Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Hôi miệng: Chữa cách nào?
Chào các bạn thân thương! Tối hôm qua mình ăn hủ tiếu , đánh răng xong rồi mà hơi thở vẫn còn mùi thức ăn, chỉ là nhẹ hơn lúc trước khi đánh răng. Bởi vậy mình không dám đi ăn đi uống với ai hết , cũng chẳng dám gặp ai. Mới quen được một anh nói chuyện dễ thương trên mạng mà chợt nghĩ đến lúc gặp nhau thì hỡi ơi! Mình từng đi khám cái dạ dày ròi, nội soi uống thuốc hết cả triệu bạc rồi, rồi cũng đã từng uống thuốc chống ợ hơi, mà cũng hôi hà. Đi khám họng thì bà bác sĩ ở
chào em,
bệnh hôi miệng là do tỳ hư-khí hư khí không có nơi ẩn nấp và trào lên trên khiến ợ chua ợ hơi,hơi thở ra miệng bị có mùi hôi thối của thức ăn,có khi nghe mùi phân trong cơ thể,bệnh này không ảnh hưởng tới sức khỏe .không ảnh hưởng gì đến đời sông và sinh hoạt.
nói thưởng gây trở ngại trong lúc nói chuyện hay tiếp xúc với bạn bè.
bạn co thể chuyển qua dùng thuốc bắc uống nhé.
bạn theo toa thuốc này sắc uống.
Cát căn 30g
Mộc hương 12g
Trần bì 18g
Hoắc hương 12g
Bạch chỉ 15g
Đinh hương 8g.
-Cách dùng: Đem thuốc trên sắc uống, mỗi ngày 1 thang, phân nhiều lần ngậm trước 5 phút, nhổ ra, lại ngậm nữa. Phương này không nên sắc lâu. Người xoang miệng lở loét thì cấm dùng.
thoa toa thuốc nay lấy 3 thang uống nhé.
thang thuốc này hơi đắng vì thế cố dùng
thân ái chào

Nguyễn thiện nhân
06:23 CH 27/05/2012
Có cách nào làm liền sẹo nhanh chóng?
tình hình là em mới bị tai nạn.các chị xem ảnh rồi cho em ý kiến làm sao để mặt em không bị sẹo với.... em mới 22t, chưa chồng con gì hết.:((


chào em .nếu không để lại sẹo em dùng bao trân cao nhé em.
thuốc công hiệu rất cao.
Dùng để bôi nẻ, nứt, cước, chai, rôm sẩy, loét, ngoại thương, bỏng, đau do trĩ ngoại, rách hậu môn, viêm da do dị ứng_thuốc. Thuốc dùng khi bị khô, ráp da, lở loét và những tình trạng da dị thường_dạng tǎng thực, nhưng thuốc không chỉ dùng cho những người bị khô_da, còn làm nhuận và chữa da, làm ngang bằng thịt chỗ bị lồi lõm hoặc bôi lên chỗ da bị biến mầu.
Thuốc rất có hiệu quả đối với bệnh eczema, ghẻ khô, ghẻ, chai chân, mụn nhọt, trứng cá, phỏng nước, mụn cóc, nứt nẻ da, viêm da do dị_ứng thuốc, bỏng, viêm lỗ chân lông, bệnh favus, các loại ngoại thương (xây xước, rách da, bầm tím da), cước, mảng mục (do nằm lâu một_phía), bỏng, lở loét, lở chân trĩ, trĩ lậu, lòi rom, và những bệnh dưới da. Theo các tài liệu tham khảo như Thực tế ứng dụng, Thực tế trị liệu, v.v...: Nếu dùng để rịt những vết ngoại thương thì thuốc có tác dụng_cầm máu, giảm đau, đối với những vết thương tổn da thì thuốc có tác_dụng làm cho lành da nhanh (lên da non). Nếu dùng để chữa các vết xây xát thì thuốc làm cho da nhanh chóng hồi phục. Nếu dùng để chữa_vết bỏng thì lập tức hết đau, nếu vết bỏng không nặng thì nó không để_lại môt tí vết sẹo nào. Nhưng, khi dùng thuốc để chữa bỏng, điều quan_trọng là phải rịt thuốc đủ rộng để trùm hết chỗ bị thương tổn. Khi dùng_để chữa trĩ và lòi rom thì phải rửa sạch vết thương rồi mới bôi thuốc. Thuốc dùng để chữa ngoại thương, nứt nẻ da, cước, bỏng, loét da, eczema, rôm sảy, trĩ ngoại, xuất huyết trĩ, lòi rom, rách hậu môn, lở_loét, khô ráp da mặt. Thuốc dùng để trị hư chứng, các loại bệnh da ngoại thương mang tính chất thiếu máu và khô, ngoài ra, thuốc cũng còn có tác dụng chống thối thịt, kích thích lên da non, v.v... Thuốc nhằm chữa cho các vết thương chưa thành mủ, chất bài tiết ra không nhiều, vết thương không sâu. Thuốc cũng còn được ứng dụng_để chữa cho những người phụ nữ da khô ráp (cách điều trị cơ bản là_phải uống thuốc trừ ứ huyết).
05:24 CH 27/05/2012
Hôi miệng: Chữa cách nào?
01:23 CH 27/05/2012
Bệnh Vẩy nến toàn thân (phần 5)
chào bạn :bongxinhtomdeptrai:
đắng lẻ ra tôi sẻ không vào trang web này để tư vấn chưa trị cho các bạn nữa vì mất mặt với giới đông y như chúng tôi,lên đay viết bài chia sẻ đau khổ vơi mọi người bệnh hiểu rỏ nổi đau của căn bệnh tung hoành,bỏ thời gian 2-3tiếng đông hồ viết bài cuối cùng cũng chỉ nghe người ta chưởi thăng vào mặt mình,
trên lầm sàn bệnh này quá phổ bến,mà sau khi tôi đăng bài củng có rất nhiều bạn trẻ đến hỏi thăm.và chia sẻ bệnh tật,
thuốc bắc uống rất là hiệu nghiệm,do các bạ đi bốc thuốc có đung tưng địa điểm không hiện nay trên thị trường thuốc giả tràn lang.những người thầy thuốc vô lương tâm.phá hoại nền y học cổ đai.họ bốc thuốc chưa chắc đả đúng thuốc mới sảy ra như ngày hôm nay.tôi thật là đau lòng khi thất những người vô lương tâm.chính họ đả phá nát nền y học nước ta,
tôi đọc một tờ bao nước ngoài.VIỆT NAM QUẢ LÀ NGU.NẰM TRÊN ĐÔNG THUỐC QUÝ MÀ CỬ ĐI UỐNG THUỐC TAY.
vì nền y học cổ truyền nên tôi sẻ giúp diễn đàn lần này là cuối cùng,................VÀ KHÔNG BAO J TƯ VẤN CHO AI NƯA CẢ.
trên lâm sàn chữa bệnh vẩy nến co 3 giai đoạn.thanh nhiệt -lưỡng huyết-ngoài. hãy dọc thật kỷ những gì tôi viết ơ trang trước
BẠN CÓ THỂ THO TOA THUỐC NÀY SẮC UỐNG.TRIỆU CHƯNG NHƯ TRÊN BÀI TRƯỚC TÔI ĐĂNG RỒI ĐÓ
Kim ngân 30g,
liên kiều 20g,
Bồ công anh 30g
Huyền sâm 20g
Hoàng bá nam 20g
Cỏ nhọ nồi 20g (hạ khô thảo)
Thổ phục linh 20g
Ké đầu ngựa 18gg
chỉ xác 15g,
đương quy 20g
hồng hoa 12g
xíh thược 15g
Đào nhân 12g
Kê hyết đằng 25gg
ngưu tất bắc 18g
xuyên khung 15g
cam thảo 10g
Đậu đen 30
hương phụ tứ chế 15g
đại táo 6 quả
bạch cương tằm 18g
lấy thuốc theo đơn lầy 7 thang
Thang này sắc 4 lần nước, ngày uống 3 lần (1 thang uống hơn 1 ngày. thang đầu ngày đầu sắc 2 lần lấy hơn 2 chén rồi chia 3 lần uống trong ngày, uống lúc ấm và sau bữa ăn, ngày hôm sau sắc thêm 2 lần + thêm 1 lần của thang thứ 2 trộn chung rồi chia ba lần uống trong ngày, sau đó sắc đều ở các thang tiếp theo )
đáng lẻ ra nên dùng ''tú vân cao'' trên thị trường lại không có,tchỉ gia đình mình mới có tác dụng tú vân cao rất cao.nên sữ dụng tam thang thuốc rưa giói,với lại cao tú vân rất đắt tiền.1 lọ tới trên 1 triệu.mà bệnh vẩy nến ít nhất thôi bệnh thì củng 6 tháng vì dùng nó lại tốn thêm tiền
Công dụng: Dùng để bôi nẻ, nứt, cước, chai, rôm sẩy, loét, ngoại_thương, bỏng, đau do trĩ ngoại, rách hậu môn, viêm da do dị ứng_thuốc._Thuốc dùng khi bị khô, ráp da, lở loét và những tình trạng da dị thường_dạng tǎng thực, nhưng thuốc không chỉ dùng cho những người bị khô_da, còn làm nhuận và chữa da, làm ngang bằng thịt chỗ bị lồi lõm hoặc_bôi lên chỗ da bị biến mầu._
Thuốc rất có hiệu quả đối với bệnh eczêma, ghẻ khô, ghẻ, chai chân,_mụn nhọt, trứng cá, phỏng nước, mụn cóc, nứt nẻ da, viêm da do dị_ứng thuốc, bỏng, viêm lỗ chân lông, bệnh favus, các loại ngoại thương_(xây xước, rách da, bầm tím da), cước, mảng mục (do nằm lâu một_phía), bỏng, lở loét, lở chân trĩ, trĩ lậu, lòi rom, và những bệnh dưới da._Theo các tài liệu tham khảo như Thực tế ứng dụng, Thực tế trị liệu,_v.v...: Nếu dùng để rịt những vết ngoại thương thì thuốc có tác dụng_cầm máu, giảm đau, đối với những vết thương tổn da thì thuốc có tác_dụng làm cho lành da nhanh (lên da non). Nếu dùng để chữa các vết_xây xát thì thuốc làm cho da nhanh chóng hồi phục. Nếu dùng để chữa_vết bỏng thì lập tức hết đau, nếu vết bỏng không nặng thì nó không để_lại môt tí vết sẹo nào. Nhưng, khi dùng thuốc để chữa bỏng, điều quan_trọng là phải rịt thuốc đủ rộng để trùm hết chỗ bị thương tổn. Khi dùng_để chữa trĩ và lòi rom thì phải rửa sạch vết thương rồi mới bôi thuốc._Thuốc dùng để chữa ngoại thương, nứt nẻ da, cước, bỏng, loét da,_eczema, rôm sảy, trĩ ngoại, xuất huyết trĩ, lòi rom, rách hậu môn, lở_loét, khô ráp da mặt._Thuốc dùng để trị hư chứng, các loại bệnh da ngoại thương mang tính_chất thiếu máu và khô, ngoài ra, thuốc cũng còn có tác dụng chống thối_thịt, kích thích lên da non, v.v..._Thuốc nhằm chữa cho các vết thương chưa thành mủ, chất bài tiết ra_không nhiều, vết thương không sâu. Thuốc cũng còn được ứng dụng_để chữa cho những người phụ nữ da khô ráp (cách điều trị cơ bản là_phải uống thuốc trừ ứ huyết)._
THUỐC RỮA:
Sinh đại hoàng 150g
Thục đại hoàng 100g,
Cồn 30% 100ml
- Cách dùng: Sinh đại hoàng(bỏ sau) 3~15g, Thục đại hoàng 6~20g, mỗi ngày 1 thang, sắc phân sớm tối 2 lần uống. Ngoài ra Sinh đại hoàng 30g, Thục đại hoàng 30g, dùng cồn 30% 100ml ngâm 1 tuần, lấy rượu thuốc xoa vào chổ bệnh mỗi ngày 1 ~ 2 lần. Sau khi thoa thuốc lấy tay trà bóp vào chổ bệnh 5 ~10 phút, để nơi đó có cảm giác nóng nhẹ.
cách của bạn củng là một kiến hay.nhưng chỉ là tạm thời thôi bạn ạ chư không thể hết được ,như ta đi ngoài nắng vào khát nước quá uống một gáo nước cho đỡ khát thôi bạn,\
THÂN ÁI CHÀO.TÔI SẺ KHÔNG TRẢ LỜI HAY TƯ VẤN HAY CHO AI NỮA ĐAU NHÉ ,VÌ THẾ ĐỪNG GỬI QUA MAIL TÔI NỮA.VÀ CŨNG KHÔNG NHẬN CHỮA BỆNH CHO AI HẾT,
THÂN ÁI CHÀO,
THIỆN NHÂN
06:15 CH 26/05/2012
Viêm lộ tuyến cổ tử cung - phần 7
chào các chị em:
mình là thiện nhân:
Nhiễm nấm âm đạo gây ra bởi nấm Candida Albicans. Nấm là vi sinh vật ký sinh ở một số nơi trên da và bên trong âm đạo. Môi trường axít trong âm đạo giữ cho nấm không bùng phát. Nếu môi trường âm đạo bị kiềm hóa vì một lý do nào đó, nấm bùng phát (phát triển mạnh) gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo
Nhiễm nấm âm đạo gây ra bởi nấm Candida Albicans. Nấm là vi sinh vật ký sinh ở một số nơi trên da và bên trong âm đạo. Môi trường axít trong âm đạo giữ cho nấm không bùng phát. Nếu môi trường âm đạo bị kiềm hóa vì một lý do nào đó, nấm bùng phát (phát triển mạnh) gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo.
Môi trường acid âm đạo thường thay đổi trong khi hành kinh, mang thai, tiểu đường, dùng kháng sinh, thuốc ngừa thai và các thuốc chứa steroid. Ứ dịch âm đạo và những kích thích âm đạo là điều kiện kích thích cho nấm phát triển.
Làm thế nào để biết bị nhiễm nấm?
Nhiễm nấm thường không nguy hiểm nhưng gây ra nhiều bất tiện. Dưới đây là các triệu chứng thường gặp trong nhiễm nấm:
• Ngứa và nóng ran ở cơ quan sinh dục ngoài (âm hộ & âm đạo)
• Dịch tiết âm đạo (huyết trắng bệnh lý) giống như pho-mát
• Đau khi giao hợp
• Sưng tấy âm hộ
• Có mùi hôi tanh như cá ươn
• Đôi khi còn có cả bọt.vvv
Khoảng 75% phụ nữ trên thế giới bị nhiễm nấm (khoảng 50% phụ nữ bị nhiễm khuẩn hơn một lần trong đời). Nếu Bạn nghi ngờ mình bị nhiễm nấm, hãy trao đổi với BS để BS chẩn đoán xác định nó là nấm & cho Bạn phương pháp điều trị.
Nếu xài thốc đặt âm đạo nhiều sau này sẻ gây mất kinh đột ngột,se không bao sinh được con lại nữa.mất kinh là một hiện tượng về khi huyết lưỡng thương,khí huyết không ra hết ứ dọng lâu ngay gây đến ung thư tư cung,u nang buồn trứng.khi nao chạm tay vao bụng ma thây co cục có hòn là chứng huyết bế lâu ngày tạo nên.co người bị chứng nay phát điên phát dai không làm chủ được bản thân.huyết hư đầu đau như búa bổ.vv
TƯ VẤN BỆNH MIỄN PHÍ
mọi chi tiết có thể gửi qua mail"
mail:thiennhan.dongy@gmail.com or yahoo chat; thiennhan.dongy
nếu không co thể theo tao thuốc nay sắc uồng
Long đởm thảo 12g
Sài hồ 15g
Chi tử 12
Bạch thược 12g
Sinh đìa 12g
Mộc thông 12g
Tỳ giải 12g
Phục linh 12g
ý dị 12g
cam thảo 8g
thần khúc 12g
long nhãn 12g
hạ khô thảo 12g
sắc uống ngày 1 thang uống lúc đói,
THUỐC RỮA:
- Phèn phi 20
sà sàng 20
Cúc hoa 12g
sắc lấy nước rữa âm đạo ngày 3 lần .
thang thuốc này nếu uống phải hỏi y kiến mới dùng nhé,
thân ái chào
thiện nhân
07:41 CH 25/05/2012
Ung thư buồng trứng
TÔI xin noi thêm về căn bệnh ung thư này...cồ gắn đọc nhé/
Bệnh ung thư theo y học hiện đại:
1. Tóm tắt vê bệnh ung thư theo nghiên cứu của y học hiện đại:
Các tế bào bình thường trong cơ thể phân chia và lão hóa theo một quy trình đã định sẵn. Các loại tế bào trở thành lão hóa trong một thời gian nhất định và sẽ tự hủy đi, quá trình tự hủy này gọi là "apoptosis" hay "programmed cell death". Khi một tế bào phân chia thì nó sẽ trở thành 2 tế bào hoàn toàn giống như tế bào mẹ. Khi 1 tế bào mẹ phân chia và tạo thành 2 tế bào con không giống như tế bào mẹ, các tế bào này được gọi là bị đột biến. Hệ thống phòng thủ của cơ thể (immune system) do lá lách (tỳ) làm chủ có nhiệm vụ truy tìm tất cả những tế bào lạ xâm nhập vào cơ thể (virus, bacteria) và tiêu hủy chúng. Các tế bào bị đột biến vì không giống như các tế bào mẹ nên cũng được xếp vào tế bào lạ và được hệ thống phòng thủ sẽ tiêu hủy đi. Các tế bào đột biến sinh ra rất thường xuyên trong cơ thể trong suốt đời người và luôn luôn được hủy đi. Bệnh ung thư xảy ra khi một vài trong số các tế bào bị đột biến hình thành và chúng thoát qua được sư kiểm soát của hệ thống phòng thủ. Chúng không tuân theo quá trình tự hủy như tế bào bình thường và tiếp tục phân chia một cách vô tổ chức, xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa và trở thành các bướu ung thư.
2. Nguyên nhân đưa đến tế bào bị đột biến:
Theo thống kê, những người sống ở môi trường có nhiều chất phóng xạ, hóa chất độc hại, bệnh nhân ăn nhiều các loại thức ăn có hóa chất (preservative), dùng nhiều các thức ăn uống có nhiều chất kích thích như rượu bia, café, thuốc lá có nguy cơ bị ung thư cao hơn. Nói tóm lại bệnh nhân ung thư là những người tiếp xúc nhiều với độc tố.
3. Cách chữa trị theo y học hiện đại:
Y học hiện đại có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, dưới đây là 3 phương pháp thông dụng nhất:
- Phẫu thuật: cắt bỏ chỗ bị ung thư
- Xạ trị (radiation): dùng tia phóng xạ để đốt vùng cơ bị ung thư
- Hóa trị (chemotherapy): dùng một loại hóa dược có đặc tính làm tổn thương tới phần DNA (gene) của tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi một tế bào bình thường bị thương tổn thì nó sẽ tự sửa chữa trong khi tế bào ung thư không biết tự sửa chữa vì chúng không còn tuân theo những quy luật đã định sẵn nữa vì vậy cứ tiếp tục dùng hóa trị trong một thời gian dài thì dần dần sẽ tiêu diệt được hết các tế bào ung thư
4. Hiệu quả thấp của các cách chữa trị này:
- Phẫu thuật: nếu tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể thì không thể nào làm phẫu thuật để lấy hết ra được, chỉ cần vài tế bào sót lại thì chúng sẽ phát triển thành khối u mới. Trong quá trình phẫu thuật, nhiều các tế bào ung thư bị tách ra khỏi khối u, sót lại và di chuyển qua chỗ khác, phát triển thành nhiều khối u mới (di căn).
- Xạ trị: các tế bào ung thư được đốt đi nhưng tia phóng xạ tự nó lại gây ra bệnh ung thư do làm tổn thương tới DNA của các tế bào bình thường. Cũng như phẫu thuật, không thể nào đốt hết đi được các tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể.
- Hóa trị: phương pháp này gây tổn hại rất lớn tới cơ thể vì toàn bộ các tế bào trong cơ thể đều bị tổn thương. Phương pháp này để lại các phản ứng phụ nghiêm trọng như rụng tóc, sắc mặt xanh tái, tròng mắt trắng dã, thất thần, vô sinh. Khi các tế bào bình thường tự sửa DNA của nó không được hoàn chỉnh, chúng sẽ trở thành những tế bào ung thư mới.
II. Những nhận xét về bệnh ung thư theo y học cổ truyền:
1. Những tạng chịu trách nhiệm thanh lọc độc tố: tỳ, can, thận là 3 tạng giữ trách nhiệm thanh lọc máu trong cơ thể.
- Tỳ thống huyết, chủ cơ nhục. Bệnh ung thư là bệnh ở cơ nhục và máu huyết vì vậy nằm trong phạm vi chức năng của tỳ. Theo y học hiện đại thì tỳ (lá lách) giữ nhiệm vụ phòng thủ (immune system) vậy chức năng của tỳ theo như Đông và Tây y có điểm giống nhau.
- Can (gan) tàng huyết, chủ sơ tiết. Các loại thức ăn nóng nhiệt, độc hại, các loại chất kích thích như rượu bia, café đều gây ra chứng hỏa vượng ở can. Theo y học hiện đại thì gan chịu trách nhiệm thanh lọc các chất độc tố ra khỏi cơ thể (detoxification). Vậy chức năng của can theo Đông y và Tây y cũng giống nhau về điểm này.
- Thận: giữ chức năng thanh lọc máu, đào thải chất cặn bã, chất thừa trong máu ra dưới dạng nước tiểu. Chức năng này Đông y và Tây y đều giống nhau.
2. Nhận xét về cơ chế bệnh sinh:
- Các bệnh nhân ung thư thường có tiền sử tiếp xúc nhiều với các loại độc tố, sử dụng các loại hóa chất, kích thích tố, thuốc Tây dài hạn. Can, thận, tỳ làm việc không ngừng nghỉ để thanh lọc các chất độc tố này ra khỏi cơ thể, khi lượng độc tố vào cơ thể với mức cao hơn lượng độc tố được thanh lọc ra hàng ngày thì chất độc tích tụ dần thành nhiệt độc và gây ra bệnh ung thư
- Tôi có tiếp xúc qua một số các bệnh nhân ung thư thì thấy đều có triệu chứng can, thận, tỳ suy nhất là tạng tỳ. Người lớn tuổi có tỷ lệ bị ung thư nhiều hơn người trẻ. Điều này cho thấy khi 3 tạng này suy yếu thì nguy cơ bị ung thư tăng lên. Tạng tỳ chủ về hệ thống phòng thủ nhưng những bệnh nhân ung thư đều có tạng tỳ suy yếu. Vậy không phải là các tế bào ung thư thoát qua khỏi hệ thống phòng thủ của tỳ mà là tỳ quá suy yếu không tiêu diệt nổi tế bào ung thư.
3. Biện chứng luận trị:
- Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
- Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.
4. Phương thức điều trị:
- Thanh lọc độc tố: muốn thanh lọc độc tố ra hết khỏi cơ thể thì trước hết phải chặn hết tất cả các loại độc tố có thể vào cơ thể. Tránh ăn các loại thức ăn uống làm sẵn, các loại đồ hộp, các chất kích thích như café, thuốc lá, rượu bia, các loại hóa chất sử dụng hàng ngày (hóa chất dùng lau chùi nhà cửa, phân bón cỏ, thuốc trừ sâu, v.v.).
. Tâm chủ huyết, Phế chủ khí, khai khiếu ra mũi, tà nhiệt tổn thương tâm, nên sinh nục huyết. Nục huyết là chứng huyết đi ra đàng mũi”. Ở mục “Ác Hạch Hậu” nói thêm: “ác hạch là do phong nhiệt độc khí, lẫn lộn xâm tập vào huyết khí, kết thành hạch ở dọc cổ, lại gặp phải tác động của phong hàn, dần dần không tiêu, cũng không vỡ, tên gọi là ác hạch”. Mục “Hư Lao Môn” sách “Phổ Tế Phương” chép: “phàm, bệnh cấp lao (chứng hư lao có kèm theo nhiệt tắc ở Phế) , triệu chứng thì giống với chứng nhiệt, nhưng bản chất thì khác nhau rõ rệt. Trong chứng này, huyết khí đều thực, bên trong tích nhiệt mà phạm đến Phế, tạng phủ ủng tắc, nhiệt độc không giải được mà sinh bệnh. Do bẩm thụ bất túc, doanh vệ đều hư, Tâm Phế ủng nhiệt, kim hỏa chống đối lẫn nhau, tạng khí khắc lẫn nhau; hoặc gặp phải ngoại tà, nên phiền táo mà mình nóng, gò má đỏ, tim đập nhanh, đầu đau, mồ hôi trộm, ho, họng khô, khớp xương đau mỏi, người gầy yếu, vàng vọt, bệnh lâu ngày khiến cơ thịt sẽ teo tóp, khạc đàm thổ huyết, đều là chứng trạng của chứng này”. Các triệu chứng kể trên, đều khớp với các triệu chứng của bệnh bạch huyết. Ở mục “Cách Hạ Trục Ứ Thang Sở Trị” trong sách “Y Lâm Cải Thác” có nói: “bên ngoài tràng vị, bất kể nơi nào, cũng đều có khí huyết. Khí vô hình nên không thể kết khối được, kết khối là d huyết hữu hình vậy”, đã nhấn mạnh tính quan trọng trong việc hoạt huyết hóa ứ để trị chứng vùng bụng tích khối.
Theo Tây y bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu). Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao.
Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.
Bệnh nhân thường có thể có những triệu chứng sau:
do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp.
do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt.
do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm.
PHÂN TÍCH CƠ CHẾ BỆNH SINH:
Đông y học cho rằng sự phát sinh của bệnh bạch huyết, đa phần là do ôn nhiệt độc tà dựa trên cơ sở bên trong hư tổn, âm dương thất hòa, tạng phủ hư nhược, mà đi vào gây bệnh
1. Tinh khí bên trong khuy hư, là nội nhân (nguyên nhân bên trong) phát sinh chứng bệnh này, có quan hệ mật thiết với Can, Tỳ, Thận. Tình chí không thoải mái, Can khí uất kết, khí huyết thất hòa, âm dương thất điều. Có thói quen thường xuyên ăn một món ăn, khiến Tỳ hư, nguồn hóa sinh khí huyết không có (ở trẻ con thường có biểu hiện rõ rệt). Lao động vất vả, lập gia đình sớm, nhiều lần sinh nở, phòng sự thái quá, dẫn đến thận tinh khuy hư, nguồn hóa sinh cho cốt tủy không đủ. Trên cơ sở công năng Can Tỳ Thận thất điều, với tinh huyết hư tổn, nếu lại gặp phải ngoại tà thì sẽ phát bệnh.
2. Ôn nhiệt tà độc trong chứng bạch huyết cấp tính thường có đặc điểm phát bệnh cấp, phát triển rất nhanh, tính chất nguy hiểm, dễ tái phát, và dễ có biến chứng nguy hiểm. Nên ôn nhiệt độc tà là ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài) quan trọng phát sinh chứng này. Ôn nhiệt độc tà bao gồm các chứng bệnh nhiễm độc, nhiễm phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại (như là: Benzene, Alkane, các loại tế bào độc hại). Vì ôn nhiệt độc tà thừa hư mà đi vào, tổn thương khí phận, nên xuất hiện đại nhiệt, mồ hôi như tắm, mạch hồng đại. Nếu chính khí không thắng tà khí, thì sẽ dẫn đến tổn thương đến doanh âm, tổn thương đến phần huyết mà xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Ôn nhiệt độc tà bức huyết vong hành, thì sẽ xuất hiện các chứng trạng xuất huyết, như tỵ nục (xuất huyết mũi), ban đỏ; ôn nhiệt độc tà hun đốt huyết sinh ứ, nên xuất hiện các ban đỏ tía dưới da, sắc lưỡi hồng tối xậm, hoặc đỏ tía tối. Ứ huyết một khi đã hình thành thì: một là sẽ khiến huyết không đi theo kinh mà xuất ra ngoài; hai là có thể khiến cho sự vận hành của huyết trì trệ lại, không thông (bất thông tắc thống), mà gây đau nhức các khớp. Khí trệ huyết ứ còn có biểu hiện trong bụng tích khối (Can Tỳ sưng to mà cứng chắc); ba là nếu huyết ứ không thông, thì huyết mới không sinh, thêm vào đó, xuất huyết thì sẽ khiến tổn thương đến khí, lâu ngày xuất hiện huyết hư mà biểu hiện tâm quý, khí đoản, vô lực, thiếu máu. Ôn nhiệt độc tà, hòa dịch thành đàm, đàm và ứ kết hợp với nhau, mà xuất hiện tích khối dưới hai bên sườn, hạch đàm mọc ở vùng cổ.
Vốn bẩm khí hư, lại thêm vào xuất huyết, khí huyết khuy hư, có thể khiến cho khí không thâu nhiếp huyết, huyết đột ngột xuất ra ngoài; huyết mất đi thì khí bị tổn thương, lại thêm vào chứng trạng khí hư, từ đó mà hình thành một vòng tuần hoàn ác tính.
Nói chung, chứng bạch huyết là do tinh khí hư bên trong, ôn nhiệt độc tà xâm nhập, tổn thương đến phần huyết mà sinh bệnh. Vị trí bệnh là ở phần huyết, và cốt tủy. Vì Can chủ tàng huyết, Tỳ chủ sinh huyết, Thận chủ cốt sinh tủy, nên bệnh này có mối quan hệ mật thiết với ba tạng Can, Tỳ, Thận. Thường Thường vì hư mà sinh bệnh, vì hư mà dẫn đến thực. Hư là ôn nhiệt độc dễ tổn thương tân dịch, tổn hao khí, thường khiến cho khí âm lưỡng hư, Can Thận âm hư. Bệnh lâu ngày thì thường chủ yếu là khí huyết khuy hư; nếu là thực, thì không ngoài nhiệt độc, huyết ứ, đàm trọc gây bệnh. Giai đoạn cấp tính thì có hư có thực, nhưng chủ yếu là thực ở ngọn. Thời kỳ bệnh chậm, tuy có độc tà ẩn náu bên trong, nhưng vẫn chủ yếu là hư. Trên lâm sàng, thường thấy lẫn lỗn hư thực, cơ chế bệnh diễn biến phức tạp, đa dạng. Như nếu thời kỳ cấp tính nhiệt độc không giải, có thể truyền đến Tâm bào, mà xuất hiện các chứng trạng hôn mê nói nhảm; lúc nhiệt độc hun đốt, sẽ khiến Can phong nội động, mà xuất hiện cổ gáy cứng, co rút; thời kỳ cuối, do tà tổn thương chính khí, chính khí càng ngày càng suy, nên xuất hiện Tỳ Thận dương hư, khí huyết lưỡng hư.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:
Phát nhiệt, xuất huyết, khí huyết khuy hư, đàm hạch (u hạch), khối u trong, các khớp đau nhức, là biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng này.
1.Ở người bệnh bạch huyết, hơn 50% số người phát bệnh đều có dấu hiệu phát sốt, đồng thời, trong một sốt giai đoạn phát bệnh, người bệnh có thể có một sốt giai đoạn nhiệt độ xuống thấp, hoặc nhiệt độ trung bình, hơi sợ lạnh, ra mồ hôi nhiều. Nếu có kết hợp với một bệnh tà khác, thì sẽ xuất hiện sốt cao, có kèm theo sợ lạnh nhiều mồ hôi. Ở bệnh bạch huyết mạn tính thì đa phần có biểu hiện nhiệt độ thấp.
2. Chứng xuất huyết trong bệnh bạch huyết thường có chứng trạng xuất huyết, trong quá trình phát bệnh, đều có xuất hiện xuất huyết, thường là có chấm xuất huyết dưới da, ban ứ huyết dưới da và nục huyết là thường thấy nhất; cũng có thể thấy tỵ nục, thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, và kinh nguyệt lượng quá nhiều. Xuất huyết đáy võng mạc có thể dẫn đến mờ mắt, khoang hắc võng mạc xuất huyết thì thường là dấu hiệu của tử vong. Biểu hiện xuất huyết rõ rệt trong chứng bạch huyết mạn tính thường xuất hiện trong thời kỳ bệnh biến cấp.
3. Khí huyết lưỡng hư thường là triệu chứng mà đa số các người bệnh trong chứng bạch huyết đều mắc phải, đồng thời nó sẽ nặng thêm lên theo mức độ nặng dần của bệnh tình. Thường biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, vô lực, tâm quý khí đoản, môi và móng tay khô úa.
4. U hạch (đàm hạch) thường phát sinh ở vùng cổ và nách, lớn nhỏ không đều nhau, sắc da bình thường, ấn vào không di chuyển, chất cứng, dưới da và da đầu thấy có nhiều hạt cứng.
5. Chứng tích trong bệnh bạch huyết ban tích (Can Tỳ sưng to) thường thấy Can hơi sưng to; bệnh bạch huyêt mạn tính thì thường thấy Tỳ sưng to, mức độ sưng to thường rõ ràng, có thể thấy dưới bờ sườn trái có một số hạt lợm cợm, chất cứng, ấn vào không đau.
CHẨN ĐOÁN:
1. Khởi bệnh và các chứng trạng lâm sàng:
a) Bệnh bạch huyết cấp tính khởi bệnh nhanh, bệnh trình ngắn. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường là phát nhiệt, xuất huyết, mất máu từ từ, các khớp đau nhức, có u hạch.
b) Bệnh bạch huyết mạn tính khởi bệnh chậm, thời kỳ đầu thường không có chứng trạng rõ rệt. Biểu hiện lâm sàng điển hình thường là Can Tỳ sưng to (nhất là Tỳ), có chứng trạng khí huyết khuy tổn, xuất huyết, các khớp đau nhức, u hạch.
PHÂN BIỆT CHẨN ĐOÁN
1. Tý bệnh: Các biểu hiện phát nhiệt, đau nhức các khớp, tâm quý trong bệnh bạch huyết cấp tính trẻ em, rất dễ nhầm lẫn với chứng tý thông thường, cần chú ý phân biệt. Cần cẩn thận hỏi về tiền sử bệnh, tiến hành quy nạp, kết hợp xét nghiệm tây y càng tốt. Tý bệnh thường có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là cơ nhục, các khớp, cân cốt phát sinh đau nhức, mỏi mệt, tê bại, nóng ran, co duỗi khó khăn, nặng thì các khớp sưng to biến dạng. Mà trong chứng bạch huyết thì có biểu hiện đau nhức các khớp, nhưng đa phần có kèm theo các biểu hiện đau xương ức, phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, khởi bệnh cấp.
2. Ôn bệnh: Ôn bệnh là cách gọi chung của các chứng bệnh ngoại cảm phát nhiệt cấp tính do cảm phải ôn nhiệt độc tà của khí hậu bốn mùa, khởi bệnh cấp, truyền biến nhanh, phát nhiệt, dễ động phong co giật, và thương âm hao huyết, có tính truyền nhiễm, lây lan, dịch theo mùa. Biểu hiện phát nhiệt, xuất huyết của bạch huyết giống với ôn bệnh, nhưng không có quy luật truyền biến vệ khí doanh huyết, cũng không có tính truyền nhiễm, lây lan, bệnh theo mùa.
3. Huyết chứng trong bệnh bạch huyết cấp mạn tính đều có thể xuất hiện nhiều dạng chứng trạng. Chứng bạch huyết có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết, thì thuộc vào một loại hình đặc thù trong huyết chứng. Cùng lúc xuất huyết có kèm theo biểu hiện lâm sàng là phát nhiệt, Can Tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
4. Bệnh bạch huyết thể hư lao, và nhất là bệnh bạch huyết mạn tính, xuất hiện biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khí huyết hư, thì thuộc vào loại hình đặc thù thuộc hư lao. Cùng lúc chứng khí huyết khuy hư, còn có các biểu hiện lâm sàng phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, Can tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
tất cả các ung thư nói trên:
tư vấn bệnh miễn phí qua MAIL:
MAIL:thiennhan.dongy@gmail.com
yahoo chat:thiennhan.dongy
Nguyễn thiện nhân:
07:20 CH 25/05/2012
bi u vu phai lam sao
TÔI xin noi thêm về căn bệnh ung thư này...cồ gắn đọc nhé/
Bệnh ung thư theo y học hiện đại:
1. Tóm tắt vê bệnh ung thư theo nghiên cứu của y học hiện đại:
Các tế bào bình thường trong cơ thể phân chia và lão hóa theo một quy trình đã định sẵn. Các loại tế bào trở thành lão hóa trong một thời gian nhất định và sẽ tự hủy đi, quá trình tự hủy này gọi là "apoptosis" hay "programmed cell death". Khi một tế bào phân chia thì nó sẽ trở thành 2 tế bào hoàn toàn giống như tế bào mẹ. Khi 1 tế bào mẹ phân chia và tạo thành 2 tế bào con không giống như tế bào mẹ, các tế bào này được gọi là bị đột biến. Hệ thống phòng thủ của cơ thể (immune system) do lá lách (tỳ) làm chủ có nhiệm vụ truy tìm tất cả những tế bào lạ xâm nhập vào cơ thể (virus, bacteria) và tiêu hủy chúng. Các tế bào bị đột biến vì không giống như các tế bào mẹ nên cũng được xếp vào tế bào lạ và được hệ thống phòng thủ sẽ tiêu hủy đi. Các tế bào đột biến sinh ra rất thường xuyên trong cơ thể trong suốt đời người và luôn luôn được hủy đi. Bệnh ung thư xảy ra khi một vài trong số các tế bào bị đột biến hình thành và chúng thoát qua được sư kiểm soát của hệ thống phòng thủ. Chúng không tuân theo quá trình tự hủy như tế bào bình thường và tiếp tục phân chia một cách vô tổ chức, xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa và trở thành các bướu ung thư.
2. Nguyên nhân đưa đến tế bào bị đột biến:
Theo thống kê, những người sống ở môi trường có nhiều chất phóng xạ, hóa chất độc hại, bệnh nhân ăn nhiều các loại thức ăn có hóa chất (preservative), dùng nhiều các thức ăn uống có nhiều chất kích thích như rượu bia, café, thuốc lá có nguy cơ bị ung thư cao hơn. Nói tóm lại bệnh nhân ung thư là những người tiếp xúc nhiều với độc tố.
3. Cách chữa trị theo y học hiện đại:
Y học hiện đại có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, dưới đây là 3 phương pháp thông dụng nhất:
- Phẫu thuật: cắt bỏ chỗ bị ung thư
- Xạ trị (radiation): dùng tia phóng xạ để đốt vùng cơ bị ung thư
- Hóa trị (chemotherapy): dùng một loại hóa dược có đặc tính làm tổn thương tới phần DNA (gene) của tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi một tế bào bình thường bị thương tổn thì nó sẽ tự sửa chữa trong khi tế bào ung thư không biết tự sửa chữa vì chúng không còn tuân theo những quy luật đã định sẵn nữa vì vậy cứ tiếp tục dùng hóa trị trong một thời gian dài thì dần dần sẽ tiêu diệt được hết các tế bào ung thư
4. Hiệu quả thấp của các cách chữa trị này:
- Phẫu thuật: nếu tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể thì không thể nào làm phẫu thuật để lấy hết ra được, chỉ cần vài tế bào sót lại thì chúng sẽ phát triển thành khối u mới. Trong quá trình phẫu thuật, nhiều các tế bào ung thư bị tách ra khỏi khối u, sót lại và di chuyển qua chỗ khác, phát triển thành nhiều khối u mới (di căn).
- Xạ trị: các tế bào ung thư được đốt đi nhưng tia phóng xạ tự nó lại gây ra bệnh ung thư do làm tổn thương tới DNA của các tế bào bình thường. Cũng như phẫu thuật, không thể nào đốt hết đi được các tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể.
- Hóa trị: phương pháp này gây tổn hại rất lớn tới cơ thể vì toàn bộ các tế bào trong cơ thể đều bị tổn thương. Phương pháp này để lại các phản ứng phụ nghiêm trọng như rụng tóc, sắc mặt xanh tái, tròng mắt trắng dã, thất thần, vô sinh. Khi các tế bào bình thường tự sửa DNA của nó không được hoàn chỉnh, chúng sẽ trở thành những tế bào ung thư mới.
II. Những nhận xét về bệnh ung thư theo y học cổ truyền:
1. Những tạng chịu trách nhiệm thanh lọc độc tố: tỳ, can, thận là 3 tạng giữ trách nhiệm thanh lọc máu trong cơ thể.
- Tỳ thống huyết, chủ cơ nhục. Bệnh ung thư là bệnh ở cơ nhục và máu huyết vì vậy nằm trong phạm vi chức năng của tỳ. Theo y học hiện đại thì tỳ (lá lách) giữ nhiệm vụ phòng thủ (immune system) vậy chức năng của tỳ theo như Đông và Tây y có điểm giống nhau.
- Can (gan) tàng huyết, chủ sơ tiết. Các loại thức ăn nóng nhiệt, độc hại, các loại chất kích thích như rượu bia, café đều gây ra chứng hỏa vượng ở can. Theo y học hiện đại thì gan chịu trách nhiệm thanh lọc các chất độc tố ra khỏi cơ thể (detoxification). Vậy chức năng của can theo Đông y và Tây y cũng giống nhau về điểm này.
- Thận: giữ chức năng thanh lọc máu, đào thải chất cặn bã, chất thừa trong máu ra dưới dạng nước tiểu. Chức năng này Đông y và Tây y đều giống nhau.
2. Nhận xét về cơ chế bệnh sinh:
- Các bệnh nhân ung thư thường có tiền sử tiếp xúc nhiều với các loại độc tố, sử dụng các loại hóa chất, kích thích tố, thuốc Tây dài hạn. Can, thận, tỳ làm việc không ngừng nghỉ để thanh lọc các chất độc tố này ra khỏi cơ thể, khi lượng độc tố vào cơ thể với mức cao hơn lượng độc tố được thanh lọc ra hàng ngày thì chất độc tích tụ dần thành nhiệt độc và gây ra bệnh ung thư
- Tôi có tiếp xúc qua một số các bệnh nhân ung thư thì thấy đều có triệu chứng can, thận, tỳ suy nhất là tạng tỳ. Người lớn tuổi có tỷ lệ bị ung thư nhiều hơn người trẻ. Điều này cho thấy khi 3 tạng này suy yếu thì nguy cơ bị ung thư tăng lên. Tạng tỳ chủ về hệ thống phòng thủ nhưng những bệnh nhân ung thư đều có tạng tỳ suy yếu. Vậy không phải là các tế bào ung thư thoát qua khỏi hệ thống phòng thủ của tỳ mà là tỳ quá suy yếu không tiêu diệt nổi tế bào ung thư.
3. Biện chứng luận trị:
- Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
- Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.
4. Phương thức điều trị:
- Thanh lọc độc tố: muốn thanh lọc độc tố ra hết khỏi cơ thể thì trước hết phải chặn hết tất cả các loại độc tố có thể vào cơ thể. Tránh ăn các loại thức ăn uống làm sẵn, các loại đồ hộp, các chất kích thích như café, thuốc lá, rượu bia, các loại hóa chất sử dụng hàng ngày (hóa chất dùng lau chùi nhà cửa, phân bón cỏ, thuốc trừ sâu, v.v.).
. Tâm chủ huyết, Phế chủ khí, khai khiếu ra mũi, tà nhiệt tổn thương tâm, nên sinh nục huyết. Nục huyết là chứng huyết đi ra đàng mũi”. Ở mục “Ác Hạch Hậu” nói thêm: “ác hạch là do phong nhiệt độc khí, lẫn lộn xâm tập vào huyết khí, kết thành hạch ở dọc cổ, lại gặp phải tác động của phong hàn, dần dần không tiêu, cũng không vỡ, tên gọi là ác hạch”. Mục “Hư Lao Môn” sách “Phổ Tế Phương” chép: “phàm, bệnh cấp lao (chứng hư lao có kèm theo nhiệt tắc ở Phế) , triệu chứng thì giống với chứng nhiệt, nhưng bản chất thì khác nhau rõ rệt. Trong chứng này, huyết khí đều thực, bên trong tích nhiệt mà phạm đến Phế, tạng phủ ủng tắc, nhiệt độc không giải được mà sinh bệnh. Do bẩm thụ bất túc, doanh vệ đều hư, Tâm Phế ủng nhiệt, kim hỏa chống đối lẫn nhau, tạng khí khắc lẫn nhau; hoặc gặp phải ngoại tà, nên phiền táo mà mình nóng, gò má đỏ, tim đập nhanh, đầu đau, mồ hôi trộm, ho, họng khô, khớp xương đau mỏi, người gầy yếu, vàng vọt, bệnh lâu ngày khiến cơ thịt sẽ teo tóp, khạc đàm thổ huyết, đều là chứng trạng của chứng này”. Các triệu chứng kể trên, đều khớp với các triệu chứng của bệnh bạch huyết. Ở mục “Cách Hạ Trục Ứ Thang Sở Trị” trong sách “Y Lâm Cải Thác” có nói: “bên ngoài tràng vị, bất kể nơi nào, cũng đều có khí huyết. Khí vô hình nên không thể kết khối được, kết khối là d huyết hữu hình vậy”, đã nhấn mạnh tính quan trọng trong việc hoạt huyết hóa ứ để trị chứng vùng bụng tích khối.
Theo Tây y bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu). Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao.
Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.
Bệnh nhân thường có thể có những triệu chứng sau:
do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp.
do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt.
do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm.
PHÂN TÍCH CƠ CHẾ BỆNH SINH:
Đông y học cho rằng sự phát sinh của bệnh bạch huyết, đa phần là do ôn nhiệt độc tà dựa trên cơ sở bên trong hư tổn, âm dương thất hòa, tạng phủ hư nhược, mà đi vào gây bệnh
1. Tinh khí bên trong khuy hư, là nội nhân (nguyên nhân bên trong) phát sinh chứng bệnh này, có quan hệ mật thiết với Can, Tỳ, Thận. Tình chí không thoải mái, Can khí uất kết, khí huyết thất hòa, âm dương thất điều. Có thói quen thường xuyên ăn một món ăn, khiến Tỳ hư, nguồn hóa sinh khí huyết không có (ở trẻ con thường có biểu hiện rõ rệt). Lao động vất vả, lập gia đình sớm, nhiều lần sinh nở, phòng sự thái quá, dẫn đến thận tinh khuy hư, nguồn hóa sinh cho cốt tủy không đủ. Trên cơ sở công năng Can Tỳ Thận thất điều, với tinh huyết hư tổn, nếu lại gặp phải ngoại tà thì sẽ phát bệnh.
2. Ôn nhiệt tà độc trong chứng bạch huyết cấp tính thường có đặc điểm phát bệnh cấp, phát triển rất nhanh, tính chất nguy hiểm, dễ tái phát, và dễ có biến chứng nguy hiểm. Nên ôn nhiệt độc tà là ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài) quan trọng phát sinh chứng này. Ôn nhiệt độc tà bao gồm các chứng bệnh nhiễm độc, nhiễm phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại (như là: Benzene, Alkane, các loại tế bào độc hại). Vì ôn nhiệt độc tà thừa hư mà đi vào, tổn thương khí phận, nên xuất hiện đại nhiệt, mồ hôi như tắm, mạch hồng đại. Nếu chính khí không thắng tà khí, thì sẽ dẫn đến tổn thương đến doanh âm, tổn thương đến phần huyết mà xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Ôn nhiệt độc tà bức huyết vong hành, thì sẽ xuất hiện các chứng trạng xuất huyết, như tỵ nục (xuất huyết mũi), ban đỏ; ôn nhiệt độc tà hun đốt huyết sinh ứ, nên xuất hiện các ban đỏ tía dưới da, sắc lưỡi hồng tối xậm, hoặc đỏ tía tối. Ứ huyết một khi đã hình thành thì: một là sẽ khiến huyết không đi theo kinh mà xuất ra ngoài; hai là có thể khiến cho sự vận hành của huyết trì trệ lại, không thông (bất thông tắc thống), mà gây đau nhức các khớp. Khí trệ huyết ứ còn có biểu hiện trong bụng tích khối (Can Tỳ sưng to mà cứng chắc); ba là nếu huyết ứ không thông, thì huyết mới không sinh, thêm vào đó, xuất huyết thì sẽ khiến tổn thương đến khí, lâu ngày xuất hiện huyết hư mà biểu hiện tâm quý, khí đoản, vô lực, thiếu máu. Ôn nhiệt độc tà, hòa dịch thành đàm, đàm và ứ kết hợp với nhau, mà xuất hiện tích khối dưới hai bên sườn, hạch đàm mọc ở vùng cổ.
Vốn bẩm khí hư, lại thêm vào xuất huyết, khí huyết khuy hư, có thể khiến cho khí không thâu nhiếp huyết, huyết đột ngột xuất ra ngoài; huyết mất đi thì khí bị tổn thương, lại thêm vào chứng trạng khí hư, từ đó mà hình thành một vòng tuần hoàn ác tính.
Nói chung, chứng bạch huyết là do tinh khí hư bên trong, ôn nhiệt độc tà xâm nhập, tổn thương đến phần huyết mà sinh bệnh. Vị trí bệnh là ở phần huyết, và cốt tủy. Vì Can chủ tàng huyết, Tỳ chủ sinh huyết, Thận chủ cốt sinh tủy, nên bệnh này có mối quan hệ mật thiết với ba tạng Can, Tỳ, Thận. Thường Thường vì hư mà sinh bệnh, vì hư mà dẫn đến thực. Hư là ôn nhiệt độc dễ tổn thương tân dịch, tổn hao khí, thường khiến cho khí âm lưỡng hư, Can Thận âm hư. Bệnh lâu ngày thì thường chủ yếu là khí huyết khuy hư; nếu là thực, thì không ngoài nhiệt độc, huyết ứ, đàm trọc gây bệnh. Giai đoạn cấp tính thì có hư có thực, nhưng chủ yếu là thực ở ngọn. Thời kỳ bệnh chậm, tuy có độc tà ẩn náu bên trong, nhưng vẫn chủ yếu là hư. Trên lâm sàng, thường thấy lẫn lỗn hư thực, cơ chế bệnh diễn biến phức tạp, đa dạng. Như nếu thời kỳ cấp tính nhiệt độc không giải, có thể truyền đến Tâm bào, mà xuất hiện các chứng trạng hôn mê nói nhảm; lúc nhiệt độc hun đốt, sẽ khiến Can phong nội động, mà xuất hiện cổ gáy cứng, co rút; thời kỳ cuối, do tà tổn thương chính khí, chính khí càng ngày càng suy, nên xuất hiện Tỳ Thận dương hư, khí huyết lưỡng hư.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:
Phát nhiệt, xuất huyết, khí huyết khuy hư, đàm hạch (u hạch), khối u trong, các khớp đau nhức, là biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng này.
1.Ở người bệnh bạch huyết, hơn 50% số người phát bệnh đều có dấu hiệu phát sốt, đồng thời, trong một sốt giai đoạn phát bệnh, người bệnh có thể có một sốt giai đoạn nhiệt độ xuống thấp, hoặc nhiệt độ trung bình, hơi sợ lạnh, ra mồ hôi nhiều. Nếu có kết hợp với một bệnh tà khác, thì sẽ xuất hiện sốt cao, có kèm theo sợ lạnh nhiều mồ hôi. Ở bệnh bạch huyết mạn tính thì đa phần có biểu hiện nhiệt độ thấp.
2. Chứng xuất huyết trong bệnh bạch huyết thường có chứng trạng xuất huyết, trong quá trình phát bệnh, đều có xuất hiện xuất huyết, thường là có chấm xuất huyết dưới da, ban ứ huyết dưới da và nục huyết là thường thấy nhất; cũng có thể thấy tỵ nục, thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, và kinh nguyệt lượng quá nhiều. Xuất huyết đáy võng mạc có thể dẫn đến mờ mắt, khoang hắc võng mạc xuất huyết thì thường là dấu hiệu của tử vong. Biểu hiện xuất huyết rõ rệt trong chứng bạch huyết mạn tính thường xuất hiện trong thời kỳ bệnh biến cấp.
3. Khí huyết lưỡng hư thường là triệu chứng mà đa số các người bệnh trong chứng bạch huyết đều mắc phải, đồng thời nó sẽ nặng thêm lên theo mức độ nặng dần của bệnh tình. Thường biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, vô lực, tâm quý khí đoản, môi và móng tay khô úa.
4. U hạch (đàm hạch) thường phát sinh ở vùng cổ và nách, lớn nhỏ không đều nhau, sắc da bình thường, ấn vào không di chuyển, chất cứng, dưới da và da đầu thấy có nhiều hạt cứng.
5. Chứng tích trong bệnh bạch huyết ban tích (Can Tỳ sưng to) thường thấy Can hơi sưng to; bệnh bạch huyêt mạn tính thì thường thấy Tỳ sưng to, mức độ sưng to thường rõ ràng, có thể thấy dưới bờ sườn trái có một số hạt lợm cợm, chất cứng, ấn vào không đau.
CHẨN ĐOÁN:
1. Khởi bệnh và các chứng trạng lâm sàng:
a) Bệnh bạch huyết cấp tính khởi bệnh nhanh, bệnh trình ngắn. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường là phát nhiệt, xuất huyết, mất máu từ từ, các khớp đau nhức, có u hạch.
b) Bệnh bạch huyết mạn tính khởi bệnh chậm, thời kỳ đầu thường không có chứng trạng rõ rệt. Biểu hiện lâm sàng điển hình thường là Can Tỳ sưng to (nhất là Tỳ), có chứng trạng khí huyết khuy tổn, xuất huyết, các khớp đau nhức, u hạch.
PHÂN BIỆT CHẨN ĐOÁN
1. Tý bệnh: Các biểu hiện phát nhiệt, đau nhức các khớp, tâm quý trong bệnh bạch huyết cấp tính trẻ em, rất dễ nhầm lẫn với chứng tý thông thường, cần chú ý phân biệt. Cần cẩn thận hỏi về tiền sử bệnh, tiến hành quy nạp, kết hợp xét nghiệm tây y càng tốt. Tý bệnh thường có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là cơ nhục, các khớp, cân cốt phát sinh đau nhức, mỏi mệt, tê bại, nóng ran, co duỗi khó khăn, nặng thì các khớp sưng to biến dạng. Mà trong chứng bạch huyết thì có biểu hiện đau nhức các khớp, nhưng đa phần có kèm theo các biểu hiện đau xương ức, phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, khởi bệnh cấp.
2. Ôn bệnh: Ôn bệnh là cách gọi chung của các chứng bệnh ngoại cảm phát nhiệt cấp tính do cảm phải ôn nhiệt độc tà của khí hậu bốn mùa, khởi bệnh cấp, truyền biến nhanh, phát nhiệt, dễ động phong co giật, và thương âm hao huyết, có tính truyền nhiễm, lây lan, dịch theo mùa. Biểu hiện phát nhiệt, xuất huyết của bạch huyết giống với ôn bệnh, nhưng không có quy luật truyền biến vệ khí doanh huyết, cũng không có tính truyền nhiễm, lây lan, bệnh theo mùa.
3. Huyết chứng trong bệnh bạch huyết cấp mạn tính đều có thể xuất hiện nhiều dạng chứng trạng. Chứng bạch huyết có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết, thì thuộc vào một loại hình đặc thù trong huyết chứng. Cùng lúc xuất huyết có kèm theo biểu hiện lâm sàng là phát nhiệt, Can Tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
4. Bệnh bạch huyết thể hư lao, và nhất là bệnh bạch huyết mạn tính, xuất hiện biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khí huyết hư, thì thuộc vào loại hình đặc thù thuộc hư lao. Cùng lúc chứng khí huyết khuy hư, còn có các biểu hiện lâm sàng phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, Can tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
tất cả các ung thư nói trên:
Tư vấn bệnh miễn phí........
Mail:
thiennhan.dongy@gmail.com
yahoo chat:thiennhan.dongy
Nguyễn thiện nhân:
07:10 CH 25/05/2012
U nang tuyến vú
TÔI xin noi thêm về căn bệnh ung thư này...cồ gắn đọc nhé/
Bệnh ung thư theo y học hiện đại:
1. Tóm tắt vê bệnh ung thư theo nghiên cứu của y học hiện đại:
Các tế bào bình thường trong cơ thể phân chia và lão hóa theo một quy trình đã định sẵn. Các loại tế bào trở thành lão hóa trong một thời gian nhất định và sẽ tự hủy đi, quá trình tự hủy này gọi là "apoptosis" hay "programmed cell death". Khi một tế bào phân chia thì nó sẽ trở thành 2 tế bào hoàn toàn giống như tế bào mẹ. Khi 1 tế bào mẹ phân chia và tạo thành 2 tế bào con không giống như tế bào mẹ, các tế bào này được gọi là bị đột biến. Hệ thống phòng thủ của cơ thể (immune system) do lá lách (tỳ) làm chủ có nhiệm vụ truy tìm tất cả những tế bào lạ xâm nhập vào cơ thể (virus, bacteria) và tiêu hủy chúng. Các tế bào bị đột biến vì không giống như các tế bào mẹ nên cũng được xếp vào tế bào lạ và được hệ thống phòng thủ sẽ tiêu hủy đi. Các tế bào đột biến sinh ra rất thường xuyên trong cơ thể trong suốt đời người và luôn luôn được hủy đi. Bệnh ung thư xảy ra khi một vài trong số các tế bào bị đột biến hình thành và chúng thoát qua được sư kiểm soát của hệ thống phòng thủ. Chúng không tuân theo quá trình tự hủy như tế bào bình thường và tiếp tục phân chia một cách vô tổ chức, xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa và trở thành các bướu ung thư.
2. Nguyên nhân đưa đến tế bào bị đột biến:
Theo thống kê, những người sống ở môi trường có nhiều chất phóng xạ, hóa chất độc hại, bệnh nhân ăn nhiều các loại thức ăn có hóa chất (preservative), dùng nhiều các thức ăn uống có nhiều chất kích thích như rượu bia, café, thuốc lá có nguy cơ bị ung thư cao hơn. Nói tóm lại bệnh nhân ung thư là những người tiếp xúc nhiều với độc tố.
3. Cách chữa trị theo y học hiện đại:
Y học hiện đại có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, dưới đây là 3 phương pháp thông dụng nhất:
- Phẫu thuật: cắt bỏ chỗ bị ung thư
- Xạ trị (radiation): dùng tia phóng xạ để đốt vùng cơ bị ung thư
- Hóa trị (chemotherapy): dùng một loại hóa dược có đặc tính làm tổn thương tới phần DNA (gene) của tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi một tế bào bình thường bị thương tổn thì nó sẽ tự sửa chữa trong khi tế bào ung thư không biết tự sửa chữa vì chúng không còn tuân theo những quy luật đã định sẵn nữa vì vậy cứ tiếp tục dùng hóa trị trong một thời gian dài thì dần dần sẽ tiêu diệt được hết các tế bào ung thư
4. Hiệu quả thấp của các cách chữa trị này:
- Phẫu thuật: nếu tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể thì không thể nào làm phẫu thuật để lấy hết ra được, chỉ cần vài tế bào sót lại thì chúng sẽ phát triển thành khối u mới. Trong quá trình phẫu thuật, nhiều các tế bào ung thư bị tách ra khỏi khối u, sót lại và di chuyển qua chỗ khác, phát triển thành nhiều khối u mới (di căn).
- Xạ trị: các tế bào ung thư được đốt đi nhưng tia phóng xạ tự nó lại gây ra bệnh ung thư do làm tổn thương tới DNA của các tế bào bình thường. Cũng như phẫu thuật, không thể nào đốt hết đi được các tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể.
- Hóa trị: phương pháp này gây tổn hại rất lớn tới cơ thể vì toàn bộ các tế bào trong cơ thể đều bị tổn thương. Phương pháp này để lại các phản ứng phụ nghiêm trọng như rụng tóc, sắc mặt xanh tái, tròng mắt trắng dã, thất thần, vô sinh. Khi các tế bào bình thường tự sửa DNA của nó không được hoàn chỉnh, chúng sẽ trở thành những tế bào ung thư mới.
II. Những nhận xét về bệnh ung thư theo y học cổ truyền:
1. Những tạng chịu trách nhiệm thanh lọc độc tố: tỳ, can, thận là 3 tạng giữ trách nhiệm thanh lọc máu trong cơ thể.
- Tỳ thống huyết, chủ cơ nhục. Bệnh ung thư là bệnh ở cơ nhục và máu huyết vì vậy nằm trong phạm vi chức năng của tỳ. Theo y học hiện đại thì tỳ (lá lách) giữ nhiệm vụ phòng thủ (immune system) vậy chức năng của tỳ theo như Đông và Tây y có điểm giống nhau.
- Can (gan) tàng huyết, chủ sơ tiết. Các loại thức ăn nóng nhiệt, độc hại, các loại chất kích thích như rượu bia, café đều gây ra chứng hỏa vượng ở can. Theo y học hiện đại thì gan chịu trách nhiệm thanh lọc các chất độc tố ra khỏi cơ thể (detoxification). Vậy chức năng của can theo Đông y và Tây y cũng giống nhau về điểm này.
- Thận: giữ chức năng thanh lọc máu, đào thải chất cặn bã, chất thừa trong máu ra dưới dạng nước tiểu. Chức năng này Đông y và Tây y đều giống nhau.
2. Nhận xét về cơ chế bệnh sinh:
- Các bệnh nhân ung thư thường có tiền sử tiếp xúc nhiều với các loại độc tố, sử dụng các loại hóa chất, kích thích tố, thuốc Tây dài hạn. Can, thận, tỳ làm việc không ngừng nghỉ để thanh lọc các chất độc tố này ra khỏi cơ thể, khi lượng độc tố vào cơ thể với mức cao hơn lượng độc tố được thanh lọc ra hàng ngày thì chất độc tích tụ dần thành nhiệt độc và gây ra bệnh ung thư
- Tôi có tiếp xúc qua một số các bệnh nhân ung thư thì thấy đều có triệu chứng can, thận, tỳ suy nhất là tạng tỳ. Người lớn tuổi có tỷ lệ bị ung thư nhiều hơn người trẻ. Điều này cho thấy khi 3 tạng này suy yếu thì nguy cơ bị ung thư tăng lên. Tạng tỳ chủ về hệ thống phòng thủ nhưng những bệnh nhân ung thư đều có tạng tỳ suy yếu. Vậy không phải là các tế bào ung thư thoát qua khỏi hệ thống phòng thủ của tỳ mà là tỳ quá suy yếu không tiêu diệt nổi tế bào ung thư.
3. Biện chứng luận trị:
- Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
- Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.
4. Phương thức điều trị:
- Thanh lọc độc tố: muốn thanh lọc độc tố ra hết khỏi cơ thể thì trước hết phải chặn hết tất cả các loại độc tố có thể vào cơ thể. Tránh ăn các loại thức ăn uống làm sẵn, các loại đồ hộp, các chất kích thích như café, thuốc lá, rượu bia, các loại hóa chất sử dụng hàng ngày (hóa chất dùng lau chùi nhà cửa, phân bón cỏ, thuốc trừ sâu, v.v.).
. Tâm chủ huyết, Phế chủ khí, khai khiếu ra mũi, tà nhiệt tổn thương tâm, nên sinh nục huyết. Nục huyết là chứng huyết đi ra đàng mũi”. Ở mục “Ác Hạch Hậu” nói thêm: “ác hạch là do phong nhiệt độc khí, lẫn lộn xâm tập vào huyết khí, kết thành hạch ở dọc cổ, lại gặp phải tác động của phong hàn, dần dần không tiêu, cũng không vỡ, tên gọi là ác hạch”. Mục “Hư Lao Môn” sách “Phổ Tế Phương” chép: “phàm, bệnh cấp lao (chứng hư lao có kèm theo nhiệt tắc ở Phế) , triệu chứng thì giống với chứng nhiệt, nhưng bản chất thì khác nhau rõ rệt. Trong chứng này, huyết khí đều thực, bên trong tích nhiệt mà phạm đến Phế, tạng phủ ủng tắc, nhiệt độc không giải được mà sinh bệnh. Do bẩm thụ bất túc, doanh vệ đều hư, Tâm Phế ủng nhiệt, kim hỏa chống đối lẫn nhau, tạng khí khắc lẫn nhau; hoặc gặp phải ngoại tà, nên phiền táo mà mình nóng, gò má đỏ, tim đập nhanh, đầu đau, mồ hôi trộm, ho, họng khô, khớp xương đau mỏi, người gầy yếu, vàng vọt, bệnh lâu ngày khiến cơ thịt sẽ teo tóp, khạc đàm thổ huyết, đều là chứng trạng của chứng này”. Các triệu chứng kể trên, đều khớp với các triệu chứng của bệnh bạch huyết. Ở mục “Cách Hạ Trục Ứ Thang Sở Trị” trong sách “Y Lâm Cải Thác” có nói: “bên ngoài tràng vị, bất kể nơi nào, cũng đều có khí huyết. Khí vô hình nên không thể kết khối được, kết khối là d huyết hữu hình vậy”, đã nhấn mạnh tính quan trọng trong việc hoạt huyết hóa ứ để trị chứng vùng bụng tích khối.
Theo Tây y bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu). Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao.
Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.
Bệnh nhân thường có thể có những triệu chứng sau:
do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp.
do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt.
do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm.
PHÂN TÍCH CƠ CHẾ BỆNH SINH:
Đông y học cho rằng sự phát sinh của bệnh bạch huyết, đa phần là do ôn nhiệt độc tà dựa trên cơ sở bên trong hư tổn, âm dương thất hòa, tạng phủ hư nhược, mà đi vào gây bệnh
1. Tinh khí bên trong khuy hư, là nội nhân (nguyên nhân bên trong) phát sinh chứng bệnh này, có quan hệ mật thiết với Can, Tỳ, Thận. Tình chí không thoải mái, Can khí uất kết, khí huyết thất hòa, âm dương thất điều. Có thói quen thường xuyên ăn một món ăn, khiến Tỳ hư, nguồn hóa sinh khí huyết không có (ở trẻ con thường có biểu hiện rõ rệt). Lao động vất vả, lập gia đình sớm, nhiều lần sinh nở, phòng sự thái quá, dẫn đến thận tinh khuy hư, nguồn hóa sinh cho cốt tủy không đủ. Trên cơ sở công năng Can Tỳ Thận thất điều, với tinh huyết hư tổn, nếu lại gặp phải ngoại tà thì sẽ phát bệnh.
2. Ôn nhiệt tà độc trong chứng bạch huyết cấp tính thường có đặc điểm phát bệnh cấp, phát triển rất nhanh, tính chất nguy hiểm, dễ tái phát, và dễ có biến chứng nguy hiểm. Nên ôn nhiệt độc tà là ngoại nhân (nguyên nhân bên ngoài) quan trọng phát sinh chứng này. Ôn nhiệt độc tà bao gồm các chứng bệnh nhiễm độc, nhiễm phóng xạ, nhiễm hóa chất độc hại (như là: Benzene, Alkane, các loại tế bào độc hại). Vì ôn nhiệt độc tà thừa hư mà đi vào, tổn thương khí phận, nên xuất hiện đại nhiệt, mồ hôi như tắm, mạch hồng đại. Nếu chính khí không thắng tà khí, thì sẽ dẫn đến tổn thương đến doanh âm, tổn thương đến phần huyết mà xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Ôn nhiệt độc tà bức huyết vong hành, thì sẽ xuất hiện các chứng trạng xuất huyết, như tỵ nục (xuất huyết mũi), ban đỏ; ôn nhiệt độc tà hun đốt huyết sinh ứ, nên xuất hiện các ban đỏ tía dưới da, sắc lưỡi hồng tối xậm, hoặc đỏ tía tối. Ứ huyết một khi đã hình thành thì: một là sẽ khiến huyết không đi theo kinh mà xuất ra ngoài; hai là có thể khiến cho sự vận hành của huyết trì trệ lại, không thông (bất thông tắc thống), mà gây đau nhức các khớp. Khí trệ huyết ứ còn có biểu hiện trong bụng tích khối (Can Tỳ sưng to mà cứng chắc); ba là nếu huyết ứ không thông, thì huyết mới không sinh, thêm vào đó, xuất huyết thì sẽ khiến tổn thương đến khí, lâu ngày xuất hiện huyết hư mà biểu hiện tâm quý, khí đoản, vô lực, thiếu máu. Ôn nhiệt độc tà, hòa dịch thành đàm, đàm và ứ kết hợp với nhau, mà xuất hiện tích khối dưới hai bên sườn, hạch đàm mọc ở vùng cổ.
Vốn bẩm khí hư, lại thêm vào xuất huyết, khí huyết khuy hư, có thể khiến cho khí không thâu nhiếp huyết, huyết đột ngột xuất ra ngoài; huyết mất đi thì khí bị tổn thương, lại thêm vào chứng trạng khí hư, từ đó mà hình thành một vòng tuần hoàn ác tính.
Nói chung, chứng bạch huyết là do tinh khí hư bên trong, ôn nhiệt độc tà xâm nhập, tổn thương đến phần huyết mà sinh bệnh. Vị trí bệnh là ở phần huyết, và cốt tủy. Vì Can chủ tàng huyết, Tỳ chủ sinh huyết, Thận chủ cốt sinh tủy, nên bệnh này có mối quan hệ mật thiết với ba tạng Can, Tỳ, Thận. Thường Thường vì hư mà sinh bệnh, vì hư mà dẫn đến thực. Hư là ôn nhiệt độc dễ tổn thương tân dịch, tổn hao khí, thường khiến cho khí âm lưỡng hư, Can Thận âm hư. Bệnh lâu ngày thì thường chủ yếu là khí huyết khuy hư; nếu là thực, thì không ngoài nhiệt độc, huyết ứ, đàm trọc gây bệnh. Giai đoạn cấp tính thì có hư có thực, nhưng chủ yếu là thực ở ngọn. Thời kỳ bệnh chậm, tuy có độc tà ẩn náu bên trong, nhưng vẫn chủ yếu là hư. Trên lâm sàng, thường thấy lẫn lỗn hư thực, cơ chế bệnh diễn biến phức tạp, đa dạng. Như nếu thời kỳ cấp tính nhiệt độc không giải, có thể truyền đến Tâm bào, mà xuất hiện các chứng trạng hôn mê nói nhảm; lúc nhiệt độc hun đốt, sẽ khiến Can phong nội động, mà xuất hiện cổ gáy cứng, co rút; thời kỳ cuối, do tà tổn thương chính khí, chính khí càng ngày càng suy, nên xuất hiện Tỳ Thận dương hư, khí huyết lưỡng hư.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:
Phát nhiệt, xuất huyết, khí huyết khuy hư, đàm hạch (u hạch), khối u trong, các khớp đau nhức, là biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng này.
1.Ở người bệnh bạch huyết, hơn 50% số người phát bệnh đều có dấu hiệu phát sốt, đồng thời, trong một sốt giai đoạn phát bệnh, người bệnh có thể có một sốt giai đoạn nhiệt độ xuống thấp, hoặc nhiệt độ trung bình, hơi sợ lạnh, ra mồ hôi nhiều. Nếu có kết hợp với một bệnh tà khác, thì sẽ xuất hiện sốt cao, có kèm theo sợ lạnh nhiều mồ hôi. Ở bệnh bạch huyết mạn tính thì đa phần có biểu hiện nhiệt độ thấp.
2. Chứng xuất huyết trong bệnh bạch huyết thường có chứng trạng xuất huyết, trong quá trình phát bệnh, đều có xuất hiện xuất huyết, thường là có chấm xuất huyết dưới da, ban ứ huyết dưới da và nục huyết là thường thấy nhất; cũng có thể thấy tỵ nục, thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, và kinh nguyệt lượng quá nhiều. Xuất huyết đáy võng mạc có thể dẫn đến mờ mắt, khoang hắc võng mạc xuất huyết thì thường là dấu hiệu của tử vong. Biểu hiện xuất huyết rõ rệt trong chứng bạch huyết mạn tính thường xuất hiện trong thời kỳ bệnh biến cấp.
3. Khí huyết lưỡng hư thường là triệu chứng mà đa số các người bệnh trong chứng bạch huyết đều mắc phải, đồng thời nó sẽ nặng thêm lên theo mức độ nặng dần của bệnh tình. Thường biểu hiện sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, vô lực, tâm quý khí đoản, môi và móng tay khô úa.
4. U hạch (đàm hạch) thường phát sinh ở vùng cổ và nách, lớn nhỏ không đều nhau, sắc da bình thường, ấn vào không di chuyển, chất cứng, dưới da và da đầu thấy có nhiều hạt cứng.
5. Chứng tích trong bệnh bạch huyết ban tích (Can Tỳ sưng to) thường thấy Can hơi sưng to; bệnh bạch huyêt mạn tính thì thường thấy Tỳ sưng to, mức độ sưng to thường rõ ràng, có thể thấy dưới bờ sườn trái có một số hạt lợm cợm, chất cứng, ấn vào không đau.
CHẨN ĐOÁN:
1. Khởi bệnh và các chứng trạng lâm sàng:
a) Bệnh bạch huyết cấp tính khởi bệnh nhanh, bệnh trình ngắn. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường là phát nhiệt, xuất huyết, mất máu từ từ, các khớp đau nhức, có u hạch.
b) Bệnh bạch huyết mạn tính khởi bệnh chậm, thời kỳ đầu thường không có chứng trạng rõ rệt. Biểu hiện lâm sàng điển hình thường là Can Tỳ sưng to (nhất là Tỳ), có chứng trạng khí huyết khuy tổn, xuất huyết, các khớp đau nhức, u hạch.
PHÂN BIỆT CHẨN ĐOÁN
1. Tý bệnh: Các biểu hiện phát nhiệt, đau nhức các khớp, tâm quý trong bệnh bạch huyết cấp tính trẻ em, rất dễ nhầm lẫn với chứng tý thông thường, cần chú ý phân biệt. Cần cẩn thận hỏi về tiền sử bệnh, tiến hành quy nạp, kết hợp xét nghiệm tây y càng tốt. Tý bệnh thường có các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là cơ nhục, các khớp, cân cốt phát sinh đau nhức, mỏi mệt, tê bại, nóng ran, co duỗi khó khăn, nặng thì các khớp sưng to biến dạng. Mà trong chứng bạch huyết thì có biểu hiện đau nhức các khớp, nhưng đa phần có kèm theo các biểu hiện đau xương ức, phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, khởi bệnh cấp.
2. Ôn bệnh: Ôn bệnh là cách gọi chung của các chứng bệnh ngoại cảm phát nhiệt cấp tính do cảm phải ôn nhiệt độc tà của khí hậu bốn mùa, khởi bệnh cấp, truyền biến nhanh, phát nhiệt, dễ động phong co giật, và thương âm hao huyết, có tính truyền nhiễm, lây lan, dịch theo mùa. Biểu hiện phát nhiệt, xuất huyết của bạch huyết giống với ôn bệnh, nhưng không có quy luật truyền biến vệ khí doanh huyết, cũng không có tính truyền nhiễm, lây lan, bệnh theo mùa.
3. Huyết chứng trong bệnh bạch huyết cấp mạn tính đều có thể xuất hiện nhiều dạng chứng trạng. Chứng bạch huyết có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là xuất huyết, thì thuộc vào một loại hình đặc thù trong huyết chứng. Cùng lúc xuất huyết có kèm theo biểu hiện lâm sàng là phát nhiệt, Can Tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
4. Bệnh bạch huyết thể hư lao, và nhất là bệnh bạch huyết mạn tính, xuất hiện biểu hiện lâm sàng chủ yếu là khí huyết hư, thì thuộc vào loại hình đặc thù thuộc hư lao. Cùng lúc chứng khí huyết khuy hư, còn có các biểu hiện lâm sàng phát nhiệt, xuất huyết, u hạch, Can tỳ sưng to, các khớp đau nhức.
tất cả các ung thư nói trên:
Nguyễn thiện nhân:
07:07 CH 25/05/2012
Bệnh sùi mào gà (Phần 2)
có nói xạo đâu xem hình đi.
05:58 CH 25/05/2012
Chữa viêm lộ tuyến cổ tử cung, nấm âm đạo nhưng...
Mình cũng bị nấm và viêm mấy tháng nay, đặt và uống thuốc mãi mà chỉ đỡ chứ chưa khỏi, vẫn thấy ngứa và ra khí hư, mình tìm hiểu và đang thử dùng lá trà xanh và chanh, đun lá trà xanh lên pha vào với nước tắm, vắt thêm 1 quả chanh. Mình dùng thử 2 lần mà đã thấy có tác dụng rồi, hết ngứa và ko thấy ra khí hư nữa, các mẹ cũng làm thử xem
Lưu ý là khi đang bị nấm hoặc viêm thì:
1- ko dùng xà phòng để tắm nhé ( xà phòng có bazo làm giảm độ ph của ad nên dễ làm bệnh nặng hơn), mình tắm bằng chanh và lá trà ko dùng xà phòng
2- ko dùng giấy vệ sinh sau khi tiểu tiện( giấy vệ sinh cũng có nhiều loại ko được sạch đâu), tốt nhất các mẹ dùng khăn sạch để lau, rồi giặt hoặc ngâm nước sôi kèm phơi nắng hàng ngày
3-quan hệ với chồng thì phải dùng bcs để tránh lây đi lây lại vi khuẩn
Mình cũng chỉ đang dùng thử thôi chứ cũng chưa dám khẳng định khỏi hoàn toàn, sau 1 tháng nữa mình đi khám lại thì sẽ báo cho mọi người kết quả nhé, chúc các mẹ sớm khỏi bệnh

chào bạn nấm âm đạo thì một bận phổ biến nhất hiện này ,tại sao lại bị như thế do không vệ sinh sạch sẻ âm đạo,quan hệ không đúng cách/
có nhiều trường hợp gây nên triệu chứng này.
do nhiễm khuẩn Candida Albicans dạng đọc chất virust tạo nên.\
huyết hư ứ trong cơ thể không ra hết củng hình thành nhiễm khuẩn.
theo đông y còn gọi là huyết trăng ,bệnh này nếu ai mắc phải thì không thể thụ thai,lâu ngày dẩn đến triệu chứng hư đương kinh nguyệt ,huyết hư khí hư,dương hư,âm hư hoắc hưởng lư,
uống thuốc tây nhiều gây hư tỳ vị.gây các tác dụng phụ như rối loạn kinh mách.tác đường kinh.huyết hư gây đau đầu.
dùng viên đặt âm đạo liên tục gấy băng huyết lạnh tử cung không thể thụ thai,trưng lạnh tình trùng bán vào bị thối ngược lại hoặc lạnh ma chết.
vì thế nên cận thận khi dùng thuốc
thân ái chào
lương y nguyễn thiện nhân
05:46 CH 25/05/2012
Nấm âm đạo... help me!
chào các chị em:
mình là thiện nhân:
Nhiễm nấm âm đạo gây ra bởi nấm Candida Albicans. Nấm là vi sinh vật ký sinh ở một số nơi trên da và bên trong âm đạo. Môi trường axít trong âm đạo giữ cho nấm không bùng phát. Nếu môi trường âm đạo bị kiềm hóa vì một lý do nào đó, nấm bùng phát (phát triển mạnh) gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo
Nhiễm nấm âm đạo gây ra bởi nấm Candida Albicans. Nấm là vi sinh vật ký sinh ở một số nơi trên da và bên trong âm đạo. Môi trường axít trong âm đạo giữ cho nấm không bùng phát. Nếu môi trường âm đạo bị kiềm hóa vì một lý do nào đó, nấm bùng phát (phát triển mạnh) gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo.
Môi trường acid âm đạo thường thay đổi trong khi hành kinh, mang thai, tiểu đường, dùng kháng sinh, thuốc ngừa thai và các thuốc chứa steroid. Ứ dịch âm đạo và những kích thích âm đạo là điều kiện kích thích cho nấm phát triển.
Làm thế nào để biết bị nhiễm nấm?
Nhiễm nấm thường không nguy hiểm nhưng gây ra nhiều bất tiện. Dưới đây là các triệu chứng thường gặp trong nhiễm nấm:
• Ngứa và nóng ran ở cơ quan sinh dục ngoài (âm hộ & âm đạo)
• Dịch tiết âm đạo (huyết trắng bệnh lý) giống như pho-mát
• Đau khi giao hợp
• Sưng tấy âm hộ
• Có mùi hôi tanh như cá ươn
• Đôi khi còn có cả bọt.vvv
Khoảng 75% phụ nữ trên thế giới bị nhiễm nấm (khoảng 50% phụ nữ bị nhiễm khuẩn hơn một lần trong đời). Nếu Bạn nghi ngờ mình bị nhiễm nấm, hãy trao đổi với BS để BS chẩn đoán xác định nó là nấm & cho Bạn phương pháp điều trị.
phòng khám mình nhận chữa bệnh này.
mọi chi tiết có thể gửi qua mail"
mail:thiennhan.dongy@gmail.com or yahoo chat; thiennhan.dongy
nếu không co thể theo tao thuốc nay sắc uồng
Long đởm thảo 12g
Sài hồ 15g
Chi tử 12
Bạch thược 12g
Sinh đìa 12g
Mộc thông 12g
Tỳ giải 12g
Phục linh 12g
ý dị 12g
cam thảo 8g
thần khúc 12g
long nhãn 12g
hạ khô thảo 12g
sắc uống ngày 1 thang uống lúc đói,
THUỐC RỮA:
- Phèn phi 20
sà sàng 20
Cúc hoa 12g
sắc lấy nước rữa âm đạo ngày 3 lần .
thân ái chào
thiện nhân
thân ai chào
05:32 CH 25/05/2012
Bệnh sùi mào gà (Phần 2)
http://www.webtretho.com/forum/attachment.php?attachmentid=264238
chào các chi:
tôi là thiện nhân có đôi lời về căn bệnh này.
một phần củng là chi em cả ăn chơi mới có như ngày hôn nay các bệnh này rất nguy hiểm nó lây qua đương tình dục, hoặc có thể lây qua đường mặc quần lót chung.
cả nam và nư củng không ngoại lệ,
có đôi ca bệnh tới tìm tôi ma bệnh quá năng,uống thuốc tay y tai đi tái lại nhiều lần ,có đôi người uống thuốc quá nhiều thì bổng nhiên mất kinh nguyện.có người thì tiêm xong thì thoi sau một thời giam qua hệ tình dục với bạn hoặc vợ mình lại tái phát lại,
bệnh này nếu không bết không tim hiểu xa hơi thì căn bệnh sẻ thô suốt cuộc đời có thể
Bệnh sùi mào gà gây nên bởi một loại virut có tên là Human papova (HPV). Đây là một trong những bệnh lây qua đường tình dục. Thời kỳ ủ bệnh của bệnh sùi mào gà khá dài, có thể từ 2 - 9 tháng sau khi quan hệ tình dục với người có mang mầm bệnh HPV.
Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục là chính, ngoài ra nó cũng có thể lây qua đường tiếp xúc như khi massage, có thể lây từ người bệnh sang người lành thông qua mặc chung đồ lót....
Đầu tiên, virus xâm nhập vào cơ thể, ký sinh không gây triệu chứng trong vòng 1-9 tháng. Sau đó bệnh khởi phát tại bộ phận sinh dục hoặc xung quanh hậu môn.
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Vị trí tổn thương: đàn ông thư ờng ở quy đầu, rãnh qui đầu, vùng hãm, bao qui đầu, thân dương vật và da bìu. Đàn bà thường ở môi lớn, môi bé, âm vật, vùng quanh niệu đạo, đáy chậu, âm đạo và cổ tử cung. Cả hai giới còn có thể bị ở đáy chậu, hậu môn, ống hậu môn, trực tràng, niệu đạo, bàng quang và hầu họng.
+ Tổn thương cơ bản: ban đầu là các sẩn nhỏ màu hồng hoặc màu trắng hồng. Sẩn tiến triển to dần, sùi lên tạo thành các khối giống hoa súp lơ hoặc dạng quả dâu, lúc đầu các sẩn chỉ nhỏ bằng đầu đinh ghim, về sau có thể to bằng quả táo, mật độ mềm, bề mặt gồ ghề. Sẩn có thể khô hoặc trượt, tiết dịch mùi hôi thối do cọ sát và bội nhiễm. Số lượng các sẩn có khi chỉ có một vài tổn th ương riêng rẽ, nhưng thường tập trung thành các đám.
+ Triệu chứng chức năng: thường không có triệu chứng gì trừ khi khối xùi làm bệnh nhân có cảm giác vướng víu khó chịu hoặc khi bị bội nhiễm gây đau nhẹ.
Sùi mào gà có thể nhầm với biểu hiện của một số bệnh sau đây:
+ Bệnh giang mai: Bệnh giang mai thường có 3 thời kỳ thì thời kỳ thứ 2 thường xuất hiện các sùi phẳng nhưng nền rắn, có màu hơi trắng trông giống bệnh sùi mào gà, tuy vậy sự thể hiện của dạng này ở giang mai thời kỳ 2 rất ít gặp.
+ Bệnh u hạt bẹn: Đây cũng là một bệnh lây qua đường tình dục. Bệnh khởi đầu là một u nhỏ có màu đỏ, kích thước lớn dần và có thể làm hủy hoại tổ chức.
+ U mềm cũng là một bệnh lây qua đường tình dục. Tuy vậy các sùi phát triển tương đối nhiều ở ngay trên vùng da của bộ phận sinh dục và cả hậu môn, để phân biệt với sùi mào gà thì bệnh u mềm thường thấy các sẩn nhỏ, tròn và lõm ở trung tâm.
- Bệnh dễ tái phát và thường để lại di chứng biến dạng cơ quan sinh dục. Sùi mào gà ở thai phụ có thể gây những tai họa: Chảy máu khó cầm nguy hiểm đến tính mạng; phải mổ lấy thai; lây bệnh từ mẹ sang con trong khi sinh đẻ. Ngoài ra, người mẹ còn có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, hậu môn. Vì vậy, cần điều trị khỏi bệnh trước khi sinh con.
- Đây là bệnh lây qua đường tình dục nên trong thời gian mang bệnh và sau khi điều trị khỏi hoàn toàn ít nhất là 3 tháng mới nên có quan hệ tình dục để tránh lây cho vợ (chồng hoặc bạn tình) hoặc dùng bao cao su đúng quy cách, an toàn. Ngoài việc điều trị bệnh sùi mào gà, người bệnh nên chủ động đi làm xét nghiệm viêm gan B, viêm gan C, HIV, giang mai...
- Bạn nên đi khám ngay nếu thấy trên da dương vật nổi lên những nốt mụn hoặc nốt sùi dễ chảy máu. Ngay cả khi bạn chỉ thấy ở rãnh qui đầu có những nốt nổi lên xung quanh viền chỏm hơi sần sùi, nhỏ như những hạt vừng, nốt rôm, mầu trắng, không ngứa ngáy, không thấy đau thì cũng cần đến bác sĩ nam khoa để thầy thuốc phân biệt đó là mụn cóc sinh dục (nhiễm HPV) hay chỉ là chuỗi hạt ngọc lành tính quanh rãnh quy đầu. Nếu là chuỗi hạt ngọc thì những nốt nhỏ, nhẵn, tròn mầu hồng giống mầu niêm mạc qui đầu, chỉ cần vệ sinh sạch sẽ một thời gian sau nó sẽ tự mất đi. Còn ở nữ giới thì nên đi khám phụ khoa định kỳ, bác sĩ sản khoa sẽ phát hiện giúp bạn (Thông tin tổng hợp).
vì thế khi quan hệ tình dục với nam giới thì phải đi bao cao xu. không dược đưa miện xuống bộ phận âm đạo xẻ tăng phát triển bệnh.qua tuyến nước bọt. rất mạnh.
với nữ giới thì thì nên về sinh âm đạo thương xuyên tránh quan hệ bừa bải không rỏ nguồn gốc người bạn trai.
VUI LÒNG XEM HÌNH ẢNH CĂN BỆNH: Ðính kèm 264238
NẾU muốn biết thêm chi tiết về bệnh có thể gửi qua MAIL CHO mình: TƯ VẤN BÊNH MIỄN PHÍ
MAIL:thiennhan.dongy@gmail.com
yahoo chát:thiennhan.dongy
DT:0978107809
05:28 CH 25/05/2012
Lao phổi tái phát - em cảm thấy tuyệt vọng quá.
chào diễn đàn.
theo đồn y thì lao phổi là bênh hen suyễn
BỆNH HEN SUYỄN (HEN PHẾ QUẢN, (ĐÔNG Y GỌI CHỨNG HEN LÀ HÁO(THỞ GẤP MÀ TRONG HỌNG CÓ TIẾNG CÒ CỬ NHƯ TIẾNG GÀ RIT), CHỨNG SUYỄN LÀ KHÍ SUYỄN (THỞ HỖN HỂN GẤP GÁP LIÊN TỤC MUỐN ĐỨT HƠI), THÔNG THƯỜNG CÓ HÁO THÌ SẼ KIM SUYỄN, NHƯNG CÓ SUYỄN CHƯA HẲN PHẢI ĐÃ KIM HÁO, VÀ NẾU CÓ HAI CHỨNG THÌ GỌI CHUNG LÀ CHỨNG "HÁO SUYỄN") LÀ MỘT BỆNH MÃN TÍNH RẤT KHÓ ĐIỀU TRỊ VÀ ĐIỀU TRỊ LÂU DÀI. BỆNH THƯỜNG XUẤT HIỆN Ở NHỮNG NGƯỜI CÓ CƠ ĐIA DỊ ỨNG, VÀTHƯỜNG DIỄN BIẾN THEO HAI GIA ĐOẠN, GIAI ĐOẠN CẤP TÍNH VÀ MÃN TÍNH, Ở GIAI ĐOẠN CẤP TÍNH (GIAI ĐOẠN ĐẦU) THÌ THƯỜNG BỆNH Ở PHẾ VÀ DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN NGOẠI TÀ GÂY NÊN. Ỏ GIAI ĐOẠN MÃN TINH (BỆNH LÂU NGÀY) THƯỜNG NGUYÊN NHÂN DO SUY YẾU CÔNG NĂNG CÁC TẠNG PHỦ NHƯ PHẾ -TỲ VÀ THẬN GÂY NÊN, NHƯNG TRÊN LÂM SÀNG THƯỜNG GẶP NHẤT LÀ DO THẬN HOẠC DO PHẾ VÀ THẬN KẾT HỢP. Ở TRƯỜNG HỢP CỦA BÁC CÓ BIỂU HIỆN RẤT RÕ CỦA CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ KO NẠP ĐƯỢC KHÍ NÊN Ở ĐÂY TÔI CHỈ ĐỀ CẬP BIỆN CHỨNG VÀ PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ CHO TRƯỜNG HỢP NGUYÊN NHÂN VÀ CHỨNG BỆNH CỦA BÁC.
* PHƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ KẾT HỢP BA PHƯƠNG PHÁP:
1; UỐNG THUỐC THANG (BỔ THẬN NẠP KHÍ)
2; TRỊ LIỆU (ÔN CHÂM,BẤM HUYỆT HOẶC NHU CHÂM)
3; ĂN THEO BÀI THUỐC.
VỀ PHƯƠNG THUỐC TRƯỚC MẮT BÁC CÓ THỂ DÙNG BÀI THUỐC SAU:
1. NHÂN SÂM 6G.
2. PHỤ TỬ CHẾ 10G
3. HỒ ĐÀO NHỤC 12G.
4. NGŨ VỊ TỬ 10G
5. HẠNH NHÂN 12G.
6. ĐÀO NHÂN 10G
7. DIÊN HỒ SÁCH 12G
8. Ô DƯỢC 12G
9. PHÁ CỐ CHỈ 10G
10. MẠCH MÔN 10G
11. ĐỊA LONG 12G
nẾU BÁC HAY CÓ CƠN SUYỄN CẤP THÌ BÁC CÓ THỂ GIA THÊM :
MA HOÀNG 6G,
TÔ TỬ 10G,
QUẾ CHI 8G,
ĐỊA LONG 15G.
KHI CƠ SUYỄN GIẢM NHIỀU THÌ CÓ THỂ GIẢM DẦN CÁC VỊ TRÊN VÀ BỎ VỊ
MA HOÀNG
QUẾ CHI
VÀ TÔ TỬ.
nẾU BÁC NGỨA CỔ VÀ HO NHIỀU (TOA THUỐC TRÊN TRỊ CẢ CHỨNG HO CỦA BÁC), BÁC MUA THÊM 5 TRÁI KHA TỬ ĐẬP BỎ HẠT LẤY VỎ THỊT NGẬM DẦN VÀ NUỐT NƯỚC THÌ SẼ HẾT.
THANG THUỐC NÀY CÓ TÁC DỤNG BỔ THẬN ÔN DƯƠNG NẠP KHÍ ĐỊNH SUYỄN HOẠT HUYẾT HÓA Ứ RẤT TỐT, BAC HỐT 5 THANG, SĂC UỐNG 1 NGÀY 1 THANG, NGÀY UỐNG 3 LẦN SAU BỮA ĂN 4O', MỘT THANG BÁC SĂC 3 LẦN, LẦN ĐẦU ĐỔ 4 CHÉN (BÁT ĂN CƠM)SẮC NHỞ LỬA CÒN LẠI 1 CHÉN (BÁC NHỚ LÀ BÀI THUỐC CÓ VỊ PHỤ TỬ NÊN CẦN PHẢI SẮC NHỎ LỬA, SẮC KỸ, SẮC LÂU ÍT NHẤT 2 TIẾNG TRỞ LÊN/ LẦN SẮC, TỐT HƠN BÁC CÓ THỂ MUA SIÊU SẮC THUỐC ĐIỆN TỰ ĐỘNG ĐỂ SẮC). LẦN THỨ 2 BÁC ĐỔ 3 CHÉN SẮC CÒN 8 PHÂN, LẦN 3 BÁC ĐỔ 3 CHÉN SĂC CÒN 7 PHÂN, BÁC ĐỔ CHUNG 3 CHẾN THUỐC LẠI VỚI NHAU RỒI BỎ TỦ LẠNH, CHIA LÀM 3 LẦN UỐNG TRONG NGÀY, KHI UỐNG PHẢI HÂM NÓNG THUỐC MỚI ĐƯỢC UỐNG, LẦN ĐẦU UỐNG THÌ BÁC CHỈ UỐNG ÍT MỘT CHIA NHỎ LIỀU UỐNG ĐỂ CƠ THỂ LÀM QUEN VỚI THUỐC, KHI QUEN THUỐC BÁC CÓ THỂ UỐNG BÌNH THƯỜNG.
TOA THUỐC UỐNG SẼ GIA GẢM VÀ THAY ĐỔI DẦN THEO SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CƠ THỂ TRONG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ
* PHƯƠNG THỨC TRỊ LIỆU:
BÁC CÓ THỂ TỚI PHÒNG MẠCH ĐÔNG Y Ở GẦN ĐỂ ĐƯỢC CHÂM CỨU ( ÔN CHÂM MỚI TỐT) BẤM HUYỆT ĐỀU ĐẶN THƯỜNG XUYÊN, CHÂM 2 TUẦN LẠI NGHỈ 5 NGÀY,
NẾU BÁC BIẾT PHÒNG MẠCH NÀO CÓ NHU CHÂM (CHÔN CHỈ CATGUOT VÀO HUYỆT) THÌ BÁC DÙNG NHU CHÂM SẼ TIỆN VÀ TỐT HƠN CHO BỆNH CỦA BÁC.
NẾU HAI PHƯƠNG PHÁP TRÊN BÁC KO THỤC HIỆN ĐƯỢC THÌ BÁC CÓ THỂ DÙNG ĐÈN HÒNG NGOẠI CHIẾU CHO ẤM CÁC HUYỆT VỊ SAU (15-20') RỒI SAU DÙNG NGÓN CÁI( NHỜ NGƯỜI NHÀ LÀM CHO LÚC TRƯỚC KHI NGỦ HOẶC BUỔI SÁNG) DAY ẤN CÁC HUYỆT VỊ: QUAN NGUYÊN, KHÍ HẢI, THẬN DU, MỆNH MÔN, PHẾ DU, TỲ DU, ĐẢN TRUNG, CAO HOANG.
* BÀI THUỐC THỨC ĂN CHỮA BỆNH KẾT HỢP.
1. CÁ LÓC ĐỒNG 1 CON KHOÃNG 800G
2. MỦ CÂY XƯƠNG RỒNG GAI (LOẠI MỌC HOANG, LÀM BỜ RÀO) 3 GIỌT
CÁCH CHẾ BIẾN VÀ ĂN:
CÁ LÓC LÀM SẠCH BỎ RUỘT, NHỎ 3 GIỌT XƯƠNG RỒNG GAI VÀO MIỆNG CÁ RỒI LẤY DÂY KẼM NHỎ -SẠCH BUỘC MIỆNG CÁ LẠI RỒI NƯỚNG THAN CHO CHÍN, SAU ĐÓ ĂN 1 CON 1 NGÀY
CÁH ĂN:
- NGÀY ĐẦU ĂN 1 CON
- 1 TUẦN SAU ĂN 1 CON
- 10 NGÀY SAU NỮA ĂN 1 CON
- 15- 30 NGÀY SAU NỮA ĂN 1 CON
VẬY LÀ SẼ XONG LIỆU TRÌNH ĐIỀU TRỊ BỆNH CỦA BÁC.
NẾU CÓ GÌ KO THÌ BÁC HỎI NHÉ!
CHÚC BÁC SỚM HẾT BỆNH!
Nguyễn thiện nhân
04:14 CH 25/05/2012
Thuốc bổ thận tráng dương cho chồng loại nào tốt?
chào :
thuốc bổ thận tráng dương cho chồng các chị có thẻo theo toa thuốc ngay tới đại lý nào gần nhà lấy nhé.thuốc này đát tiền đấy khoảng 1800-2000.000 1 thang đó tha hồ ông xã dùng
Chủ Trị:
Bổ thận, bổ máu, tráng dương, chống bệnh tật, trẻ lâu, chắc răng, mọc tóc, tăng cường sức khỏe, dẻo dai. Chủ trị đau lưng nhức mỏi, hay bị mệt mỏi, suy nhược, hay bị cảm, trở trời dễ bị bệnh, sinh lý suy yếu, lãnh cảm. Nam, nữ (trên 30 tuổi) đều dùng được. Nữ dùng nửa liều của nam.
Cáp giới (tắc kè khô) 1 cặp
Đỗ trọng 16g
Ba kích 16g
Đảng sâm 20g
Sơn dược 16g
Câu kỷ tử 30g
Đương quy 16g
Thục địa 40g
Hoàng tinh 20g
Xuyên khung 12g
Cốt toái bổ 16g
Nữ trinh tử 20g
Chích hoàng kỳ 16g
Chích cam thảo 12g
Mộc qua 16g
Bạch truật 16g
Phục linh 20g
Độc hoạt 10g
Dâm dương hoắc 18g
Bạch thược 12g
Đại táo 4 quả
Phòng phong 8g
Nhục quế 4g
Hà thủ ô 8g
Nhân sâm 12g
Hải mã 5 con
Hải long 5con
Ghi Chú:
Cách ngâm: Nhân sâm để riêng, các vị còn lại rửa kỹ bằng rượu, dùng tay bẻ nhỏ bỏ tất cả các vị rồi cho vào bình ngâm với rượu đế hoặc rượu Vodka. Không được dùng dao kéo bằng kim loại để cắt vị thuốc. Đổ rượu cho ngập trên các vị thuốc khoảng 10cm. Sau 30 ngày (nếu ngâm được 100 ngày trở lên là tốt nhất) thì chắt rượu qua chai khác cho Nhân sâm vào ngâm thêm 10 ngày nữa thì uống được. Ngày uống 1 lần, mỗi lần 1 chung nhỏ (khoảng 20ml) trước khi ăn.
Kiêng Kỵ:
- Phụ nữ có thai không dùng
- Người có những bệnh có thể phản ứng với rượu (loét bao tử, ung thư gan) không nên dùng
- Người có dương thịnh âm suy (hay bị nóng nhiệt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai)
thân ái chào
thiện nhân
04:03 CH 25/05/2012
cần hỏi chút về vùng kín
chào em anh la thiện nhân:
màng chinh là một màng nhơ như mạng nhện rất mỏng nó năm tron âm đạo sâu khoảng 3 đốt ngón tay,
vậy la kinh nguyệt có vấn đề đó em em nên đi ra các tiêm thuốc đông y mua thuốc uống nhé,
không em theo bài thuốc này uống nhé
Chủ Trị:
Tâm tỳ đều hư, khí huyết hư, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, ăn kém, hay mệt mỏi, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, huyết rong, xuất huyết dưới da, thần kinh suy nhược, tâm suy.
Bạch lình 12g
Bạch truật 12g
Đương quy 10g
Hoàng kỳ 10g
Long nhãn 10g
Mộc hương 4g
Nhân sâm 10g
Toan táo nhân 8g
Viễn chí 8g
Cam thảo 4g
Ghi Chú:
Sắc uống ngày 2 lần sáng và tối uống lúc ăn cơm xong 30 phút nhé
ngoài ra em còn phải kiêng những thức ăn đông lạnh.
Nếu miệng đắng họng khô, phiền táo không yên, đại tiện bí kết, huyết áp tăng cao, tinh thần suy nhược không yên, nhịp tim nhanh, hay chứng rối loạn chức năng tuyến giáp trạng, thì đa số nên kiêng cử dùng Gừng tươi, tỏi, hẹ, hành, thịt dê, hồ tiêu, cùng các loại nhiều chất béo, đồ thơm ráo, cay; Nếu Tỳ Vị hư hàn(bụng yếu)(bụng lạnh), chân tay mát lạnh, đại tiện lỏng nhão, huyết áp thấp, nhịp tim chậm, thì nên kiêng ăn dưa hấu, Bí đao, Củ cải, Đậu xanh, quả Lê, Mía; Miệng lưỡi lở loét, thì, nổi mụn, thì nên tránh ăn măng, mầm đậu, mướp, hẹ, cà chua, nghêu sò, ba ba, ốc, thịt trai.
chúc em sớm khỏi bệnh
thiện nhân
03:57 CH 25/05/2012
các mẹ ơi da em dạo này sạm quá có mẹ mách cho em...
chào bạn bạn đi Q5 ẤY phô lạng ông có bán.nhưng nhân sam không ngâm chung với linh chi,vì cúng kỵ nhau bạn a.
thân chào
03:47 CH 25/05/2012
Bệnh sùi mào gà (Phần 2)
chào các chi:
tôi là thiện nhân có đôi lời về căn bệnh này.
một phần củng là chi em cả ăn chơi mới có như ngày hôn nay các bệnh này rất nguy hiểm nó lây qua đương tình dục, hoặc có thể lây qua đường mặc quần lót chung.
cả nam và nư củng không ngoại lệ,
có đôi ca bệnh tới tìm tôi ma bệnh quá năng,uống thuốc tay y tai đi tái lại nhiều lần ,có đôi người uống thuốc quá nhiều thì bổng nhiên mất kinh nguyện.có người thì tiêm xong thì thoi sau một thời giam qua hệ tình dục với bạn hoặc vợ mình lại tái phát lại,
bệnh này nếu không bết không tim hiểu xa hơi thì căn bệnh sẻ thô suốt cuộc đời có thể
Bệnh sùi mào gà gây nên bởi một loại virut có tên là Human papova (HPV). Đây là một trong những bệnh lây qua đường tình dục. Thời kỳ ủ bệnh của bệnh sùi mào gà khá dài, có thể từ 2 - 9 tháng sau khi quan hệ tình dục với người có mang mầm bệnh HPV.
Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục là chính, ngoài ra nó cũng có thể lây qua đường tiếp xúc như khi massage, có thể lây từ người bệnh sang người lành thông qua mặc chung đồ lót....
Đầu tiên, virus xâm nhập vào cơ thể, ký sinh không gây triệu chứng trong vòng 1-9 tháng. Sau đó bệnh khởi phát tại bộ phận sinh dục hoặc xung quanh hậu môn.
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Vị trí tổn thương: đàn ông thư ờng ở quy đầu, rãnh qui đầu, vùng hãm, bao qui đầu, thân dương vật và da bìu. Đàn bà thường ở môi lớn, môi bé, âm vật, vùng quanh niệu đạo, đáy chậu, âm đạo và cổ tử cung. Cả hai giới còn có thể bị ở đáy chậu, hậu môn, ống hậu môn, trực tràng, niệu đạo, bàng quang và hầu họng.
+ Tổn thương cơ bản: ban đầu là các sẩn nhỏ màu hồng hoặc màu trắng hồng. Sẩn tiến triển to dần, sùi lên tạo thành các khối giống hoa súp lơ hoặc dạng quả dâu, lúc đầu các sẩn chỉ nhỏ bằng đầu đinh ghim, về sau có thể to bằng quả táo, mật độ mềm, bề mặt gồ ghề. Sẩn có thể khô hoặc trượt, tiết dịch mùi hôi thối do cọ sát và bội nhiễm. Số lượng các sẩn có khi chỉ có một vài tổn th ương riêng rẽ, nhưng thường tập trung thành các đám.
+ Triệu chứng chức năng: thường không có triệu chứng gì trừ khi khối xùi làm bệnh nhân có cảm giác vướng víu khó chịu hoặc khi bị bội nhiễm gây đau nhẹ.
Sùi mào gà có thể nhầm với biểu hiện của một số bệnh sau đây:
+ Bệnh giang mai: Bệnh giang mai thường có 3 thời kỳ thì thời kỳ thứ 2 thường xuất hiện các sùi phẳng nhưng nền rắn, có màu hơi trắng trông giống bệnh sùi mào gà, tuy vậy sự thể hiện của dạng này ở giang mai thời kỳ 2 rất ít gặp.
+ Bệnh u hạt bẹn: Đây cũng là một bệnh lây qua đường tình dục. Bệnh khởi đầu là một u nhỏ có màu đỏ, kích thước lớn dần và có thể làm hủy hoại tổ chức.
+ U mềm cũng là một bệnh lây qua đường tình dục. Tuy vậy các sùi phát triển tương đối nhiều ở ngay trên vùng da của bộ phận sinh dục và cả hậu môn, để phân biệt với sùi mào gà thì bệnh u mềm thường thấy các sẩn nhỏ, tròn và lõm ở trung tâm.
- Bệnh dễ tái phát và thường để lại di chứng biến dạng cơ quan sinh dục. Sùi mào gà ở thai phụ có thể gây những tai họa: Chảy máu khó cầm nguy hiểm đến tính mạng; phải mổ lấy thai; lây bệnh từ mẹ sang con trong khi sinh đẻ. Ngoài ra, người mẹ còn có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, hậu môn. Vì vậy, cần điều trị khỏi bệnh trước khi sinh con.
- Đây là bệnh lây qua đường tình dục nên trong thời gian mang bệnh và sau khi điều trị khỏi hoàn toàn ít nhất là 3 tháng mới nên có quan hệ tình dục để tránh lây cho vợ (chồng hoặc bạn tình) hoặc dùng bao cao su đúng quy cách, an toàn. Ngoài việc điều trị bệnh sùi mào gà, người bệnh nên chủ động đi làm xét nghiệm viêm gan B, viêm gan C, HIV, giang mai...
- Bạn nên đi khám ngay nếu thấy trên da dương vật nổi lên những nốt mụn hoặc nốt sùi dễ chảy máu. Ngay cả khi bạn chỉ thấy ở rãnh qui đầu có những nốt nổi lên xung quanh viền chỏm hơi sần sùi, nhỏ như những hạt vừng, nốt rôm, mầu trắng, không ngứa ngáy, không thấy đau thì cũng cần đến bác sĩ nam khoa để thầy thuốc phân biệt đó là mụn cóc sinh dục (nhiễm HPV) hay chỉ là chuỗi hạt ngọc lành tính quanh rãnh quy đầu. Nếu là chuỗi hạt ngọc thì những nốt nhỏ, nhẵn, tròn mầu hồng giống mầu niêm mạc qui đầu, chỉ cần vệ sinh sạch sẽ một thời gian sau nó sẽ tự mất đi. Còn ở nữ giới thì nên đi khám phụ khoa định kỳ, bác sĩ sản khoa sẽ phát hiện giúp bạn (Thông tin tổng hợp).
vì thế khi quan hệ tình dục với nam giới thì phải đi bao cao xu. không dược đưa miện xuống bộ phận âm đạo xẻ tăng phát triển bệnh.qua tuyến nước bọt. rất mạnh.
với nữ giới thì thì nên về sinh âm đạo thương xuyên tránh quan hệ bừa bải không rỏ nguồn gốc người bạn trai.
VUI LÒNG XEM HÌNH ẢNH CĂN BỆNH: 264238
NẾU muốn biết thêm chi tiết về bệnh có thể gửi qua MAIL CHO mình: TƯ VẤN BÊNH MIỄN PHÍ
MAIL:thiennhan.dongy@gmail.com
yahoo chát:thiennhan.dongy
DT:0978107809
03:03 CH 25/05/2012
U xơ tử cung
thân ái chào các mẹ trên diễm đàn này.tôi la thiện nhân là con trai nên toi không cùng chung suy nghi như chị em phụ nự, nhưng một người thầy thuốc tôi thấu hiệu chị em noi gì hiểu gì về căn bệnh quá ác này,
đáng lẻ ra tôi không muốn tra lời vì thời gian tôi chăm sắp bệnh nhân với lại cồng việc của tôi quá bận không có thời gian nhiều cho việc trên diễn đàn ,tôi ra nhận vào đây củng là một sự tình cờ hiếm thấy.
THEO tôi lời khuyên tới chi em phụ nữ rằng chị em không nên đi mổ cắt u,ma hại tới sức khỏe tiền mất tật mang.
Bệnh ung thư theo y học hiện đại:
1. Tóm tắt vê bệnh ung thư theo nghiên cứu của y học hiện đại:
Các tế bào bình thường trong cơ thể phân chia và lão hóa theo một quy trình đã định sẵn. Các loại tế bào trở thành lão hóa trong một thời gian nhất định và sẽ tự hủy đi, quá trình tự hủy này gọi là "apoptosis" hay "programmed cell death". Khi một tế bào phân chia thì nó sẽ trở thành 2 tế bào hoàn toàn giống như tế bào mẹ. Khi 1 tế bào mẹ phân chia và tạo thành 2 tế bào con không giống như tế bào mẹ, các tế bào này được gọi là bị đột biến. Hệ thống phòng thủ của cơ thể (immune system) do lá lách (tỳ) làm chủ có nhiệm vụ truy tìm tất cả những tế bào lạ xâm nhập vào cơ thể (virus, bacteria) và tiêu hủy chúng. Các tế bào bị đột biến vì không giống như các tế bào mẹ nên cũng được xếp vào tế bào lạ và được hệ thống phòng thủ sẽ tiêu hủy đi. Các tế bào đột biến sinh ra rất thường xuyên trong cơ thể trong suốt đời người và luôn luôn được hủy đi. Bệnh ung thư xảy ra khi một vài trong số các tế bào bị đột biến hình thành và chúng thoát qua được sư kiểm soát của hệ thống phòng thủ. Chúng không tuân theo quá trình tự hủy như tế bào bình thường và tiếp tục phân chia một cách vô tổ chức, xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa và trở thành các bướu ung thư.
2. Nguyên nhân đưa đến tế bào bị đột biến:
Theo thống kê, những người sống ở môi trường có nhiều chất phóng xạ, hóa chất độc hại, bệnh nhân ăn nhiều các loại thức ăn có hóa chất (preservative), dùng nhiều các thức ăn uống có nhiều chất kích thích như rượu bia, café, thuốc lá có nguy cơ bị ung thư cao hơn. Nói tóm lại bệnh nhân ung thư là những người tiếp xúc nhiều với độc tố.
3. Cách chữa trị theo y học hiện đại:
Y học hiện đại có nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư, dưới đây là 3 phương pháp thông dụng nhất:
- Phẫu thuật: cắt bỏ chỗ bị ung thư
- Xạ trị (radiation): dùng tia phóng xạ để đốt vùng cơ bị ung thư
- Hóa trị (chemotherapy): dùng một loại hóa dược có đặc tính làm tổn thương tới phần DNA (gene) của tất cả các tế bào trong cơ thể. Khi một tế bào bình thường bị thương tổn thì nó sẽ tự sửa chữa trong khi tế bào ung thư không biết tự sửa chữa vì chúng không còn tuân theo những chương trình đã định sẵn nữa vì vậy cứ tiếp tục dùng hóa trị trong một thời gian dài thì dần dần sẽ tiêu diệt được hết các tế bào ung thư
4. Hiệu quả thấp của các cách chữa trị này:
- Phẫu thuật: nếu tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể thì không thể nào làm phẫu thuật để lấy hết ra được, chỉ cần vài tế bào sót lại thì chúng sẽ phát triển thành khối u mới. Trong quá trình phẫu thuật, nhiều các tế bào ung thư bị tách ra khỏi khối u, sót lại và di chuyển qua chỗ khác, phát triển thành nhiều khối u mới (di căn).
- Xạ trị: các tế bào ung thư được đốt đi nhưng tia phóng xạ tự nó lại gây ra bệnh ung thư do làm tổn thương tới DNA của các tế bào bình thường. Cũng như phẫu thuật, không thể nào đốt hết đi được các tế bào ung thư nằm rải rác trong cơ thể.
- Hóa trị: phương pháp này gây tổn hại rất lớn tới cơ thể vì toàn bộ các tế bào trong cơ thể đều bị tổn thương. Phương pháp này để lại các phản ứng phụ nghiêm trọng như rụng tóc, sắc mặt xanh tái, tròng mắt trắng dã, thất thần, vô sinh. Khi các tế bào bình thường tự sửa DNA của nó không được hoàn chỉnh, chúng sẽ trở thành những tế bào ung thư mới.
II. Những nhận xét về bệnh ung thư theo y học cổ truyền:
1. Những tạng chịu trách nhiệm thanh lọc độc tố: tỳ, can, thận là 3 tạng giữ trách nhiệm thanh lọc máu trong cơ thể.
- Tỳ thống huyết, chủ cơ nhục. Bệnh ung thư là bệnh ở cơ nhục và máu huyết vì vậy nằm trong phạm vi chức năng của tỳ. Theo y học hiện đại thì tỳ (lá lách) giữ nhiệm vụ phòng thủ (immune system) vậy chức năng của tỳ theo như Đông và Tây y có điểm giống nhau.
- Can (gan) tàng huyết, chủ sơ tiết. Các loại thức ăn nóng nhiệt, độc hại, các loại chất kích thích như rượu bia, café đều gây ra chứng hỏa vượng ở can. Theo y học hiện đại thì gan chịu trách nhiệm thanh lọc các chất độc tố ra khỏi cơ thể (detoxification). Vậy chức năng của can theo Đông y và Tây y cũng giống nhau về điểm này.
- Thận: giữ chức năng thanh lọc máu, đào thải chất cặn bã, chất thừa trong máu ra dưới dạng nước tiểu. Chức năng này Đông y và Tây y đều giống nhau.
Nhận xét về cơ chế bệnh sinh:
- Các bệnh nhân ung thư thường có tiền sử tiếp xúc nhiều với các loại độc tố, sử dụng các loại hóa chất, kích thích tố, thuốc Tây dài hạn. Can, thận, tỳ làm việc không ngừng nghỉ để thanh lọc các chất độc tố này ra khỏi cơ thể, khi lượng độc tố vào cơ thể với mức cao hơn lượng độc tố được thanh lọc ra hàng ngày thì chất độc tích tụ dần thành nhiệt độc và gây ra bệnh ung thư
- Tôi có tiếp xúc qua một số các bệnh nhân ung thư thì thấy đều có triệu chứng can, thận, tỳ suy nhất là tạng tỳ. Người lớn tuổi có tỷ lệ bị ung thư nhiều hơn người trẻ. Điều này cho thấy khi 3 tạng này suy yếu thì nguy cơ bị ung thư tăng lên. Tạng tỳ chủ về hệ thống phòng thủ nhưng những bệnh nhân ung thư đều có tạng tỳ suy yếu. Vậy không phải là các tế bào ung thư thoát qua khỏi hệ thống phòng thủ của tỳ mà là tỳ quá suy yếu không tiêu diệt nổi tế bào ung thư.
3. Biện chứng luận trị:
- Bệnh ung thư thuộc về loại nhiệt độc. Các chứng về nhiễm trùng tương ứng với các triệu chứng nhiệt của Đông y. Nhiễm trùng là khi các tế bào lạ (vi trùng, vi khuẩn) xâm nhập vào cơ thể. Tế bào ung thư đối với cơ thể cũng là tế bào lạ và hệ thống phòng thủ của cơ thể cũng tiêu diệt tế bào ung thư cùng 1 cách như các tế bào lạ xâm nhập từ ngoài vào.
- Bệnh ung thư là do độc tố tích tụ trong cơ thể quá nhiều khiến cho can, thận, tỳ phải làm việc quá sức và trở nên suy yếu. Khi 3 tạng này suy yếu thì sức thanh lọc yếu đi, độc tố tích tụ càng nhiều, bệnh càng nặng lên rất nhanh. Các chất độc tố này là nguyên nhân gây đột biến của tế bào. Tây y cắt bỏ phần cơ thể bị bệnh nhưng không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh nên dù cắt bỏ, nhiều khối u mới sẽ mọc lên.
vì thế không nên dimoor1oor 100% bao gì khôi u cửng tái phát lai,mà chuyển sàn khối u ác tính.vì thế không được cắt bỏ.
chú ý:
Nếu miệng đắng họng khô, phiền táo không yên, đại tiện bí kết, huyết áp tăng cao, tinh thần suy nhược không yên, nhịp tim nhanh, hay chứng rối loạn chức năng tuyến giáp trạng, thì đa số nên kiêng cử dùng Gừng tươi, tỏi, hẹ, hành, thịt dê, hồ tiêu, cùng các loại nhiều chất béo, đồ thơm ráo, cay; Nếu Tỳ Vị hư hàn(bụng yếu)(bụng lạnh), chân tay mát lạnh, đại tiện lỏng nhão, huyết áp thấp, nhịp tim chậm, thì nên kiêng ăn dưa hấu, Bí đao, Củ cải, Đậu xanh, quả Lê, Mía; Miệng lưỡi lở loét, thì, nổi mụn, thì nên tránh ăn măng, mầm đậu, mướp, hẹ, cà chua, nghêu sò, ba ba, ốc, thịt trai
nếu muốn bết thêm căn bệnh này có thể gũi qua MAIL tư vấn miễn phí về bênh.
Mail:
thiennhan.dongy@gmail.com
YAHOO CHAT:thiennhan.dongy
thân ái chào
thiện nhân
02:41 CH 25/05/2012
Bệnh Vẩy nến toàn thân (phần 5)
chào bạn ;bongxinhtomdeptrai
kinh nghiêm mình chữa căn bệnh vẩy nến này bao nhiêu năm rồi mình biết.trên lâm san quả là có loại thuốc này khi tắm khoác xoa vào nó thì tự nhiên mất vẩy nến lặng vào trọng da thịt .người bình thường thì cử tưởng là thôi bệnh,nhưng sau ít ngày không dùng thuốc thì bệnh lai tái phát lai.tái đi tái lai nhiều lần ,thẩm chí là khi dùng thuốc gì gây nên tác dụng phụ ở trên cơ thể,nhưng vùng da chịu phạn xa ít gây nên các vết nám da.
bệnh vẩy nến thuộc vao can thận do trong gan nóng không bài tiết ra ngoài mà khán lên trên gầy nên các triệu chứng là nổi và ngưa,tý vị hư hàn,chất bẩn độc trong cơ thể tích tự lại gân trở ngại tới công năng của tỳ vị không vận hóa được.
Do bệnh nhân không bết trông quá trình dùng thuốc tay,thì củng có các triệu chứng trên,ảnh hưởng tới ÂM DƯƠNG-KHI -HUYẾT,khi huyết hoa tổn anh hưởng tới can thịnh qua gây nổi ra da,
Theo kinh nghiệm lâm sàng điều trị bệnh vảy nến của tôi (nói chung là bệnh cơ địa -dị ứng)thì khi uống thuốc vào trong thời gian đầu thì 90%Bệnh sẽ phát ra dữ dội và đại tiện ra phân lỏng, có khi là nước ko, mùi rất thối và tanh( khoảng 60-70%), sau đó bệnh đỡ dần và khỏi (đây là trường hợp cơ thể đào thải độc tố ra bên ngoài), những trường hợp này thì hầu như là họ khỏi hoàn toàn sau khi dùng thuốc mà ko tái phát trở lại( bởi vì độc tố đã được đào thải ra khỏi cơ thể), Tôi đã đều trị một số ca khi đến thì chỉ biểu hiện rất ít ở đầu và ở tay (do họ chích thuốc tây nên bệnh ko có biểu hiện cụ thể mà thường lặn vào trong, nhưng sau khi uống 3-7 thang đầu thì tất cả từ dưới bàn chân lên đỉnh đầu( trừ 2 con mắt)vẩy nến lần lượt trình diện mà chiu ra ngoài nhìn rất ghê sợ (khi tôi điều trị mà nhìn thấy biểu hiện này thì rất vui và nói với bệnh nhân:
sẽ khỏi hoàn toàn và sẽ ko bị tái phát), thông thường bệnh nặng thì vẩy nến sẽ trổ ra thành 2- 3 đợt và rất ngứa, khi vẩy nến trổ ra đủ dày lúc đó tôi cho bôi thêm Tử Vân Cao thì CÁc mảng vảy nến sẽ từ từ bong da sạch bóng, sau vài ba lần như vậy, khi độc tố đã dào thải ra hết da sẽ dần lành lại và trở lại bình thường( cũng ko để lại sẹo)có trường hợp mảng vảy nến trên da đầu mọc da nhưng ông này ko chịu cắt tóc để chòi mảng vẩy nến mà bôi cao
những trường hợp mà phát ra đường này thì ít đi cầu lỏng hơn, một số trường hợp trỏ ra đường này ít thì lại xổ bằng đường phân rất nhiều, phân lỏng nước, tanh hôi, có trường hợp còn đi ra những cục như cục máu bầm lầy nhầy tanh hôi).
Còn như những trường hợp uống thuốc vào mà lại thấy đỡ ngay hoặc dấu hiệu chuyển biến ko rõ dệt trong mấy thang đầu thì đó chính là dấu hiệu báo sẽ ko khỏi bệnh hoặc có khỏi thì một năm sau cũng sẽ bị lại( thời gian bị tái phát cũng có thể ngắn hơn tùy tùng nguoi, và tùy lào lối sống sinh hoạt của từng người).
nó phải chia thành 3 giai đoan điều tri mới thành công mà không anh hương tới sức khỏe.thường các thầy thuốc không hiểu căn bệnh này nên khi uống thuốc vào thì bệnh nhân cầm thuốc đế trả lại.nhưng khi khuyên giảm thì mới giám dùng tiếp,họ cách lương y ai củng biết nên tôi không nói thêm nữa/
XEM HÌNH ẢNH LÂM SÀN CĂN BỆNH 264235
tôi giám cá vói bạn nếu bạn chưa thôi 1 ca bệnh vẩy nến .bao nhiêu cưng chịu một chầu nhậu
nếu muốn được tư vấn miễn phí bệnh thì gửi mail cho mình biết thêm chi tiết về bệnh
MAIL:thiennhan.dongy@gmail.com
yahoo chat:thiennhan.dongy
DT:0978107809
thân ái chào
thiện nhân
02:16 CH 25/05/2012
U xơ tử cung
chị em đọc bài viết cảu toi chưa thế
chào cá chị em phụ nữ tuyệt đối không được cắt u
chị em theo toa thuốc nay uống nhé,có hiệu quả gấp bội
Trước ngày hành kinh 10 ngày chị dùng 7 thang thuốc theo toa này:
Đương quy 25g
Xích thược 20g
Xuyên khung 20g
Tiểu hồi 12g
Can khương 12g
Huyền hồ sách 20g
Bồ hoàng 20g
Ngũ linh chi (sao) 20g
Hương phụ 20g
Ô dược 20g
Nhục quế (gói riêng) 8g
Nhục quế bỏ vào bát, chờ thuốc sắc vừa xong thì đồ vào đánh tan đều; nước thứ nhì cũng hòa vào theo, chia làm 2 lần, uống trong ngày lúc bụng đói.
Trong những ngày còn lại của tháng, chị dùng theo toa này:
Ngải diệp 100g
Hương phụ (chế) 300g
Ngô thù 100g
Xuyên khung 100g
Bạch thược (sao rượu) 100g
Sinh hoàng kỳ 100g
Đương quy (sao rượu) 120g
Tục đoạn 60g
Sinh địa (rửa rượu, xấy khô) 50g
Nhục quế 10g
chú ý:
nhục quế nhé( chư không phải quế chi)
Chị nhờ hiệu thuốc tán mịn, trộn đều, dùng Giấm làm nhũ tương để hoàn thuốc. Viên to bằng hạt đậu xanh. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần uống 1 muống canh (muỗng ăn phở).
Hai loại thuốc trên không uống trong những ngày hành kinh.
Tuyệt đối không cắt, vì u này có thể uống cho tiêu được.
Trong thời gian uống thuốc, có thể hành kinh ra huyết khối, hoặc hành kinh kéo dài. Chị nhớ cập nhật tình hình để tôi chỉnh thuốc theo bệnh.
Chúc an khang!
thiện nhân.
02:15 CH 25/05/2012
n
nike.pro
Bắt chuyện
547Điểm·0Bài viết
Báo cáo