Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Tạo kỷ niệm cho bé
hôm qua nhà mình quay video cho con mà cả nhà cứ rộn ràng cả lên. Nhìn bé vừa hát vừa tạo dáng trước máy quay, mọi người cứ cười suốt. Hè này, con lại có thêm một kỉ niệm đặc biệt nữa.
12:16 CH 22/07/2013
Các chị tư vấn giúp em bảo vệ cháu khỏi bệnh hô...
Thời gian đầu do thiếu kinh nghiệm, bé nhà mình cứ bệnh suốt do thương con trời nóng, mình lúc nào cũng mở máy lạnh nhưng lại không chú ý nhiệt độ. Giờ thì mình biết chỉ nên để nhiệt độ 27-28 độ thôi là vừa. Mình cũng hay pha nước chanh và cam để bổ sung vitamin C cho bé. Hằng ngày tập cho bé thói quen rửa tay với xà phòng diệt khuẩn. Mình thấy con đỡ bệnh hẳn đấy các mẹ ạ.
12:09 CH 22/07/2013
Bé đi đại tiện xong không rửa tay
Vi khuẩn phát tán khắp nơi trong không khí. Nhiều mẹ cứ chủ quan là con mình nhìn sạch rồi nên không cần rửa tay hay tắm rửa nhiều. Nhưng mùa hè là lúc vi khuẩn dễ sinh sôi, mẹ nên tập cho con thói quen rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn và tăm rửa bằng xà phòng diệt khuẩn. Như thế có thể bảo vệ con khỏi nhiều bệnh truyền nhiễm lắm đấy.
12:03 CH 22/07/2013
Làm thế nào để hạn chế cho con trẻ bị bệnh nóng,...
Tội nghiệp con quá. Mẹ nên tắm cho con bằng nước ấm, để nhiệt độ phòng khoảng 27-28 độ thôi. Trong các bữa ăn hàng ngày cần bổ sung hoa quả, các thực phẩm có nhiều vitamin C và đặc biệt là giữ gìn vệ sinh thân thể cho con vì thời tiết này là thời gian vi khuẩn dễ sinh sôi, gây bệnh cho con đấy.
11:59 SA 22/07/2013
Bé có nên dùng ty giả không?
Bạn không nên cho bé dùng ty giả đâu. Bạn nên tập cai cho bé thì tốt hơn. Sử dụng ty giả nhiều có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển xương hàm của bé đấy.
12:57 CH 08/07/2013
Tặng các Mẹ chùm ảnh khi con yêu chào đời nhé....
xinh wá.!!!!
12:55 CH 08/07/2013
cho bé làm quen với tiếng anh như thế nào
Mình thấy nếu có điều kiện, bạn nên cho bé đến học các trung tâm dạy tiếng Anh, lớp tiếng Anh phù hợp với lứa tuổi. Đừng lo lắng là bé quả nhỏ để tiếp thu. Giờ là lúc trí não bé đang phát triển, nó như tờ giấy trắng. Bạn cứ cho bé học thoải mái, bé sẽ tiếp thu nhanh đến không ngờ được. Gia đình mình cũng đã áp dụng cách này, cho trẻ học cả 2 thứ tiếng: Pháp và Anh luôn. Giờ thì chị em nhà mình đều thông thạo 2 thứ tiếng này.
12:53 CH 08/07/2013
Da bé khô ráp phải làm sao?
Mình nghĩ bạn nên đưa bé đi khám da liễu thì tốt hơn. Hiện giờ căn bệnh vảy nến đang phát triển. Khám bác sĩ để biết được thông tin chính xác và có biện pháp chữa trị kịp thời mới là cách tốt nhất.
12:45 CH 08/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Bệnh tiểu đường là một trong những bệnh rất khó phát triển ở trẻ, vì các triệu chứng của bệnh này thường không có biểu hiện rõ ràng.
Khi trẻ Bị đau một cách bất thường, trẻ thường không tự giải thích rõ ràng cho cha mẹ hiểu được. Điều này khiến cha mẹ gặp khó khăn trong việc xác định xem con bị làm sao.
Bệnh tiểu đường là một trong những bệnh rất khó phát triển ở trẻ, vì các triệu chứng của bệnh này thường không có biểu hiện rõ ràng. Trẻ không thể tự nhận biết được những khác biệt trong cơ thể. Do đó, cha mẹ cần hết sức lưu ý và quan tâm đến con.
Trẻ nhỏ thường có những dấu hiệu của bệnh tiểu đường như nhau nhưng một số có thể có các triệu chứng khác.
- Nếu tuyến tụy không sản xuất insulin, một đứa trẻ được chẩn đoán với bệnh tiểu đường loại 1. Trẻ em bị bệnh tiểu đường type 2 có một tuyến tụy sản sinh đủ insulin, nhưng cơ thể của họ không thể sử dụng insulin một cách hiệu quả.

- Một triệu chứng khác của bệnh tiểu đường là sự xuất hiện của bệnh béo phì ở trẻ em.
- Nếu trẻ đi vệ sinh thường xuyên thì rất có thể đó là một trong những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất để xác định con có bị tiểu đường hay không. Bởi vì thiếu insulin, bệnh nhân bị tiểu đường loại 1 sẽ có mức độ đường trong máu cao hơn. Thận lấy đường pha loãng và chiết xuất từ lượng đường pha loãng đó làm cho thận phải làm việc cực nhọc, khiến trẻ đi tiểu thường xuyên hơn. Bạn sẽ nhận thấy điều này nếu thấy con đi vệ sinh liên tục trong cả ban ngày và ban đêm.
- Vì thường xuyên đi tiểu nên trẻ sẽ rất khát nước và liên tục đồi uống nước.
- Đôi khi có những đứa trẻ thích ăn một số món ăn vào các thời điểm kỳ lạ. Insulin có thể không được sử dụng hoặc thiếu insulin gây ra cho cơ thể cảm giác đói ngay cả khi họ đã ăn đủ thức ăn. Cơ thể của trẻ sẽ bắt đầu sử dụng chất béo để tạo năng lượng vì cơ thể không có đường trong máu.
- Nếu trẻ đang khỏe mạnh mà bắt đầu có dấu hiệu giảm cân, bạn thực sự cần xem các dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Giảm cân đột ngột là một dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Trong trường hợp này bạn nên tham khảo ý kiến tư vấn của bác sĩ nhi khoa.
- Nếu thấy trẻ có dấu hiệu phát ban hay hăm tã mà sau khi dùng thuốc vẫn không khỏi thì rất có thể đó là một dấu hiệu nguy hiểm và nên được bác sĩ khám. Đây cũng có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường. Trẻ bị tiểu đường thường luôn mệt mỏi do cơ thể không thể cung cấp năng lượng cho các tế bào.
Vì vậy, hãy quan tâm và lưu ý để sớm phát hiện trẻ có bị tiểu đường hay không.
12:41 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Nghĩ trái cây tươi tốt cho sức khỏe trẻ em, nhiều bà mẹ cho con ăn quá nhiều hoặc quá sớm, khiến trẻ phát bệnh, nhất là ở hệ tiêu hóa.
Tại phòng khám của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, các bác sĩ đã gặp khá nhiều trường hợp trẻ bị tiêu chảy dài ngày, sau khi uống đủ loại thuốc để điều trị, tình trạng tiêu chảy vẫn không đỡ khiến trẻ gầy rộc, suy dinh dưỡng.
Vàng Da vì hoa quả
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho biết, có những trẻ mới 9 tháng tuổi nhưng mỗi ngày, người mẹ cho uống hết một quả cam vắt và ăn thêm sinh tố trái cây xay tổng hợp các loại khiến hệ tiêu hóa của trẻ bị quá tải, dẫn đến tiêu chảy kéo dài.
Có trẻ đến khám với nước Da vàng ệch, dù đã xét nghiệm rất nhiều vẫn không tìm ra bệnh. Nguyên nhân chỉ vì bà mẹ nghe Nói cà rốt tốt nên ngày nào cũng cho trẻ vừa uống nước ép cà rốt vừa ăn cháo nghiền cà rốt.
Bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, khuyên, cũng như với các loại thực phẩm khác, việc cho trẻ ăn trái cây nên bắt đầu từ từ: ngày đầu tiên cho trẻ ăn một muỗng cà phê và mỗi ngày tăng dần số lượng. Cần quan sát sau khi trẻ ăn trái cây để thấy trẻ không bị dị ứng hay có bất kì phản ứng thay đổi không có lợi nào.
Nghĩ trái cây tươi tốt cho sức khỏe trẻ em, nhiều bà mẹ cho con ăn quá nhiều hoặc quá sớm, khiến trẻ phát bệnh, nhất là ở hệ tiêu hóa.
Những năm đầu đời, cha mẹ không nên cho trẻ ăn những loại quả được nhập khẩu từ nước ngoài bởi rất có thể trẻ sẽ bị dị ứng. Với các trẻ lớn hơn, mẹ có thể cho trẻ ăn trái cây được xắt miếng nhỏ để trẻ có thể dễ dàng nhai. Nên cho trẻ ăn trái cây trước khi ăn bữa chính từ 30 phút đến 1 giờ.

Không dùng thay nước lọc
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, với trẻ 2 - 3 tuổi, nên cho uống 1/2 cốc mỗi ngày, trẻ từ 4 tuổi trở lên 3/4 cốc mỗi ngày. Trong nước trái cây trẻ uống rất giàu calo, nếu uống quá nhiều lượng calo dư thừa trở nên tác dụng ngược bởi nó có thể là nguyên nhân khiến trẻ mắc bệnh béo phì. Trẻ uống quá nhiều nước trái cây có thể gây ra chứng tiêu chảy mãn tính, bị đầy hơi và đau bụng vì lượng carbonhydrate trong nước trái cây được cung cấp quá nhiều dẫn đến hệ tiêu hóa của trẻ bị quá tải.
Một lý do không nên cho trẻ uống quá nhiều nước ép trái cây là dù tự nhiên nhưng lượng đường trong nước trái cây luôn chiếm tỷ lệ cao, có thể dẫn đến Sâu răng cho trẻ.
Không nên sử dụng nước trái cây để thay thế cho nước uống và toàn bộ các loại rau và trái cây bởi cơ thể trẻ ngoài việc được cung cấp lượng nước cần thiết cũng cần có lượng chất xơ nhất định để giữ cho hệ thống tiêu hóa của trẻ khỏe mạnh.
Nên dùng ngay sau khi chế biến
Đa số các loại trái cây sẽ đạt hương vị ngon nhất khi chín muồi, nhất là những loại có mủ như măng cụt, mãng cầu, mít, sầu riêng. Tuy nhiên, nếu trái cây đã chín rục, thâm đen hay lên men rượu, thành phần chất dinh dưỡng có thể thay đổi, chỉ nên ăn khi màu, mùi, vị còn tốt. Các loại vitamin bổ dưỡng trong trái cây như vitamin C, folate… có thể mất dần dưới tác dụng của ánh sáng, không khí, nhiệt độ. Quá trình mất chất này càng tăng nhanh hơn nếu vỏ ngoài của trái cây bị phá vỡ hoặc bề mặt tiếp xúc không khí của trái cây tăng lên khi cắt nhỏ. Vì vậy, cần lựa chọn trái cây tươi và nên ăn sớm, gọt vỏ, cắt miếng xong ăn ngay. Gọt vỏ, cắt miếng trái cây để lâu sẽ làm cho quá trình oxy hóa và nhiễm khuẩn trái cây nhanh và dễ dàng hơn.
Các sản phẩm nước trái cây cũng có thể gây ra một số bệnh về đường tiêu hóa như nước trái cây chưa được tiệt trùng hoàn toàn; trong quá trình đóng hộp, vận chuyển, cất giữ dần dần sẽ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như tiêu chảy, đau bụng thậm chí là ngộ độc thực phẩm. Hoặc khi chế biến nước trái cây ở nhà, có thể các loại vi khuẩn có sẵn ở vỏ trái cây, hoặc trong các dụng cụ ép, xay sẽ lẫn vào nước trái cây.
12:40 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Việc bổ sung sắt cho trẻ là rất quan trọng. Tuy nhiên, các phụ huynh nên chú ý liều lượng và tìm hiểu kỹ, vì việc thừa sắt có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của trẻ.
Thiếu sắt là bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ. Việc bổ sung sắt hàng ngày cần căn cứ theo độ tuổi và nhu cầu của cơ thể. Thông thường, ở người lớn, việc bài tiết sắt hàng ngày khá ổn định nên nhu cầu sắt người lớn cần mỗi ngày là khoảng 1mg/ngày.
Ở trẻ nhỏ, vì đây là giai đoạn phát triển nên nhu cầu về sắt cũng cao hơn. Thường thì trẻ sau sinh từ 4 tháng đến 3 tuổi cần khoảng 1mg sắt/1 kg trọng lượng cơ thể. Đối với trẻ sinh non thì cần nhiều hơn, khoảng 2mg/1kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày.
Tổng số lượng sắt được bổ sung vào cơ thể ở trẻ em không được vượt quán 15 mg mỗi ngày. Những trẻ em không bị thiếu sắt nếu cứ được bổ sung một cách quá liều lượng sẽ gây ra hiện tượng thừa sắt. Điều này không chỉ lãng phí tiền bạc mà còn gây ra những ảnh hưởng không lường tới sức khỏe của trẻ.

Bổ sung sắt quá liều lượng còn có thể gây ra một số biến chứng đường tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm đại tràng và một số biến chứng khác. (Ảnh minh họa).
Khi cơ thể bị thừa sắt sẽ dẫn đến rối loạn sinh lý, rối loạn chức năng nội tạng. Triệu chứng của việc hiện tượng thừa sắt là trẻ sẽ cảm thấy khó tiêu hóa, buồn nôn, chán ăn, đau bụng, táo bón… Nguy hiểm hơn là xuất hiện các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, đổ mồ hôi, tim đập nhanh, thậm chí gây rối loạn chức năng gan và thận.
Không chỉ có vậy, việc bổ sung sắt quá liều lượng còn có thể gây ra một số biến chứng đường tiêu hóa như viêm dạ dày, viêm đại tràng và một số biến chứng khác.
Mới đây, Bộ Y tế Anh vừa đưa ra lời cảnh báo: Việc dùng sắt bổ sung quá liều có thể gây chết người ở trẻ nhỏ và các loại thuốc viên chứa sắt phải được giữ ngoài tầm với của trẻ.
Theo Giáo sư Alasdair Breckenridge, Chủ tịch Uỷ ban An toàn Thuốc của Anh, phụ nữ mang thai và các bà mẹ cho con bú thường dùng sắt bổ sung hằng ngày trong khẩu phần ăn, nhưng họ chưa ý thức được sự nguy hiểm của sắt đối với trẻ nhỏ. Hằng năm, tại Anh, có khoảng 600 trẻ dưới 4 tuổi nhập viện do nuốt phải các viên sắt, trong đó có trung bình 1 trường hợp tử vong.
Giáo sư này cũng cho biết rằng, nếu dùng săt đúng liều sẽ rất tốt. Tuy nhiên nếu dùng không đúng cách thì có thể gây chết người. Khi trẻ bị thiếu máu cũng chưa hẳn có nguyên nhân là do thiếu sắt. Người lớn nên cho trẻ tới bệnh viện khám trước khi tự ý bổ sung sắt cho con mình.
12:39 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Không phải bà mẹ nào cũng hiểu chính xác những vấn đề dinh dưỡng cho bé dưới 1 tuổi. Có nhiều vấn đề các mẹ cho là hợp lý nhưng thực ra, đó lại là điều không nên.
Không phải bà mẹ nào cũng hiểu chính xác những vấn đề dinh dưỡng cho bé dưới 1 tuổi. Có nhiều vấn đề các mẹ cho là hợp lý nhưng thực ra, đó lại là điều không nên. Dưới đây là những sai lầm thường gặp mà các bậc cha mẹ cần biết để tránh, nhằm nuôi dưỡng con khỏe mạnh hơn.
1. Cho bé uống sữa bò
Sữa bò tươi có chứa một lượng lớn protein, nguyên nhân gây cảm giác đầy bụng ở trẻ. Hơn nữa, dạ dày của trẻ cũng không thể tiêu hoá do thiếu enzim thẩm thấu.
Ngoài ra, hàm lượng protein quá cao có thể làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường nếu trong gia đình có “tiền sử” mắc bệnh tiểu đường.
Vậy nên tốt nhất là cho trẻ uống sữa bò khi bé được 1 tuổi trở lên.

2. Chọn sai thời điểm cho bé ăn dặm
Thật sai lầm khi cho bé ăn bổ sung quá sớm. Có bé mới 3-4 tháng tuổi đã tập ăn bột, ăn nước cháo dẫn đến rối loạn tiêu hóa và hậu quả là suy dinh dưỡng. Ngược lại, một số trẻ trên 6 tháng tuổi mà chưa được tập ăn dặm cũng chậm tăng cân, vì sữa không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của trẻ.
3. Trộn bột với sữa
Nhiều bà mẹ có thói quen trộn bột với sữa cho trẻ ăn, việc này là không nên. Nếu trộn thêm bột hay bất kỳ thực phẩm nào khác vào sẽ làm thay đổi công thức tối ưu của sữa. Sữa đặc hơn sẽ làm trẻ dễ sình bụng, khó tiêu, tăng ‘gánh nặng’ cho thận, vì hệ tiêu hóa của trẻ còn yếu.
Tốt nhất, mẹ chỉ nên pha sữa bột với nước sôi khoảng 60 độ C, theo đúng tỉ lệ ghi trong hướng dẫn sử dụng, pha đặc hơn sẽ gây khó tiêu, pha loãng lại không đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ.
4. Cho bé ăn dặm không đúng
Ăn quá ít hay quá nhiều đều không tốt như nhau. Khi bắt đầu cho bé ăn dặm, các bà mẹ cần chú ý:
Cho bé ăn từ ít đến nhiều: Từ vài muỗng bột/ngày tăng dần đến 1/2 chén rồi đến 1 chén/ngày. Từ một lần bột/ngày lúc bé 4-5 tháng tuổi đến 2 lần bột/ ngày lúc bé 6 - 7 tháng tuổi.
Cho bé ăn từ loãng đến đặc: Từ loãng như nước cơm rồi đặc dần, sau đó sẽ là bột đặc.
Cho bé ăn từ đơn giản đến phức tạp: Đầu tiên pha bột gạo với nước rau; sau đó thêm nước thịt, rồi thêm dầu ăn và sau đó ăn luôn cả xác rau, thịt.
5. Uống quá nhiều nước ép hoa quả
Bé dưới 1 tuổi nếu uống quá nhiều nước ép hoa quả sẽ không hấp thu được đủ sữa mẹ, sữa bột, thức ăn dặm giàu dinh dưỡng có thể dẫn tới suy dinh dưỡng. Thêm vào đó, một vài trẻ hấp thu quá nhiều khối lượng nước ép hoa quả sẽ có thể bị đau dạ dày hoặc tiêu chảy.
Nước hoa quả tham gia vào một phần sức khỏe của bé. Bé sau 6 tháng tuổi có thể được thử dùng nước hoa quả trong bữa ăn của mình. Bắt đầu với một lượng nhỏ khoảng 1-2 ounce/ngày (1ounce = 28.35g). Khi bé lớn hơn một chút có thể cho bé uống 4 ounce/ngày. Nước hoa quả cần được ép từ thực phẩm tươi ngon, sạch. Không nên cho trẻ uống nước hoa quả công nghiệp hoặc quá ngọt như sô đa chẳng hạn.
6. Cho bé ăn cơm sớm để mau cứng cáp
Hoàn toàn sai khi nghĩ rằng ăn cơm sớm giúp bé mau cứng cáp, vì lứa tuổi này, bé chỉ có vài cái răng cửa (dùng để cắn chứ không phải để nhai). Do đó cho trẻ ăn cơm sớm, trẻ chỉ nuốt chửng làm cho thức ăn khó tiêu hóa và chậm hấp thu, khiến bé chậm tăng cân. Nên cho trẻ ăn những thức ăn mềm như cháo, nui, bột đặc, phở, bún…
7. Không cho bé ăn dầu
Trong mỗi bát cháo, hoặc bột của bé nên cho thêm 1-2 muỗng cà phê dầu ăn, dầu mè càng tốt. Tuy số lượng dầu không nhiều, nhưng nó mang đến nhiều năng lượng cho bé. Để cho bé quen dần, các bà mẹ nên cho từ ít đến nhiều, bắt đầu từ vài giọt, sau tăng dần đến 2 muỗng trong mỗi bữa ăn. Khả năng tiêu hóa chất béo của bé rất cao, ngay trong sữa mẹ cũng đã có tới 50% năng lượng được cung cấp từ chất béo. Ngoài ra, dầu ăn còn là chất cần thiết để hấp thu vitamin A,D...
8. Cho bé ăn mật ong
Khi bé quá 12 tháng tuổi, bạn mới được cho bé ăn mật ong khi cần thiết. Mật ong có thể chứa mầm mống bệnh gây nguy hiểm cho bé. Thậm chí một lượng nhỏ mật ong có thể gây ra nhiều chuyện rồi. Vì thế, bạn nên cẩn thận khi sử dụng.
9. Ngậm thìa của bé khi cho bé ăn
Nhiều bà mẹ trước khi bón bột, đồ ăn cho con thường cho thìa vào miệng mình trước để "vun đều" hay làm sạch những thức bám xung quanh. Nhưng nếu làm thế, chính bạn sẽ là nguồn truyền bệnh sâu răng cho bé.
Trước hết, bạn cần phải giữ vệ sinh răng miệng cho chính mình, bằng cách đi khám đều đặn, đánh răng và dùng chỉ nha khoa hằng ngày, nếu dùng kẹo cao su thì nên chọn loại không có đường. Ngoài ra, khi cho con ăn, tốt nhất, bạn đừng cho thìa của bé vào miệng mình, trừ phi thức ăn ấy đòi hỏi phải được nếm trước.
12:37 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Lâu nay bé Linh Chi (20 tháng tuổi, ngụ tại phường 17, quận Gò Vấp, TP.HCM) cứ còi cọc hoài, người lúc nào cũng mướt mồ hôi, Da xanh xao. Mặc dù mẹ bé không tiếc tiền bồi bổ bằng thuốc, Sữa canxi đắt tiền nhưng thể trạng bé vẫn cứ còi, nuôi hoài không lớn. Nhiều bà mẹ rất tự tin tìm đến nhóm thực phẩm giàu canxi để chuẩn bị bữa ăn cho bé, mong muốn bé cao, tránh còi xương. Tuy nhiên, dù có cho ăn liên tục nhưng bé vẫn không phát triển như mong muốn. Theo BS Phạm Mai Hoa, trưởng Khoa nhi, Bệnh viện Tân Bình, TPHCM, canxi chỉ là một thành phần cấu tạo của xương.
Xương gồm 1/3 là chất hữu cơ, 2/3 là chất khoáng. Tỷ lệ này sẽ thay đổi tùy theo tuổi và theo thể trạng. Chất hữu cơ trong xương gồm có chất căn bản, sợi collagen và tế bào xương. Chất khoáng trong xương chủ yếu là tinh thể hydroxy - apatit chứa phần lớn canxi và một ít CO3, Mg, K, Na. Còi xương (một dạng loãng xương) là sự mất dần không chỉ canxi mà cả các chất khác như đạm, chất vi lượng. Vì vậy, nếu chỉ bổ sung mỗi canxi thì không đủ, mà phải kết hợp với các chất khác như: kẽm, photpho... Một đứa trẻ còi xương, dù lượng canxi trong máu không thiếu hoặc đã bổ sung canxi nhưng vẫn còi cọc vì thiếu sinh tố D (vitamin có tác dụng tăng cường hấp thu canxi ở ruột).Ăn gì để tránh còi xươngTheo các nhà chuyên môn, ăn các thực phẩm giàu canxi là một trong những phương pháp quan trọng để chống còi xương cho bé. Nhưng thực phẩm chế biến không đúng cách sẽ làm hạn chế tác dụng, ảnh hưởng tới sự dung nạp của cơ thể trẻ. Nhiều người vẫn nhầm rằng, nước xương ninh để nấu cháo là rất bổ, là đã đủ mọi chất dinh dưỡng cần thiết. Đúng là thành phần cấu tạo chính của xương là canxi và photpho, nhưng xương chỉ nhiều canxi khi đã được tán thành bột. Còn nước xương ninh không cung cấp được nhiều canxi cho bé. Ngoài ra, nhiều bà mẹ còn kiêng không cho bé ăn mỡ động vật, thậm chí cả dầu thực vật. Điều đó là sai lầm.Bữa ăn không dầu mỡ sẽ làm giảm sự hấp thu của cơ thể với vitamin D, một nhân tố quan trọng trong chống còi xương. Nhiều bà mẹ còn sai lầm khi nghĩ rằng, trẻ còi xương chỉ cần bổ sung Sữa canxi là đủ. Nếu không kết hợp ăn uống hợp lý với những biện pháp về sinh hoạt, vận động đúng cách, uống Sữa canxi cũng không ngừa được còi xương. Ngoài ra canxi trong Sữa cũng còn phụ thuộc vào khả năng hấp thu chất béo của từng người - BS Mai Hoa khẳng định. Như vậy, uống Sữa canxi chỉ có hiệu quả khi có sự hiện diện của vitamin D và chất đạm. Do đó, muốn tránh được còi xương cần phải cho trẻ ăn uống đa dạng chứ không chỉ uống Sữa canxi mà thôi.
12:36 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Lượng nước cần thiết cho con bạn mỗi ngày
Trẻ em cần phải uống khoảng 50-60ml cho mỗi kg trọng lượng cơ thể. Ví dụ, nếu con của bạn nặng 25kg, thì lượng nước trẻ sẽ cần là khoảng 1 ½ lít nước hàng ngày. Và lượng nước cần phải được tăng lên trong một số trường hợp như trẻ ra mồ hôi quá nhiều sau khi luyện tập thể dục hoặc trong thời tiết nắng nóng của mùa hè.
Lưu ý: Trong trường hợp trẻ bị một số bệnh như tiêu chảy, thì nhu cầu được cung cấp nước của cơ thể trẻ cần được tăng lên bởi vì lúc này cơ thể trẻ đang bị mất đi một lượng nước và những khoáng chất khá lớn. Trong trường hợp này, nước là yếu tố cần thiết để cơ thể trẻ có thể bổ sung lượng nước cho cơ thể và tăng cường các khoáng chất.

Những điều cha mẹ cần thiết phải biết
Bạn đã biết rằng 60-70% cơ thể của con bạn là nước sau khi trẻ lên hai tuổi. Và tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn trong vài tháng đầu tiên khi trẻ mới chào đời, đạt 75%. Điều này tự bản thân nó đã chứng minh cho bạn thấy rằng nước là rất cần thiết cho con thể, đặc biệt là đối với cơ thể phát triển ngày một của trẻ.
Do đó, các bậc cha mẹ hãy nhớ hàng ngày đừng quên cung cấp nước cho cơ thể của trẻ bởi nó sẽ giúp con bạn duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần. Các bậc cha mẹ hãy chắc chắn rằng con bạn luôn uống đủ nước trong quá trình hằng ngày tái hydrate hóa, và cha mẹ cần phải tăng lượng nước uống của cho con khi trẻ thực hiện những hoạt động thể chất và trong những tháng mùa hè nóng bức.
12:35 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Sau mỗi lần cân, bạn chấm lên biểu đồ một điểm tương ứng với số cân và tháng tuổi của bé. Nối dần các điểm chấm đó, bạn sẽ có một biểu đồ cân nặng (còn gọi là biểu đồ tăng trưởng hay biểu đồ phát triển). Nếu đường biểu diễn cân nặng đi lên có nghĩa là con bạn tăng trưởng tốt.
Nhìn vào đường biểu diễn này, bạn có thể phát hiện hiện tượng bé tăng cân chậm. Nguyên nhân có thể là bữa ăn có nhiều gạo (nhiều bột hoặc cháo, cơm), ít thức ăn động vật, đậu đỗ, rau xanh, dầu mỡ, khiến bé không đủ năng lượng cho hoạt động và phát triển. Ở một số trẻ, sự chuyển hóa cơ bản tăng nên tuy ăn nhiều mà cân nặng không tăng bao nhiêu. Những trẻ bị dị tật bẩm sinh (như sứt môi, hở hàm ếch, bị bệnh tim tiên thiên...) nhiều khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt mà vẫn tăng cân chậm. Với những trẻ này, cha mẹ cần quan tâm bảo đảm đầy đủ số lượng và chất lượng bữa ăn của trẻ.
Đường biểu diễn cân nặng nằm ngang có nghĩa là cân nặng của con bạn không tăng
. Nếu không tăng cân trong hai tháng liền nghĩa là bé đã bị ngừng phát triển. Đó là dấu hiệu chứng tỏ bé có vấn đề về sức khỏe hoặc được nuôi dưỡng không tốt (như bú mẹ không đủ, ăn ít bữa, thức ăn nghèo chất dinh dưỡng). Cũng có thể do bé được nuôi dưỡng tốt nhưng quá hiếu động, năng lượng bị tiêu hao nhiều nên không thể lên cân.
Với trẻ đang bú mẹ, tình trạng không tăng cân thường do trẻ không nhận đủ sữa mẹ. Bạn cần xem có phải trẻ ngậm bắt vú không đúng, hoặc bú không thường xuyên, số lần trẻ bú quá ít, thời gian mỗi cữ bú quá ngắn khiến trẻ không nhận đủ phần sữa giàu chất béo ở cuối bữa bú hay không. Nếu trẻ đang ăn dặm, cần cho ăn thêm bữa, ít nhất là 5-6 bữa một ngày. Bổ sung rau xanh, hoa quả có màu đỏ, da cam để cung cấp thêm vitamin A, nên cho thêm một ít dầu ăn vào bát bột hoặc cháo. Với trẻ dưới 3 tuổi, nên cho ăn mỗi ngày 5-6 bữa. Ngoài các món như người lớn, cần cho trẻ thêm một ít chất béo hoặc dầu ăn.
Với trẻ mới ốm dậy, nhu cầu dinh dưỡng thường tăng lên, cần cho ăn thêm bữa ít nhất trong một tuần để giúp trẻ mau hồi phục sức khỏe.
Đường biểu diễn cân nặng đi xuống nghĩa là bé bị sụt cân, phát triển không tốt
. Đây là dấu hiệu nguy hiểm, con bạn rất dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là tiêu chảy và viêm phổi. Trẻ sụt cân có thể do bạn đã cho ăn sam quá sớm (trước 4 tháng tuổi), bé không được bú đủ sữa mẹ hoặc ăn sam quá muộn (sau 4-6 tháng tuổi), khiến bé không được cung cấp đầy đủ và đúng lúc các chất dinh dưỡng.
Trong trường hợp này, nếu con bạn dưới 4 tháng tuổi, nên cho bé tiếp tục bú mẹ. Nếu con bạn đã ngoài 4-6 tháng tuổi, hãy tìm cách khuyến khích bé ăn nhiều hơn, cho ăn thêm chất; bữa ăn hằng ngày cần có thêm rau xanh, hoa quả chín. Cần quan tâm giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống cho bé, không để bé tiếp xúc với trẻ ốm. Nếu bé ốm hoặc biếng ăn vài ngày, nên đưa đi khám bệnh và điều trị ngay.
12:34 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...
Việc chế biến đồ ăn cho trẻ có nên thêm muối, nước mắm hay mì chính không luôn là vấn đề gây tranh luận, thậm chí xung đột trong các gia đình Việt.
Một số bà mẹ khi chế biến thức ăn cho con thường cố nêm nếm thêm chút muối hoặc nước mắm nhằm mục đích tăng hương vị cho món ăn và giúp bé ngon miệng hơn. Số khác lại kịch liệt phản đối việc cho trẻ ăn muối khi chưa được 1 tuổi. Cần nói: cơ thể con người cần muối để hoạt động và muối là chất mà cơ thể không tự tái sản xuất. Do đó, việc nêm muối vào khẩu phần ăn hàng ngày là điều cần thiết. Tuy nhiên, các chuyên gia hàng đầu về sức khỏe trẻ em vẫn luôn khuyên các bà mẹ không nên cho con ăn muối. Vì sao?
Không phải cứ cho muối mặn như người lớn trẻ mới ăn được

Trẻ sơ sinh ăn muối sẽ nguy hại đến thận và tim mạch, não bộ.
Khi mẹ bắt đầu cho con ăn dặm, thường là vào thời điểm 6 tháng tuổi, thận của trẻ vẫn chưa hoàn thiện để tiêu hóa lượng muối ăn vào. Mặt khác, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc trẻ ăn quá nhiều muối sẽ càng có nguy cơ cao mắc các bệnh về tim mạch, não và cao huyết áp sau này.
Ta có thể hiểu như sau: Khi trẻ ăn, cơ thể sẽ tiếp nhận những chất dinh dưỡng cần thiết. Chất thải và các chất không tiêu sẽ được truyền vào máu. Lúc này, thận sẽ có nhiệm vụ lọc. Cơ thể trẻ là một bộ máy còn non nớt và thận lại là một trong những bộ phận mỏng manh nhất. Khi bị làm việc quá tải, thận sẽ rất dễ không lọc hết được lượng muối trẻ tiếp nhận vào. Từ đó, muối đọng lại trong máu tích tụ lâu dần sẽ gây tổn hại cơ thể và não bộ.
Muối “ẩn” trong các loại thực phẩm trẻ ăn hàng ngày
Cho muối vào thức ăn của trẻ ăn dặm không chỉ nguy hại mà còn là không cần thiết. Muối có tác dụng tạo vị ngon cho món ăn, bảo quản thức ăn được lâu và một số loại thực phẩm khi chế biến lại không thể thiếu muối. Do đó, khi sản xuất, các hãng thực phẩm cũng đã cho rất nhiều muối vào sản phẩm của mình. Có thể kể đến một số loại thực phẩm chế biến sẵn như: pho mát, thịt nguội, xúc xích, mì ăn liền, ngũ cốc ăn liền, sốt salat, bánh mì, hải sản đông lạnh, bột ca cao, đậu phụ, bơ, snack, bánh qui…
Lượng muối trẻ sơ sinh cần là vô cùng nhỏ (không nhiều hơn 1gram một ngày cho đến 12 tháng tuổi). Đối với những trẻ bú mẹ, trong sữa mẹ đã có thành phần muối phù hợp với bé. Sữa công thức cũng được bổ sung một lượng muối có tỷ lệ y hệt sữa mẹ. Do đó, với trẻ sơ sinh dưới 1 năm tuổi, khi sữa vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu, lượng muối trẻ nhận được mỗi ngày qua sữa là hoàn toàn đủ cho hoạt động của cơ thể.
Liệu con có thể chịu được thức ăn nhạt “vô vị”?
Mẹ nếm thử thức ăn của bé sẽ cảm thấy “vô vị” bởi vị giác của chúng ta đã quen với việc phải có muối. Tuy nhiên với trẻ nhỏ, vị giác của các con chỉ như “tờ giấy trắng” không hề biết rằng thức ăn sẽ “có thể” ngon hơn nếu có muối. Từ đó, khó có khả năng trẻ đòi ăn muối nếu chính người lớn chúng ta không tự tạo thói quen cho trẻ.
Mặt khác, thức ăn “không muối” không có nghĩa rằng chúng “không hương vị”. Mẹ hoàn toàn có thể sử dụng các gia vị tự nhiên khác để thay thế muối cho con như tỏi, gừng, quế, bạc hà, vani, hạt tiêu, hành, hẹ… Chỉ một lưu ý nhỏ: mẹ hãy chú ý quan sát phản ứng cơ thể con mỗi khi cho bé làm quen với một loại gia vị mới nhé.
12:33 CH 05/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...


Đang nằm chơi, bé Nhung 8 tuổi bỗng ngồi bật dậy, la hét. Sau hơn 10 ngày điều trị tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) hiện bé gái ở Nho Quan (Ninh Bình) này đã ổn định, hoạt bát bình thường.
Theo lời kể của gia đình, một tháng trước, bé có kể với mẹ là thấy trống ngực đập thình thịch, tim đập nhanh, người mệt mỏi. Nhưng lúc đấy cả gia đình không ai nghĩ có gì bất thường, có thể do bé nghịch quá nên cũng không để ý. Tuy nhiên, một lần khi đang xem phim, bé tự dưng nôn khan dữ dội. Sau đó, bé liên tục kêu đau đầu, kèm theo biểu hiện trống ngực đập thình thịch. Bố mẹ đã đưa bé đến khám tại bệnh viện huyện nhưng không tìm ra nguyên nhân. Vì thế, bé được chuyển lên cấp cứu tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai.
Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (Trưởng khoa Nhi) cho biết: "Chúng tôi đã làm tất cả các xét nghiệm nhưng các chỉ số lúc thì bình thường, lúc lại rối loạn. Tim đập lúc nhanh, lúc chậm, rất loạn nhịp. Bé thường nôn và nôn dữ dội nhưng các xét nghiệm về tiêu hóa cũng bình thường. Kết quả điện tâm đồ cũng tương tự, lúc loạn lúc không”.


Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong (Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, người điều trị cho bé) cũng cho biết, những lần lên cơn co giật của bé cũng rất khác. Nếu là co giật do bệnh lý động kinh hay sốt cao thì bệnh nhi phải co giật toàn thân, mất ý thức. Nhưng trường hợp này thì ngược lại, bé chỉ có cơn co ở tay hoặc chân."Thậm chí có lần thấy bé nằm cùng bên bị sốt cao, lên cơn co giật, bé Nhung đang bình thường, tỉnh táo, không sốt cũng lên cơn, giật miệng, méo miệng, cắn lưỡi. Rất may được bác sĩ cấp cứu kịp thời nên không để lại hậu quả gì đáng tiếc" - bác sĩ Phong nói.
Khoa đã mời các chuyên gia về thần kinh, ngộ độc, tiêu hoá đến hội chẩn. Theo đó, rất có thể bé bị rối loạn tâm thần do một tác động nào đó.
Sau vài ngày trò chuyện, bé Nhung mới kể với bác sĩ: "Con xem phim kinh dị trên tivi, con thấy sợ lắm, máu chảy rất nhiều. Con thấy trong đầu luôn có tiếng súng bắn, rồi con thấy tim mình đập nhanh, rất sợ". Bác sĩ đã phải kê thuốc an thần để bé ngủ vì cứ thức thì tất cả các hoạt động trên phim lại hiện ra trong đầu.
Theo gia đình thì mẹ Nhung mới sinh em được 5 tháng, bố mải làm nên không ai kiểm soát thời gian xem tivi của con. Cứ học xong bài là bé lại xem tivi, bất kể là phim kinh dị hay hành động. Đây là nguyên nhân dẫn đến những cách hành xử bất thường ở bé, phó giáo sư Dũng cho biết.
Theo tiến sĩ Lã Thị Bưởi (Trưởng phòng khám Tuna), việc xem những bộ phim không phù hợp với lứa tuổi có thể sẽ khiến bé mắc bệnh rối loạn ám ảnh sợ hãi nếu gặp những hình ảnh kỳ lạ mà bé không hiểu. Sợ hãi là một dấu hiệu hoàn toàn bình thường ở bé vì sự nhận thức chưa đầy đủ, sau một thời gian sẽ mất đi, nhưng với một số bé nó lại trở thành nỗi ám ảnh. Cảm giác sợ hãi khiến bé khó thở, chóng mặt, tim đập nhanh, đau bụng, đau đầu, buồn nôn, toát mồ hôi... Về mặt tâm lý, bé sẽ có cảm giác không an toàn, khóc lóc buồn rầu, căng thẳng cáu kỉnh, hay gặp ác mộng...
Bé sợ hãi vì chưa nhận thức hết được vấn đề, chưa hiểu. Vì thế để giúp bé vượt qua nỗi sợ hãi cần rất nhiều thời gian, thậm chí vài tháng để bé hiểu rằng không có gì phải sợ, cần tập cho bé quen dần với hoàn cảnh. Khi bé đã cảm thấy an toàn, sẽ không cảm thấy sợ hãi.
Phó giáo sư Dũng cũng khuyến cáo, không chỉ với tivi, cha mẹ không nên cho bé tiếp xúc quá sớm với đồ công nghệ như máy tính, ipad... Cơ bàn tay của bé phát triển theo tuổi, tập dần quen với việc cầm nắm, từ vật nhỏ đến vật lớn. Việc sử dụng con chuột, các động tác ấn, di trên màn hình rất đơn điệu do đó làm giảm vận động cơ của bé. Chính vì thế nhiều bé viết chữ rất xấu do tiếp xúc với máy tính quá sớm. Hơn nữa hầu hết bé ngồi chơi các trò chơi không ngồi thẳng, đúng tư thế mà vặn vẹo đủ các kiểu, lúc vẹo sang trái, lúc vặn sang phải nên nguy cơ về cong vẹo cột sống, bị các bệnh tật khúc xạ là rất lớn.
"Nếu cho bé tiếp xúc quá sớm với thế giới ảo hay trò công nghệ, thay vì động tác thật thì bé lại làm động tác giả. Việc này cực kỳ nguy hiểm. Bé dễ lầm tưởng thế giới ảo với cuộc sống thật, ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định hoặc suy nghĩ của mình" - phó giáo sư Dũng chia sẻ.
02:04 CH 04/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...


Các chuyên gia đã nghiên cứu nhiều và chưa có một bằng chứng nào khẳng định là mẹ bị cúm thì sẽ nhiễm virus cúm trong sữa của mình. Hay nói một cách dễ hiểu là virus cúm không lây qua đường sữa mẹ.
Cơ chế nhiễm cúm
Mẹ bị cúm có thể lây truyền cho con qua những hạt nước bọt (nước mũi) nhỏ li ti mà người mẹ ho (hắt hơi, nói chuyện); hoặc do bé tiếp xúc với đồ đạc bị nhiễm virus cúm. Một khi virus cúm xâm nhập và gây bệnh cho bé thì bé sẽ có biểu hiện như ho, hắt hơi, sổ mũi, sốt, mệt mỏi… Ở điều kiện bình thường, cúm có thể khỏi sau 2 tuần nhưng do bé còn non nớt thì cúm có thể gây biến chứng như viêm phổi, viêm màng não, viêm cơ tim, viêm và hoại tử cơ…
Tuy không lây qua đường sữa mẹ nhưng virus cúm lại rất dễ lây qua đường hô hấp. Chỉ cần một cái hắt hơi của mẹ, hay một cái, hôn, vuốt ve với con (nhất là ở môi, mũi của bé) cũng đủ làm bé bị nhiễm virus cúm. Đặt biệt nếu bé còn đang trong thời kỳ bú mẹ thì việc mẹ tiếp xúc gần gũi với con là điều khó tránh. Vì vậy, người mẹ đang cho con bú mà bị cúm thì cần đặc biệt giữ gìn để không lây bệnh cho con.


Cho bé bú an toàn khi mẹ bị cúm
Theo bác sĩ Trang Khánh (Sức Khỏe & Đời Sống), do sữa mẹ là “đồ ăn tốt nhất” cho bé 6 tháng đầu đời nên ngay cả khi mẹ bị cúm thì vẫn nên tiếp tục cho con bú mẹ. Tuy nhiên, người mẹ cần lưu ý để tránh bệnh cho con như sau:
- Nếu mẹ bị cúm nặng (hắt hơi, ho liên tục) thì nên cách ly với bé một thời gian. Nên cho con nằm trong một buồng riêng biệt và nhờ người thân hỗ trợ chăm sóc bé (thay bỉm, tắm rửa…). Mẹ nên đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người thân để hạn chế virus lây sang người xung quanh vì những người này có thể là đối tượng trung gian truyền bệnh cho bé.
- Sau khoảng 1-2 ngày, người mẹ có thể tiếp tục cho con bú nhưng phải đeo khẩu trang cẩn thận; rửa tay trước khi bế con; lau sạch đầu vú bằng nước ấm trước khi cho con bú để tiêu diệt hoàn toàn virus cúm.
Lưu ý: Một số trường hợp sau thì nên tạm ngừng cho bé bú mẹ hoàn toàn. Người mẹ bị nhiễm cúm đồng thời với viêm gan (hoặc HIV) có tổn thương ở đầu vú. Các trường hợp người mẹ băn khoăn không biết nên cho bé bú hay không thì nên đi khám để bác sĩ hướng dẫn chi tiết.
02:03 CH 04/07/2013
Các bài viết sưu tầm kiến thức y khoa chăm sóc...




Khò khè là tiếng thở bất thường xảy ra khi bé bị tắc nghẽn đường hô hấp dưới (từ đoạn khí quản ngực đến các phế quản nhỏ). Cha mẹ cần chú ý nhận biết và theo dõi diễn biến của bé để đưa bé đến cơ sở y tế khám để xác định nguyên nhân và điều trị phù hợp.
Nguyên nhân
Các nguyên nhân gây khò khè thường gặp nhất là: suyễn (hen phế quản), viêm tiểu phế quản, viêm phổi. Trong đó, ở bé dưới 6 tháng, nguyên nhân thường gặp nhất là viêm tiểu phế quản. Còn ở bé trên 18 tháng tuổi, nguyên nhân thường gặp nhất là suyễn. Đặc biệt, khò khè hay gặp ở bé dưới 2-3 tuổi vì ở lứa tuổi này, phế quản (cuống phổi) có kích thước còn nhỏ lại dễ bị co thắt, phù nề, tiết dịch và nghẽn tắc khi bị viêm nhiễm (30-40% bé còn bú có triệu chứng này).
Ngoài ra còn các nguyên nhân hiếm gặp là: dị vật đường thở, một số dị tật bẩm sinh của phế quản, phế quản bị chèn ép (do mạch máu bất thường, u, hạch cạnh phế quản)… Trong trường hợp này, bé có triệu chứng khò khè dai dẳng, kéo dài.

Nhận biết bé bị khò khè
Khò khè là tiếng thở bất thường có âm sắc trầm nghe rõ nhất khi bé thở ra. Có thể nghe bằng cách áp sát tai gần miệng bé (nghe gần giống như tiếng ngáy,“tiếng nhạc“). Khi nặng hơn, có thể thấy bé thở ra kéo dài, gắng sức. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khó có thể nghe được bằng tai. Khi đó, bác sĩ có thể phát hiện dễ dàng triệu chứng này hơn bằng cách dùng ống nghe (trong chuyên môn gọi là tiếng ran ngáy, ran rít ).
Trên thực tế, ở bé sơ sinh cần phân biệt tiếng khò khè (là triệu chứng ít gặp nhưng là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này) với tiếng thở do tắc mũi (là triệu chứng rất thường gặp và không phải là triệu chứng nặng). Bé sơ sinh thở chủ yếu bằng mũi, trong khi kích thước lỗ mũi bé còn nhỏ và rất dễ bị tắc khi bị cảm ho (làm bé thở nghe khụt khịt). Khi đó, có thể làm thông thoáng mũi bé với 2-3 giọt nước muối sinh lý nhỏ mũi, sau đó nghe lại. Bé bị nghẹt mũi sẽ thở êm hơn sau khi được làm thông thoáng mũi.
Khi bé cần đi khám
- Bé thở khò khè lần đầu tiên; khò khè kèm khó thở, tím tái, rối loạn tri giác (vật vã, bứt rứt, hay li bì ); khò khè tái phát.
- Nếu bé dưới 3 tháng tuổi bị khò khè, cần đưa bé đến bệnh viện ngay vì đây là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này.
- Khi bé bị khò khè kéo dài, dai dẳng (3- 4 tuần), cần cho bé đến khám bệnh viện chuyên khoa vì nhiều trường hợp cần phải làm nhiều xét nghiệm chuyên sâu để xác định chẩn đoán (chụp X quang, siêu âm, đo hô hấp ký, chụp CT ngực, nội soi đường hô hấp).
- Không nên tự ý dùng thuốc, kể cả các loại thuốc kháng sinh, long đờm, kháng viêm,… vì có thể sẽ không đạt hiệu quả tốt mà có khi còn làm bé khò khè nhiều hơn, dẫn đến bệnh nặng hơn.
02:02 CH 04/07/2013
m
meheo_tintin
Hóng
450Điểm·0Bài viết
Báo cáo