nguồn của chúng (angiotensinogen).
Trong thí nghiệm nghiên cứu, các nhà khoa học đã sử dụng một chùm tia X-quang cường độ cao nhằm phân tích cấu trúc của angiotensinogen và nhận thấy rằng nó có thể bị oxy hóa, thay đổi hình dạng thâm nhập vào một enzyme gọi là renin (thận tố). Sau đó, renin này tương tác với loại protein sản xuất ra hoóc-môn angiotensin, từ đó gây ra chứng tăng huyết áp.
Qua phân tích các mẫu máu của những phụ nữ bị tiền sản giật và những những phụ nữ có huyết áp bình thường, các nhà khoa học phát hiện ra nồng độ các chất angiotensiogen bị oxy hóa cao hơn ở những phụ nữ bị tiền sản giật.
Tiền sản giật là tình trạng cao huyết áp do thai kỳ đi kèm với đạm niệu. Tiền sản giật thường xảy ra sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ và biến mất hoàn toàn sau sinh. Tuy nhiên, tiền sản giật có thể xuất hiện sớm hơn, trước tuần thứ 20 của thai kỳ, trong những trường hợp đa thai và thai trứng.
Tiền sản giật là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ, tử vong thai nhi, thai chậm phát triển trong tử cung. Nếu các bà mẹ và thai nhi sống sót thì người mẹ sau đó cũng có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao, bệnh tim mạch, đột quỵ hay tiểu đường. Trong khi đó, thai nhi cũng dễ bị sinh non và có thể chậm phát triển tâm thần sau này.
Các chuyên gia ước tính rằng chi phí điều trị những phụ nữ mang thai bị tiền sản giật ước tính lên tới 45 tỷ USD mỗi năm ở Mỹ, châu Âu, châu Á, Australia và New Zealand. Ở các nước đang phát triển, có khoảng 75.000 phụ nữ tử vong vì triệu chứng này mỗi năm./.
http://suckhoenhaban.blogspot.com/
Sử dụng chất béo ở mức độ vừa phải, với tỷ lệ hợp lý giữa nguồn thức ăn từ động và thực vật, đồng thời tăng cường các chất chống oxy hóa được coi là một chế độ dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe hệ tim mạch nói chung và mạch vành nói riêng.
Các bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước công nghiệp hóa. Bệnh cũng đang có xu hướng gia tăng ở nước ta trong thời gian gần đây. Mối quan hệ giữa bệnh tim mạch với chế độ ăn đã được quan sát từ cuối thế kỷ 19 khi con người có thể gây thực nghiệm xơ vữa động mạch trên thỏ bằng chế độ ăn nhiều cholesterol và axit béo bão hòa. Năm 1933, người ta đã phát hiện thấy các quần thể dân cư sử dụng nhiều axit béo no có nguy cơ cao bị xơ mỡ động mạch và bệnh mạch vành (CHD).
Nhu cầu về chất béo
Bệnh mạch vành hay bệnh tim do mạch vành là nguyên nhân gây hội chứng lâm sàng đau thắt ngực và nhiều hội chứng lâm sàng khác như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, đột tử (do mạch vành). Có tới 90% trường hợp bị bệnh mạch vành là do xơ vữa động mạch do đó có thể gọi là bệnh tim xơ vữa động mạch.
Nhìn chung người ta vẫn coi một lượng thừa chất béo và năng lượng là không tốt với sức khỏe tim mạch. Cơ chế chính là do chất béo và cholesterol trong khẩu phần làm tăng lipoprotein huyết thanh, đặc biệt là thành phần lipoprotein có tỷ trọng thấp (LCL). LDL-C oxy hóa làm tăng ngưng tụ tiểu cầu và kích thích sự tăng sinh cơ trơn thành mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa. Đồng thời, LDL-C oxy hóa bị những đại thực bào bắt giữ tạo nên các tế bào bọt (foam cell), các tế bào này tích tụ lại thành mảng chất béo bám vào thành động mạch gây hẹp lòng mạch máu.
Bởi vậy, có ý kiến khuyên giảm tổng chất béo thay bằng gluxit nhưng nhiều bằng chứng cho thấy thay thế các axit béo bão hòa bằng gluxit dẫn đến giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và tăng triglyxerit, ngược lại nếu thay thế bằng axit béo chưa bão hòa một nối kép (MUFA), triglyxerit huyết thanh giảm, còn HDL không thay đổi. Như vậy, chế độ ăn có lượng axit béo no thấp, axit béo chưa no một nối kép cao sẽ có lợi với sức khỏe tim mạch.
Dựa vào những hiểu biết hiện nay cho thấy, chất béo không phải là thành phần dinh dưỡng duy nhất có ảnh hưởng đến bệnh mạch vành nhưng vẫn là thành phần quan trọng nhất. Do vậy, lời khuyên được các nhà dinh dưỡng đưa ra: tổng số chất béo không có vai trò quan trọng đến bệnh mạch vành bằng loại chất béo cụ thể. Nên không phải kiêng hẳn chất béo mà là sử dụng chất béo ở tỷ lệ thích hợp (không quá 30% năng lượng ở các xứ lạnh và 25% ở các xứ nóng). Đồng thời, cần có tỷ lệ cân đối giữa các thành phần axit béo, các axit béo bão hòa không nên quá 7% nhu cầu năng lượng của khẩu phần. Bên cạnh mối tương quan giữa các axit béo bão hòa/chưa bão hòa có nhiều nối kép còn cần chú ý tương quan giữa các axit béo chưa bão hòa nhóm n-6 (linoleic) và nhóm n-3 (DHA và EPA). Do vậy trong chế độ ăn nên bớt chất béo từ mỡ, thịt, bơ, sữa toàn phần mà thay vào đó các axit béo chưa bão hòa từ dầu thực vật và cá.
Vai trò các chất chống oxy hóa
Nhiều chất chống oxy hóa đã được nghiên cứu mà trước hết là vai trò bảo vệ của vitamin E đối với sự oxy hóa LDL trong bệnh sinh xơ vữa động mạch. Bổ sung vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành ở nam và nữ. Vitamin E còn có tác dụng bảo vệ hệ thần kinh, hệ cơ xương và võng mạc mắt chống oxy hóa.
Vitamin C cũng có đặc tính chống oxy hóa cao. Một số công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận về mối liên quan giữa mức vitamin C trong khẩu phần với bệnh tim mạch. Người ta thấy tác dụng của vitamin C có ở trong thức ăn tự nhiên tốt hơn ở dạng tách biệt.
Beta-caroten và các carotenoid khác thường được xếp nhóm cùng với vitamin E và C như là các chất chống oxy hóa và đã có những công trình khoa học chỉ rõ mối liên quan giữa hàm lượng beta-caroten trong cơ thể với nguy cơ ung thư phổi và bệnh tim mạch ở những người hút thuốc lá. Tuy nhiên các bằng chứng này vẫn chưa nhất quán.
Hiện nay, bên cạnh các chất chống oxy hóa trên, người ta còn phát hiện thấy trong một số thực phẩm mặc dù không có vai trò dinh dưỡng nhưng cũng có vai trò chống oxy hóa, đặc biệt là các bioflavonoid có ở trong chè, rượu vang, nước quả nho và ở vỏ nhiều loại quả.
Lời khuyên được các nhà dinh dưỡng khuyến cáo: tăng cường sử dụng các loại rau tươi và quả là những thức ăn giàu các chất chống oxy hóa để phòng chống các bệnh tim mạch. Việc bổ sung các chất chống oxy hóa cũng như tăng cường trong chế độ ăn chỉ nên coi là liệu pháp hỗ trợ cho các biện pháp đã biết như: ngừng hút thuốc lá, giám sát huyết áp và cholesterol, tránh béo phì và tăng cường hoạt động thể lực.
Các chất hóa thực vật
Các chất hóa thực vật là các phức hợp có hoạt tính sinh học tìm thấy ở quả, rau và các loại hạt nguyên vẹn. Nhiều nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng cho thấy các hợp chất này có vai trò giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư. Chẳng hạn như: flavonoid là các hợp chất đa phenol có ở rau quả, hạt có vỏ cứng, chè và rượu vang. Flavonol và flavon là các nhóm trong flavonoid có vai trò đối với bệnh tim mạch theo các cơ chế khác nhau. Đậu tương có nhiều isoflavon có tác dụng giảm cholesterol huyết thanh.
Các thực phẩm thực vật có sunfua thuộc họ hành, tỏi, chủ yếu dưới dạng các dẫn xuất của cystein đã được nhiều công trình kiểm chứng cho thấy: hành và tỏi có tác dụng giảm cholesterol, giảm nguy cơ tắc mạch và ức chế ngưng tụ tiểu cầu. Đã có nghiên cứu đưa ra rằng, mỗi ngày dùng một nhánh tỏi có thể làm giảm 0,59 mmol/l (23mg/dl) cholesterol.
Nguồn: http://suckhoenhaban.blogspot.com
6 tháng tuổi: Không cười lớn hoặc có biểu hiện vui vẻ hay yêu thương.
9 tháng tuổi: Không phát ra các âm thanh chia sẻ qua lại, cười hoặc những biểu hiện cảm xúc qua nét mặt.
12 tháng tuổi: Không nói bập bẹ; Không có những cử chỉ giao tiếp qua lại như: chỉ, khoe, với, và vẫy; Không phản ứng với tên của mình.
14 tháng tuổi: Không chỉ vào những đồ vật để chia sẻ hứng thú (chỉ vào một chiếc máy bay bay ngang qua bầu trời).
16 tháng tuổi: Không nói được từ nào.
18 tháng tuổi: Không chơi trò chơi “giả vờ” (giả vờ cho búp bê “ăn”).
24 tháng tuổi: Không có những cụm 2 từ có nghĩa (bao gồm cả bắt chước hoặc nhắc lại); Tránh giao tiếp mắt và muốn ở một mình; Gặp vấn đề hiểu cảm xúc của người khác hoặc nói về cảm xúc của chính mình.
Có những chậm trễ về những kỹ năng ngôn ngữ và lời nói; Lặp đi lặp lại từ hoặc cụm từ (nhại lời); Đưa ra những câu trả lời không phù hợp; Dễ buồn hay tức giận với những thay đổi nhỏ. Có những hứng thú mang tính chất ám ảnh. Thích mãi một thứ và bị hút vào đó không tách ra được; Vẫy tay, rung người, hoặc quay vòng tròn; Có những phản ứng bất thường với âm thanh, mùi vị, cảm nhận, hoặc hình ảnh của đồ vật.
Mất đi kỹ năng đã có (lời nói, kỹ năng xã hội) ở bất cứ độ tuổi nào.
Phương pháp dạy trẻ tự kỷ hiệu quả cao đã được áp dụng thành công tại hơn 100 quốc gia và mang lại hạnh phúc cho hàng trăm nghìn gia đình: http://tuvantretuky.com/2014/06/12/khoi-dau-cho-tre-tu-ky/
Nếu như cháu có các dấu hiệu như trong bài viết này thì mới đáng ngại và nên cho đến trung tâm y tế khám xét ngay