Phương pháp tính là lấy tuổi theo âm lịch của cha và mẹ và tháng thụ thai để tính. Nếu khi có bầu mà người mẹ ở tuổi chẵn: 20, 22, 24, 26… thì vẽ 2 vạch ngắn liền nhau (--). Nếu ở tuổi lẻ như 21, 23, 25… thì vẽ 1 vạch dài ( _ ). Đối với người bố cũng thế. Tiếp theo là tháng thụ thai. Nếu tháng thụ thai là tháng lẻ thì 1 vạch dài, tháng chẵn thì 2 vạch ngắn. Lưu ý là tháng thụ thai cũng tính theo âm lịch và tuổi âm lịch thì phải cộng thêm cả tuổi Mụ, ví dụ sinh năm 1986 thì sang năm 2013 là 27 theo dương lịch nhưng là 28 theo âm lịch. Tính được các vạch ngắn dài rồi thì ta sắp xếp lại. Xếp vạch ứng với tuổi bố ở trên, mẹ ở dưới và chèn vào giữa là vạch ứng với tháng thụ thai của đứa trẻ. Nếu tạo thành các quẻ dương thì sẽ sinh con trai, ngược lại thì sinh con gái. Để dễ nhớ thì ta tóm lược, nếu tuổi của bố, mẹ và tháng thụ thai tạo thành: 2 chẵn 1 lẻ là con trai, 2 lẻ 1 chẵn là con gái, 3 chẵn là con gái, 3 lẻ là con trai. Đây là phương pháp để người ta đoán một người mang bầu sẽ sinh ra con trai hay con gái trong thời đại chưa có máy siêu âm. Lâu dần, dựa vào cách toán quẻ này, người ta ứng dụng thành phương pháp để sinh con theo ý muốn. Tuổi bố và tuổi mẹ là đã biết trước, vậy chỉ cần chọn tháng thụ thai làm sao để tạo ra quẻ dương. Phương pháp tính theo tuổi Lấy tổng tuổi của vợ chồng theo Âm lịch trừ đi 40. Nếu số dư trên 40 tiếp tục trừ đi 40. Đem số dư còn lại đầu tiên trừ 9, tiếp tục trừ 8, lại trừ 9, trừ 8… cho đến khi số dư nhỏ hơn hoặc bằng 9 thì thôi. Nếu hiệu số cuối cùng là số chẵn thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con trai còn thụ thai ngoài năm, sinh trong năm thì sẽ là con gái. Nếu hiệu số cuối cùng là số lẻ thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con gái. Ngược lại thụ thai ngoài năm, sinh trong năm là con trai. Ví dụ tuổi bố theo âm lịch là 30, mẹ là 25 ta có tổng là 55. Đem trừ đi 40 còn 15. Trừ tiếp cho 9 thì còn 6. Đây là số chẵn. Vậy thụ thai trong năm và sinh trong năm thì sẽ là con trai còn thụ thai từ năm trước và đến năm nay sinh thì sẽ là con gái.
Bảng tính giờ và tháng thụ thai.
Bên cạnh đó, cũng có một phương pháp nữa dựa theo phép cộng trừ tính toán tuổi mẹ với tháng sinh con dựa theo một bài ca quyết chưa rõ xuất xứ:
49 từ xưa đã định rồi.
Cộng vào tháng đẻ để mà chơi.
Trừ đi tuổi mẹ bao nhiêu đấy!
Thêm vào 19 để chia đôi.
Tính tuổi trăng tròn cho thật chuẩn.
Chẵn trai, lẻ gái đúng mười mười.
Theo cách mà bài ca quyết này chỉ dẫn thì ta lấy 49 cộng với tháng sinh lại cộng với 19 rồi trừ đi tuổi người mẹ (theo âm lịch). Được bao nhiêu đem chia đôi, nếu chia hết thì ta gọi là số chẵn, chia không hết thì là số lẻ. Kết quả chẵn sẽ sinh con trai, lẻ sinh con gái. Ví dụ, người mẹ 27 tuổi, sẽ sinh vào tháng 10. Ta lấy 49 + 10 + 19 = 78. 78 – 27 = 51. 51/2 = 25,5. Kết quả này là số lẻ. Vậy người mẹ 27 tuổi mà sinh con vào tháng 10 sẽ là con gái theo cách tính trên. Ngoài ra, trong lịch vạn sự có bảng tổng kết về “Tháng thụ thai sinh con trai hay con gái”. Người ta truyền tụng rằng bảng tổng kết này là do các thái giám trong cung đình xưa tổng kết mà thành. Các phương pháp này lưu truyền trong dân gian, sự đúng sai ra sao chưa ai dám khẳng định. Nay tác giả sưu tầm và dẫn lại để bạn đọc trước hết biết thêm cách làm đời xưa. Nếu có ai may mắn áp dụng thành công thì âu cũng là một điều vui mừng, đỡ được nạn nạo phá thai vừa hại người vừa ảnh hưởng đến phúc đức.
Nguyên liệu: Nghêu: 1kg; Rong biển sợi: 10g; Đậu hũ non: ½ miếng; Ngò rí: 5 cây; Gừng, bột năng, tiêu; Hạt nêm.
Cách làm:
- Nghêu ngâm rửa sạch, luộc vừa chín, tách lấy thịt nghêu, lọc 200ml nước luộc nghêu giữ lại. Rong biển ngâm nở, rửa sạch. - Đậu hũ non cắt hạt lựu. Ngò rí cắt nhỏ. Gừng gọt vỏ, cắt sợi. Hòa tan 1M bột năng với ½ chén nước. - Lấy 200ml nước luộc nghêu và 800ml nước lọc vào nồi, đun sôi, cho thịt nghêu và đậu hũ vào, nêm 1M hạt nêm, thêm rong biển và 1m gừng cắt sợi vào, nếm vị vừa ăn. Giảm nhỏ lửa, cho nước bột năng vào từ từ đến khi nước súp sánh lại, thêm ngò rí, tắt bếp. - Múc súp nghêu rong biển ra tô, rắc thêm tiêu, dùng nóng.
Mách nhỏ:
Không nên luộc nghêu quá lâu, nghêu sẽ mất nước và bị dai. Sau khi cho rong biển vào phải nấu nhanh và tắt bếp để rong biển không bị nát.
Cúm thường phổ biến vào mùa lạnh, không khí ẩm khiến virus cúm lây lan nhanh hơn. Đối với phụ nữ mang thai virus cúm là kẻ thù rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây biến chứng dẫn đến những hậu quả khôn lường cho thai nhi. Do đó việc tiêm phòng cúm khi mang thai là rất cần thiết.
Các bà bầu khi cảm thấy cơ thể có các dấu hiệu bị cúm cần phải đến gặp bác sĩ ngay lập tức. Tỷ lệ thai nhi tử vong và biến chứng nếu mẹ bị cúm là rất lớn. Những biến chứng này không chỉ gây nguy hiểm cho mẹ mà còn có thể gây nên tình trạng sinh non, thậm chí chết yểu ở thai nhi.
Dưới đây là 4 lý do mà phụ nữ mang thai bắt buộc phải tiêm phòng cúm:
Thứ nhất, khi mang thai hệ miễn dịch cơ thể hoạt động kém hiệu quả do những thay đổi nội tiết trong thời kỳ thai nghén, do đó làm giảm khả năng chống lại sự lây nhiễm của vi khuẩn và virus cúm, tỷ lệ bị vi khuẩn và virus cúm tấn công là rất lớn.
Thứ hai, trong thời kỳ thai nghén, cơ thể phụ nữ sinh ra một loại hormone đặc biệt có tên là progesterone. Loại hormone này có thể gây nên ứ máu mao mạch, sưng niêm mạc mũi và họng, tạo điều kiện cho virus tấn công cơ thể mẹ và lây lan đến thai nhi nhanh chóng.
Thứ ba, hệ thống hô hấp của phụ nữ có những thay đổi vật lý đáng kể trong thời kỳ thai nghén. Vào những tháng cuối của thai kỳ, do thai nhi lớn lên, tử cung to ra, chèn ép vào phổi, làm cho người mẹ mang thai hay khó thở, thường thở nông và nhanh. Mặt khác, nhu cầu oxy ở phụ nữ có thai cao hơn nhiều so với phụ nữ không mang thai. Nếu bị nhiễm virus cúm và phổi bị niêm mạc, bà bầu cám thẩy khó thở hơn rất nhiều so với bình thường, lượng oxy cung cấp cho cơ thể không đủ có thể dẫn đến thai nhi bị chết non.
Cuối cùng, cúm có thể dẫn đến nhiều biến chứng khác ở phụ nữ mang thai như viêm phổi cấp do vi khuẩn, nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến dị tật, sảy thai, nhiễm độc thai nghén…
Hiện nay, có rất nhiều chị em phiền lòng với vòng 1 siêu phẳng. Thay vì phải bỏ rất nhiều tiền để phẫu thuật thẩm mỹ, chúng ta có thể làm tăng số đo vòng một nhờ thực phẩm.
Đậu nành
Genistein và isoflavones có trong các sản phẩm đậu nành có thể thay đổi kích thước và hình dạng của bầu ngực. Vì thế, bạn nên kết thân với nhiều loại thực phẩm chế biến từ đậu nành như đậu phụ, sữa... để vòng 1 luôn căng tràn sức sống.
Cam thảo
Phụ nữ ăn nhiều cam thảo có thể làm gia tăng mức độ estrogen và prolactin - hormone tiết sữa. Nên ăn cam thảo tự nhiên là tốt nhất vì kẹo cam thảo trên thị trường có mùi vị nhân tạo và không chứa các hợp chất quan trọng như cam thảo tự nhiên.
Rau thìa là
Sản phẩm động vật
Tất cả các sản phẩm động vật như: sữa, thịt và trứng đều có chứa hàm lượng hormone sinh sản như estrogen và progesterone. Thường xuyên ăn sản phẩm động vật có thể làm tăng kích thước bầu ngực.
Bài 1: Nhân sâm 10g, bạch truật 10g, hoàng kỳ 10g, cam thảo 3g, trần bì 10g, quế tâm 10g, đương quy 12g, thục địa hoàng 15g, ngũ vị tử 6g, phục linh 12g, viễn chí 10g, bạch thược 12g, gừng tươi 3 lát. Táo đỏ 2 quả. Dùng nước sắc nấu tất cả 14 vị thuốc trên. Lấy nước thuốc, bỏ bã thuốc. Uống mỗi ngày 1 thang, uống liền 2 tuần lễ (14 thang). Uống nước thuốc trước bữa cơm, ba lần một ngày.
Bài 2: Thạch liên nhục 24g, bạch phục linh 24g, hoàng kỳ 24g, hoàng cầm 30g, mạch đông 30g, địa cốt bì, xa tiền tử 30g, cam thảo 30g.
Trước hết đem hoàng kỳ sao với mật ong, xa tiền tử sao sơ qua. Sau đó đem tất cả dược vật cùng tán thành bột mịn hỗn hợp. Mỗi lần dùng từ 6 - 15g bột thuốc trước bữa cơm, ba lần một ngày.
Phương pháp này có thể giải trừ sự suy sụp của tinh thần, làm cho tinh thần con người sảng khoái, nên có thể khiến ngực nở nang. Ngoài ra vì phương này còn có thể chữa trị huyết trắng nhiều và có tác dụng thanh nhiệt, cho nên loại trừ được chứng hôi nách, hôi miệng.
Người xưa dựa trên các quẻ âm và quẻ dương để tính một đứa trẻ sắp sinh ra là con trai hay con gái.
Trong quan niệm về đường con cái, người Việt cho “có nếp có tẻ” mới là đẹp. Bởi thế, từ xưa dân ta đã quan tâm và tìm nhiều cách để điều chỉnh kết quả sinh con mà ngày nay ta gọi là thuật sinh con theo ý muốn.
Dựa theo các quẻ Bát Quái
Bát Quái có 8 quẻ chính là Càn, Khôn, Đoài, Tốn, Khảm, Chấn, Ly, Cấn. Các quẻ này lại chia ra thành các quẻ dương và quẻ âm. Các quẻ dương là Càn, Khảm, Cấn, Chấn. Còn lại các quẻ âm là: Khôn, Đoài, Tốn, Ly. Người xưa dựa trên các quẻ âm và quẻ dương vừa nêu để tính một đứa trẻ sắp sinh ra là con trai hay con gái.
Sinh con trai, dễ hơn sinh con gái?
8 kiểu phụ nữ dễ sinh con trai
Kiêng tắm 38 năm... để mong sinh con trai
Nên đọc
Phương pháp tính là lấy tuổi theo âm lịch của cha và mẹ và tháng thụ thai để tính. Nếu khi có bầu mà người mẹ ở tuổi chẵn: 20, 22, 24, 26… thì vẽ 2 vạch ngắn liền nhau (--). Nếu ở tuổi lẻ như 21, 23, 25… thì vẽ 1 vạch dài ( _ ). Đối với người bố cũng thế. Tiếp theo là tháng thụ thai. Nếu tháng thụ thai là tháng lẻ thì 1 vạch dài, tháng chẵn thì 2 vạch ngắn. Lưu ý là tháng thụ thai cũng tính theo âm lịch và tuổi âm lịch thì phải cộng thêm cả tuổi Mụ, ví dụ sinh năm 1986 thì sang năm 2013 là 27 theo dương lịch nhưng là 28 theo âm lịch.
Tính được các vạch ngắn dài rồi thì ta sắp xếp lại. Xếp vạch ứng với tuổi bố ở trên, mẹ ở dưới và chèn vào giữa là vạch ứng với tháng thụ thai của đứa trẻ. Nếu tạo thành các quẻ dương thì sẽ sinh con trai, ngược lại thì sinh con gái. Để dễ nhớ thì ta tóm lược, nếu tuổi của bố, mẹ và tháng thụ thai tạo thành: 2 chẵn 1 lẻ là con trai, 2 lẻ 1 chẵn là con gái, 3 chẵn là con gái, 3 lẻ là con trai.
Đây là phương pháp để người ta đoán một người mang bầu sẽ sinh ra con trai hay con gái trong thời đại chưa có máy siêu âm. Lâu dần, dựa vào cách toán quẻ này, người ta ứng dụng thành phương pháp để sinh con theo ý muốn. Tuổi bố và tuổi mẹ là đã biết trước, vậy chỉ cần chọn tháng thụ thai làm sao để tạo ra quẻ dương.
Phương pháp tính theo tuổi
Lấy tổng tuổi của vợ chồng theo Âm lịch trừ đi 40. Nếu số dư trên 40 tiếp tục trừ đi 40. Đem số dư còn lại đầu tiên trừ 9, tiếp tục trừ 8, lại trừ 9, trừ 8… cho đến khi số dư nhỏ hơn hoặc bằng 9 thì thôi. Nếu hiệu số cuối cùng là số chẵn thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con trai còn thụ thai ngoài năm, sinh trong năm thì sẽ là con gái. Nếu hiệu số cuối cùng là số lẻ thì thụ thai trong năm, sinh trong năm là con gái. Ngược lại thụ thai ngoài năm, sinh trong năm là con trai.
Ví dụ tuổi bố theo âm lịch là 30, mẹ là 25 ta có tổng là 55. Đem trừ đi 40 còn 15. Trừ tiếp cho 9 thì còn 6. Đây là số chẵn. Vậy thụ thai trong năm và sinh trong năm thì sẽ là con trai còn thụ thai từ năm trước và đến năm nay sinh thì sẽ là con gái.
Bên cạnh đó, cũng có một phương pháp nữa dựa theo phép cộng trừ tính toán tuổi mẹ với tháng sinh con dựa theo một bài ca quyết chưa rõ xuất xứ:
Theo cách mà bài ca quyết này chỉ dẫn thì ta lấy 49 cộng với tháng sinh lại cộng với 19 rồi trừ đi tuổi người mẹ (theo âm lịch). Được bao nhiêu đem chia đôi, nếu chia hết thì ta gọi là số chẵn, chia không hết thì là số lẻ. Kết quả chẵn sẽ sinh con trai, lẻ sinh con gái. Ví dụ, người mẹ 27 tuổi, sẽ sinh vào tháng 10. Ta lấy 49 + 10 + 19 = 78. 78 – 27 = 51. 51/2 = 25,5. Kết quả này là số lẻ. Vậy người mẹ 27 tuổi mà sinh con vào tháng 10 sẽ là con gái theo cách tính trên.
Ngoài ra, trong lịch vạn sự có bảng tổng kết về “Tháng thụ thai sinh con trai hay con gái”. Người ta truyền tụng rằng bảng tổng kết này là do các thái giám trong cung đình xưa tổng kết mà thành.
Các phương pháp này lưu truyền trong dân gian, sự đúng sai ra sao chưa ai dám khẳng định. Nay tác giả sưu tầm và dẫn lại để bạn đọc trước hết biết thêm cách làm đời xưa. Nếu có ai may mắn áp dụng thành công thì âu cũng là một điều vui mừng, đỡ được nạn nạo phá thai vừa hại người vừa ảnh hưởng đến phúc đức.
• Để việc rửa chén trở nên dễ dàng hơn, bạn hãy thêm vài muỗng giấm vào nước rửa chén. Giấm sẽ giúp tẩy sạch dầu mỡ nhanh hơn, đồng thời khiếnchén đĩa trông sáng và sạch hơn.
• Để rửa sạch những vết dơ của đồ ăn trong lò vi sóng, hãy rải một chút muối lên vết dơ khi nó vừa dính lên lò. Đợi đến khi lò nguội, dùng miếng bọt biển ẩm chùi sạch.
• Để làm sạch miếng bọt biển, hãy xả sạch nó bằng nước, sau đó bỏ vào lò vi sóng lúc còn ướt. Khi bạn nhìn thấy hơi nước bốc lên từ miếng bọt biển, đó là lúc các vi khuẩn đang chết dần. Hãy cẩn thận lấy miếng bọt biển ra khỏi lò vi sóng, vì nó còn rất nóng. Nhớ xả sạch miếng bọt biển một lần nữa trước khi sử dụng. Lưu ý: chỉ áp dụng cho những miếng bọt biển không có các thành phần làm từ kim loại.
• Để làm sạch những vết ố trên ly, tách hoặc ấm nước, hãy cho vào một ít giấm và đun sôi. Giữ cho giấm sôi nhẹ khỏang 10 phút rồi rửa sạch lại bằng nước sạch.
• Để làm sạch vết dơ phía trong ấm trà hoặc vết cà phê, hãy dùng khăn thấm chút nước chanh chùi sạch, để qua đêm rồi rửa lại bằng xà phòng.
• Để làm sáng bồn rửa chén, dùng nửa tách muối pha vào nước trong bồn rửa chén và dùng nửa trái chanh chà sạch phía trong bồn. Để khỏang 10 phút rồi rửa lại bằng nước
• Để tránh cho các hộp nhựa bị ố màu do những thức ăn có vị chua, có thể thoa dầu thực vật bên trong hộp trước khi cho thức ăn vào.
• Để làm sạch bề mặt bếp nấu, dùng 1 phần thuốc tẩy pha với 3 phần nước, cho vào bình xịt. Dung dịch này sẽ làm sạch các vết dơ và tẩy trùng cho bề mặt bếp.
• Để làm giảm mùi thức ăn trong nhà bếp, dùng bông thấm hương vanilla cho vào tủ lạnh hoặc đặt trong bếp để khử mùi.
Nguyên liệu:
Nghêu: 1kg; Rong biển sợi: 10g; Đậu hũ non: ½ miếng; Ngò rí: 5 cây; Gừng, bột năng, tiêu; Hạt nêm.
Cách làm:
- Nghêu ngâm rửa sạch, luộc vừa chín, tách lấy thịt nghêu, lọc 200ml nước luộc nghêu giữ lại. Rong biển ngâm nở, rửa sạch.
- Đậu hũ non cắt hạt lựu. Ngò rí cắt nhỏ. Gừng gọt vỏ, cắt sợi. Hòa tan 1M bột năng với ½ chén nước.
- Lấy 200ml nước luộc nghêu và 800ml nước lọc vào nồi, đun sôi, cho thịt nghêu và đậu hũ vào, nêm 1M hạt nêm, thêm rong biển và 1m gừng cắt sợi vào, nếm vị vừa ăn. Giảm nhỏ lửa, cho nước bột năng vào từ từ đến khi nước súp sánh lại, thêm ngò rí, tắt bếp.
- Múc súp nghêu rong biển ra tô, rắc thêm tiêu, dùng nóng.
Mách nhỏ:
Không nên luộc nghêu quá lâu, nghêu sẽ mất nước và bị dai. Sau khi cho rong biển vào phải nấu nhanh và tắt bếp để rong biển không bị nát.