Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Người tình Bắc Hải
Đêm tân hôn, tại phòng trăng mật ở một khách sạn Thượng Hải, dưới ánh đèn ngủ màu hồng, anh ngắm cô rất lâu, xoa đầu cô, nghịch tai cô, hôn chóp mũi cô, hít mùi hương ngây ngất trên cơ thở cô, giống như sở hữu một báu vật quý giá không nỡ chạm vào, lại sợ sẽ biến đi trong chớp mắt, anh cứ hỏi cô mãi: “Mao Mao, đây là thật ư?”
Lúc đó Mao Lệ nhìn anh, lòng cũng thầm hỏi, đây là thật ư? Cuộc hôn nhân đến quá đột ngột, cô chưa hề chuẩn bị đầy đủ tâm lý, ánh mắt anh khiến cô hơi hoảng, nụ hôn của anh khiến cô sợ hãi, tất cả những thứ anh trao cô đều quá mãnh liệt, giống như một thỏi sô cô la đặc quánh không tan, cô không thoát được, chỉ thấy ngột thở. Tâm trạng cô do vậy rất xấu, buồn vui thất thường, vô duyên vô cớ tìm anh trút giận, mới chưa hết tuần trăng mật, quan hệ hai người đã lạnh như băng.
Khi cô tức giận, anh đứng một mình hút thuốc ở ban công, quay lưng về phía cô, giọng nhỏ trầm, cơ hồ run run tự hỏi: “Có phải mình đã sai lầm…”
Thực ra quá trình quen Chương Kiến Phi rất đơn giản, Chương Kiến Phi là bạn cùng trường với anh trai Mao Lệ hồi còn du học ở Anh, sau khi tốt nghiệp Mao Tấn về nước giúp cha công việc kinh doanh, Chương kiến Phi đến Thượng Hải vì chuyện làm ăn, Mao Lệ quen anh qua Mao Tấn.
Ở Thượng Hải Mao Tấn sống như ông hoàng, có hẳn một phòng chứa quần áo, phòng giải trí, phòng xem phim, nghe nhạc, không thiếu thứ gì, lại còn có một kho xe riêng, hai người giúp việc, một cuộc sống quá an nhàn vương giả. Mẹ Mao Lệ lên Thượng Hải chứng kiến, mặc dù không cam lòng, nhưng đành bó tay trước hiện thực tàn khốc, con gái đi theo bà phải chịu khổ từ nhỏ, cả năm không được mặc bộ quần áo mới, đánh mất cái bút chì còn bị đánh, bà không có quyền bắt con sống khổ mãi.
Vậy là cuối cùng bà đồng ý để Mao Lệ lên Thượng Hải học đại học, ơn trời, Mao Lệ lại thi đỗ đại, không cần cha cô bỏ tiền mua. Ít nhiều cũng khiến mẹ cô hãnh diện. Mao Lệ là báu vật của cha và anh, đi đến đâu họ cũng tranh nhau đưa cô đi cùng, Mao Lệ trở thành thiên kim tiểu thư nổi tiếng của trường đại học F. Có một dạo, muốn trải nghiệm cảm giác mới mẻ, cô chuyển vào sống trong ký túc xá. Cha cô hàng ngày sai giúp việc mang đến trường cho cô đồ ăn ngon, quần áo đã là ủi phẳng phiu, cô chỉ hắt hơi cũng có người báo với ông. Anh cô càng vô nguyên tắc, có lúc cô đang học trên giảng đường cũng gọi ra ngoài đi chơi, dạy chơi goll, cưỡi ngựa, đua xe, buổi tối chưa chơi đến một, hai giờ sáng chưa đưa cô về trường. Những ngày đó thật quá ngông cuồng, Mao Lệ chơi quen, bài vở xao nhãng, mỗi kỳ thi môn nào cũng nợ, nhưng không hề ảnh hưởng đến mơ ước lý tưởng của cô___lấy chồng.
Quen Chương Kiến Phi, rõ ràng càng đẩy nhanh tiến trình thực hiện ước mơ đó. Có điều người cô muốn lấy hồi đó không phải là Chương Kiến Phi, hồi đó cô đã có bạn trai, cũng là sinh viên cùng trường, tên là Ngô Kiến Ba, nghiên cứu sinh khoa Vật lý. Có thể nói, chàng nghiên cứu sinh nghèo đến từ vùng núi xa xôi có ngoại hình rất bình thường đó đã dạy cô bài học vỡ lòng về tình yêu, mà lại là “bài học” xương máu. Mao Lệ đi lại với anh ta, làm nổ mắt tất cả bạn bè người quen trong trường. Cũng cần nói thêm, những chàng theo đuổi cô hồi đó có thể xếp một hàng dài từ thư viện ra tới cổng trường, thiên kim tiểu thư, trẻ đẹp khả ái, chỉ cần được nói với cô vài câu đã là giấc mơ của bao chàng sinh viên.
Nhưng con người luôn lạ lùng như vậy, Mao Lệ cũng không biết dây thần nào của mình trục trặc, lại để mắt đến anh chàng nghèo suốt ngày lầm lì không nói một câu, cô đương nhiên biết khoảng cách giữa cô và Ngô Kiến Ba. Qua những ánh mắt kinh ngạc của bạn bè, cô biết lựa chọn bạn trai của cô rõ ràng quá bất thường, chọn mãi, cuối cùng chọn đúng một con “gà bốn mắt” (Ngô Kiến Ba cận thị nặng). Mao Lệ chỉ cười, cô đã chuẩn bị sẵn tâm lý đối phó với mọi châm chọc dèm pha của bạn bè. Từ nhỏ cô đã là kiểu người bảo một đằng nhất định làm một nẻo, câu nói, tính cách quyết định số phận, quả không sai.
Mao Lệ sở dĩ chọn Ngô Kiến Ba là do tính khí ương ngạnh bẩm sinh, càng bị bạn bè phản đối, gia đình càng ngăn cản, cô càng bất chấp. Kết quả bị Ngô Kiến Ba lừa cả tình lẫn tiền, anh ta không chỉ giấu cô đính hôn với người yêu ở quê nhà, mà còn vung tay tiêu tiền của cô. Mao Lệ vốn hào phóng không chỉ lén cho tiền, còn để phần anh ta tất cả những đồ ăn ngon cha cô đưa vào, khiến Mao Tấn tức điên, một lần Mao Lệ bị Ngô Kiến Ba làm cho tức phát khóc, anh giận tím mặt, nhờ người tìm gã đánh cho một trận. Mao Lệ biết tin, đi tìm anh trai hỏi tội. Lúc đó Mao Tấn đang cùng bạn bè tụ tập hát hò, Mao Lệ đột nhiên xông vào, đấm đá anh túi bụi, trong lúc hỗn loạn, vớ cái gạt tàn ném vào mặt anh. Lúc đó nhìn thấy Mao Tấn mặt đầy máu, cô quá hoảng sợ, được một chàng trai mặc sơ mi trắng kéo ra ngoài, đẩy lên một chiếc xe nhỏ đỗ bên đường. Lúc đó thấy anh trai chảy nhiều máu như vậy, cô vừa sợ vừa ân hận gào khóc đến mệt lả, cuối cùng ngất đi.
Khi tỉnh lại, Mao Lệ phát hiện mình nằm ở một căn phòng lạ, giống như khách sạn. Rèm cửa kéo kín, xunh quanh lờ mờ nhìn không rõ. Cô vùng dậy, đi đến kéo rèm cửa, rõ ràng đã rất khuya, bên ngoài là một thắng cảnh huy hoàng, cả một bầu trời đầy sao in xuống sông Hoàng Phố, ánh đèn trên bờ hắt xuống mặt sông rực rỡ, trên bờ là cả một dòng sông ánh đèn xe hơi sáng rực uốn lượn quanh co.
“Em tỉnh rồi ?” Sau lưng là một giọng nói nhẹ nhàng.
Mao Lệ quay người, chỉ thấy dưới ánh đèn màu vàng cam từ trên tường hắt xuống, một chàng trai trẻ vận sơ mi trắng tay bê một khay thức ăn, mỉm cười nhìn cô. Anh ta dáng cao, khí chất nho nhã, đặt chiếc khay xuống thong thả đến bên cô, một đôi mắt sâu như vực thẳm lóng lánh tựa ánh sao nhìn cô nói. “Ăn một chút đi, em rất yếu.”
Mao Lệ ngạc nhiên nhìn anh ta.
“Yên tâm, anh trai em không sao, đã được đưa vào bệnh viện.” Anh rất tinh tế, hiểu nỗi lo của cô.
Mái tóc dài của Mao Lệ xõa tung, khuôn mặt trắng như tuyết ửng hồng bởi ánh đèn màu ngoài cửa sổ hắt vào, trong mắt như có ánh sao di động, cô ngước nhìn anh, giọng khàn, khô chát nói rất nhỏ, “Anh là ai?”
Người đó mỉm cười, “Anh là Chương Kiến Phi, bạn của Mao Tấn.”
Chương Kiến Phi theo đuổi Mao Lệ theo cách thức hết sức đặc biệt, không suốt ngày bám riết, tặng hoa, tặng quà theo kiểu thông thường, chỉ lặng lẽ đứng ở bất cứ chỗ nào có thể nhìn thấy cô, chăm sóc, chiều chuộng tinh tế chu đáo hơn cả anh trai cô. Anh có thể làm mọi việc vì cô. Lần đó Mao Lệ và mấy cô bạn cùng phòng chơi rất khuya trên đường Nam Kinh, Chương Kiến Phi hộ tống từ đầu đến cuối, ăn xong đưa các cô đi hát, trên đường Mao Lệ đột nhiên thấy kinh nguyệt, trong lúc luống cuống cô bảo Chương Kiến Chi đi mua giúp băng vệ sinh. Chương Kiến Phi không nói nửa lời, phóng xe đi, không biết cô dùng loại gì, mỗi loại anh mua một túi mang về, khiến các cô gái xunh quanh trố mắt.
Khi nghe nói chuyện đó Mao Tấn cảm thấy không thể tin nổi, hỏi anh tại sao lại làm như thế, Chương Kiến Phi nói, “Yêu một người là muốn làm tất cả cho người đó, việc gì có thể là làm chẳng cần lý do, đó chính là yêu.”
Những gì Chương Kiến Phi làm cho Mao Lệ không chỉ có thế, để luôn ở bên chăm sóc Mao Lệ, anh đã mua nhà, mua xe ở Thượng Hải, chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài ở đây. Dù bận đến mấy, chỉ cần Mao Lệ gọi, anh đều lập tức đến ngay. Có lần anh đang thảo luận hợp đồng với một khách hàng lớn người Nhật, thì Mao Lệ gọi điện muốn anh đưa đi xem triển lãm khoa học kỹ thuật, Chương Kiến Phi không nói một câu, bỏ mặc khách hàng đi đón cô, khiến vị khách tức giận bỏ về, công ty tổn thất một đơn hàng mấy triệu đồng. Ngay Mao Tấn cũng không tán thành, “Theo đuổi phụ nữ không phải kiểu đó, mặc dù nó là em tôi, tôi cũng không ưng thấy cậu khổ sở như vậy.”
Chương Kiến Phi cười trừ, “Chỉ cần tôi cảm thấy đáng là được.”
Không lâu sau, Ngô Kiến Ba bạn trai Mao Lệ bị tai nạn giao thông qua đời, trong lúc thu dọn đồ của anh ta, Mao Lệ phát hiện mười mấy bức thư anh ta viết cho người yêu ở quê nhà, điều kinh khủng hơn là, Ngô Kiến Ba đem gửi cho người yêu toàn bộ số tiền Mao Lệ cho anh ta, còn nói sẽ đón cô ta lên Thượng Hải làm lễ cưới, cả tập hóa đơn trong ngăn kéo chính là bằng chứng. Nói cách khác ngô Kiến Ba bấy lâu chỉ coi cô là cái máy rút tiền, Mao Lệ hoàn toàn không hay biết, bị lừa cả tình lẫn tiền, một cú đau như vậy…
Tối hôm đó cô cắt mạch máu cổ tay tự vẫn, được bạn đưa đến bệnh viện cấp cứu.
Lần này cũng là Chương Kiến Phi ở bên cô, cha và anh trai cô đều ra nước ngoài khảo sát. Sau khi tỉnh lại, Mao Lệ hoàn toàn suy sụp, từ chín tầng mây rơi xuống địa ngục, cái giá của sự trưởng thành không ngờ lại nghiệt ngã như vậy. Cô không biết mình làm sai điều gì, trong đời lần đầu tiên thật lòng đối xử với một người, lại bị người ta thẳng tay đẩy xuống địa ngục như thế, những câu chuyện tình yêu lâm ly cảm động trong tiểu thuyết, phim ảnh đều là lừa gạt, tình yêu trong hiện thực thì ra là như thế!
Cô vùi đầu vào gối nức nở, khóc đến khản tiếng kiệt sức, người co rúm, cổ họng ứ nghẹn, mắt sưng mọng, cả người như bị khoét rỗng, không thể sống được nữa. Chương Kiến Phi lúc đó ôm cô qua tấm chăn, xiết cô rất chặt, dường như sợ cô chết. Khi đã khóc đến lúc không thể khóc được nữa, cô mới dần dần bình tĩnh.
“Mao Mao, đừng buồn, vẫn còn có anh.” Chương Kiến Phi lau nước mắt cho cô, nắm tay cô, anh nói rất dài, “Nhìn em đau lòng thế này anh còn đau lòng hơn, anh không biết làm thế nào để an ủi em…em quá hiếu thắng, dù biết mình nhầm cũng không chịu quay lại, cho nên em mới bị tổn thương. Điều đó thực ra không có gì sai, mỗi người đều có khiếm khuyết về cá tính, em đã gắng gỏi, dù khó khăn như vậy em vẫn gắng gỏi, khiến anh vô cùng cảm động, bởi vì anh và em tính cách giống nhau, cùng có khiếm khuyết như nhau, chúng ta đều muốn có được thứ mình muốn, chỉ tiếc là, mỗi chúng ta lại đi theo một hướng khác nhau.
“Anh hết lòng theo đuổi em, cho dù không có được em, chỉ cần đi bên nhau anh cũng thấy vui . Nhìn em buồn như thế, anh rất đau lòng, nỗi buồn của em nhiều lúc chính là nỗi buồn của anh. Mao Mao chúng ta đều là những sinh linh yếu đuối, chúng ta không làm sai điều gì, chỉ là yêu một người tưởng là có thể yêu, cho nên mới bị tổn thương.
“Còn nhớ lần đầu tiên nhìn thấy em, em lao vào phòng, đấm đá Mao Tấn, anh cố kéo em ra mà không được, em khóc đau đớn như vậy, chưa bao giờ anh thấy ai khóc đau đớn như thế, anh bế em ra ngoài, trong giấc ngủ em vẫn còn nức nở…chính lúc đó, anh muốn bảo vệ em, yêu em, bởi vì qua em anh nhìn thấy chính mình. Thật đấy, Mao Mao, anh…anh kỳ thực là một người bi quan, cho anh ít thời gian được không, trên đời chỉ có em mới thể khiến anh muốn thực sự nghiêm túc đối xử với một người.
“Anh yêu em, Mao Mao.”
Mao Lệ nhìn anh, cô chưa lúc nào nhìn kỹ anh, lần đầu phát hiện anh có khuôn mặt đẹp dịu dàng đến thế, vầng trán sáng ngời, sống mũi cao và sự kiên nghị trong ánh mắt có phần giống cô, họ đều là người cố chấp, cố chấp đến điên cuồng, một khi đã quyết chuyện gì, cho dù va vấp vỡ đầu chảy máu cũng không chịu buông tay. Lúc này cô chăm chú nhìn, nhận ra anh rất khác thường, vẻ lạnh nhạt cô đơn như quên đời khiến anh có vẻ phiêu diêu thoát tục. Mặc dù làm kinh doanh nhưng con người anh không thấy nét sắc lạnh thường có của người kinh doanh, mà như tia nắng ấm trong ngày đông giá.
Nhưng cô vẫn không mấy để mắt đến chàng trai này, chỉ coi anh là một trong số bạn bè đông đảo của anh trai, cô nhìn anh, chợt bàng hoàng, có lẽ anh nói đúng, đâu phải cô không nghiêm túc đối xử với một người, nhưng ai biết gặp phải kẻ bất nhân…cô không sai gì hết, cô chỉ yêu nhầm người.
“Tôi mệt rôi.” Cô nhắm mắt, mệt mỏi thở dài.
Anh đắp chăn cho cô, “ Ngủ đi, có lẽ anh nói quá nhiều, em cứ coi như không nghe thấy.”
Cô không đáp, dường như mệt thật, khi nửa thức nửa ngủ, cô trở mình quay lưng lại phía anh, giống như nói mê, thì thầm hỏi, “Anh có thấy biển dưới trời sao?”
“Biển dưới trời sao?”
“Vâng, em thích nhất biển dưới trời sao…mặt dù không tráng lệ như biển lúc hoàng hôn, nhưng em cảm thấy biển dưới bầu trời đầy sao mới là đẹp nhất. Hồi nhỏ mỗi lần nhớ cha, hoặc bị mẹ mắng, em đều chạy ra bãi biển ngắm sao và nhặt vỏ ốc biển, gió biển rất mát, nghe sóng xô bờ, cảm thấy đất trời chỉ còn một mình em, lúc đó em rất buồn…về sau lớn dần, mới biết là do em quá cô đơn, không ai hiểu em, mặc dù cha và anh ở Thượng Hải có thể cho em tất cả mọi thứ tốt nhất trên đời, nhưng em cũng vẫn không vui, chưa bao giờ em nói với họ cái em cần là gì, họ cũng không hỏi, họ cứ nghĩ những gì họ cho là tốt tức là tốt với em. Không, không phải thế, cái em cần họ hoàn hoàn không cho được.”
“Mao Mao…:
“Em chỉ cần một tình cảm thực sự thuộc về em, cha và anh mặc dù yêu em như vậy, nhưng họ không thuộc về một mình em, có lẽ em quá tham, nhưng em chỉ cần một tình cảm thuần túy, em có gì sai, anh Kiến Phi, em có gì sai?”
“Em không sai, Mao Mao!” Anh lại cúi xuống ôm cô. Còn cô run run, trùm chăn kín đầu khóc, mệt mỏi nói, “Em muốn về nhà, em muốn về nhà…”
“Đợi em khỏe hẳn sẽ về nhà.” Chương Kiến Phi dỗ cô.
“Không, em muốn trở về nhà ở Bắc Hải, ở đây không thuộc về em, em không thuộc về nơi này!” Cô khóc nức trong lòng anh, “Em ghét nơi này, em nhớ mẹ…”
“Được, sau khi xuất viện, anh sẽ đưa em về Bắc Hải.”
Chương Kiến Phi quả nhiên giữ lời hứa, sau khi ra viện liền đưa Mao Lệ đáp máy bay về Bắc Hải, bỏ hết công việc quan trọng. Mẹ không biết tý gì về chuyện của Mao Lệ ở Thượng Hải, rất vui vì con gái trở về, còn vui hơn vì cô còn mang theo một chàng trai rất khiêm nhường nho nhã. Mẹ lập tức thích chàng trai có nụ cười hiền hậu, lễ độ đón, ngay trẻ con hàng xóm cũng thích anh, mẹ cô dường như đã coi anh là con rể tương lai.
Mao Lệ bất lực, cũng chẳng buồn giải thích, cô vẫn thờ ơ với tất cả, vết thương lòng quá nặng cô chưa thể trở lại bình thường. Chương Kiến Phi vẫn kiên nhẫn ở bên cô, việc công ty bận rộn anh cũng không để tâm, luôn chỉ đạo từ xa, bí quá thì gọi thư ký đến Bắc Hải bàn bạc. Lâu dần Mao Lệ cũng thấy ngại, bảo anh về Thượng Hải xử lý công việc, dù ở riết đây bao nhiêu cô cũng sẽ không đổi ý.
Lúc ở trên máy bay bay về Bắc Hải, Mao Lệ đã nói rõ với anh, “Đừng lãng phí thời gian vào em, em không hợp với anh, cũng không muốn làm anh lỡ dở, anh cần có cuộc sống tốt hơn.”
Chương Kiến Phi chỉ nói một câu, “Được ở bên em là cuộc sống tốt nhất với anh.”
Mao Lệ thở dài, con người này, thoạt nhìn có vẻ thoải mái khiêm nhường, kỳ thực còn ương ngạnh hơn cô, theo cách nói của Mao Tấn là gan lỳ. Về điểm này, Mao Lệ cảm thấy họ rất giống nhau, giống một cách vô phương cứu chữa.
Chương Kiến Phi cơ hồ không bận tâm Mao Lệ nghĩ gì, anh rất thỏa mãn với cuộc sống ở Bắc Hải, mỗi buổi chiều đều ra cầu cảng đón bác Hoàng, cha dượng cô đi đánh cá trở về, dùng xe xích lô chở hết một thuyền tôm cá đến kho lạnh của công ty thủy sản nơi bác Hoàng làm việc.
Mao Lệ thích ngắm biển, Chương Kiến Phi ngày nào cũng đưa cô đi dạo trên bãi biển, cô không thích cầu cảng bên này, vì thuyền cá quá nhiều, quá hỗn tạp ồn ào. Cô thích bãi biển phía bên kia, bên đó có rừng tràm.
Một đêm, mọi người đều ngủ cả, Mao Lệ đột nhiên gọi điện cho Chương Kiến Phi, nói muốn đi dạo bãi biển.
“Muộn quá rồi, Mao Mao.” Đầu bên kia truyền đến giọng ngái ngủ của Chương Kiến phi. Mao Lệ chỉ buông một câu, “Đến hay không tùy anh, đằng ào em cũng đi.” Nói xong gác máy.
Chương Kiến Phi sao dám không đến? Phóng xe máy chưa đầy 20 phút là đến bến cảng. Mặc dù đêm khuya, phố cảng vẫn đông vui, nhất là trước những quán ăn đêm, người vẫn rất đông. Họ đi khắp các con phố chính, anh chỉ mong những con phố này dài mãi, có thể cùng cô đi mãi như vậy…đến bờ biển, một thế giới hoàn toàn tĩnh mịch, đêm đó vừa đúng đêm rằm, ánh trăng như dát bạc trên bãi cát, Chương Kiến Phi tưởng Mao Lệ sẽ đi công viên Bãi Bạc, không ngờ cô lựa chọn đi qua khu rừng tràm tản bộ trên bãi biển của khu du lịch, tán lá ràm xum xuê lóng lánh ánh bạc dưới trăng, nhưng nhìn từ xa lại là một dải lờ mờ đen sẫm.
“Nhìn kìa, sao!” Mao Lệ chân trần đứng trên bãi cát, chỉ lên trời.
Chương Kiến Phi ngẩng đầu, chỉ thấy trên bầu trời đen thẳm, một vầng trăng vằng vặc sáng như băng, treo lơ lửng trên bầu trời miên viễn. Có lẽ vầng trăng quá sáng làm lu mờ hằng hà những chấm sao bé xíu xunh quanh mà nếu nhìn không kỹ, cơ hồ không nhận ra.
Những chấm sao đó, hình như sinh ra để làm nền cho vầng trăng, nhưng cũng một mình lấp lánh tỏa sáng, chỉ có điều, nếu so với ánh trăng, chúng quả thực quá bé nhỏ. Chương Kiến Phi không hiểu, so với vầng trăng rực rỡ kia, tại sao cô lại thích những chấm sao bé xíu như đầu chiếc đinh bạc? Vầng trăng lớn thế kia, cô lại không bận tâm ?
Chương Kiến Phi dè dặt hỏi: “Em không thích trăng ư?”
Cô giẫm lên hoa sóng, mắt long lanh, “Thích chứ”. Nghĩ một lát lại nói, “Nhưng vẫn thích sao hơn, không thể nói rõ tại sao. Em thích sao là bởi vì những gì chói lọi thường không thể bền lâu, ví như vầng trăng, sáng tối khuyết tròn, thay đổi khó lường, nếu có mây là trốn, không nhìn thấy. Nhưng sao thì khác, bất luận lúc nào cũng có thể nhìn thấy chúng, luôn luôn như vậy, mặc dù ánh sáng hơi mờ, nhưng vĩnh hằng hơn trăng, trên đời này những thứ có thể vĩnh hằng quá ít.”
Chương Kiến Phi nhìn cô đăm đắm, suy nghĩ lời cô nói, đột nhiên trên bầu trời tĩnh mịch lóe lên một vệt sao băng, anh đột nhiên vỡ lẽ, thì ra là vậy, thì ra là vậy! Cô luôn bỏ qua anh, hướng về Ngô Kiến Ba kém xa anh mọi phương diện, rõ ràng biết đó là cặn bã, vẫn chấp mê không tỉnh. Thì ra trong mắt cô, Ngô Kiến Ba là chấm sao mờ nhạt, nhìn không rõ mới khiến cô tin tưởng, còn Chương Kiến Phi đương nhiên là vầng trăng kia, ánh sáng chói khiến cô sợ, cô sợ một tương lai vô định không thể dự đoán, sợ anh sẽ biến mất, cô tin rằng sao vĩnh hằng hơn trăng, mới cố chấp như thiêu thân lao vào lửa…
“Trăng cũng vĩnh hằng.” Anh nhìn cô nói.
Cơ hồ không nghe thấy anh nói, cô kéo cao váy nhảy nhót giữa hoa sóng, thân hình uyển chuyển khoác ánh trăng, nước biển sau lưng cô óng ánh như rắc bạc, nối nhau xô bờ, thân thiết hôn bờ cát, thân hình mảnh dẻ của cô dưới ánh trăng bạc giống một tinh linh. Chương Kiến Phi ngây người, chỉ thấy cát dưới chân đột nhiên sụt lún hóa thành hải miên, anh như ngồi trên chiếc thuyền chòng chành, cả thế giới chao đảo, “Mao lệ,” Anh gọi to, không đợi cô trả lời, đột nhiên lao đến ôm cô, nước bắn lên ướt áo.
Anh bất chấp, bất chấp tất cả, hôn cô thật sâu. Cô không quá phản kháng, cũng không có sức phản kháng, nụ hôn của anh giống như nhiệt lực mãnh liệt, cuốn phăng tất cả, kéo cô xuống đại dương nóng bỏng…rất lâu, rất lâu sau, cuối cùng anh buông cô, hai người đều thở sâu, anh thở dồn hổn hển, cách lớp áo sơ mi mỏng vẫn nghe thấy tiếng tim, nhanh mạnh gấp gáp dữ dội như muốn nhảy khỏi lồng ngực.
Anh nói: “Xin lỗi.”
Cô ngây người, dường như chưa qua cơn chấn động. Còn anh quay người, mặt hướng về biển, không nhìn cô, ngực vẫn phập phồng dữ dội, như đang cố ép xuống thứ gì.
“Mao Lệ!”Anh gọi cô, những lời đã từng nghiền ngẫm, nhưng nói ra vô cùng khó khăn, giọng khàn hơi nghẹn, “Anh không biết rút cục em muốn một tình yêu thế nào, hoặc là anh không biết anh phải làm thế nào mới có thể trở thành người của lòng em, anh chỉ nói, anh không phải trăng. Mao Lệ, anh không muốn làm vầng trăng sáng tối khuyết tròn, bất luận em ở đâu anh nhất định sẽ là vì sao gần nhất bên em…anh có thể mang vĩnh hằng đến cho em, anh nhất định là vĩnh hằng của em…”
Mao Lệ tin lời anh, chính vì tin mới cảm thấy lòng bất an. Có một lúc, cô thoáng xao lòng, anh hôn cô, cô không hề thấy ghét…thực ra không phải cô không để tâm đến anh, mà cô chỉ thấy quá bẽ bàng, bị một kẻ bỉ ổi như thế lừa dối vứt bỏ, cô có còn tư cách tiếp nhận tình yêu? Vừa nghĩ đến Ngô Kiến Ba lòng cô vừa quăn đau, vừa nhục nhã. Nhưng anh không giống Ngô Kiến Ba, ánh sáng của anh khiến người ta không thể kháng cự, anh nói anh là chấm sao, nhưng anh chính vầng trăng sáng chói kia…
Lòng rối loạn, cô cúi đầu nhìn bãi cát, thở dài, “Bây giờ em chưa muốn nói chuyện đó, xin anh hiểu cho, em cần thêm thời gian.”
Chương Kiến Phi quay người, ôm vai cô, cơ hồ muốn nói, lại như không biết bắt đầu từ đâu.
“Mao Mao, chúng ta còn nhiều thời gian, không phải sao?” Anh luôn là người nhẫn nại, anh cười, khuôn mặt dưới ánh trăng đẹp như vẽ, từng đường nét được vẽ lên bởi nét bút mềm như nước nhuốm màu trăng.
Cô nhìn anh, cũng cười, “Bây giờ chuẩn bị đưa em đi ngắm mặt trời mọc.”
05:52 CH 14/04/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
Chương 2
Đồng hành Phó thác Ngã rẽ
Vùng đất núi đông thành Hán Bảo thuộc nhánh cuối trong dãy núi Ô Lan phía bắc Nam Hạ nằm ở giữa cao nguyên Vân Hồ và đồng bằng Giang Trung, đại để theo hướng tây bắc – đông nam. Phía bắc từ dãy Hán Lĩnh Nam gần với Uyển Giang, kéo dài tới hơn bảy trăm dặm, thế núi từ Bắc dần lắng dịu xuống Nam, tới ngoài thành Hán Bảo đã hình thành địa thế rừng núi bằng phẳng.
Đám A Mạch sau khi đi xuyên vào vùng rừng núi bao la này đều thở phào nhẹ nhõm, cảm giác thật may mắn sống sót. Nếu quân Bắc Mạc không nổi hứng săn bắn tiêu khiển thì tính mạng của ba người tạm thời có thể giữ được. Cũng may lúc này là đầu thu, trong rừng có rất nhiều hoa quả chín, ba người sốt sắng hái vài quả ăn. Từ Tú Nhi còn cẩn thận chọn vài quả ngọt mọng nước, nhai nhỏ rồi cho vào mồm đứa trẻ.
“Quân giặc người ngựa vướng víu như vậy sẽ không thể nào đi xuyên qua rừng rậm này được, chúng chỉ có thể đi men theo đường lớn, sau khi vòng qua rừng mới về thành Thái Hưng được. Nếu đi theo lộ trình trên ít nhất bọn giặc phải mất ba ngày.”
Đường Thiệu Nghĩa vừa nói vừa dùng cành cây vạch sơ sài trên đất. Chịu sự hạn chế về điều kiện thông tin trong thời đại này, hơn nữa lại chỉ là một hiệu úy đóng quân ở một thành nhỏ nên Đường Thiệu Nghĩa cơ bản không cách nào có được tin tức hoàn chỉnh về cục diện cuộc chiến giữa Nam Hạ và Bắc Mạc. Chàng chỉ dựa vào tuyến đường tấn công của đại quân Thường Ngọc Thanh để suy đoán mục tiêu tiếp theo của quân Bắc Mạc là thành Thái Hưng. Nhưng Đường Thiệu Nghĩa không hề hay biết tình hình gì về cánh quân khác của Bắc Mạc, và cũng không biết rằng thành Thái Hưng đã bị quân Bắc Mạc bao vây từ lâu, thậm chí còn trước cả thành Hán Bảo.
A Mạch ngồi im lặng một bên lắng nghe, thỉnh thoảng ngẩng đầu liếc xéo Đường Thiệu Nghĩa một cái, rồi cúi đầu tiếp tục gặm quả táo dại còn xanh. Nàng từng có ấn tượng sâu sắc về cái đói nên một khi có thứ gì có thể ăn được, nàng luôn không ghìm được nhu cầu ăn no hơn một chút.
Thái độ này của A Mạch rõ ràng chọc tức Đường Thiệu Nghĩa – người đang sốt sắng muốn được nghe ý kiến, chàng ta vứt mạnh cành cây trong tay xuống đất rồi xẵng giọng hỏi: “A Mạch, ngươi muốn thế nào hả?”.
“Hả?” A Mạch ngẩng đầu, trên khuôn mặt ngay lập tức nở nụ cười xun xoe: “Đường đại nhân, ngài đang hỏi tiểu nhân à?”.
Đường Thiệu Nghĩa sầm mặt gật đầu. Nụ cười trên khóe miệng A Mạch hơi mang vẻ giễu cợt nhưng khẩu khí vẫn cung kính: “Nhưng thưa Đường đại nhân, lời của tiểu nhân có tác dụng không vậy?”.
Theo ý của A Mạch, đương nhiên càng cách xa chiến trường càng tốt, không ngờ Đường Thiệu Nghĩa lại đang bàn với nàng về vấn đề làm thế nào để tiến gần tới chiến trường hơn. Trong lòng A Mạch thực sự muốn chửi rủa tên dở người này, nhưng do võ công của Đường Thiệu Nghĩa cao cường nên không dám biểu hiện ra.
Nàng thầm lên kế hoạch chớp thời cơ bỏ trốn tách khỏi Đường Thiệu Nghĩa.
Đường Thiệu Nghĩa tức nghẹn vì lời nói chẳng ra đâu vào đâu của A Mạch, thực ra chàng không nên trưng cầu ý kiến của A Mạch về vấn đề nên đi đâu. Không biết có phải do cả ngày chém giết, hao tổn quá nhiều tinh lực hay không mà vào lúc này trái tim vốn cứng rắn của chàng đã hơi mệt mỏi, chàng cũng muốn có được sự ủng hộ của người bên cạnh. Chàng nhìn chằm chằm vào A Mạch hồi lâu, vẻ giận dữ hiện rõ trên mặt cuối cùng chuyển thành vẻ thất vọng não nề. Chàng khẽ thở dài rồi nói: “Mỗi người có chí hướng riêng của mình, nếu ngươi muốn đi thì mau đi đi, nếu cô nương Từ Tú Nhi cũng cùng đi với ngươi, mong ngươi hãy chăm sóc cho cô ấy”.
Đường Thiệu Nghĩa nói xong liền đi tới bên Từ Tú Nhi bế đứa trẻ, nhận thấy A Mạch ngạc nhiên nhìn mình, bất giác cười khốn khổ nói: “Ngươi vốn không phải là quân nhân, làm sao ta có thể bắt ngươi cùng xông pha ra trận giết giặc, là ta nghĩ sai rồi, các ngươi mau đi đi. Từ chỗ này đi về hướng Đông bắc xuyên qua dãy núi này sẽ tới địa giới Dự châu, các ngươi…”.
Đường Thiệu Nghĩa còn chưa nói xong, từ mé rừng đột nhiên vọng tới tiếng người huyên náo, cả ba người đều kinh hãi nhận ra đó chính là đám quân Bắc Mạc truy đuổi theo. Đường Thiệu Nghĩa vừa nhìn bóng người mờ mờ ảo ảo đằng xa, vừa dúi đứa trẻ vào tay A Mạch nói nhỏ: “Ngươi đưa đứa trẻ cùng Từ Tú Nhi chạy trước đi, ta sẽ đánh lạc hướng bọn lính”.
Trong lúc hoảng hốt A Mạch cũng chẳng kịp nói gì thêm, vội vàng buộc đứa trẻ lên lưng, kéo tay Từ Tú Nhi rồi đi. Mới được mấy bước lại nghe thấy Đường Thiệu Nghĩa khẽ gọi nàng từ phía sau. A Mạch dừng lại, thấy Đường Thiệu Nghĩa đuổi theo rồi nhét vào tay A Mạch một thanh kiếm: “E trong rừng có dã thú, thanh kiếm này cho ngươi để phòng thân”. Đường Thiệu Nghĩa nói xong, lưu luyến nhìn đứa trẻ trên lưng A Mạch một lần nữa rồi nghẹn ngào nói: “Đứa trẻ này là Lưu Minh, đứa con côi cút của Lưu Cảnh đại nhân. Cả nhà Lưu đại nhân trung liệt, rất mong Mạch huynh có thể bảo toàn tính mạng cho nó, Thiệu Nghĩa xin thay mặt Lưu đại nhân tạ ơn Mạch huynh!”.
Vừa nói xong, Thiệu Nghĩa liền quỳ sụp xuống rồi cúi đầu lạy A Mạch một cái.
A Mạch nhất thời ngây người vì ngạc nhiên, vội vàng dìu Đường Thiệu Nghĩa đứng dậy: “Đường tướng quân mau đứng lên đi, xin tướng quân yên tâm, A Mạch thề chỉ cần A Mạch còn sống sẽ không vứt bỏ đứa trẻ này”.
Đường Thiệu Nghĩa cười thanh thản, điều chàng sợ chính là tới lúc nguy cấp nhất A Mạch sẽ ghét đứa trẻ này làm liên lụy mà vứt bỏ nó đi. Giờ nghe thấy A Mạch thề như vậy, chàng cũng cảm thấy yên tâm phần nào. Đường Thiệu Nghĩa đẩy A Mạch một cái rồi nói: “Mau đi đi!”.
A Mạch thấy Đường Thiệu Nghĩa đưa cả kiếm báu cho mình, biết chắc bản thân chàng đã mang trong lòng ý niệm quyết tử để đánh lạc hướng bọn lính truy sát, nên cũng bị nhiễm tinh thần quyết tử của chàng ta. Nhận thấy tiếng người bên ngoài rừng càng lúc càng gần, A Mạch cũng không nói nhiều nữa, nàng nhìn Đường Thiệu Nghĩa gật đầu rồi nghiến răng kéo Từ Tú Nhi chạy vào rừng sâu.
Bóng A Mạch và Từ Tú Nhi biến mất trong rừng không lâu thì một toán quân Bắc Mạc kéo tới, trông bộ dạng thì chúng hoàn toàn chưa phát hiện ra đám A Mạch. Chúng đứng lố nhố ở mé rừng, vừa chặt những cây cối cản đường vừa chia thành từng toán nhỏ đi vào rừng. Đường Thiệu Nghĩa nghĩ ngợi giây lát rồi leo lên một cây to, chờ cho toán quân truy sát Bắc Mạc tới gần sẽ trèo xuống giết vài thằng xong rồi sẽ dẫn chúng đi ngược với hướng của A Mạch.
Các toán quân Bắc Mạc không ngừng đổ vào rừng, Đường Thiệu Nghĩa ước tính ít nhất phải có mấy trăm tên. Tuy chàng vừa trải qua sự tàn sát trên chiến trường, hơn nữa đã quyết một trận sống mái, nhưng nhìn thấy nhiều lính như vậy cũng không tránh khỏi kinh hãi trong lòng. Nghĩ tới việc một hiệu úy nhỏ nhoi như mình rốt cuộc lại kéo theo nhiều lính Bắc Mạc tới truy sát như vậy, thì quả thật vẻ vang. Ý nghĩ sợ hãi mới xuất hiện ngay lập tức bị tinh thần hăng hái đè bẹp. Đường Thiệu Nghĩa nắm chặt nắm đấm có phần nhớp nháp của mình, hạ quyết tâm chờ bọn lính tới gần sẽ nhảy xuống tiêu diệt.
Không ngờ đám lính Bắc Mạc dừng lại khi còn cách Đường Thiệu Nghĩa mười mấy trượng, Đường Thiệu Nghĩa cảm thấy bồn chồn. Nhìn từ tán cây xuống, chỉ thấy bọn lính bắt đầu chặt cây, những cây chúng chặt đều là cây to và nhiều cành lá, chặt xong kéo luôn cả cây cả lá đi, trong giây lát Đường Thiệu Nghĩa không hiểu tại sao.
Lại nói về A Mạch chỉ cắm đầu cắm cổ lo kéo Từ Tú Nhi chạy vào rừng sâu. May mà tên tiểu tử Lưu Minh cũng nể mặt, trên đường im thin thít, thêm vào đó Từ Tú Nhi là con nhà nghèo tuy nhỏ người nhưng không thể coi thường khả năng đi bộ của cô ta. Mặc dù bị A Mạch kéo sềnh sệch nhưng không hề rơi lại phía sau. Cả hai chạy thục mạng khoảng nửa canh giờ, tới khi không còn sức chạy tiếp nữa, Từ Tú Nhi đổ vật người ra đất, A Mạch cúi người bám vào một cây to, miệng không ngừng thở phì phò. Chỉ duy nhất tiểu tử Lưu Minh trên lưng A Mạch dường như được A Mạch đung đưa thú vị lại phát ra tiếng cười khanh khách.
A Mạch quay đầu nhìn đứa trẻ, thấy nó ngoác miệng cười vui, bất lực lắc đầu, quay lại tiếp tục bám vào thân cây thở hồng hộc. Khi tiếng thở của cả A Mạch và Từ Tú Nhi còn chưa đều trở lại thì đã nghe thấy tiếng sột soạt vọng tới từ trong rừng cây. A Mạch hoảng hốt không hiểu đó là sự xuất hiện của thú dữ hay là quân Bắc Mạc đã đuổi kịp. Nàng nín thở nhìn Từ Tú Nhi, Từ Tú Nhi tái mặt khẽ lắc đầu, cô ta quả thực không thể chạy nổi nữa. A Mạch cắn chặt môi, hai tay nắm chặt thanh kiếm Đường Thiệu Nghĩa đưa cho, rồi chậm rãi đứng trước mặt Từ Tú Nhi.
Cành cây rậm rạp đột nhiên chẽ ra, một bóng người cao to lách qua, đầu óc A Mạch trong giây lát trống rỗng, thanh kiếm trong tay bỗng chốc rơi xuống đất.
Không ngờ người đuổi theo chính là người mà A Mạch và Từ Tú Nhi tin rằng đã chết chắc – Đường Thiệu Nghĩa.
Thần kinh bị kéo căng của A Mạch trong giây lát dãn ra, nàng có cảm giác chân mình nhũn ra sau khi căng thẳng cực độ, cả người khẽ rung lên rồi ngã vật ra đất. Từ Tú Nhi nhìn thấy Đường Thiệu Nghĩa vẫn còn sống thì vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, cô không kìm nén được bật khóc. Khóe mắt A Mạch nóng lên, nàng ngoác mồm về phía Đường Thiệu Nghĩa, lần đầu tiên nhoẻn cười thật lòng.
Đường Thiệu Nghĩa tiến lên phía trước đỡ A Mạch dậy, trong giây lát hai người đều trầm ngâm, chỉ có hai bàn tay nắm chặt vào nhau, cảm giác hành động đó còn hơn cả muôn vạn lời nói. Một lúc lâu sau Đường Thiệu Nghĩa mới buông tay, chàng nhìn A Mạch và Từ Tú Nhi mặt mũi lấm bẩn trông thật nhếch nhác, bất giác không nhịn được cười.
03:57 CH 12/04/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
Trong giây lát Từ Tú Nhi sợ tới lú lẫn trước hành động bất thường của A Mạch, cô mở to cặp mắt còn đẫm lệ sững sờ nhìn A Mạch, thậm chí còn quên cả nhiệm vụ khóc. A Mạch ngoài mặt tuy vẫn cười dâm loạn nhưng trong lòng ngầm kêu khổ tại sao con bé này lại chậm hiểu thế nhỉ, chẳng biết phối hợp chút nào. Ít ra thì cũng phải vừa kêu vừa khóc vừa giãy giụa mới phải chứ, lúc này lại chẳng giãy giụa chống cự, thì mình làm sao diễn tiếp được đây? Cũng không thể tụt quần cô ta xuống được? Mà nếu cô không phản ứng kịp thì chí ít Đường Thiệu Nghĩa cũng nên biết rằng mình đang diễn trò chứ, tại sao lại cũng không có phản ứng gì vậy? A Mạch quay đầu lại, vừa cười vừa chửi Đường Thiệu Nghĩa đang đứng ngây người: “Mẹ mày chứ, cái thằng này mày cũng không biết tới đây giúp tao à, lát nữa đứa khác ngửi thấy mùi tanh mò tới đây rồi, làm gì có phần cho tao với mày?”.
A Mạch vừa nói dứt lời, chỉ thấy lưng đau nhói, đau tới mức lăn lộn trên đất, cả người nàng thậm chí còn bay lên trên không trung rồi va vào bức tường đổ tiếp đó lăn xuống đất, trong giây lát nàng đau tới mức ngất đi.
Viên tướng Bắc Mạc kia thu roi lại, nét mặt lạnh lùng đáng sợ, nàng nhớ ra đó chính là viên phó tướng Khương Thành Dực của Bắc Mạc bị Thường Ngọc Thanh giữ lại ở đây. Sau khi phá thành xong mệnh lệnh bất luận kỷ cương quân đội là do Thường Ngọc Thanh ban ra, làm phó tướng Khương Thành Dực không có quyền thay đổi nhưng hắn quả thực không thể giương mắt đứng nhìn đám binh lính chém giết thiêu đốt dâm đãng cướp bóc trong thành. Trong thế bất lực hắn đành phải ở ngoài thành coi như khuất mắt trông coi, hắn vốn định sáng nay sau khi vào thành sẽ trực tiếp tập hợp các bộ lại, ai ngờ đúng lúc đó lại nhìn thấy cảnh tượng không đẹp mắt như vậy.
A Mạch giơ tay chống lưng rồi chậm rãi ngẩng đầu, vừa đúng lúc đối diện với khuôn mặt sắc lạnh của Khương Thành Dực, ánh mắt đầy sát khí của Khương Thành Dực khiến nàng sợ hết hồn. Theo ý nghĩ ban đầu của nàng, lũ người Bắc Mạc sẽ không để ý tới hành vi của họ, không những thế còn dung túng nữa, huống hồ việc này cũng không hiếm gặp ở khắp thành Hán Bảo. Nếu như không phải thượng cấp có ý dung túng thì quân lính sao lại bừa bãi tới mức này. Nhưng hôm nay sao vậy? Tại sao lại mọc ra tên tướng Bắc Mạc nhìn thấy bất bình trên đường liền rút đao ra thế này? Lẽ nào mệnh lệnh bất luận quân kỷ không phải là do các ngươi hạ lệnh ư? Đã từng thấy việc vừa ăn cướp lại vừa la làng chưa vậy?
Sau khi Khương Thành Dực nhìn rõ mặt A Mạch thoáng cảm thấy kinh ngạc, không ngờ tướng mạo của tên lính quèn này lại tuấn tú đến vậy. Mặc dù câu khẩu hiệu của Tịnh Quốc Công Nam Hạ: “Nhìn bên trong không nên nhìn bên ngoài” đã được mọi người lưu truyền đã hơn hai mươi năm, nhưng phần đông mọi người vẫn nhìn mặt đặt tên theo bản năng. Nếu hôm nay tên đang nằm dưới đất kia là một gã mặt mũi bặm trợn, chắc chắn Khương Thành Dực đã không do dự vung roi lần thứ hai rồi, nhưng hiện giờ Khương Thành Dực cảm thấy mình không ra tay nổi nữa.
A Mạch ngẩng đầu ngây người nhìn Khương Thành Dực đang ngồi trên ngựa trong giây lát, rồi kịp phản ứng lại. Nàng vội vàng vừa lăn vừa bò vài bước kéo Đường Thiệu Nghĩa đang quỳ ngã vật ra đất rồi run rẩy nài nỉ: “Xin tướng quân tha mạng! Tướng quân tha mạng!”.
Lúc này Khương Thành Dực đã định thần lại, trong lòng dâng lên nỗi tức giận kỳ lạ, hắn lạnh lùng liếc nhìn A Mạch một cái. Lúc cầm cương định đi thì nhìn thấy Từ Tú Nhi đang ngây người ra vì sợ, bất giác dừng lại, nhẹ nhàng nói: “Cô nương à, cô mau ra khỏi thành đi, đừng lưu lại ở đây nữa!”.
Từ Tú Nhi nghe lời, run rẩy bò dậy rồi vội vàng ôm đứa trẻ liêu xiêu đi về phía cửa thành. A Mạch nhận thấy tuy cô ta đã sợ tới mức vậy nhưng vẫn không quên đứa trẻ, bất giác thở phào nhẹ nhõm, chỉ cần cô gái này bế được đứa trẻ ra khỏi thành, chuyện giữa cô ta và Đường Thiệu Nghĩa sẽ dễ dàng hơn.
Khương Thành Dực thôi không nhìn theo bóng nhỏ nhoi yếu đuối của Từ Tú Nhi, bất giác lắc đầu, trong lúc binh đao loạn lạc này một người phụ nữ yếu đuối lại ôm theo một đứa trẻ sơ sinh trong lòng tự nhủ như vậy làm thế nào mới có thể tồn tại được? Cho dù lần này mình cứu cô ta, nhưng lần sau thì sao? Khương Thành Dực vừa lạnh lùng đưa mắt nhìn A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa đang nằm trên đất vừa cất giọng đanh thép: “Lần này tạm tha cho bọn ngươi, sau khi về đội phạt mỗi tên hai mươi quân trượng”.
Nói rồi “hừ” một tiếng dẫn đoàn kỵ binh phi vào thành.
A Mạch “vâng” to một tiếng. Chờ tới khi đoàn người ngựa kia đi mãi xa mới vội vàng bò dậy, tiếp đó nói với Đường Thiệu Nghĩa: “Nhân lúc chỗ này không có ai, chúng ta mau ra khỏi thành!”.
Đường Thiệu Nghĩa xì mặt không nói không rằng, giơ tay đánh mạnh về phía A Mạch, một đấm trúng vào má khiến A Mạch ngã lăn ra. Nàng còn chẳng kịp chùi máu tươi trào ra từ khóe miệng, chỉ ngẩng đầu sững sờ nhìn Đường Thiệu Nghĩa.
“Đường đường là đấng nam nhi, sao lại có thể sợ chết tới mức này hả?” Đường Thiệu Nghĩa tức giận mắng. “Trước mặt bọn giặc làm nhục phụ nữ Nam Hạ, làm việc xấu như vậy trước ngựa của kẻ thù, ngươi có còn là đàn ông không vậy?”
A Mạch im lặng nhìn Đường Thiệu Nghĩa, chờ chàng ta chửi xong mới gắng gượng bò dậy, dùng ống tay quệt vết máu bên khóe miệng, thậm chí còn chẳng thèm nhìn Đường Thiệu Nghĩa liền đi về hướng cửa thành. Lúc đi ngang qua Đường Thiệu Nghĩa thì bị chàng ta túm chặt lấy.
“Bỏ tay ra!” A Mạch lạnh nhạt nói.
Đôi lông mày rậm của Đường Thiệu Nghĩa dựng lên, nét mặt lộ rõ vẻ giận dữ: “Ngươi?”.
A Mạch cười trêu chọc: “Ngài mắng thật chẳng sai chút nào, tiểu nhân tôi đúng thật không phải là nam nhi, tiểu nhân chỉ muốn sống mà thôi. Ngài là đấng nam nhi đội trời đạp đất nhưng tại sao bây giờ ngài vẫn sống sờ sờ đấy sao?”.
Khuôn mặt Đường Thiệu Nghĩa phút chốc đỏ rần, chỉ biết trợn mắt nhìn A Mạch không nói được gì. A Mạch cười khẩy, gạt tay Đường Thiệu Nghĩa rồi rảo bước đi thẳng về phía cổng thành. Đúng vậy, nàng sợ chết, nàng muốn sống, để được sống, nàng đã từng làm những việc còn xấu xa hơn thế này, chỉ là quỳ trước mặt người Bắc Mạc có đáng gì chứ?
Ngày hôm đó, mẹ nói: “A Mạch à, con mau chạy đi, chạy vào trong núi, con phải tiếp tục sống, sống cho tốt con nhé!”.
Từ hôm đó nàng không còn là viên minh châu trong tay cha mẹ nữa, bắt đầu từ hôm đó biến thành một cô gái phải bó chặt ngực ăn mặc giả làm nam nhi. Một chàng trai không có bất kỳ nguyên tắc hay sự vô sỉ gì, một chàng trai để được sống có thể làm tất cả mọi việc!
Không thể khóc, cha đã từng nói, khóc là biểu hiện của người yếu đuối, cho nên nàng không thể khóc.
Đường Thiệu Nghĩa giận chính bản thân mình vô dụng mới trút giận sang A Mạch, sau đó bị A Mạch tỉa cho vài câu, ngọn lửa bức bối trong người tắt ngấm. Lúc này nhìn thấy bộ dạng A Mạch như vậy, trong lòng vô cùng hối hận đã quá xốc nổi. Mấy lần chàng định tiến lên phía trước nói mấy câu dàn hòa, nhưng không còn mặt mũi nào chỉ biết cúi đầu lặng lẽ theo sau A Mạch.
May mà quân Bắc Mạc sau khi công phá thành xong chỉ muốn cướp bóc, cũng không dự định chiếm giữ thành lâu, cho nên không cử người trông cửa thành. Từ Tú Nhi gắng gượng ôm đứa bé không ngừng gào khóc ra khỏi cửa thành, vừa định thở phào nhưng khi ngẩng đầu cảm thấy lạnh hết người. Cách cổng thành ba, bốn dặm chỉ cần nhìn qua cũng thấy chính là doanh trại của quân Bắc Mạc. Chạy? Còn có thể chạy đâu được?
A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa một người trước một người sau ra khỏi cửa thành, A Mạch nhìn thấy Từ Tú Nhi đang ngồi thừ ra bên vệ đường bỗng do dự một lát, cuối cùng vẫn lấy hết can đảm đi ngang qua cô ta. Mới đi chưa được hai bước bị Đường Thiệu Nghĩa đang ở phía sau tóm chặt lấy cánh tay. Chàng ta vừa dùng sức kéo A Mạch quay người lại, vừa tức giận nói:
“Lòng dạ tên tiểu tử nhà ngươi sao lại hẹp hòi tới vậy? Cho dù là ta đánh sai ngươi, ngươi cũng không nên như vậy chứ? Ngươi lại còn khóc ư?”
Không ngờ mắt A Mạch đỏ lên, Đường Thiệu Nghĩa nhìn thấy vừa tức giận vừa buồn cười.
“Bảo ngươi không phải là đàn ông ngươi phát cáu, có loại đàn ông nào lại khóc chứ? Ta đánh sai ngươi, cùng lắm cho ngươi đánh lại, sao vẫn còn thút thít như đàn bà hả?”
A Mạch ngước cổ, hằn học nhìn Đường Thiệu Nghĩa không nói gì, Từ Tú Nhi ở bên cạnh cũng dần có tinh thần hơn. Nhìn thấy hai người đàn ông kẻ túm người kéo cũng chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào liền cất tiếng hỏi: “Mạch đại ca, hai người làm sao vậy? Sao khóe miệng huynh lại chảy máu?”.
A Mạch nghiêng đầu tránh bàn tay giơ tới của Từ Tú Nhi, rồi lạnh lùng liếc Đường Thiệu Nghĩa một cái. Đường Thiệu Nghĩa khó chịu nói:
“Ngươi có bực ta thì mau đánh trả đi, đừng có thút tha thút thít giống đàn bà nữa.”
A Mạch mím chặt khóe môi xanh tím rồi nhìn Đường Thiệu Nghĩa trong giây lát, đột nhiên nàng nhoẻn miệng cười. Đường Thiệu Nghĩa nhìn thấy sự thỏa hiệp thấp thoáng trong ánh mắt A Mạch, nụ cười của nàng rạng rỡ vô cùng, như bông sen trắng thấm đẫm nước sau cơn mưa sớm, chàng ngây người nhìn một lúc. A Mạch vẫn khẽ cười, giơ tay tháo chiếc mũ giáp trên đầu Đường Thiệu Nghĩa xuống rồi ôm trước ngực, tiếp đó nắm chặt tay phải thành quả đấm rồi đánh mạnh vào má Đường Thiệu Nghĩa.
Cú đánh này khiến Từ Tú Nhi ngỡ ngàng nhưng lại khiến Đường Thiệu Nghĩa tỉnh lại. Vừa rồi chàng chỉ định nói cho vui ai dè A Mạch lại đánh trả thật. Trong lúc bực bội chàng định giơ nắm tẩn cho A Mạch một cái, nhưng nhìn thấy dáng vẻ vênh cằm đe dọa của A Mạch, cùng với khóe miệng hơi nhếch lên khiêu chiến, Đường Thiệu Nghĩa liền cảm thấy nóng mặt, mặt chàng đỏ bừng, trợn mắt hồi lâu nhưng không tài nào vung nắm đấm được. Chàng đành hừ một tiếng, hục hặc quay đầu tự nhủ:
“Thật giống đàn bà, lại còn đánh trả không biết ngượng!”
A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa vẫn tiếp tục như vậy khiến Từ Tú Nhi đứng đó vừa tức vừa lo, cô nghẹn ngào hỏi: “Hai người muốn làm gì vậy? Lát nữa nếu lại gặp bọn giặc Bắc Mạc thì làm thế nào? Phía trước đâu đâu cũng là doanh trại của bọn giặc, chúng ta nên đi về hướng nào đây?”.
Câu nói của Từ Tú Nhi khiến A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa như bừng tỉnh nhìn về doanh trại quân Bắc Mạc ở phía xa, cả hai không hẹn mà gặp cùng nhíu mày.
Đường Thiệu Nghĩa lên tiếng trước: “Quân Bắc Mạc không dễ thương lượng, tốt nhất chúng ta nên tránh một chút chắc không có vấn đề gì lớn, điều đáng sợ nhất lúc này là bọn lính rải rác khắp nơi. Đông thành có một khu rừng bí mật kéo dài tới tận biên giới Túc Châu, chúng ta phải nghĩ cách tới khu rừng này trước, sau đó đi tới thành Thái Hưng trước bọn giặc Bắc Mạc”.
A Mạch hứ một tiếng, thầm nghĩ người này quả thật không coi mình là người ngoài, ba người hợp lại trốn thoát khỏi thành Hán Bảo đó là bất đắc dĩ, có ai nhận lời với chàng ta cùng đi tới thành Thái Hưng đâu? Hơn nữa, đi với người vui buồn khó đoán định này, lại còn thêm cả của nợ động một tí là khóc, liệu nàng có chịu nổi không? Nếu lúc đầu A Mạch không đi cùng Đường Thiệu Nghĩa, một mình tự giải thoát khỏi bộ quân phục trên người thì hay biết bao!
Đường Thiệu Nghĩa nhìn bộ dạng A Mạch lúc này không được vui, nhưng vẫn cố nhẫn nại hỏi lại: “Ngươi có dự định gì không?”.
“Dự định?” A Mạch liếc nhìn chàng ta nhởn nhơ đáp: “Chẳng có dự định gì, chỉ biết rằng nếu chúng ta vẫn mặc bộ quân phục này đứng ở cửa thành thảo luận về vấn đề dự định, sẽ bị một tên tướng nào đó nhìn thấy, cho dù tiểu nhân có ôm chân ngựa của người ta mà khóc lóc ỉ ôi, e rằng vấn đề không chỉ đơn giản là hai mươi quân trượng nữa đâu”.
Mặc dù Đường Thiệu Nghĩa tức nghẹn nhưng cũng không thể không thừa nhận A Mạch nói có lý. Chàng ta vội vàng bỏ bộ quân phục Bắc Mạc, lộ ra bộ chiến bào màu xanh bê bết máu. A Mạch cười nhạt hỏi:
“Không biết quân Bắc Mạc đối với kẻ đào ngũ tốt hơn một chút hay đối với quân địch tốt hơn nhỉ?”.
“Chẳng tốt với loại nào.” Đường Thiệu Nghĩa bực bội gầm lên: “Sao nhà ngươi lại hẹp hòi vậy? Đánh trả ngươi cũng đã đánh rồi, còn muốn gì nữa hả? Ta sẽ cõng cô nương này. Còn ngươi bế đứa trẻ, phải đi nhanh, tránh gặp lại bọn giặc Bắc Mạc rồi rước họa vào thân”.
A Mạch cười khẩy: “Ngài là nam tử hán đầu đội trời chân đạp đất, sao lại bắt tiểu nhân, một kẻ vô sỉ như thế này bế đứa trẻ thay ngài? Ngài bế tốt hơn đấy!”.
Nói rồi nàng quay người đi về hướng đông.
Đường Thiệu Nghĩa giận dữ hét lên: “Vậy phải làm sao với cô nương này hả?”.
A Mạch dừng lại, quay người nhìn Đường Thiệu Nghĩa cười đáp: “Có gì khó đâu, ngài ôm cô ta, cô ta bế đứa trẻ là xong. Ngài là đại trượng phu, lẽ nào lại không gánh vác được chút việc nhỏ này?”.
A Mạch cảm thấy khoan khoái trong lòng, cười to hai tiếng rồi quay người bước tiếp. Mới đi chưa được hai bước đã cảm thấy một thứ gì lành lạnh lướt qua mang tai, người nàng cứng đờ tại chỗ. Sắc mặt tái nhợt, một thanh kiếm cắm phập vào phần đất cách chỗ nàng đứng chưa tới năm thước, chuôi kiếm còn đang rung rung giữa không trung.
Đường Thiệu Nghĩa dúi đứa trẻ vào tay A Mạch.
“Bế cho tử tế vào!”
Nói xong liền tiến hai bước về phía trước rút thanh kiếm rồi tra vào bao, quay về chỗ cũ cõng Từ Tú Nhi đang ngây người vì sợ lên lưng, đi qua chỗ A Mạch lạnh lùng nói:
“Còn không mau đi đi!”
“Ừ.” A Mạch thật thà trả lời rồi đi theo sau.
…
Mạch đại soái được gả cho người họ Từ, là người Hán Bảo. Mùa thu năm Bính Ngọ, quân Bắc Mạc tấn công thành Hán Bảo, Mạch đại soái cầm sào gỗ trèo lên thành, giết được rất nhiều người, dũng cảm đứng đầu toàn quân, do vậy tướng giặc Thường Ngọc Thanh sợ hãi bắn đại soái. Mũi tên làm đứt tua mũ giáp. Lúc thành bị chiếm, trên người Mạch đại soái có mười mấy vết thương, sức cùng lực kiệt trốn trong nhà dân, may mắn gặp người họ Từ cứu Mạch đại soái trong loạn quân. Mạch đại soái cảm ơn ân tình hẹn kết tóc xe tơ…
(Sử Hạ – Mạch soái liệt truyện)
05:22 CH 03/04/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
Ba người vừa chạy ra giữa sân, chỉ nghe thấy đằng sau một tiếng động lớn, cột nhà cháy sập xuống.
A Mạch ngồi phịch xuống đất, ngây người nhìn lửa cháy rực trời sợ hết hồn, xém chút nữa, e rằng đã bị mất mạng trong biển lửa rồi. Từ Tú Nhi được Đường Thiệu Nghĩa buông tay ra, cũng sợ tới mức mềm nhũn ra trên đất, một lúc lâu sau mới đưa mắt nhìn xung quanh phát hiện toàn là xác của lính Bắc Mạc. Cô ta sợ hãi hét toáng lên một tiếng, rồi vừa bò vừa lăn tới chỗ A Mạch. A Mạch bất đắc dĩ đành phải an ủi mấy câu mới khiến cô ta bình tĩnh trở lại.
Đứa bé trong tay Đường Thiệu Nghĩa luôn miệng gào khóc, không hiểu là do bị sặc khói hay do quá sợ hãi nữa. Từ Tú Nhi không nhẫn tâm nhìn đứa trẻ tiếp tục gào khóc liền đi tới bên Đường Thiệu Nghĩa khẽ nói:
“Ông lính à, để dân nữ bế đứa bé cho, cứ khóc mãi thế này, đứa bé sẽ lịm mất.”
Đường Thiệu Nghĩa đang váng đầu nhức óc vì tiếng khóc của đứa trẻ, nghe thấy vậy liền đưa cho Từ Tú Nhi. Kể cũng lạ, đứa trẻ vừa được Từ Tú Nhi bế đã không còn khóc nữa, chỉ giương cặp mắt tròn xoe nhìn cô. Từ Tú Nhi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ quay đầu lại gọi A Mạch:
“Ngươi xem, đứa bé này thật là dễ thương!”
A Mạch cũng cảm thấy kỳ lạ liền đứng dậy bước tới bên cạnh Từ Tú Nhi xem đứa trẻ. Đứa bé bụ bẫm đó khoảng tám, chín tháng tuổi, quần áo trên người nó được may rất tinh xảo, vừa nhìn đã biết không phải là con nhà thường dân. A Mạch quay đầu lại nhìn Đường Thiệu Nghĩa, nhận thấy chàng ta dường như cũng đang nhìn về phía mình đầy vẻ suy tư. Nàng giật mình mượn cớ giơ tay đùa đứa bé, ghé sát vào người Từ Tú Nhi khẽ nhắc:
“Trả đứa trẻ cho người ta đi, chúng ta phải nhanh chóng rời khỏi đây.”
Từ Tú Nhi sững người, nhìn A Mạch khó hiểu, tuy không biết tại sao A Mạch lại muốn mình làm vậy nhưng kể từ khi cùng trải qua quá nửa đêm bên nhau, trong lòng cô đã tin tưởng A Mạch tuyệt đối. Giờ nghe A Mạch nói vậy, cô hơi sững sờ, nhưng cũng không hỏi nhiều liền đem đứa trẻ trả lại cho Đường Thiệu Nghĩa.
“Ông lính à, trả lại ông đứa trẻ này.”
Không ngờ Đường Thiệu Nghĩa lại không chịu nhận đứa trẻ, lông mày lưỡi kiếm của chàng ta nhăn lại, lạnh lùng nói: “Quân Bắc Mạc sẽ nhanh chóng tới đây, nơi này không thể lưu lại lâu được”. Nói rồi liền lột hết quân phục trên xác binh lính Bắc Mạc, vứt một bộ lên người Từ Tú Nhi rồi ra lệnh: “Mau mặc vào, nhanh lên!”.
Không ngoài dự đoán của A Mạch, nhìn thấy đứa trẻ nằm trong vòng tay Từ Tú Nhi không khóc, nên chàng ta muốn để Từ Tú Nhi bế đứa trẻ. Vừa rồi có nhiều lính Bắc Mạc truy sát chàng ta như vậy, e rằng Từ Tú Nhi đi theo có tám, chín phần sẽ xui xẻo. Nếu là bình thường A Mạch sẽ không để ý tới chuyện này, nhưng hôm nay Từ Tú Nhi đã cứu mạng nàng, nàng quả thực không thể giương mắt nhìn cô ta đi theo vị tướng này để nộp mạng. Nàng lấy hết can đảm cười nói:
“Thưa tướng quân, em gái tiểu nhân không biết võ, đi theo e rằng sẽ làm liên lụy tới tướng quân, tiểu nhân thấy hay là ngài nên tranh thủ quân Bắc Mạc vẫn chưa đuổi tới nơi này thì hãy bế đứa trẻ đi đi, chúng tôi sẽ không nói hướng đi của ngài đâu.”
Từ Tú Nhi cũng vội vàng nói theo: “Đúng vậy, tướng quân à, dân nữ không thể đi được, dân nữ phải ở đây chờ cha trở về, cha dân nữ cũng là lính, ông ấy đi bảo vệ thành rồi”.
Đường Thiệu Nghĩa đã nhận ra A Mạch, chàng nhìn nàng một cái rồi cười nhạt: “Ngươi căn bản không phải là người ở đây, lấy đâu ra em gái ở đây hả?”, rồi quay đầu nhìn Từ Tú Nhi nói tiếp: “Lúc bọn giặc Bắc Mạc tấn công thành, tướng lính Nam Hạ chết vô số, sau khi phá thành xong bọn giặc còn tàn sát vô độ, đến cả binh lính đầu hàng cũng bị giết, e rằng cha ngươi đã không còn nữa, ngươi không chờ được ông ấy đâu!”.
Đường Thiệu Nghĩa vừa nói xong, Từ Tú Nhi liền than một tiếng, cơ thể vốn đã mỏi mệt của cô trong giây lát liền lịm đi. A Mạch vội vàng đỡ cô ta, một tay nâng đứa trẻ trong lòng cô, rồi giận dữ nói với Đường Thiệu Nghĩa:
“Một cô nương yếu đuối không thù không oán gì với tướng quân, hà cớ gì tướng quân lại nói năng tàn nhẫn như vậy? Sao lại dập tắt mọi hy vọng của người ta?”
Đường Thiệu Nghĩa đỡ lấy đứa trẻ trong tay A Mạch, đứa trẻ liền lớn tiếng gào khóc, nét mặt Đường Thiệu Nghĩa thoáng hiện nỗi đau buồn, thế nhưng ngay lập tức chàng đã kiên nghị trở lại, lạnh lùng nói:
“Ta cũng không giấu các ngươi, đứa trẻ này là con trai độc nhất của Lưu đại nhân cai quản thành, cả nhà Lưu đại nhân đã tuẫn tiết vì nước, vì vậy dù thế nào ta cũng phải thay ông ấy giữ được giọt máu cuối cùng này. Hôm nay các ngươi phải giúp ta đưa đứa trẻ này ra khỏi thành, nếu không…”, Đường Thiệu Nghĩa ngừng lại một lát, đe dọa: “đừng trách ta không khách khí”.
A Mạch nghe thấy chàng ta nói vậy, biết rằng hôm nay mình và Từ Tú Nhi không thể dễ dàng trốn chạy được, nên cũng không nói gì thêm, cúi đầu dùng tay ấn mạnh vào nhân trung của Từ Tú Nhi. Hồi lâu Từ Tú Nhi mới thở hắt ra một hơi, vừa mở mắt nhìn A Mạch liền khóc.
A Mạch mềm lòng trước tiếng khóc của Từ Tú Nhi, chỉ biết nhẹ nhàng an ủi: “Đừng khóc nữa, khóc cũng có ích gì đâu, cô phải sống cho tốt mới có thể an ủi được cha, xét cho cùng cũng chưa rõ cha cô có chuyện không, ta đã từng lên bảo vệ thành, chẳng phải vẫn sống đấy thôi. Đầu tiên chúng ta hãy rời khỏi nơi này, chờ chiến loạn tan rồi thì quay về tìm cha cô”.
Từ Tú Nhi cũng là cô gái kiên cường, khóc một lúc rồi ngưng, chỉ cúi đầu sụt sịt. Trong lúc đó Đường Thiệu Nghĩa đã khoác lên mình bộ quân phục của quân Bắc Mạc, tiếp đó vứt hai bộ quân phục tới nói: “Mau thay đi!”.
A Mạch mặc bừa bộ quân phục, nhìn thấy Từ Tú Nhi cũng đang khoác lên người, liền nghĩ ngăn lại: “Cô không cần phải mặc, chỉ cần búi tóc lên là được, làm vậy sẽ giống phụ nữ đã có chồng”.
Nhận thấy Từ Tú Nhi và Đường Thiệu Nghĩa đang nghi ngờ nhìn mình, A Mạch liền giải thích: “Người Tú Nhi gầy gò, mặc quân phục vào cũng không giống quân Bắc Mạc, trái lại sẽ khiến bọn giặc nghi ngờ, chi bằng ăn mặc giống như một người phụ nữ ôm con, còn hai người chúng ta sẽ giả vờ làm hai tên lính Bắc Mạc chém giết, dâm đãng, cướp bóc. Gặp phải đại quân của giặc đương nhiên sẽ không quan tâm gì tới chúng ta còn nếu gặp toán lính nhỏ cũng dễ che đậy”.
Trong ánh mắt Đường Thiệu Nghĩa thoáng hiện sự tán thưởng, Từ Tú Nhi nghe A Mạch nói vậy lại đỏ mặt ngượng ngùng, thế nhưng tình thế nguy hiểm cũng không để ý nhiều, liền cởi bộ quân phục đã mặc được nửa người ra, tiếp đó búi tóc cho giống với phụ nữ đã có chồng. Ba người nhanh chóng thu dọn, không dám lưu lại lâu. Từ Tú Nhi ôm đứa trẻ, A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa bảo vệ hai bên đi ra cửa.
Đứa trẻ khóc đã lâu nên mệt, chưa đi được bao xa đã ngủ thiếp trong vòng tay Từ Tú Nhi. Tranh thủ đêm tối, ba người chọn đi trong những ngõ nhỏ vắng vẻ, tĩnh lặng. Trên đường mấy lần đi ngang qua trại của quân Bắc Mạc, may mà Từ Tú Nhi quen địa hình ở đây, chỉ cần nghe thấy động tĩnh ở xa liền đi đường vòng, hết lần này tới lần khác chỉ bị kinh sợ chứ không gặp nguy hiểm.
Trời dần sáng, cuối cùng ba người đã ra khỏi ngõ nhỏ tới con đường rộng thông với cửa thành. Đây từng là con đường phồn hoa tấp nập nhất của thành Hán Bảo. Hai bên đường vốn có rất nhiều hàng quán, bây giờ chỉ còn sót lại vài bức vách điêu tàn, trên đường đâu đâu cũng là xác binh lính Nam Hạ, con đường đá dưới chân đã bị máu tươi nhuộm đỏ. A Mạch cảm thấy giẫm tới đâu cũng có cảm giác trơn trơn, nhờn nhờn.
Chân của Từ Tú Nhi đã mềm oặt ra rồi, cô ta bước đi nhưng dựa hoàn toàn vào lực xốc hai bên của A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa. Nhìn thấy cổng thành càng lúc càng gần, A Mạch lại dần cảm thấy căng thẳng, chỉ cần ra khỏi cổng thành là có thể thoát khỏi địa ngục trần gian này. Ba người đang đi bỗng Đường Thiệu Nghĩa dừng bước, khẽ nói: “Bên ngoài thành có người tới!”.
A Mạch thầm lo lắng, tiếp đó liền nghe thấy tiếng tiếng vó ngựa phi hỗn loạn về hướng cửa thành. Nỗi sợ luôn dồn nén trong lòng nàng cuối cùng đã lên đến đỉnh điểm, nàng định quay người chạy trốn theo bản năng nhưng bị Đường Thiệu Nghĩa túm lại: “Chúng cưỡi ngựa, chạy cũng không lại đâu! Trước tiên hãy cứ nấp vào đâu đó rồi tính sau!”.
Nói rồi kéo A Mạch và Từ Tú Nhi nấp sau mảng tường đổ.
Họ vừa ngồi xuống, đám kỵ binh kia đã vào cửa thành, nghe tiếng vó ngựa có thể đoán được không dưới bốn, năm chục người. Đám người đó sau khi vào thành liền đi chậm lại, tuy số người không hề ít nhưng tuyệt đối không nhốn nháo. A Mạch cảm thấy cổ họng khô lại, tim đập thình thịch, Từ Tú Nhi ở bên cạnh run bần bật, nhắm nghiền mắt, cắn chặt môi chỉ sợ mình bật khóc. A Mạch quay đầu nhìn sang Đường Thiệu Nghĩa thấy chàng ta khẽ nheo mắt, tay nắm chặt chuôi kiếm, xem ra sẵn sàng giết giặc bất cứ lúc nào.
Ba người đang khốn đốn chợt nghe thấy tiếng khóc trẻ con vang lên A Mạch cúi đầu nhìn xuống, đứa trẻ không biết tỉnh dậy từ lúc nào, có lẽ do quá đói nên đã thức giấc. A Mạch thầm gào khóc thảm thiết, ông tổ nhỏ ơi, chẳng phải là ông muốn lấy mạng của mọi người sao? Tiếng vó ngựa trên đường quả nhiên dừng lại, tiếp đó nghe thấy chạy về hướng ba người. A Mạch trong lúc dầu sôi lửa bỏng lại nhanh trí vô cùng, một tay kéo Đường Thiệu Nghĩa đang muốn đứng dậy xông ra giết chóc, một tay bế đứa trẻ trong lòng Từ Tú Nhi để sang một nơi rồi khẽ nói: “Mau gào khóc đi!”.
Từ Tú Nhi đã sợ tới ngây dại từ lâu, may mà cô sớm đã hình thành phản xạ có điều kiện đối với mệnh lệnh của A Mạch, nghe thấy A Mạch dặn vậy, tâm trạng cũng không cần phải chuẩn bị nữa, ngoạc miệng khóc “òa” một tiếng. A Mạch cũng chẳng còn thời gian để ý tới sự kinh ngạc của Đường Thiệu Nghĩa, hung hãn đẩy Từ Tú Nhi xuống đất, một mặt cố ý xé rách quần áo của cô, mặt khác khàn giọng cười nham hiểm: “Tiểu mỹ nhân đừng khóc, ông đây yêu ngươi lắm!”.
05:21 CH 03/04/2012
Người tình Bắc Hải
Một tuần trước,
Có một tác gia tên Trương Phan gọi điện cho cô, hỏi số lượng in ấn tác phẩm của mình. Khi biết chỉ có một vạn bản, ông ta gầm lên: “Có nhà xuất bản hứa in tám vạn bản tôi còn chưa duyệt, các người lại chỉ in có một vạn, coi thường tác phẩm của tôi đến thế là cùng!”
“Vậy sao ông không đưa cho họ in ?”
“Bởi vì tình bạn là trên hết, bạn bè giới thiệu tôi, họ nói các vị ít nhất cũng là hai mươi vạn bản cho lần in đầu tiên.”
“Vậy ông bảo bạn ông in giúp, nhà xuất bản chúng tôi không in được.” Mao Lệ nói xong cúp máy. Gã này đầu óc đúng là có vấn đề, thị trường sách bây giờ ảm đảm như vậy, tiêu thụ được ba vạn đã là nhờ Bồ Tát phù hộ rồi. Sau đó cô cũng quên mất, không ngờ Trương Phan gọi điện cho trưởng phòng biên tập, kể tội Mao Lệ, Dung Nhược Thành gọi cô đến văn phòng nghiêm khắc phê bình, yêu cầu cô xin lỗi tác giả Trương Phan, còn phải viết một bản kiểm điểm nộp cho ông.
Mao Lệ vốn không quen viết kiểu văn chính thống, đành nhờ cô nhân viên thử việc Vương Cẩn viết giúp. Con bé này người to béo, nói năng ỏn en, nhưng văn tài rất đáng nể, nghe nói ngay khi học đại học đã có tiểu thuyết đăng trên mạng, viết năm ngàn chữ đối với cô ta chỉ là chuyện vặt, bản kiểm điểm này cô chỉ phảy bút là xong. Mao Lệ nghe vậy tuyệt đối yên tâm.
Có điều không hiểu tại sao Bạch Hiền Đức lại biết, lúc đó đã cảnh báo cô, “Mao Lệ, cô to gan thật, nếu sếp Dung biết, là cô bị lột da.”
“Không sao đâu, Tiểu Vương viết xong in ra, em lén để lên bàn sếp là xong, ai biết!” Mao Lệ tuyệt nhiên không bận lòng chút việc cỏn con đó.
Bây giờ đột nhiên Dung Nhược Thành hỏi đến bản kiểm điểm, hay là ông ta đã phát hiện ra? Con bé Vương Cẩn tuy hơi điệu đà nhưng làm việc chắn chắc, không biết trong đó viết gì, dù sao cũng chỉ là bản kiểm điểm, đâu có thể xảy ra chuyện gì lớn. Mao Lệ tròn mắt, lưng toát mồ hôi.
Dung Nhược Thành chú ý đến sắc mặt của cô, hỏi: “Cô sao thế?”
Mao Lệ giật mình vội trở mặt làm tươi, mỉm cười: “Không có gì, tôi đang…đang nghĩ, trong bản kiểm điểm đó…”
“À,” Dung Nhược Thành hai tay đan vào nhau, trầm ngâm nói, “…Mấy ngày nay tôi cũng đang nghĩ đến bản kiểm điểm đó, viết rất…rất sâu sắc, cũng khiến tôi rất…rất bất ngờ, Mao Lệ, chuyện này…ờ,…chuyện này nói thế nào nhỉ, cô nói đi.”
“Ô? Tôi nói?” Mao Lệ hoàn toàn không hiểu.
“Cô viết, đương nhiên cô nói thì hơn.” Dung Nhược Thành ấp úng, mắt bối rối né tránh. Quái quỷ gì thế này? Mao Lệ cố nuốt nước bọt. Cha mẹ ơi, cô hoàn toàn không biết bản kiểm điểm đó viết gì, giờ lại bảo cô nói.
“Sao thế? Cứ nói tự nhiên…” Dung Nhược Thành cười, ông rất ít cười, nụ cười đó còn khiến người đối diện hoang mang hơn là vẻ nghiêm nghị cố hữu của ông.
Mao Lệ gãi tai, mân mê mấy sợi tóc, khó nhọc nói, “Trưởng phòng, ông có điều gì cứ nói thẳng, tôi… tôi xin nghe.”
Cuối cùng Dung Nhược Thành cũng nhìn thẳng cô, ngập ngừng giây lát, nói: “Mao Lệ, nếu đúng như cô viết, tôi không có ý kiến gì. Chúng ta cùng làm việc hai năm, thiết nghĩ đã hiểu nhau. Con người tôi…không biết nói năng, nhưng vẫn đầy nhiệt huyết với cuộc sống, tuy nhiên tôi có lập trường và nguyên tắc của mình, rất nhiều lúc không thể không…ồ, nói thế nào nhỉ? Mỗi chúng ta đều có những khó khăn riêng, từng bị tổn thương thành ra trở nên vô cùng nhạy cảm, rất sợ đi vào vết xe đổ ngày xưa, cho nên trong chuyện tình cảm, cho dù có ý nghĩ cũng giấu kỹ trong lòng. Không biết cô có hiểu ý tôi, ý tôi là, con người tôi không phải là lòng dạ sắt đá, tôi cũng nhận thấy, cô không như vẻ bề ngoài…chuyện này nói thế nào nhỉ, ý tôi là…ờ cho nên…chuyện đó…cô hiểu không?”
Mao Lệ nghẹo đầu, cô hiểu không? Ôi, No, cô chả hiểu gì hết! Mặc dù đã cố lắng nghe, nghe từng lời của Dung đại nhân, ngay tiếng thở rất nhẹ cũng không bỏ qua, nhưng cô vẫn mù tịt, từ đầu chí cuối không hiểu, rút cục ông đang nói gì. Nhìn ông ấp a ấp úng, hình như còn khẽ run, người run phải là cô, ông ra run gì chứ?
Ơn trời, lúc đó có tiếng gõ cửa, là Bạch Hiền Đức. Rõ ràng đến cứu nguy.
Dung Nhược Thành cũng như trút được gánh nặng, nói: “Mời vào”
Bạch Hiền Đức cười tủm tỉm cầm tờ hóa đơn đi vào, “Báo cáo sếp, đây là tiền nhuận bút của tác giả Lưu Ly, mời sếp ký giúp.” Lúc Dung Nhược Thành cúi đầu đọc hóa đơn, Bạch Hiền Đức đá vào chân cô, ý bảo chạy mau. Chuyện này còn gì để nói, Mao Lệ lập tức đứng lên, cung kính, “Nếu không có việc gì nữa, tôi xin phép đi.”
Dung Nhược Thành chỉ “ừ” một tiếng, không ngẩng đầu.
Mao Lệ chạy biến như bốc hơi, trở về phòng làm việc lập tức lao lên đi văng, thở dốc, lát sau dáo dác ngó quanh, “Này, Vương Cẩn chết tiệt chạy đâu rồi, tôi phải tìm nó…”
“Tôi bảo nó đến nhà kho lấy hàng rồi.” Bạch Hiền Đức bước vào nói, chưa được hai phút đã không nén nổi, ghé tai Mao Lệ khẽ hỏi: “Này, trong bản kiểm điểm cô viết gì thế, Dung đại nhân mấy hôm nay rất khác, mỗi ngày đều qua lại phòng chúng ta mấy lần, dường như muốn lột da cô…”
Mao Lệ là kiểu người điển hình sống ngày nào biết ngày đó, cho dù ngày mai tận thế, hôm nay cũng vui chơi đã, Dung Nhược Thành muốn lột da cô, ngày mai cùng lắm diễn vở một kịch thật mùi mẫn cho ông ta xem, cô chẳng bận tâm sếp sẽ làm gì mình, quay sang tán với Tùng Dung về kiểu tất lụa mới đang thịnh hành, rồi bắt đầu đọc bản thảo, đọc một lúc đã hoa mắt, không biết “bà già” Bạch lại chạy đi đâu, vậy là lên mạng ăn trộm rau. Gần đây Mao Lệ rất mê trò ăn trộm rau, vừa chơi đã nghiện, thường nửa đêm thức dậy mò vào vườn nhà người ăn trộm. Trình độ hiện nay của Mao Lệ đã ở mức rất cao, có thể trồng nhân sâm tuyết liên, cũng có thể nuôi gấu trúc, nhoáng cái cô đã ăn nẫng được hai con hươu sao non, một cây nhân sâm, bốn củ hà thủ ô. Lúc này đang phục kích ở vườn nhà đồng nghiệp Đường Khả Tâm chờ ăn trộm chuột túi, đột nhiên từ trong kênh đối thoại của MNS bắn ra một trái tim đỏ nhảy thình thịch, đó là “Cát Bụi” bạn chat của cô hơn một năm vừa rồi.
Trong những bạn mạng đông đảo của Mao Lệ, Cát Bụi có thể coi là một người trầm lặng, kiệm lời, rất lịch thiệp, Mao Lệ chỉ biết đó là một người đàn ông có tuổi, ngoài giới tính, các thông tin khác như nghề nghiệp, hôn nhân, địa chỉ cô đều không biết.
Cát Bụi có thể chat với Mao Lệ hơn một năm, nguyên nhân quan trọng là anh ta chưa bao giờ vặn hỏi cô, luôn lặng lẽ đến, lặng lẽ đi, không hề gây phiền phức cho cô. Mao Lệ sợ nhất phiền phức, có một số kẻ mới nói vài câu, là đã muốn biết hết tông tích mười tám đời nhà người ta, rồi lại yêu cầu gặp mặt, gặp những kẻ như thế cô thường đẩy ngay vào danh sách đen. Còn đại huynh Cát Bụi này chưa bao giờ hỏi thừa một câu, cũng không bao giờ đả động đến *********. Có lúc chính Mao Lệ đùa trước, anh ta còn tránh. Nhưng ngày hôm sau gặp lại, anh ta vẫn chào hỏi bình thường, hỏi cô có bị muộn giờ làm không, đã ăn sáng chưa, tâm trạng có tốt không, giống như những câu cha thường hỏi qua điện thoại, thân thiết và ân cần khiến Mao Lệ không thể từ chối. Do từ nhỏ cha mẹ đã ly hôn, thiếu hụt tình cha con, khiến cô luôn có cảm tình với những người đàn ông có tuổi, cô cũng không e dè tuyên bố với cả phòng biên tâp, “Tôi thích những ông già”
“Cô đang làm gì?” Cát Bụi hỏi Mao Lệ trên MNS.
“Ăn trộm rau.”
“Trộm rau ?”
“Phải, một trò chơi, ông không biết đâu.”
“Biết làm thế nào, già rồi không theo kịp thời đại.”
“Thôi đi, đừng cố tình đóng giả người già với tôi.”
“Sếp của cô không quản lý cô sao?”
“Anh nói là bà già Bạch ư ? Ồ, bà ấy đi rồi…đáng tiếc, con chuột túi đó vốn dĩ tôi có thể kều được, tôi đã mai phục nửa ngày rồi.”Cô gõ chữ rất nhanh, “Anh biết không, sáng nay đi làm tôi suýt chết, bị sếp trưởng gọi và phòng làm việc của ông ta.”
“Chuyện đó có gì đáng sợ ? Sếp gọi nhân viên là chuyện thường.”
“Chuyện thường, nhưng vấn đề là tôi vô cùng căng thẳng.”
“Tại sao căng thẳng, làm chuyện gì xấu chăng ?”
“Không phải, mấy hôm trước ông ta bảo tôi viết bản kiểm điểm, tôi không có thời gian viết mới nhờ cô nhân viên thử việc viết giúp, không biết có phải ông ta đã phát hiện ra, hôm nay gọi tôi đến văn phòng hỏi chuyện đó.”
Cát Bụi im lặng một hồi, không trả lời.
Mao Lệ gõ chữ hỏi,” Sao thế?”
Vẫn im lặng.
“Này, không sao chứ?”
Cuối cùng Cát Bụi nói, “À, tôi có điện thoại, cô vừa nói gì ?”
“Không có gì, chỉ là nhờ người viết giúp bản kiểm điểm, có lẽ bị sếp phát hiện.”
“Muốn người ta không biết, trừ phi đừng làm, chuyện này cô làm thế là không được. Cho dù không có thời gian viết cũng nên nói rõ với sếp, sao có thể nhờ người viết thay? Như vậy là lừa dối!”
“Ôi, nghiêm trọng thế ư? “Mao Lệ sợ hãi.
“Có lẽ, nghiêm trọng hơn cô nghĩ.”
“Vậy tôi phải làm thế nào?”
“Tự nghĩ xem, tôi có việc, đi trước đây. Bai bai!”
“Này, này, nói cho tôi biết tôi nên làm gì!”
…
Tín hiệu tắt máy.
Tin đồn
Suốt cả buổi sáng Mao Lệ tâm thần bất an, vừa nghĩ tới những lời của Cát Bụi cô đã sởn gai ốc, lừa dối… nghiêm trọng thế sao? Đang ngồi ngây trước vi tính, Bách Hiền Đức đi vào, kéo tai cô nói: “Đi họp!”
Ngày mười lăm hàng tháng, phòng biên tập đều có cuộc họp đề xuất sách mới, ba đề xuất lần này của Mao Lệ đều bị gạt, có lẽ vẫn bị ảnh hưởng của không khí xui xẻo buổi sáng. Hơn nữa rất kỳ lạ, bình thường cuộc họp này trưởng phòng Dung bao giờ cũng tham dự nhưng hôm nay tuyệt nhiên không thấy bóng dáng, nói là có việc ra ngoài. Mao Lệ thấp thỏm không yên, cứ nghĩ đến sự việc bản kiểm điểm sáng nay, là người đã run lên như bị ma nhập.
Họp xong, cả phòng lại bàn luận một vấn đề rất thú vị: đàn ông càng già càng đáng tiền, tự nhiên lại lôi Mao Lệ vào cuộc. Bởi vì Mao Lệ công khai nói thích ông già, các cô bạn đồng nghiệp mới suy nghĩ lựa tìm cho cô một “đối tượng” phù hợp. Người đầu tiên là đại gia Hứa Mậu Thanh, Mao Lệ lắc đầu nguầy nguậy” “Đào hoa như thế, tôi không kham nổi.”
Cả phòng mỗi người một câu, tính đi tính lại, đều không phù hợp điều kiện của Mao Lệ, cuối cùng Bạch Hiền Đức phán, “Các cô đã bỏ sót một người.”
“Ai?” Tất cả đồng thanh.
Bạch Hiền Đức nháy mắt chỉ phòng bên, Đường Khả Tâm nhận ra sớm nhất, “A,
trưởng phòng Dung!”
Mọi người ồ lên.
Mao Lệ lẩm bẩm: “Thôi, đại tỷ, tha tôi đi, tôi sẽ độc thân suốt đời!”
Tùng Dung cười ranh mãnh, nói: “Phó phòng Dung điều kiện rất khả dĩ, ly hôn đã lâu, con cái theo mẹ ra nước ngoài, không có gánh nặng gì, không có thói quen xấu, tư cách đoan chính, một ứng viên sáng giá.”
“Vớ vẩn, vậy sao cô không lấy ông ta?” Mao Lệ nghiến răng.
“Tôi…tôi có người rồi.” Tùng Dung rụt đầu nói.
“Vậy đừng đẩy tôi vào lửa.”
“Sao lại nói thế, Mao Lệ!” Bạch Hiền Đức cau may, “Sếp Dung ít nói, nhưng con người thực ra rất được, sao lại là lửa? Tôi cùng làm việc nhiều năm ở đây, ông ta là người đứng đắn nhất mà tôi gặp, đặc biệt rất chân thành, không màu mè…”
Mọi người dồn mắt vào Bạch Hiền Đức, cô sầm mặt, “Thôi, tất cả về làm việc!”
“Tuân lệnh!” Các cô gái tản đi. Căn phòng yên tĩnh hẳn. Mao Lệ vừa rồi tức đầy bụng, chưa thể có tâm trạng làm việc, lúc này Vương Cẩn đẩy một xe sách uốn éo đi vào. Mao Lệ lập tức nghĩ đến bản kiểm điểm, vẫy cô ta: “Vương Cẩn, lại đây, tôi hỏi cô, bản kiểm điểm cô viết thế nào?”
“Chị muốn xem à, em vẫn còn một bản, vì nghĩ chị muốn xem nên em in hai bản!” Vương Cẩn hớn hở chạy đến cái bàn nhỏ của mình lấy trong ngăn kéo một tập mỏng giấy A4, Mao Lệ trố mắt, “Cô…cô viết nhiều vậy sao?”
“Hơn ba vạn chữ!” Vương Cẩn hãnh diện nói.
Mao Lệ thở hắt ra, run run đón lấy, còn chưa kịp xem đã bị Bạch Hiền Đức cướp mất, chị ta còn nôn nóng hơn cô, “Để tôi xem trước, khá lắm, con bé này, chỉ một bản kiểm điểm lại viết được dài như thế.”
“Thực ra em có thể viết dài hơn.”Giọng Vương Cẩn ỏn ẻn.
Bạch Hiền Đức nhìn lướt mười dòng một, mới xem được phần mở đầu, mắt trợn ngược nhìn Mao Lệ, như vừa gặp ma, khiến Mao Lệ hốt hoảng.
Cô lập tức linh cảm chuyện không hay, vội cướp lấy xem___
Phó tổng biên tập Dung!
Không, thực ra em muốn gọi ông là “Anh Nhược Thành”, có lẽ ông sẽ cảm thấy rất đường đột, nhưng em không nghĩ ra cách nào tốt hơn để thể hiện lòng mình, xin thứ lỗi…Ông có biết, viết ra những dòng này em đã phải dũng cảm thế nào, em chưa bao giờ hồi hộp đến thế. Lúc này, ngoài cửa sổ mưa rả rích, nghe tiếng mưa rơi, bộc bạch nỗi lòng, càng thấy buồn vô hạn. Bất chợt nghĩ đến câu thơ đã đọc hồi nhỏ, em không nhớ lắm đại ý là: Đêm thanh vắng, ngoài song tiếng mưa rơi, bên ngọn đèn lòng sầu vô hạn, ai biết tri âm có hay…gần đây em thường tự hỏi, rút cục tại sao lòng em cứ nặng chĩu ưu phiền, tưởng là cá tính như thế, đến bây giờ mới hiểu, thì ra là do quá nhớ nhung. Một người con gái, khi trong lòng có người để nhớ, thường trở nên tư lự đa sầu. Mặc dù mỗi ngày em đều nhìn thấy ông, ông chỉ cách một bức tường, em vẫn không sao kìm được nỗi nhớ. Dù ông nổi nóng, hay mỉm cười với em, đối với em đều là niềm vui và hạnh phúc vô bờ. Thực tình em cũng rất muốn xử lý tốt quan hệ với ông. Bởi vì mỗi lần nhìn mắt ông, hay bóng lưng ông, em mới thực cảm thấy, trong lòng có một người để nhớ kỳ diệu biết bao.. Em biết em rất bé nhỏ, em không có gì xuất sắc, nhưng ngay loài hoa dại cũng có quyền hướng về mùa xuân. Ông chính là mùa xuân xa vời nhất, mong manh nhất của em, giống như rừng rậm trong sương mù, có thể chạm vào nhưng không sao nhìn rõ…
“Ôi_____”
Mao Lệ kêu thét một tiếng.
Vương Cẩn giật nảy mình.
Bạch Hiền Đức hiểu ra, đẩy Vương Cẩn, “Chạy mau, đồ ngốc!”
Vương Cẩn lạch bạch chạy ra cửa.
Mao Lệ lao đến, nghiến răng, “Đợi xem tôi xé xác cô thế nào___”
Tạ ơn trời, suốt cả buổi sáng Dung Nhược Thành đi họp trên cục xuất bản, Mao Lệ có thời gian cùng Bạch Hiền Đức bàn bạc đối sách. Chuyện này rắc rối đây, Mao Lệ bồn chồn vò đầu bứt tai, chỉ muốn băm Vương Cẩn thành bảy mảnh, nhưng băm cô ta cũng chẳng ích gì, Dung Nhược Thành đã đọc “Bản kiểm điểm ”quái quỷ kia, tìm ra biện pháp đối phó mới là việc cấp bách. Bản kiểm điểm lại có thể viết thành ra như thế, ngoài cái đầu thần kinh của Vương Cẩn thật là vô tiền khoáng hậu. Khi Mao Lệ tóm được Vương Cẩn, hỏi cô ta sao lại viết như thế, Vương Cẩn tủi thân nói: “Chị Mao Mao, chẳng phải chị bảo em viết cảm nghĩ đối với trưởng phòng Dung sao?”
“Nhưng cũng không phải như vậy, cô đúng là óc lợn!”
“Nhưng mà chị….rõ ràng chị nói muốn xử lý tốt quan hệ với ông ấy, chị rất quan tâm ông ấy, lấy vinh hạnh được làm việc ở đây…” Vương Cẩn ấp úng, không hề có vẻ giả bộ, có lẽ cô ta hiểu nhầm ý Mao Lệ. Con bé này, đúng là óc lợn! Mao Lệ tức điên rên lên. Các đồng sự tò mò thò đầu ra hỏi: “Sao, chuyện gì thế? Mao Lệ lại bắt nạt cô bạn nhỏ phải không?”
“Cút!” Mao Lệ gục trên bàn không động đậy.
Trưa hôm đó, Bạch Hiền Đức kéo Mao Lệ đến quán cơm nhỏ cạnh nhà xuất bản, gọi cơm xong, mắng cô một trận, “Tôi phải gì với cô đây, Mao Mao cô gây họa lớn rồi! Thảo nào mấy hôm nay sếp Dung bồn chồn như muốn tóm cô ngay, thì ra là vì thế, Để xem cô thu xếp thế nào! Lần này cô đùa quá trớn! Bây giờ không hiểu ông ấy có biết không phải do cô viết.”Chợt hạ giọng, “Nếu không, liệu ông ấy có tưởng là…”
“Đừng dọa tôi, đại tỷ” Mao Lệ sợ rúm người.
“Vậy sáng nay ông ấy gọi cô đến văn phòng làm gì, ông ấy nói sao?”
Mao Lệ há mồm cứng lưỡi.
“Không…không nói gì, em cũng không biết ông ấy nói gì, ông ấy ấp a ấp úng, em nghe không hiểu.”
“Ấp úng ?”
“Đằng nào cũng…cũng không hiểu ông ta nói gì…”
“Hỏng rồi!” Bạch Hiền Đức gõ tay xuống bàn.
“Sao?” Mao Lệ lại sợ hết hồn. Bạch Hiền Đức chồm người về trước, ghé sát cô nói: “Chắc chắn ông ấy đang thăm dò cô, Dung Nhược Thành xưa nay là người nói năng làm việc dứt khoát. Nếu có lúc không dứt khoát, thì chứng tỏ….Ôi, chứng tỏ ông ta hoang mang, không biết biết làm thế nào.”
Mao Lệ cũng ghé lại gần, “Nghĩa là sao?”
Bạch Hiền Đức lườm cô, “Cô thông minh thế, sao chậm hiểu vậy. Chắc chắn ông ta không biết nói với cô thế nào, chắc chắc ông ta tưởng là cô viết, tưởng là cô thầm yêu ông ta thật.”
“Cha mẹ ơi, tôi thầm yêu ông ta? Tôi…tôi thầm yêu ông ta?” Mao Lệ múc canh vào bát, giọng tủi thân,“Tôi bằng này tuổi chưa bao giờ thầm yêu ai, chỉ có người ta thầm yêu tôi. Cho dù tôi có thầm yêu ai đó, cũng không phải la ông ta…sao có thế, ông ta như vậy, sao tôi có thể yêu?”
Bạch Hiền Đức nghe thế lại không vui, gõ đũa cành cạnh: “Cô nói gì vậy? Thế nào là ‘ông ta như vậy’? Sếp Dung rất tốt, chỉ có tính cách hơi kỳ một chút, cô không nên bóp méo người ta! Suy nghĩ cho kỹ, sáng mai giải thích với ông ấy. Theo tôi cứ nên nói thật, mặc dù tôi đã dặn Vương Cẩn không được tiết lộ chuyện này, nhưng cái mồm loa của cô ta chắc gì giữ được? Để bị phát hiện chi bằng chủ động nói thật. Sếp Dung không phải không biết điều, hơn nữa hình như cũng…rất cưng chiều cô, cô xin nghỉ liên tục ông ấy cũng chẳng nói gì. Này, có phải ông ấy thầm yêu cô?”
“Bà chị ___”
Mao Lệ thẫn thờ suốt buổi sáng, hoàn toàn không có tâm trạng đọc bản thảo, lại vào mạng thu hoạch rau, thu hoạch xong lại chạy đi hẹn hò. Đang chán ngán thì mẹ gọi điện, vừa “ a lô” đã bị bà mắng té tát. Mẹ cô là thế, cứ mở miệng là băm bổ. Mao Lệ từ nhỏ lớn lên trong tiếng la mắng của bà, vì thế cô cũng dạn dĩ hơn người khác, nhưng cũng giống mẹ rất yếu đuối, mỗi lần cô về nhà, mẹ luôn vừa chửi vừa xuống bếp nấu ăn cho cô.
Mao Lệ đã quen tính mẹ, nghe mãi, thì ra mẹ trách cô đã lâu không về nhà, bà nhớ con gái, lại không chịu nói ra. Mao Lệ đang bận làm mấy cuốn sách, không dứt ra được quả thực hai tháng không về Bắc Hải, vậy là cô hứa, cuối tuần này sẽ về.
“Tốt nhất cô đừng về! Chết ở đâu tôi cũng mặc xác!” Khi cúp máy mẹ vẫn còn chửi.
Mao Lệ thở dài, bà già bụng nhớ con mà miệng vẫn mắng mỏ.
Nhưng cú điện thoại tiếp theo, khiến cô không thể không về. Đầu dây bên kia là một giọng đàn ông lạ, trầm ấm và quyến rũ, “Chào cô, xin hỏi có phải cô Mao Lệ?”
“Vâng, tôi đây, anh là ai ?”
“Tôi là Triệu Thành Tuấn, muốn thuê căn nhà của cô, liệu có thể gặp cô không?”
Căn nhà của cô đã bỏ trống hai năm, địa thế tuyệt vời, nằm ngay trên con đường Hải Cảnh ven bờ Bắc Hải, ra khỏi cửa là bãi biển.
10:18 SA 20/03/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
“Ma nữ” nghẹn ngào gật đầu, A Mạch thử lỏng tay một chút, quả nhiên “ma nữ” không kêu thét nữa, lúc này A Mạch mới buông hẳn tay ra. A Mạch ngồi phịch xuống đất, thở phào nhẹ nhõm. Lúc này nàng không sợ người cũng chẳng sợ ma, chỉ sợ tạo ra tiếng động nào đó kéo bọn Bắc Mạc quay lại.
Phải rất lâu sau đó, tim A Mạch mới đập bình thường trở lại, ngay lập tức cơn đói lại khiến nàng không chịu nổi. Nàng quay đầu nhìn “ma nữ” kia, tiếp đó kéo nửa miếng lương khô còn đang mắc trong miệng ma nữ ra, lấy tay đập đập rồi thổi mấy cái. Nàng cũng chẳng thèm để ý tới ánh mắt sợ hãi của “ma nữ”, tiếp đó tống luôn miếng lương khô vào miệng, dùng sức nuốt thật lực vào bụng.
Lương khô vốn khô ráp, cộng thêm cả ngày hôm nay A Mạch không có giọt nước nào vào miệng, nên vừa nuốt xuống đã tắc nghẹn cả cổ. Nàng đấm mạnh vào ngực nhưng vẫn vô hiệu, xem ra nghẹn tới mức không thở được rồi. Trong lòng A Mạch chua xót vô cùng, bao nhiêu sóng gió đã qua rồi, không ngờ cuối cùng lại bị chết bởi miếng lương khô. Nếu gặp lại cha mẹ ở thế giới bên kia liệu họ có buồn cười chết đi vì nàng không nhỉ?
“Thụp, thụp!”
A Mạch tiếp tục đấm vào ngực, “ma nữ” há hốc mồm ra nhìn trong giây lát rồi vội vàng trèo khỏi đống củi, lóng ngóng múc nửa gàu nước trong chum đưa tới, tiếp đó dìu A Mạch đứng lên rồi đổ nước vào miệng, vừa đổ nước vừa vỗ vỗ mạnh vào lưng A Mạch.
Tới lúc uống cạn nửa gàu nước, lương khô mắc ở cổ A Mạch mới trôi xuống bụng, nàng vừa nghẹn giờ lại bị sặc, nước mắt nước mũi đầm đìa cả mặt.
“Cám ơn ngươi!”
A Mạch khàn khàn cất tiếng. Chất giọng của nàng vốn thấp trầm, vừa rồi lại bị miếng lương khô to làm trầy xước cổ họng khiến giọng nói càng khàn hơn.
“Ma nữ” kia trong lúc cấp bách, chẳng để ý tới việc phân biệt nam nữ, nay thấy A Mạch không sao rồi, mới chợt nhận ra thái độ đối với chàng trai trước mắt quá đỗi thân mật. Cô ta ngượng nghịu, khuôn mặt thoáng ửng hồng, buông A Mạch ra rồi lùi về sau hai bước, cúi đầu không dám nhìn A Mạch nữa.
Mười lăm tuổi A Mạch đã bắt đầu mặc đồ con trai, tới bây giờ dây thần kinh đã được mài thô như dây đay rồi, do vậy đâu đoán được tâm tư của cô gái kia. Nàng vẫn cho rằng cô gái kia sợ mình, liền giơ tay áo lên vuốt mặt rồi cười hì hì hai tiếng.
Nếu nàng không cười còn không sao, nụ cười này của nàng khiến cô gái kia lại lùi về phía sau thêm hai bước.
Nhìn cô gái nhỏ bị mình dọa tới mức này, A Mạch cũng không biết phải nói gì nữa, chỉ biết ngoác mồm cười mà thôi. Cả hai cùng im lặng, cô gái nhỏ kia thấy A Mạch không có hành vi vô lễ, mới mạnh dạn hơn một chút. Nghe thấy tiếng sôi sùng sục trong bụng A Mạch, cô lặng lẽ đi về đống củi phía góc tường mò mẫm một hồi, khi quay lại đưa cho A Mạch một tay nải nhỏ.
A Mạch nghi ngờ đỡ lấy, lúc mở ra vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, thì ra đó là năm chiếc màn thầu mềm dẻo thơm phưng phức. Nàng không dám tin hỏi lại:
“Cho ta à?”
Cô gái nhỏ gật đầu, sợ A Mạch lại bị nghẹn như vừa nãy, liền bê một gàu nước tới cho A Mạch. A Mạch cười ngượng nghịu cúi đầu nhìn những chiếc màn thầu trắng phốp, tự dưng lại tiếc không nỡ cho vào miệng. Nàng không nhớ là đã bao lâu không được ăn bánh màn thầu bột trắng rồi, giờ đây mùi vị thơm ngon đó thoảng bay tới khiến nước miếng ngay lập tức tiết ra đầy miệng. Nàng ngẩng đầu nhìn cô gái nhỏ một cái, còn chẳng nhớ phải cảm ơn liền cúi đầu ăn ngấu nghiến. Mãi tới khi ăn hết chiếc bánh thứ ba, động tác của A Mạch mới chậm lại, đúng lúc định đưa chiếc thứ tư vào miệng, đột nhiên nhớ ra người ta có cả thảy năm chiếc bánh, sao mình lại có thể ăn hết được chứ? Nghĩ tới đây, nàng luyến tiếc gói lại bánh vào tay nải, trả về chỗ cũ, rồi cúi đầu nói:
“Cảm ơn!”
Ánh sao từ ngoài cửa lọt vào tạo thành những vệt loang lổ trên người, lúc này A Mạch mới quan sát kỹ cô gái kia. Cô có dáng người mảnh mai, nhiều lắm chỉ mười bốn, mười lăm tuổi, mặt giống như quét nhọ nồi, đen xì xì nhìn không rõ, chỉ có đôi mắt sáng rất lanh lợi.
Cô gái nhỏ này cũng đang kín đáo quan sát A Mạch, tên cô ta là Từ Tú Nhi. Trong nhà chỉ có hai cha con sống nương tựa vào nhau. Hai ngày trước cha cô bị quan phủ bắt đi giữ thành, tới tận giờ vẫn chưa quay về, sau đó quân Bắc Mạc tấn công vào thành, hàng xóm láng giềng đều chạy loạn cả. Từ Tú Nhi vốn cũng định chạy loạn, nhưng lại sợ lúc cha trở về không tìm được mình, hơn nữa cô cũng không dám bỏ nhà đi. Bọn lính Bắc Mạc bên ngoài mặc sức chém giết, đốt phá, cướp bóc, Từ Tú Nhi trốn sau đống củi đã mỏi hết cả chân. Lúc A Mạch mò mẫm vào nhà, cô còn tưởng kẻ ác đột nhập, sợ tới mức run bần bật cả người, sém chút nữa đã khóc. Giờ thấy A Mạch không hề có bất kỳ hành động xâm phạm mình, không những thế lời ăn tiếng nói còn rất dịu dàng, lễ độ, mặc dù vẫn cảm thấy bất ổn khi ở chung trong căn nhà tối với một người con trai xa lạ, nhưng trong lòng lại dần cảm thấy vững tâm lên rất nhiều, không còn sợ hãi như khi chỉ có một mình nữa.
Từ phía xa vọng tới tiếng gào thét đòi giết của binh lính Bắc Mạc, trong lòng Từ Tú Nhi vô cùng sợ hãi. Cô tiến gần về phía A Mạch theo bản năng. A Mạch nhìn thấy cô yếu đuối, đáng thương liền vội vàng lên tiếng an ủi:
“Đừng sợ! Chúng ở cách xa đây lắm, khu nhà này nghèo xơ xác, có lẽ chúng sẽ không quay lại đâu.”
A Mạch vừa nói xong thì nghe thấy bên ngoài có tiếng người gào to: “Ở đằng kia, mau đuổi theo!”.
Tiếp đó tiếng gào giết càng lúc càng gần, dường như hướng về phía này.
A Mạch khiếp sợ kéo Từ Tú Nhi chạy vào trong sân, định nấp vào chỗ vừa trốn, nhưng vừa mới ra khỏi cửa nhà đã đứng ngây lại. Ánh lửa lấp loáng trong ngõ, hơn mười tên lính Bắc Mạc đuổi theo một tướng lĩnh Nam Hạ ôm một đứa trẻ sơ sinh đã tới cửa nhà lớn rồi.
Đám người này đến nhanh thật! Bây giờ có nấp cũng không kịp nữa rồi.
Dưới ánh lửa, A Mạch chỉ cảm thấy viên tướng bị truy sát kia hơi quen, nhìn kỹ lại hóa ra là viên hiệu úy nàng gặp lúc mới vào thành Hán Bảo.
Đường Thiệu Nghĩa một tay ôm đứa trẻ sơ sinh, tay kia cầm kiếm quyết chiến đấu không chịu lùi bước. Do ẩn nấp không tiện, A Mạch quyết định lộ mặt tìm cơ may sống sót. Khóe mắt Đường Thiệu Nghĩa lướt qua A Mạch và cô gái đang ngây người đứng ở cửa nhà, chàng cố gắng đỡ lưỡi đao của một tên lính Bắc Mạc vung tới, rồi quay người vừa ném mạnh tay nải trong tay về phía A Mạch vừa hét to: “Vào nhà!”.
A Mạch bị tay nải đập mạnh, trên tay lúc này đã có thêm một trẻ sơ sinh đang khóc oe oe, trong lúc hoảng loạn không nghĩ được gì, nàng vội vàng kéo Từ Tú Nhi quay vào trong nhà, đóng chặt cửa lại. Trong tay Đường Thiệu Nghĩa không còn đứa trẻ vướng víu, kiếm khí linh hoạt, trong nháy mắt đã có vài tên lính Bắc Mạc chết dưới đường kiếm. Toán quân Bắc Mạc ép dần Đường Thiệu Nghĩa tới trước cửa, một tên gào to: “Phóng hỏa!”. Ngay lập tức mấy bó đuốc được ném vào trong nhà, Đường Thiệu Nghĩa múa kiếm chém rơi mấy bó, nhưng vẫn có một bó rơi vào nhà.
Giấy dán cửa bắt lửa cháy, ngọn lửa quái ác ngay lập tức bén sang song cửa, tiếp đó khói đặc ùa vào nhà. A Mạch luôn mồm kêu, với tình hình trước mắt quân Bắc Mạc đương nhiên không có ý định bắt sống, nếu chạy ra ngoài nhất định sẽ bị muôn đao chém chết. Nhưng không chạy thì bó đuốc kia cũng đốt cháy ngôi nhà này, nếu không biến thành vịt quay thì cũng bị hun chết vì khói mất thôi. A Mạch cúi đầu nhìn đứa bé trong tay đã không còn khóc thành tiếng được nữa, liền nghiến răng nhét đứa trẻ vào lòng Từ Tú Nhi, rồi quay người lao vào ngôi nhà ngập ngụa khói, loáng một cái đã lao ra, tay cầm chiếc chăn bông cũ rách. A Mạch còn chẳng thèm giải thích với Từ Tú Nhi, lao tới vại nước rồi nhúng cả chiếc chăn vào, cuối cùng gọi to:
“Lại đây! Nhanh lên!”
Từ Tú Nhi vội vàng ôm đứa trẻ vừa lăn vừa bò tới, A Mạch trùm chiếc chăn đã ngấm nước lên ba người, thầm nghĩ có thể kéo dài được lúc nào hay lúc ấy. Hy vọng người đàn ông bên ngoài đủ bản lĩnh hạ hết được bọn lính Bắc Mạc, còn không lần này chắc chắn biến thành vịt quay mất. Đưa mắt sang nhìn Từ Tú Nhi đang run bần bật, A Mạch vội đỡ đứa bé, gượng cười an ủi:
“Đừng sợ! Nhà này xung quanh là tường đất, không dễ cháy đâu, cháy được một lát sẽ tự tắt thôi!”
Gắng chịu một lát, cả hai nhận thấy nhiệt độ xung quanh càng ngày càng cao, không khí càng lúc càng loãng, A Mạch nghĩ lần này chết chắc rồi, so với việc bị thiêu chết trong này, thà ra ngoài bị chém một đao còn dễ chịu hơn, liền gọi Từ Tú Nhi: “Đi thôi, chúng ta lao ra ngoài!”.
Từ Tú Nhi lắc đầu đáp: “Chân tôi mỏi nhừ rồi, không nhúc nhắc được nữa”.
A Mạch chửi thề mấy câu, dùng đầu đỡ chăn, một tay bế đứa bé, tay kia kéo Từ Tú Nhi chạy ra phía cửa. Vừa được mấy bước, cửa lớn đã bị người từ bên ngoài xô mở. Chiếc chăn trên đỉnh đầu ngay lập tức được vén ra, Đường Thiệu Nghĩa toàn thân máu me bê bết đứng ngay trước mặt nàng, trong ánh lửa trông càng giống với thần Tu La dưới địa ngục. Chàng ta cướp lấy đứa trẻ trong tay A Mạch, nhìn A Mạch và Từ Tú Nhi một cái, tiếp đó vác Từ Tú Nhi lên vai mình, rồi quay người lao ra bên ngoài. A Mạch thấy chàng ta không hề để ý tới mình, cũng chẳng thèm chửi kẻ vong ân phụ nghĩa, vội vàng chạy theo ra ngoài.
10:17 SA 20/03/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
Ngày hai mươi tám tháng Tám năm Thịnh Nguyên thứ hai lịch Nam Hạ, thành Hán Bảo bị công phá, Lưu Cánh tự sát trên thành, vợ là Trần Thị dẫn hai con gái treo cổ tự vẫn trên cột trong phủ, con trai duy nhất mất tích.
Thành Hán Bảo không hề yên tĩnh trở lại khi màn đêm buông xuống, ánh lửa trong thành sáng rọi khắp nơi, tiếng cười đùa chửi tục của binh sĩ Bắc Mạc, tiếng kêu gào, khóc lóc của dân Nam Hạ, tiếng kêu thét thảm thiết lúc rộ lên lúc lắng xuống trong thành. Đủ loại tạp âm lẫn vào nhau nếu không phải không cam tâm thì là khiếp sợ hoặc phóng túng lan truyền đi khắp mọi nơi trong thành, giống như một bàn tay vô hình, mỗi khi tới một nơi nào đó đều có thể khiến người nghe giật mình, cảm giác như tim mình thót lại giống như đang bị treo lơ lửng trong màn đêm, chốc chốc lại run rẩy…
Thậm chí đến cả ánh trăng trên trời dường như cũng không nhẫn tâm nhìn xuống, cứ nhắm chặt mắt lại.
Sắc đêm, quả thực rất đen.
So với âm thanh huyên náo hỗn loạn ở thành Hán Bảo, doanh trại Bắc Mạc đóng ở ngoài thành trái lại rất yên tĩnh. Ánh nến trong doanh trại chính vẫn sáng, bên trong năm sáu tướng lĩnh Bắc Mạc đang ngồi xung quanh một chiếc bàn vuông thảo luận gì đó. Vị tướng trẻ cầm đầu im lặng, không nói không rằng, chỉ cúi đầu nhìn tấm bản đồ trên bàn. Ngọn lửa lay động khiến bóng người dong dỏng in trên lều trại cũng trở nên sinh động hơn.
Bỗng từ bên ngoài lều vọng tới tiếng bước chân gấp gáp, một tướng quân mặc giáp gạt rèm bước vào khẽ bẩm báo:
“Bẩm Tướng quân, đội kỵ binh bốn vạn đã chuẩn bị xong, có thể xuất phát ngay lập tức, chỉ còn chờ tướng quân hạ lệnh.”
Vị tướng quân trẻ kia cuối cùng đã ngẩng đầu lên, khóe miệng hơi nhếch lên không rõ là cười hay không, nhưng vẫn không thể che lấp được sát khí giữa đôi lông mày. Đó chính là chủ tướng Thường Ngọc Thanh đang đóng trong thành Hán Bảo.
Đôi lông mày lưỡi kiếm của Thường Ngọc Thanh khẽ nhướn lên, rồi đưa ánh mắt nghiêm nghị lướt qua mấy vị tướng xung quanh, hỏi khẽ: “Các tướng đều đã nghe rõ về việc bố trí ban nãy rồi chứ?”.
Các tướng lĩnh nhất tề hô rõ, riêng chỉ có tiếng đáp của phó tướng Khương Thành Dực pha lẫn sự do dự. Vị phó tướng lưỡng lự một lát rồi nói: “Tướng quân, mạt tướng…”.
Thường Ngọc Thanh còn không chờ cho Khương Thành Dực kịp nói gì tiếp đã chặn lại, nửa cười nửa không hỏi lại: “Sao vậy? Thành Dực cho rằng sự sắp xếp của ta có gì không ổn sao?”.
“Mạt tướng không dám.”
Khương Thành Dực vội vàng thanh minh, sau khi nhìn nét mặt của Thường Ngọc Thanh xong vẫn cung kính nói:
“Mạt tướng chỉ muốn tuân theo tướng quân, nhưng trước khi đi nguyên soái cũng dặn dò mạt tướng phải bảo đảm chắc chắn sự an toàn của tướng quân.”
Từ lâu Thường Ngọc Thanh đã biết nguyên soái để Khương Thành Dực làm phó tướng cho mình mục đích là để bó buộc mình, trên cả chặng đường dài phải nghe những lời lải nhải bên tai trong lòng vô cùng khó chịu. Phải vất vả lắm mới đợi được lần chia quân này, làm sao hắn có thể để Khương Thành Dực tiếp tục ở lại bên cạnh. Thế là tranh thủ thời cơ thay đổi kế hoạch ban đầu, hắn bố trí Khương Thành Dực dẫn đầu một cánh quân ở càng xa mình càng tốt. Nay nghe Khương Thành Dực lại đưa ra phương án như cũ, trong lòng Thường Ngọc Thanh bực bội nhưng vẫn không biểu lộ gì ra ngoài mặt, chỉ cười nói:
“Thành Dực yên tâm, lần này ta sẽ không đích thân ra trận tàn sát, không cần người phải hộ vệ, không những thế ngươi còn là phó tướng cánh quân Tây Lộ của ta, chứ không phải là đội trưởng đội cận vệ của ta, sao lại dồn hết tâm lực vào những việc nhỏ nhặt này? Việc ngày mai trọng đại, càng cần những người cẩn trọng như ngươi xử lý, tuyệt đối không thể để xảy ra bất cứ sai sót nào.”
Khương Thành Dực vẫn muốn nói tiếp nhưng thấy nét mặt Thường Ngọc Thanh sắc lạnh, đành phải nuốt lại những lời muốn nói, chỉ còn biết tuân lệnh rồi cúi đầu đi ra ngoài lều cùng với những tướng lĩnh khác. Lúc này Thường Ngọc Thanh mới khẽ cười một tiếng, để cho cận vệ buộc chặt áo bào xong liền ôm mũ giáp tua đi ra ngoài lều.
Bên ngoài lều đã có cận vệ đưa con chiến mã Chiếu Dạ Bạch của Thường Ngọc Thanh chờ sẵn, Thường Ngọc Thanh lên ngựa, ánh lửa chiếu vào bộ áo giáp của hắn tạo ra vầng sáng lạnh lẽo, vầng sáng hắt lên mặt khiến khuôn mặt hắn vốn đã lạnh càng trở nên lạnh hơn.
“Tướng quân Thành Dực.”
Thường Ngọc Thanh gọi Khương Thành Dực, từ trên ngựa hắn cúi người xuống ghé sát vào tai Khương Thành Dực khẽ nói: “Mười vạn binh mã của bản tướng quân đều đã giao cho ngươi rồi đó, nhớ phải dẫn đại quân của bản tướng tới ngoài thành Thái Hưng đấy!”.
Nói rồi cười lớn hai tiếng, không chờ cho Khương Thành Dực phản ứng đã thúc ngựa phi nước kiệu bỏ đi.
Trong đêm đó chủ tướng Bắc Mạc dẫn bốn vạn kỵ binh biến mất trong màn đêm dày dặc, nhưng doanh trại mười vạn đại quân của Bắc Mạc vẫn đóng ngoài thành Hán Bảo.
Trong thành Hán Bảo, hơn một vạn tướng sĩ Bắc Mạc tham gia cuộc tấn công thành ban ngày vẫn đang xả hơi…
Trong ngôi nhà vách đất thấp lè tè sát phía tây thành, các khuôn viên nhỏ hẹp chen chúc bên nhau bị những con ngõ nhỏ cong queo xuyên qua giống như một mạng nhện thủng lỗ chỗ. Mạng nhện đó lả lơi buông lửng trên mặt đất, còn không dựng được bộ khung lên.
Mười mấy binh sĩ Bắc Mạc cầm đuốc vừa chửi bới lung tung vừa đi xuyên qua các con ngõ nhỏ, tất nhiên chúng không hài lòng chút nào với những thứ thu hoạch được.
“Đại ca, khoảng sân này mở toang hoang thế này, xem ra người đã chạy hết từ lâu rồi, chúng ta vào không vậy?”
“Vào cái con khỉ!” Tên lính Bắc Mạc cầm đầu chửi. “Đã lục soát bao nhiêu nhà rồi hả? Tiên sư chúng nó, chẳng lấy được thứ gì đáng giá, nói gì tới đàn bà, mẹ kiếp, đến cả cái lông còn chẳng tìm được nữa là, coi như chúng ta đen đủi, tại sao lại chạy tới chốn khỉ ho cò gáy này chứ?”
Thành Hán Bảo được chia làm hai thành đông và tây, đông thành là khu nha phủ và nhà giàu, tây thành là khu bình dân, khu sát với tây thành này lại là nơi nghèo nhất trong khu bình dân. Phần lớn những người sống ở đây là dân nghèo khổ đáy xã hội, bình thường gắng gượng được một ngày ba bữa đã là tốt lắm rồi. Do vậy làm gì có vàng bạc châu báu nào giấu trong nhà chứ, bọn lính Bắc Mạc lại mò tới đây cướp bóc đúng là tới sai chỗ. Chả trách lục soát tới mười mấy ngôi nhà cũng chẳng cướp được thứ gì, cuối cùng đến cả tâm trạng giơ chân đạp cửa cũng chẳng còn nữa.
Một tên lính Bắc Mạc cầm đuốc chỉ về khu đông thành gào to: “Đại ca, đệ thấy bên kia náo nhiệt lắm, hay là chúng ta tới đó đi!”.
Tên cầm đầu rõ ràng cũng bị lay động, hắn ngẩng lên nhìn bầu trời phía đông đỏ rực, sau đó quay sang nhìn đám thuộc hạ rồi vẫy tay nói: “Đi thôi! Chúng ta đổi chỗ, phải nhanh lên mới được, nếu không tới muộn đến cả nước cũng chẳng có phần đâu!”.
Đám thuộc hạ đồng thanh “tuân lệnh” rồi chạy theo ra bên ngoài. Ánh lửa dần xa với tiếng bước chân lộn xộn, bóng tối trở lại. Chính trong khoảng sân mở toang hoang đó, tâm trạng thấp thỏm lo âu của A Mạch cuối cùng cũng được cởi bỏ. Nàng dỏng tai nghe ngóng một hồi rồi mới cẩn thận bò ra từ góc tường chất đầy những thứ đồ linh tinh, nàng còn chẳng lo lau bụi bẩn trên mặt, vội vàng nằm sõng soài trên đất thở dốc.
Binh pháp có nói: Thực tức là hư, hư tức là thực. Nếu như không phải mình mở cửa sân tông hổng, còn vứt lung tung mọi thứ trong sân thì khó tránh khỏi bọn lính Bắc Mạc vào lục soát, nếu đã lục soát thì tính mạng của mình sẽ ra sao nhỉ?
Bản thân A Mạch cũng không ngờ rằng mình còn sống sót, còn có thể bình yên xuống khỏi thành. Đầu tiên dính mũi tên trên đỉnh đầu khiến cho sợ mất mật, tiếp đó phải giả chết, phải chịu khổ tới tận đêm mới dám bò ra từ đống xác chết. Cũng may do đêm tối nên mới mò tới khu dân nghèo này, coi như vừa thoát được một kiếp nạn. Chỉ trong vòng một ngày ngắn ngủi thế nhưng nàng đã vào vào ra ra quỷ môn quan tới mấy lượt.
Nằm ngửa trên đất, A Mạch ngắm nhìn những vì sao lấp lánh như thường lệ, nàng bất giác than thở, không ngờ sức sống của mình lại mãnh liệt như vậy! Mẹ đã từng nói, nếu muốn có sức sống mãnh liệt như con gián thì phải chịu được bóng tối và sự ẩm ướt mà người khác không thể chịu. Việc vừa rồi còn đáng sợ hơn nhiều so với bóng tối và sự ẩm ướt mà nàng vẫn vượt qua được, nàng còn phải sợ gì nữa chứ? Có lẽ nàng cũng không cần phải lo lắng cho cuộc đời của mình, bởi nếu ông trời muốn bắt nàng, vậy thì đã bắt nàng từ bốn năm trước rồi. Bốn năm trước chưa bắt, thì rõ rằng đến cả ông trời cũng không muốn gặp nàng, tức là sẽ không muốn mạng của nàng.
Khóe miệng A Mạch hơi nhếch lên, lộ ra nụ cười bất đắc dĩ. Ái chà, cảm giác đói lại dâng lên, cứ tưởng là đói tới đỉnh thì sẽ không biết tới đói nữa. A Mạch thở dài rồi lại bò vào nhà sờ sờ soạng soạng. Không hiểu chủ ngôi nhà này có để lại thứ gì ăn được không nữa, cho dù không còn thứ gì chín, chí ít cũng phải còn chút gì sống chứ? Thường thì gian trong để ngủ, gian ngoài ăn uống, nếu có thứ gì ăn được, chắc là ở nhà chính thôi. Sờ soạng hồi lâu, cuối cùng A Mạch cũng mò được một nửa miếng lương khô trong lò bếp. A Mạch khấp khởi mừng, trong lòng thầm nghĩ ông trời quả nhiên không định cho mình chết đói. Nàng cũng chẳng màng quan tâm xem có ăn được hay không, vội vàng nhét ngay vào miệng. Miếng bánh vừa đưa tới miệng thì động tác của A Mạch ngay lập tức cứng đờ lại, nàng nhìn chằm chằm vào đống củi bên trên bệ bếp.
Đống củi đó quả nhiên đang động đậy.
Một đầu người nhô ra từ trong đống củi, khuôn mặt đen xì xì không thể nhìn rõ được, duy chỉ có đôi mắt sáng long lanh đang nhìn không chớp mắt vào A Mạch.
A Mạch có cảm giác một cơn gió lạnh đột nhiên thổi qua lưng, lông trên người dựng đứng cả lên. A Mạch rất muốn gào to lên một tiếng “Ma!”, tiếp đó ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài, nhưng khi nỗi sợ lên đến đỉnh điểm, dường như chân tay không còn chịu sự điều khiển của đại não nữa. Phản ứng đó chỉ thoáng qua đầu nàng một lát rồi biến mất, nàng chẳng hét toáng cũng không bỏ chạy, chỉ lặng người giơ nửa miếng lương khô ra hỏi: “Ăn không?”.
“Con ma” đó cũng ngây ra trước hành động ngoài sức tưởng tượng của A Mạch, sững sờ một lát rồi há to miệng, lộ ra hàm răng trắng đối lập với sắc mặt.
Khi chữ “á” vừa mới thành hình còn chưa kịp thốt ra khỏi miệng thì miếng lương khô đã được nhét vào miệng “con ma”. Tiếng “á” chuyển thành tiếng “u u”, tiếng nói mềm mại, hóa ra là “ma nữ”!
Một tay A Mạch bịt chặt miệng “ma nữ”, tay còn lại ấn vào vai, A Mạch khẽ trách: “Kêu cái gì mà kêu? Hay là muốn gọi bọn Bắc Mạc tới mới cam lòng hả?”.
Vừa nói xong câu này, sức chống trả của “ma nữ” lập tức giảm hẳn, cô bé giương đôi mắt còn thấm đẫm nước mắt rất đáng thương nhìn A Mạch.
A Mạch ghìm giọng nói: “Ta là người Nam Hạ, vì tránh bọn Bắc Mạc nên mới trốn vào đây, chúng đang ở cách đây không xa, nếu kinh động khiến chúng kéo tới, cả hai chúng ta không ai sống nổi đâu! Ngươi đừng hét, ta sẽ buông tay”.
09:42 SA 17/03/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
Năm thứ hai Thịnh nguyên Nam Hạ, Bắc Mạt may phúc bảy năm, trên bàn đàm phán giữa Nam Hạ và Bắc Mạt vẫn là những lời nói đanh thép, hỏa khí đầy trời. Miệng lưỡi của người Nam Hạ luôn khéo hơn người phương Bắc, nói mãi cán cân thắng lợi dần nghiêng về phương Nam. Đối với những người đồng hành với Bắc Mạt ngày càng trầm tư. Đám hùng biện Nam Hạ còn chưa kịp chúc mừng thắng lợi đã liền kề thì đã bị kinh động tới mức hồn bay phách lạc bởi một thông tin kinh thiên động địa.
Đầu tháng 8, Bắc Mạt bỗng nhiên dấy hai mươi vạn binh chia hai đường tấn công biên giới phía Bắc Nam Hạ, trong giây lát cục thế biến đổi khó lường.
Dân Bắc Mạt nhanh nhẹn dũng mãnh, đối lập với dân Nam Hạ khéo mồm khéo miệng mà nói, người Bắc Mạt thích động chân động tay hơn thuộc nhân vật đại diện phái hành động, từ trước tới giờ tôn chỉ của họ chính là: Không nói lại được mày, tao liền đánh luôn mày – thằng con hoang đáng ghét.
Có người từng lấy ví dụ như thế này, nếu có hai người cãi nhau tới tận một canh giờ vẫn không thấy động thủ, không cần phải hỏi cũng biết hai người đó là người Nam Hạ, nếu chưa nói được tới hai câu đã đánh nhau, thì cũng không cần hỏi, nhất định là người Bắc Mạt.
Đương nhiên ví dụ trên kể cũng có phần hơi ngoa.
Sứ thần của Nam Hạ đột nhiên hiểu ra, đầu tiên ngây người ra, tiếp đó buồn bã đập liên tiếp vào đầu, trời ơi, sao lại có thể quên thói quen xấu của bọn hung nô Bắc Mạt chứ? Lẽ nào những kẻ đồng hành của Bắc Mạt gần đây im thin thít, hóa ra từ lâu họ đã có dự định này rồi.
Danh tướng Bắc Mạt Chu Chí Nhẫn dẫn mười vạn quân Đông Lộ, sau khi vượt qua Yến Thứ Sơn một cách bí mật, đã tấn công vào khu Lâm Đồng, băng qua sông Tử Nha, tranh thủ đêm tối tiến tới thị trấn trọng yếu phía bắc Nam Hạ. Chỉ huy quân lính trực chiến thành Thái Hưng. Đại quân mười vạn Tây Lộ được chỉ huy bởi danh tướng Bắc Mạt Thường Ngọc Thanh đi xuyên qua Tây hồ thành Quốc Đông, thảo nguyên, đi qua tuyến Lương Châu, Mậu Thành, thành Tiểu Cát hướng về phía Đông nam, dường như không gặp phải sự chống đối nào đã tới phía Tây thành Thái Hưng Đại Hạ.
Trong giây lát rất nhiều thành, trấn phía Bắc Nam Hạ liên tục cấp báo.
Nhưng lúc này ba mươi vạn quân Nam Hạ vẫn ngồi tại biên giới phía Bắc – Tịnh Dương, một tuyến Phiêu Thủy, đối mặt với đại quân Bắc Mạt. Các tướng sĩ của Nam Hạ cảm thấy khó hiểu vô cùng, rõ ràng đại quân mười mấy vạn của Bắc Mạt đang ngồi ở phía đối diện với mình, lấy đâu ra hơn hai mươi vạn đại quân đi vòng ra phía sau mình được? Lẽ nào đại quân Bắc Mạt hai mươi vạn quân kia nứt ra từ trong đá?
Đường tiến công của đại quân Bắc Mạt được chia làm hai đường, người tinh mắt nhìn một cái sẽ nhận ra đại quân chia hai đường này hướng mũi nhọn về cùng một nơi – Thái Hưng, thế là điểm đại diện cho thành Thái Hưng trên bản đồ bị tướng lĩnh các nước khoanh tròn đi khoanh tròn lại, chấm đi rồi chấm lại tới mức mờ tịt.
Thành Thái Hưng, thành trọng yếu phía Bắc nước Đại Hạ có số dân hơn hai mươi vạn, đối mặt với đồng bằng ven sông, đằng sau có sông Uyển Giang chảy ngang qua, từ trước tới nay luôn là vùng đất tranh giành binh đao, một tòa thành nếu mất, cả dải đất phía bắc sông cũng sẽ mất luôn.
Ngày hai mươi sáu tháng 8, đại quân đông lộ Bắc Mạt tới bên ngoài thành Thái Hưng, tiến hành vây thành trong hai mươi bảy ngày, ngồi chờ đại quân mười vạn quân Tây lộ do tướng Thường Ngọc Thanh cầm quân.
Lúc này đại quân Tây lộ của Bắc Mạt vừa tới trước thành Hán Bảo mười tám dặm phía Bắc thành Thái Hưng.
Thành nhỏ Hán Bảo từ trước tới giờ không phải là trấn quân sự trọng yếu, cho nên việc phòng bị thành vốn chẳng được coi trọng, tường thành thấp, không có hào sâu cũng chẳng có sông bảo vệ thành, cho nên càng không cần tới các loại cầu treo. Thậm chí cổng thành cũng đơn giản, đến cả thành phụ cũng không có, bên ngoài thành mấy trượng chỉ dựng một vài dàn ngăn kỵ binh, xem ra xơ xơ xác xác ít tới mức đáng thương. Không cần đoán cũng biết đã bị xếp xó, về cơ bản không thể ngăn cản được cái gì.
Dùng một câu để tổng kết như sau: Tòa thành này quá thô sơ! Nói thật thì cao hơn, sâu hơn, dài hơn, người đứng phía trên nhiều hơn một chút so với tường bao của nhà địa chủ phía Bắc.
Lính canh trong thành có hơn một nghìn người, cư dân trong thành tính cả người lớn tuổi nhất tới hơn tám mươi vẫn còn nhúc nhắc đi lại được tới trẻ sơ sinh vừa sinh ra đã khóc, già trẻ lớn bé cả thảy chưa tới hai vạn người, nếu có để trong miệng đại quân Bắc Mạt cũng không bõ dính răng, chả trách phạm nhân trong đại lao cũng bị huy động lên thành.
Lúc A Mạch bị đẩy lên thành, từ lâu thành Hán Bảo đã bị quân Bắc Mạt vây chặt tới mức một giọt nước cũng không lọt, nhìn từ thành xuống chỉ thấy đen ngòm một màu. A Mạch thò đầu ra, ngay lập tức rùng mình, vội vàng chùn người xuống trốn sau tường bao quanh thành, đã thế này rồi thì thành này liệu có thể giữ được chăng? Nếu có thể giữ được đúng là chuyện gặp ma giữa ban ngày.
Đội kỵ binh bọc sắt Bắc Mạt tới dưới thành Hán Bảo trước tiên, hàng vạn kỵ binh bày binh bố trận, tuy rằng chẳng có tác dụng gì đối với việc phá thành, nhưng cũng được coi là sự diễu võ giương oai hoành tráng nhằm nắn gân quan quân Nam Hạ, đồng thời cũng dẹp bỏ ý nghĩ bỏ thành mà chạy của bọn họ. Bởi có cho thêm hai chân nữa thì cũng không chạy lại với bọn bốn chân, cho nên các huynh đệ, chúng ta nên vững tâm mà giữ thành thôi!
Một vài kị binh vừa phi nước kiệu từ thế trận của Bắc Mạt, vừa giơ cờ phi nhanh vài vòng trước thế trận, đoàn kị binh liền thúc ngựa chia thành hai cánh rút về phía sau, lộ ra trận bộ binh tay cầm khiên phía sau. Xen kẽ trong trận là rất nhiều dụng cụ tấn công thành như xe phá thành, thang, thang dây dần dần được đẩy về phía trước, tiếng kèn lệnh vang lên từ xa, tiếng giáo vàng rộ lên khắp nơi, đại quân màu đen của Bắc Mạt ào lên như nước triều, có cảm giác chỉ cần một con sóng cũng có thể khiến thành Hán Bảo đổ sập.
“Bắn tên! Bắn tên! Bắn chết bọn giặc đi!”
Vị quan của Nam Hạ trên thành vừa vung vẩy chiếc roi trong tay vừa nghiêm giọng kêu gọi.
A Mạch cũng dính vài roi, nàng vội vàng nhặt chiếc cung trên đất lên rồi bắn xuống dưới thành. Nàng đâu biết bắn tên, có điều học cách giương cung của người bên cạnh, thậm chí đến ngắm cũng không đã nhắm tịt mắt buông tay. Thế nhưng lực bắn lại không yếu chút nào, mũi tên bay xuống dưới, chỉ nghe thấy một tiếng kêu thảm thiết vọng lên từ phía dưới, một tên lính Bắc Mạt trèo tới nửa thang phá thành đã rơi bụp xuống dưới.
Một binh lính Nam Hạ bên cạnh A Mạch khen một tiếng giỏi, không biết vớ được chiếc mũ giáp từ chỗ nào ném về phía nàng. Người lính vừa bắn tên xuống dưới thành vừa gào to: “Người huynh đệ, bắn hay lắm, đội cái này lên, cẩn thận tên của bọn giặc, cố gắng bắn lũ súc sinh này.”
A Mạch sững sờ nhìn chiếc mũ giáp vẫn còn vương vết máu trong tay, nhưng rồi vẫn nghiến răng đội lên, súng đạn không có mắt, nàng chẳng muốn chết ở trên tường thành này, tuy nhiên với tình hình trước mắt, xác suất có thể sống sót rời khỏi chỗ này quả thực rất nhỏ.
Hai người lính Nam Hạ bên cạnh gắng sức đập những chiếc răng sói sắc nhọn xuống dưới, nhìn thấy lính Bắc Mạt trèo lên thành liền đập xuống, tiếng kêu thảm thiết đập vào tai A Mạch khiến nàng hoảng hốt không yên. Chốc chốc bên cạnh nàng lại vọng lên một tiếng “Á” thất thanh, người lính vừa mới khen nàng giỏi đã trúng tên của quân Bắc Mạt. Một mũi tên dài xuyên qua ngực, máu tươi phun từ miệng bắn lên tường thành, phút chốc đã nhuộm đỏ một góc thành. A Mạch sợ hãi đánh rơi chiếc cung trong tay, nàng chỉ còn biết ôm đầu ngồi thụp xuống, những tiếng kêu thất thanh vẫn không ngừng vang lên. Người A Mạch lại trúng mấy roi, viên quan vung roi giận giữ hét lên:
“Mẹ kiếp, còn có thời gian trốn à, bọn giặc lên tới nơi, chẳng tên nào sống nổi đâu!”
Trên một con dốc nhỏ bên ngoài cổng thành không xa, chủ tướng cánh quân Tây lộ Bắc Mạt Thường Ngọc Thanh lạnh lùng ngồi thẳng trên lưng ngựa chiến, khóe miệng hơi mím, như thể cười nhạt, đang chăm chú theo dõi trận chiến tấn công thành đang diễn ra gần đó. Đội cận vệ kỵ binh mặc áo đen giáp sáng màu đứng yên sau chủ tướng, trong chiến trường hỗn loạn này, vẫn giữ được vẻ tĩnh lặng khác thường, thậm chí đến cả ngựa chiến đã ngồi xuống cũng phảng phất như khách xem trên chiến trường, lạnh lùng mà điềm nhiên.
Bỗng Thường Ngọc Thanh giơ tay chỉ roi quất ngựa về một phía tường thành, tiếp đó vừa cười vừa nói với phó tướng Khương Thành Dực bên cạnh:
“Ha ha, Thành Dực à, ngươi xem bọn mọi Nam, thậm chí đến cung còn không biết cầm, những đứa như vậy lại được đưa lên thành để giữ thành, có thể thấy Nam Hạ thực sự không còn người nữa rồi.”
Khương Thành Dực nhìn về hướng đó không kìm chế được cảm xúc, cười tủm tỉm. Trên tường thành đó có một lính Nam Hạ lóng ngóng nhoài người bắn đại một mũi tên, bắn xong liền vội vàng ngồi thụp xuống trốn sau bức tường, một lát sau lại thò đầu ra bắn một mũi tên nữa. Xem ra mười mũi tên có tới tám mũi rơi xuống ngoài thành, may chăng được hai mũi tên bắn ra được, mà cũng lạ chẳng có mục tiêu gì cả, chẳng trúng được ai.
Nụ cười của Khương Thành Dực nhanh chóng biến mất, hắn quay đầu nhìn Thường Ngọc Thanh rồi cẩn thận khuyên nhủ:
“Tướng quân à, chỗ này gần tường thành quá, tên bay đạn lạc quá nhiều, vì lý do an toàn mời tướng quân lui về sau thế trận quan sát.”
Thường Ngọc Thanh chậm rãi lắc đầu, khóe môi hé cười, khẽ giơ tay nói:
“Mang cung tên tới đây.”
Tên lính cận vệ đứng cạnh bên vội vàng lấy cây cung dài sau lưng ra rồi dâng lên bằng hai tay. Thường Ngọc Thanh đỡ lấy, lắp tên lên dây rồi kéo căng cung, mắt khẽ nheo ngắm chuẩn người lính đó. Khi vừa buông tay, chỉ nghe thấy “phựt” một tiếng, mũi tên nhọn được bắn ra mang theo tiếng rẹt sắc nhọn, xé toạc khoảng không rồi bay về phía người lính nhát gan trên thành kia. ..
Lúc này A Mạch đang đứng thẳng, dây cung vẫn chưa kịp trùng xuống thì cảm thấy như có vật gì đập mạnh vào đỉnh đầu, quán tính mạnh đẩy nàng lùi về phía sau rồi cả người nàng đập mạnh xuống đất. Trong giây lát, A Mạch chỉ cảm thấy tối tăm mặt mũi, trong tai ngoài tiếng ù ra chẳng còn nghe được gì. Hồi lâu nàng mới hoàn hồn, uể oải gỡ chiếc mũ giáp trên đầu xuống, nàng hốt hoảng phát hiện một mũi tên dài ghim chặt vào đỉnh mũ giáp, đứt luôn mấy tua dùng để trang trí mũ.
Tên lính trên thành đó cho dù có ngất lịm cũng sợ tới vãi tè ra quần thôi, Thường Ngọc Thanh cười đắc ý, hắn tiện tay vứt lại cây cung dài cho tên cận vệ đứng cạnh bên. Lúc này hắn cũng chẳng thể ngờ được rất nhiều năm sau đó hắn sẽ phải hối hận vì mũi tên đó bắn hơi cao một chút, nếu như lúc đó bắn thấp hơn khoảng hai thốn thì hay biết mấy.
Đã có quân Bắc Mạt trèo được lên thành, chúng múa đại đao chém lính giữ thành Nam Hạ. Lưỡi đao nặng chém vào cơ thể người phát ra âm thanh nặng nề, những kẻ bị chém trợn to mắt lảo đảo ngã về phía sau, trong ánh mắt ngoài sự hoảng hốt còn vương nét không cam tâm. Tên lính chém người còn chưa kịp ăn mừng thì đã bị một mũi lao dài không biết từ đâu xuyên thủng bụng. Máu trào ồng ộc từ mũi lao ra, hắn cúi đầu nhìn mũi lao nhuốm máu xuyên qua cơ thể mình mang theo cả nội tạng rách nát.
Bầu trời đầu thu rõ trong sáng, thế nhưng thành Hán Bảo lại nổi cơn mưa máu lất phất, rơi xuống đâu nhuộm đỏ tanh ngòm…
Cửa thành mở rồi, đi thôi, muộn thêm chút nữa không kịp nữa!
Thường Ngọc Thanh vừa cười vừa dùng chân khẽ thúc vào bụng ngựa, con ngựa Chiếu dạ bạch khoan khoái phi thẳng về phía trước.
“Tối nay sẽ ngủ ở thành Hán Bảo, nói cho các huynh đệ, tối nay bất luận kỷ cương quân đội.”
“Tướng quân!”- Khương Thành Dực vội thúc ngựa lên phía trước can gián:
“Nguyên soái có lệnh, không được giết người trong thành!”
Thường Ngọc Thanh từ lâu đã không chịu đựng được tay phó tướng tuổi trẻ nhưng lại già dặn hơn người này, nghe thấy tay này lại lôi mệnh lệnh của vị nguyên soái kia ra, trong lòng càng bực bội hơn, khẽ kéo dây cương đi chậm lại vài bước, liếc xéo Khương Thành Dực đang đi sát phía sau rồi nửa đùa nửa thật hỏi lại:
“Khương phó tướng, tai nào của ngươi nghe thấy bản tướng quân nói phải giết người trong thành hả?”
Khương Thành Dực nghẹn họng không nói được câu nào, Thường Ngọc Thanh quả thực không nói rõ giết người trong thành, nhưng câu nói vừa rồi nếu được truyền đi thì có khác gì giết người trong thành chứ? Trước khi xuất chinh nguyên soái đã đích thân dặn dò, chỉ muốn họ phá thành thị uy, không cho phép giết người trong thành.
“Tướng quân!”
Khương Thành Dực vươn cổ định khuyên can tiếp, nhưng bị câu nói của Thường Ngọc Thanh khiến họng tắc nghẹn, đành phải im lặng. Thường Ngọc Thanh cười nhạt nói:
“Truyền lệnh xuống, những tướng sĩ tham gia phá thành sau khi vào thành, bất luận kỷ cương quân đội tự hành phóng túng, đều phải đóng quân bên ngoài thành.”
Nói xong quật một roi trong không khí, không đợi Khương Thành Dực nói thêm câu gì đã thúc ngựa đi, đội cận vệ phía sau vội vàng đi theo.
Thường Ngọc Thanh thúc ngựa phi nước kiệu từ trong trận Bắc Mạt ra cửa thành. Cửa thành vừa bị xe húc của quân Bắc Mạt mở toang hoang, binh sĩ hai bên vẫn đang quấn lấy nhau, Thường Ngọc Thanh giương súng nhằm về hướng đó, cứ nhìn thấy binh sĩ mặc giáp Nam Hạ liền bắn, chẳng mất mấy công sức đã bắn hạ được mười mấy lính Nam Hạ.
Khương Thành Dực nhìn Thường Ngọc Thanh giết người đầy hứng khởi, cũng không đành ngăn cản, nhưng lại sợ chủ tướng gặp chuyện rủi ro trong trận chiến hỗn loạn liền múa đao tới, cùng bảo vệ Thường Ngọc Thanh với các cận vệ. Một hàng mười mấy kỵ binh xông lên phía trước quân Bắc Mạt vào trong thành Hán Bảo.
09:40 SA 17/03/2012
A Mạch tòng quân - Tiên Chanh
webtretho
09:40 SA 17/03/2012
p
phan_lynk
Hóng
478Điểm·2Bài viết
Báo cáo