Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Con em đã hêt hen suyễn sau khi ăn mật kỳ đà
Nhà mình không chữa hen, nhưng mình làm bên đông y, mình thường xuyên dùng mật kỳ đà chữa động kinh và mình khẳng định rằng, mật kỳ đà không hề độc, có những trường hợp mình cho bệnh nhân sử dụng khi vừa thịt kỳ đà, dùng cả cái luôn và dùng kéo dài khoảng 5 con, không hề ảnh hưởng. Nếu ai bị ngộ độc có thể là do mua phải mật giả thôi. Các mẹ có con bị hen có thể dùng mật kỳ đà kết hợp với mật trăn, có rất nhiều trường hợp đã khỏi tuy nhiên hen cũng có nhiều loại, có loại dùng mật kỳ đà có tác dụng, có loại không có tác dụng. Trong trường hợp các mẹ sợ, không dùng mật đv thì có thể hấp trứng gà với men bắc (men rượu) làm từ thuốc bắc cho con ăn cũng có thể khỏi được hen. Nếu cần tư vấn, các mẹ có thể gọi cho mình 0914262018. Những bài thuốc dân gian là những bài thuốc lâu đời, được ông cha ta dùng trở thành kinh nghiệm, tuy chưa được nghiên cứu nhưng rất hiệu quả. Chúc các các bé nhanh khỏi bệnh.
04:01 CH 25/07/2014
Làm giá đỗ từ đậu xanh?
Lấy giấy vs cũng được mẹ nó ạ
11:33 SA 08/07/2014
Hoa kim châm
Nhà mình trồng hoa kim châm, hoa tươi(nụ) dùng để nấu canh hoặc xào với thịt bò (chú ý là hoa này rất mát, người cơ địa hàn ăn vào là đi ngoài ngay), hoa tươi thì để trong tủ được khoảng 7 ngày, ăn ngọt, mát, hoa khô thì để được 2 năm, vì hoa ngọt, phơi khô để khó mốc lắm, chứ ko phải tẩm ướp đâu nhé các mẹ, hiện nay trên thị trường, kể cả ở Đà Lạt có hoa của Trung Quốc, các mẹ chú ý nhé.
09:44 SA 24/05/2014
thuốc chữa sỏi thận hiệu quả nhất
Chỉ mỗi độc vị kim tiền thảo và chuối hột thì khó có thể ra sỏi, các mẹ nên kết hợp nhiều loại thảo dược nữa nhé. Sỏi là bệnh dễ chữa, nên dùng thuốc nam nhé các mẹ
09:18 SA 24/05/2014
thuốc chữa sỏi thận hiệu quả nhất
Khi đi các mẹ nhớ siêu âm để biết kích thước sỏi trước khi uống thuốc và cứ 1 tháng thì siêu âm lại một lần nhé (chú ý là nên siêu âm tại một đc trước và sau khi uống thuốc để có kết quả chính xác).
09:02 SA 03/07/2013
Xin hỏi cách trị bệnh động kinh cho bé
HarlemDAp!
Nhà tôi chuyên chữa động kinh, khi đọc tin của bạn tôi thương cảm vô cùng, động kinh là bệnh chữa rất phức tạp, không đơn giản chút nào đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Điều nguy hiểm nhất là động kinh ở trẻ nhỏ để lại di trứng chậm phát triển, tăng động, tự kỷ,..
Con bạn động kinh do di chứng của viêm màng não là loại chữa rất khó, thường phải uống thuốc trong thời gian dài (từ 2-3 năm).
Trường hợp này không nên khám ở các bệnh viện nữa, bởi không tác dụng gây tốn kém, bạn nên tìm hiểu phương pháp giáo dục cho trẻ tăng động và dùng thuốc nam uống kéo dài để phục hồi cho con. Với bệnh động kinh ở trẻ dưới 6 tuổi thì cha mẹ phải học vừa làm bs vừa làm giáo viên của con mình mới mong phục hồi được.
Chúc bạn và gia đình mạnh khỏe.
08:49 SA 09/05/2013
Chữa bệnh hen suyễn bằng thuốc nam, bắc hoặc gia...
Dân gian có dùng mật kỳ đà để chữa hen nữa, các mẹ xem thử xem sao
10:22 SA 23/02/2013
Con em đã hêt hen suyễn sau khi ăn mật kỳ đà
DoctorLee !
Không cần nói cũng hiểu ông này có trình độ đến đâu.
Đúng là "Dân chí thấp". he he...
09:22 SA 22/02/2013
Cơn vắng ý thức làm sao điều trị ?
Thể vắng trong động kinh là một trong những loại động kinh khó chữa nhất. Đặc điểm của thể này là cơn chỉ thoáng qua, người bệnh không biết gì từ vài giây đến vài phút, miệng nhai tóp tép, đôi khi có kèm theo co giật trong giấc ngủ... Rất khó chữa nhé.
02:50 CH 23/11/2012
Bị bệnh dạ dày có ai có thuốc chữa hay ?
các mẹ ủng hộ mình nhé...
12:10 CH 17/11/2012
Hoa kim châm
Bệnh giảm tiểu cầu

Xuất huyết giảm tiểu cầu (XHGTC) là tình trạng bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em. Đặc điểm của nhóm bệnh này là tình trạng xuất huyết ở da, niêm mạc, có thể kèm theo chảy máu ở mũi,chân răng, ống tiêu hóa, tiết niệu hoặc ở các cơ quan nhu mô như phổi, não,... do giảm số lượng tiểu cầu ở máu ngoại vi.
Tiểu cầu có vai trò như thế nào?
Tiểu cầu là một trong 3 loại tế bào máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.
Tiểu cầu có kích thước rất nhỏ, từ 1- 4µm, chúng được sinh ra ở tủy xương, từ các mẫu tiểu cầu. Chúng có chức năng quan trọng trong cầm máu, nhờ các tính chất đặc thù như: tập trung thành từng đám dính chặt vào thành mạch nơi bị tổn thương và thoái hóa chất nhày để giải phóng ra yếu tố gây đông máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình cầm máu và bảo vệ thành mạch không bị rò rỉ.
Vì sao dẫn đến tình trạng giảm tiểu cầu?
Có nhiều nguyên nhân gây ra giảm tiểu cầu nhưng tập trung nằm ở hai nhóm nguyên nhân lớn sau đây: Tăng phá hủy tiểu cầu ở máu ngoại vi; giảm sinh tiểu cầu ở tủy xương.
Trong nhóm đầu tiên lại có rất nhiều bệnh khác nhau như: đông máu trong lòng mạch cấp tính và mạn tính gây tiêu thụ lớn tiểu cầu, các u máu lớn ở các vị trí khác nhau của cơ thể, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm virut nặng gây giảm tiểu cầu... hoặc các bệnh có kháng thể kháng lại tế bào máu như tan máu tự miễn kèm theo giảm tiểu cầu, bệnh lupus ban đỏ... Trong nhóm này phải kể đến bệnh XHGTC tiên phát mà ngày nay nhiều tác giả gọi đó là xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn mà chúng ta sẽ nói nhiều sau đây.
Trong nhóm thứ 2, gồm một số bệnh lý ở tủy gây giảm các mẫu tiểu cầu như bệnh suy tủy toàn bộ, suy một dòng mẫu tiểu cầu hay các bệnh ác tính ở tủy xương như ung thư di căn tủy, lơxêmi cấp... khi đó giảm tiểu cầu là tình trạng thứ phát do các bệnh chính gây ra.
XHGTC tiên phát là bệnh hay gặp ở trẻ em hơn. Gần đây người ta đã chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh khi tìm thấy các kháng thể kháng lại tiểu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi của trẻ em nhưng có thể phân thành 2 nhóm khác biệt: ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn.
Biểu hiện của bệnh
Bệnh thường có khởi phát từ từ kín đáo với sự xuất hiện của các nốt xuất huyết chấm đỏ hoặc bầm tím, hoặc xuất huyết do xây xước nhẹ trên da, không kèm theo sốt, thiếu máu, sưng hạch hoặc các biểu hiện toàn thân khác. Các nốt xuất huyết có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, thường là không có tính chất đối xứng ở hai chi. Các nốt hoặc mảng tụ máu có thể tự nhiên xuất hiện hoặc do va đập nhẹ, thường là ở chân tay, mặt. Những vết cào xước nhẹ ở cổ, thân mình, chân tay cũng gây ra những dải xuất huyết. Rất ít khi bệnh biểu hiện chảy máu nặng ngay từ đầu như chảy máu mũi, chân răng, xuất huyết tiêu hóa, tiểu ra máu.
Xét nghiệm ở máu ngoại vi cho thấy số lượng tiểu cầu giảm. Các số lượng hồng cầu, hemoglubin, bạch cầu và các thành phần của bạch cầu bình thường. Xét nghiệm đông máu thấy thời gian chảy máu kéo dài, còn thời gian đông máu bình thường. Xét nghiệm tủy xương chỉ cần làm khi có bất thường ở xét nghiệm hồng cầu, bạch cầu hoặc lâm sàng nghi ngờ bệnh tủy xương. Ở bệnh XHGTC miễn dịch thì ở tủy xương sẽ thấy các mẫu tiểu cầu tăng sinh, nhưng không trưởng thành và không sinh tiểu cầu. Trong một số trường hợp, cần làm thêm xét nghiệm về đông máu để chẩn đoán nguyên nhân giảm tiểu cầu trong các bệnh rối loạn đông máu khác. Nếu có biểu hiện toàn thân hoặc tan máu kèm theo giảm tiểu cầu thì cần làm thêm nghiệm pháp Coombs hoặc tìm kháng thể kháng nhân.
Xử trí bệnh thế nào?
Nguyên tắc của điều trị XHGTC là dựa vào cơ chế miễn dịch của bệnh. Corticosteroid được sử dụng như một thuốc kinh điển để điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu. Các thuốc ức chế miễn dịch khác cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ hoặc thay thế khi các tác dụng phụ của corticosteroid nặng nề. Sau steroid, các tác giả đã sử dụng globulin người tiêm tĩnh mạch cho kết quả tốt và hạn chế được tác dụng phụ của corticosteroid nhưng giá thành của thuốc này rất cao. Gần đây, người ta đã áp dụng các chất kháng lymphoB điều trị các thể XHGTC mãn tính, nhất là ở trẻ lớn. Trong các trường hợp có tiểu cầu giảm nặng, nguy cơ xuất huyết nội tạng hoặc não cao thì cần truyền tiểu cầu.
XHGTC ở trẻ em thường có diễn biến cấp tính. Khoảng 70 - 80% các trường hợp tiểu cầu trở lại bình thường sau một vài tuần đến 3 tháng khi đã được điều trị. Chỉ đến 20% trở thành mãn tính, số lượng tiểu cầu thấp kéo dài hoặc tái diễn, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp điều trị. Khi số lượng tiểu cầu giảm nặng cần có các biện pháp đề phòng chảy máu, đặc biệt là chảy máu ở phổi, não dễ gây tử vong cho người bệnh. Ở trẻ nhũ nhi, bệnh thường hồi phục nhanh chóng, có thể tự khỏi mà không cần điều trị đặc hiệu. Vì vậy việc cần thiết là đưa trẻ đến các chuyên khoa huyết học để khám và theo dõi, tránh tiêm các thuốc hoặc làm các thủ thuật gây chảy máu hoặc tụ máu thêm cho trẻ.
Đối với các trường hợp mạn tính thì việc điều trị còn rất nan giải. Những bệnh nhi này cần được theo dõi tốt, tránh các biến chứng do xuất huyết. Mặt khác cần hạn chế sử dụng corticosteroid liều cao, kéo dài làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Ở trẻ gái đến tuổi có kinh nguyệt thường có biểu hiện rong kinh, đôi khi gây thiếu máu nặng. Điều trị các trường hợp này cần sự phối hợp giữa huyết học với sản khoa và nội tiết.
Lời khuyên với gia đình bệnh nhi: XHGTC tiên phát ở trẻ em có thể điều trị tốt, các trường hợp mãn tính phải điều trị lâu dài. Tử vong có thể xảy ra nếu xuất huyết ở não, phổi hoặc chảy máu gây mất máu nặng. Vì vậy, khi trẻ có dấu hiệu xuất huyết dưới da hoặc tụ máu cần đưa trẻ đi khám, tránh tai biến và loại trừ các bệnh khác mà XHGTC là biểu hiện thứ phát.

Một số bệnh nhân chia sẻ cách chữa bệnh này hiệu quả:

Tôi tên Huyền, hiện công tác tại TP.HCM. Tôi phát hiện mình mắc bệnh giảm tiểu cầu được 2 tháng nay và đã may mắn vượt qua căn bệnh này nhờ uống hoa Kim Châm. Tôi muốn chia sẻ thông tin này mong giúp ích đựơc cho người thân của bạn
Tiền sử bệnh của tôi như sau:
- Tôi nhập viện ngày 26/9/2007 lúc tiểu cầu chỉ có 4,000. Sau 2 tuần điều trị bằng thuốc và truyền tiểu cầu tại bệnh viện Truyền máu Huyết học TP.HCM, tôi được xuất viện với con số 66,000. Một tuần sau tôi tái khám, tiểu cầu còn 9,000. Bác sĩ lại yêu cầu nhập viện nhưng tôi không vào vì tôi bắt đầu lo sợ tác dụng phụ của thuốc (mặt tích nước phù lên, mụn nổi khắp người).
Tôi bắt đầu tìm thông tin về cách điều trị bằng đông y. Tôi có liên lạc với bác sĩ ở Viện Y học quân đội theo số anh Cao Nam cho và đồng thời tìm thấy thông tin về tác dụng tăng tiểu cầu của hoa Kim châm. Thế là tôi quyết định vừa uống kim châm vừa chuẩn bị đi Hà Nội gặp bác sĩ. Tuy nhiên, khi đến bệnh viện đo lại tiểu cầu trước khi đi (theo đề nghị của vị bác sĩ của viện y học quân đội tại Hà Nội), bác sĩ bệnh viện Truyền máu huyết học lại yêu cầu tôi nhập viện 1 lần nữa vì tiểu cầu của tôi chỉ có 7,000. Biến chứng sẽ vô cùng nguy hiểm nếu tôi không được theo dõi. Thế là tôi nhập viện lần 2.
Trong thời gian 1 tuần nằm viện, tôi kết hợp uống hoa Kim Châm (với liều lượng khoảng 30g/ ngày) kèm thuốc bác sĩ kê (methylprenisolone).
Kết quả thật bất ngờ:
- Sau 1 tuần (23/10-30/10): tiểu cầu tăng từ 9,000 lên 118,000. Vì số tiểu cầu tăng quá nhanh nên bác sĩ cho tôi xuất viện và hẹn 1 tuần sau tái khám.
- Sau 1 tuần (31/10 -6/11): tiểu cầu tăng tiếp lên 266,000 (trong thời gian này, tôi vẫn dùng thuốc và kim châm mỗi ngày). Kết quả tái khám lần này làm bác sĩ và gia đình tôi bất ngờ.
- Sau 1 tháng (từ 6/11 - 4/12): tiểu cầu đạt 288,000 (thời gian này tôi đánh liều không uống thuốc mà chỉ uống kim châm. Liều lượng kim châm không đổi. Việc này bác sĩ không hề biết).
Kết quả này làm tôi rất vui vì tôi có thể tin chắc rằng kim châm là tác nhân chính làm tăng tiểu cầu.
- Hiện nay tôi vẫn uống hoa kim châm mỗi ngày (dạng hoa tươi hoặc hoa đã sấy khô) và hoàn toàn ngưng thuốc bệnh viện. Song song với việc dùng kim châm, tôi uống lá mã đề tươi và râu bắp (mỗi thứ 50g) để chữa phù nề do tác dụng thuốc corticoide. Sau một tháng, nay mặt tôi đã bớt sưng và giảm mụn.
Thông tin về hoa Kim Châm:
Hoa kim châm (còn gọi là hoa hiên), khi nở màu vàng chanh, vị ngọt, được trồng ở Đà Lạt.
Tác dụng: đông máu (tăng lượng tiểu cầu trong máu)
Liều lượng: 15-20 bông (tươi hoặc khô)/ ngày
Liều dùng: 1 lần / ngày (uống bất kỳ lúc nào thuận tiện)
Cách thức: nấu với 250 ml nước trong khoảng 15 phút, khi lượng nước giảm còn 1/2 thì dùng (uống ấm hoặc lạnh đều được). Chỉ uống nước, không cần dùng hoa.
Điểm bán: Hoa kim châm được trồng nhiều ở Đà Lạt, các bạn có thể gọi 0914. 262. 018 hoặc 0936. 166. 468 để lấy hoa khô hoặc hoa tươi gửi trực tiếp từ 2 cơ sở (Đà Lạt, Hà Nội).
Lưu ý: khi mua hoa tại chợ, hoa ở dạng búp màu vàng nhạt, cuống xanh. Các bà nội trợ vẫn mua hoa để làm lẩu, nấu canh, nhồi thịt...Nhớ đừng nhầm lẫn với nấm kim châm (màu trắng) của Trung Quốc.
Còn một kinh nghiệm nữa: Dùng sừng trâu thay sừng tê giác trong điều trị
Trong Đông y, sừng tê giác là một dược phẩm thông dụng và thiết yếu trong điều trị nhiều loại bệnh cấp tính và nguy kịch. Tuy nhiên, hiện tê giác đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng nên hầu như không thể có vị thuốc này. Trong nhiều bài thuốc, có thể dùng sừng trâu thay thế.
Trước đây, trên thị trường, sừng tê giác được chia thành 2 loại: sừng tê giác châu Á, thường gọi là “Xiêm La giác” và sừng tê giác có nguồn gốc châu Phi, thường gọi là “Quảng giác”. Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, xưa kia, nước ta có nhiều tê giác, nhưng gần đây hầu như không thấy.
Về tính năng, sừng tê giác là vị thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết và chỉ huyết mạnh, thường dùng chữa các bệnh ôn nhiệt sốt cao, hôn mê nói nhảm, co giật và các chứng xuất huyết do huyết nhiệt. Trên lâm sàng, sừng tê giác có thể sử dụng phối hợp với nhiều vị thuốc khác, là thành phần không thể thiếu trong hàng loạt danh phương cổ như “Tê giác địa hoàng thang”, “Thanh doanh thang”, “Thần tê đan”, “An cung ngưu hoàng hoàn”, “Tử tuyết đan”, “Chí bảo đan”...
Hiện nay, tê giác là loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, đã được đưa vào sách đỏ và cấm săn bắt. Việc sử dụng sừng tê giác làm thuốc vì thế cũng đã trở thành quá khứ. Có thể dùng sừng trâu thay thế.
Sừng trâu (thủy ngưu giác) là dược liệu dễ kiếm, hầu như có sẵn ở khắp các vùng nông thôn. Nó đã được sử dụng làm thuốc từ hàng nghìn năm nay. Sách “Danh y biệt lục” viết: Sừng trâu có thể dùng chữa chứng đau đầu do thời khí nóng lạnh thất thường. Còn theo sách “Đại Minh bản thảo”, sừng trâu sắc lấy nước uống có thể trị chứng phong do nhiệt độc và sốt cao (trị nhiệt độc phong cập tráng nhiệt).
Y học hiện đại cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của sừng trâu. Theo kết quả nghiên cứu tiến hành tại hàng loạt cơ sở ở Thượng Hải, Bắc Kinh và một số thành phố khác của Trung Quốc, trong sừng tê giác và sừng trâu đều chứa 17 loại acid amin. Kết quả phân tích bán vi lượng trên máy quang phổ cho thấy, thành phần các chất hữu cơ và vô cơ trong sừng tê giác và sừng trâu cơ bản tương đồng.

Qua kết quả nghiên cứu lâm sàng tiến hành trên 3.270 bệnh nhân tại 50 đơn vị nghiên cứu ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân và Quảng Đông, các nhà khoa học khẳng định việc sử dụng sừng trâu và sừng tê giác cho kết quả điều trị cơ bản như nhau đối với 30 loại bệnh: viêm não B, trẻ nhỏ sốt nóng trong mùa hè, ban xuất huyết do giảm tiểu cầu, thần kinh phân liệt... Như vậy, có thể sử dụng sừng trâu thay thế cho sừng tê giác.
Theo kết quả ứng dụng lâm sàng, sừng trâu hầu như không gây các tác dụng phụ, chỉ một số ít trường hợp xuất hiện lợm giọng, buồn nôn, trướng bụng, đau bụng và một số biểu hiện khác về đường tiêu hóa.
Theo sách “Hiện đại thực dụng Trung Dược học” do Quách Lan Trung chủ biên, sừng trâu có những tác dụng dược lý sau:
- Làm mạnh tim (tăng cường sức co bóp của cơ tim), hạ huyết áp và làm giảm nhịp tim.
- Giảm số lượng bạch cầu, tăng lượng tiểu, cầu rút ngắn thời gian đông máu, giảm tính thông thấu của mao mạch.
- Ức chế mạnh đối với trực khuẩn cô-li (colibacillus), liên cầu khuẩn tan máu gây viêm não beta (Beta hemolytic streptococcus), bảo vệ cơ thể và chống viêm rõ ràng.
- Giảm cường độ co giật và tỷ lệ tử vong ở động vật thí nghiệm đã được tạo cơn co giật.
- Giảm tổng lượng cholesterol trong huyết thanh, đồng thời làm tăng lượng cholesterol tốt.
Trong các sách về Đông dược hiện đại, sừng trâu được xếp vào loại thuốc thanh nhiệt lương huyết, cùng với sinh địa hoàng, huyền sâm, mẫu đơn bì, tử thảo... Theo Đông y, sừng trâu vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết; dùng chữa ôn bệnh sốt cao, hôn mê nói nhảm, kinh phong điên cuồng (thường phối hợp với sinh địa, huyền sâm, kim ngân hoa, liên kiều), chữa các chứng xuất huyết như thổ huyết, nục huyết (đổ máu cam), ban xuất huyết do huyết nhiệt (thường phối hợp với đan bì, xích thược, sinh địa).
Sừng trâu cứng, nhưng sau khi hấp khoảng 1 giờ sẽ mềm ra và có thể dễ dàng thái thành lát nhỏ (thuốc phiến); có thể chế thành dạng viên, xi-rô thuốc... Để dử dụng sừng trâu dạng thuốc phiến thay thế tê giác trong các phương thuốc cổ như “An cung ngưu hoàng hoàn”, “Tử tuyết đan”..., cần dùng liều lượng lớn gấp 10 lần sừng tê giác. Khi sử dụng trong thuốc thang, cần sắc sừng trâu trước khoảng 3 giờ, sau đó mới cho các vị thuốc còn lại vào sắc tiếp. Liều dùng: 15-30 g sắc nước, tán bột hoặc mài lấy nước uống. Người tỳ vị hư hàn cần thận trọng khi sử dụng.
Một số ứng dụng cụ thể:
- Chữa các chứng xuất huyết nghiêm trọng: Thời còn làm việc ở nông thôn, bác sĩ Vương Thu Đào, người Giang Tây, đã cho bệnh nhân mài sừng trâu uống để chữa trị các chứng sốt cao hôn mê do “nhiệt nhập doanh huyết” và các chứng ho ra máu, đổ máu mũi, đại tiện ra máu, băng lậu... đạt kết quả rất tốt. Đặc biệt có trường hợp một nam bệnh nhân 60 tuổi bị lao phổi, liên tục nhiều ngày ho ra rất nhiều máu, đã sử dụng đủ các biện pháp Tây và Đông y đều không kết quả, chỉ còn chờ chết. Bác sĩ Đào bảo người nhà dùng một cái bát nhám, mài sừng trâu với chút nước cho uống nhiều lần trong ngày. Suốt 2 ngày liền, sừng trâu đã mòn khoảng 2 đốt ngón tay, hễ có ai đến thăm lại bảo mài sừng trâu cho bệnh nhân uống. Bệnh nhân uống vào cảm thấy ngực mát mẻ dễ chịu lạ thường, nên cứ đòi người nhà cho uống mãi. Máu ngừng chảy dần và cuối cùng bệnh nhân hồi phục lại. Sau khi hết ho ra máu, bệnh nhân cảm thấy nước sừng trâu tanh không thể chịu nổi; mới ngừng cho uống (“Gia đình Trung y dược” 1/1998).
- Chữa viêm gan virus: Dùng bột sừng trâu 50 g, sài hồ, phục linh, hoàng kỳ, đan sâm, cam thảo mỗi thứ 15 g; tán bột, làm thành viên 0,5 g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 viên, liệu trình 30 ngày. Thử nghiệm với 98 ca cho kết quả: 50 ca khỏi bệnh trong thời gian ngắn, 21 ca hiệu quả rõ ràng, 13 ca có tác dụng nhất định, 14 ca vô hiệu. (Liêu Ninh Trung y tạp chí 1986).
- Chữa ban xuất huyết do dị ứng: Sừng trâu 40-100 g, sinh địa hoàng 10-30 g, xích thược 10-20 g, đan bì 10-20 g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, trường hợp bệnh nặng ngày 2 thang. Đã thử nghiệm điều trị 54 ca ban xuất huyết do dị ứng: 33 ca kết quả rõ ràng, 17 ca có tác dụng, 4 ca không có tác dụng (Hồ Bắc Trung y tạp chí 1987).
- Chữa ban xuất huyết do giảm tiểu cầu: Sừng trâu 50 g, đậu phụ 500 g. Sừng trâu cưa nhỏ hoặc đập vụn, cho vào nồi đất, thêm nước, đun to lửa cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa nửa giờ, cho đậu phụ vào nấu tiếp khoảng 15 phút nữa là được, thêm mắm muối cho hợp khẩu vị, ăn đậu phụ và uống nước canh. Tác dụng: Lương huyết chỉ huyết; dùng chữa trẻ nhỏ ban xuất huyết do giảm tiểu cầu với những biểu hiện thuộc chứng huyết nhiệt (Gia đình Trung y dược 9/2002).
02:44 CH 01/08/2012
n
ngochant0801
Bắt chuyện
622Điểm·0Bài viết
Báo cáo