Mẹ nếm thử thức ăn của bé sẽ cảm thấy “vô vị” bởi vị giác của chúng ta đã quen với việc phải có muối. Tuy nhiên với trẻ nhỏ, vị giác của các con chỉ như “tờ giấy trắng” không hề biết rằng thức ăn sẽ “có thể” ngon hơn nếu có muối. Từ đó, khó có khả năng trẻ đòi ăn muối nếu chính người lớn chúng ta không tự tạo thói quen cho trẻ.
Mặt khác, thức ăn “không muối” không có nghĩa rằng chúng “không hương vị”. Mẹ hoàn toàn có thể sử dụng các gia vị tự nhiên khác để thay thế muối cho con như tỏi, gừng, quế, bạc hà, vani, hạt tiêu, hành, hẹ… Chỉ một lưu ý nhỏ: mẹ hãy chú ý quan sát phản ứng cơ thể con mỗi khi cho bé làm quen với một loại gia vị mới nhé.
- Vì thường xuyên đi tiểu nên trẻ sẽ rất khát nước và liên tục đồi uống nước.
Không dùng thay nước lọc
Thiếu sắt là bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ. Việc bổ sung sắt hàng ngày cần căn cứ theo độ tuổi và nhu cầu của cơ thể. Thông thường, ở người lớn, việc bài tiết sắt hàng ngày khá ổn định nên nhu cầu sắt người lớn cần mỗi ngày là khoảng 1mg/ngày.
Lưu ý: Trong trường hợp trẻ bị một số bệnh như tiêu chảy, thì nhu cầu được cung cấp nước của cơ thể trẻ cần được tăng lên bởi vì lúc này cơ thể trẻ đang bị mất đi một lượng nước và những khoáng chất khá lớn. Trong trường hợp này, nước là yếu tố cần thiết để cơ thể trẻ có thể bổ sung lượng nước cho cơ thể và tăng cường các khoáng chất.
Bạn đã biết rằng 60-70% cơ thể của con bạn là nước sau khi trẻ lên hai tuổi. Và tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn trong vài tháng đầu tiên khi trẻ mới chào đời, đạt 75%. Điều này tự bản thân nó đã chứng minh cho bạn thấy rằng nước là rất cần thiết cho con thể, đặc biệt là đối với cơ thể phát triển ngày một của trẻ.
Trẻ sơ sinh ăn muối sẽ nguy hại đến thận và tim mạch, não bộ.
Theo lời kể của gia đình, một tháng trước, bé có kể với mẹ là thấy trống ngực đập thình thịch, tim đập nhanh, người mệt mỏi. Nhưng lúc đấy cả gia đình không ai nghĩ có gì bất thường, có thể do bé nghịch quá nên cũng không để ý. Tuy nhiên, một lần khi đang xem phim, bé tự dưng nôn khan dữ dội. Sau đó, bé liên tục kêu đau đầu, kèm theo biểu hiện trống ngực đập thình thịch. Bố mẹ đã đưa bé đến khám tại bệnh viện huyện nhưng không tìm ra nguyên nhân. Vì thế, bé được chuyển lên cấp cứu tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai.
Phó giáo sư Nguyễn Tiến Dũng (Trưởng khoa Nhi) cho biết: "Chúng tôi đã làm tất cả các xét nghiệm nhưng các chỉ số lúc thì bình thường, lúc lại rối loạn. Tim đập lúc nhanh, lúc chậm, rất loạn nhịp. Bé thường nôn và nôn dữ dội nhưng các xét nghiệm về tiêu hóa cũng bình thường. Kết quả điện tâm đồ cũng tương tự, lúc loạn lúc không”.
Bác sĩ Nguyễn Hồng Phong (Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, người điều trị cho bé) cũng cho biết, những lần lên cơn co giật của bé cũng rất khác. Nếu là co giật do bệnh lý động kinh hay sốt cao thì bệnh nhi phải co giật toàn thân, mất ý thức. Nhưng trường hợp này thì ngược lại, bé chỉ có cơn co ở tay hoặc chân."Thậm chí có lần thấy bé nằm cùng bên bị sốt cao, lên cơn co giật, bé Nhung đang bình thường, tỉnh táo, không sốt cũng lên cơn, giật miệng, méo miệng, cắn lưỡi. Rất may được bác sĩ cấp cứu kịp thời nên không để lại hậu quả gì đáng tiếc" - bác sĩ Phong nói.
Khoa đã mời các chuyên gia về thần kinh, ngộ độc, tiêu hoá đến hội chẩn. Theo đó, rất có thể bé bị rối loạn tâm thần do một tác động nào đó.
Sau vài ngày trò chuyện, bé Nhung mới kể với bác sĩ: "Con xem phim kinh dị trên tivi, con thấy sợ lắm, máu chảy rất nhiều. Con thấy trong đầu luôn có tiếng súng bắn, rồi con thấy tim mình đập nhanh, rất sợ". Bác sĩ đã phải kê thuốc an thần để bé ngủ vì cứ thức thì tất cả các hoạt động trên phim lại hiện ra trong đầu.
Theo gia đình thì mẹ Nhung mới sinh em được 5 tháng, bố mải làm nên không ai kiểm soát thời gian xem tivi của con. Cứ học xong bài là bé lại xem tivi, bất kể là phim kinh dị hay hành động. Đây là nguyên nhân dẫn đến những cách hành xử bất thường ở bé, phó giáo sư Dũng cho biết.
Theo tiến sĩ Lã Thị Bưởi (Trưởng phòng khám Tuna), việc xem những bộ phim không phù hợp với lứa tuổi có thể sẽ khiến bé mắc bệnh rối loạn ám ảnh sợ hãi nếu gặp những hình ảnh kỳ lạ mà bé không hiểu. Sợ hãi là một dấu hiệu hoàn toàn bình thường ở bé vì sự nhận thức chưa đầy đủ, sau một thời gian sẽ mất đi, nhưng với một số bé nó lại trở thành nỗi ám ảnh. Cảm giác sợ hãi khiến bé khó thở, chóng mặt, tim đập nhanh, đau bụng, đau đầu, buồn nôn, toát mồ hôi... Về mặt tâm lý, bé sẽ có cảm giác không an toàn, khóc lóc buồn rầu, căng thẳng cáu kỉnh, hay gặp ác mộng...
Bé sợ hãi vì chưa nhận thức hết được vấn đề, chưa hiểu. Vì thế để giúp bé vượt qua nỗi sợ hãi cần rất nhiều thời gian, thậm chí vài tháng để bé hiểu rằng không có gì phải sợ, cần tập cho bé quen dần với hoàn cảnh. Khi bé đã cảm thấy an toàn, sẽ không cảm thấy sợ hãi.
Phó giáo sư Dũng cũng khuyến cáo, không chỉ với tivi, cha mẹ không nên cho bé tiếp xúc quá sớm với đồ công nghệ như máy tính, ipad... Cơ bàn tay của bé phát triển theo tuổi, tập dần quen với việc cầm nắm, từ vật nhỏ đến vật lớn. Việc sử dụng con chuột, các động tác ấn, di trên màn hình rất đơn điệu do đó làm giảm vận động cơ của bé. Chính vì thế nhiều bé viết chữ rất xấu do tiếp xúc với máy tính quá sớm. Hơn nữa hầu hết bé ngồi chơi các trò chơi không ngồi thẳng, đúng tư thế mà vặn vẹo đủ các kiểu, lúc vẹo sang trái, lúc vặn sang phải nên nguy cơ về cong vẹo cột sống, bị các bệnh tật khúc xạ là rất lớn.
"Nếu cho bé tiếp xúc quá sớm với thế giới ảo hay trò công nghệ, thay vì động tác thật thì bé lại làm động tác giả. Việc này cực kỳ nguy hiểm. Bé dễ lầm tưởng thế giới ảo với cuộc sống thật, ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định hoặc suy nghĩ của mình" - phó giáo sư Dũng chia sẻ.
Cơ chế nhiễm cúm
Mẹ bị cúm có thể lây truyền cho con qua những hạt nước bọt (nước mũi) nhỏ li ti mà người mẹ ho (hắt hơi, nói chuyện); hoặc do bé tiếp xúc với đồ đạc bị nhiễm virus cúm. Một khi virus cúm xâm nhập và gây bệnh cho bé thì bé sẽ có biểu hiện như ho, hắt hơi, sổ mũi, sốt, mệt mỏi… Ở điều kiện bình thường, cúm có thể khỏi sau 2 tuần nhưng do bé còn non nớt thì cúm có thể gây biến chứng như viêm phổi, viêm màng não, viêm cơ tim, viêm và hoại tử cơ…
Tuy không lây qua đường sữa mẹ nhưng virus cúm lại rất dễ lây qua đường hô hấp. Chỉ cần một cái hắt hơi của mẹ, hay một cái, hôn, vuốt ve với con (nhất là ở môi, mũi của bé) cũng đủ làm bé bị nhiễm virus cúm. Đặt biệt nếu bé còn đang trong thời kỳ bú mẹ thì việc mẹ tiếp xúc gần gũi với con là điều khó tránh. Vì vậy, người mẹ đang cho con bú mà bị cúm thì cần đặc biệt giữ gìn để không lây bệnh cho con.
Theo bác sĩ Trang Khánh (Sức Khỏe & Đời Sống), do sữa mẹ là “đồ ăn tốt nhất” cho bé 6 tháng đầu đời nên ngay cả khi mẹ bị cúm thì vẫn nên tiếp tục cho con bú mẹ. Tuy nhiên, người mẹ cần lưu ý để tránh bệnh cho con như sau:
- Nếu mẹ bị cúm nặng (hắt hơi, ho liên tục) thì nên cách ly với bé một thời gian. Nên cho con nằm trong một buồng riêng biệt và nhờ người thân hỗ trợ chăm sóc bé (thay bỉm, tắm rửa…). Mẹ nên đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người thân để hạn chế virus lây sang người xung quanh vì những người này có thể là đối tượng trung gian truyền bệnh cho bé.
- Sau khoảng 1-2 ngày, người mẹ có thể tiếp tục cho con bú nhưng phải đeo khẩu trang cẩn thận; rửa tay trước khi bế con; lau sạch đầu vú bằng nước ấm trước khi cho con bú để tiêu diệt hoàn toàn virus cúm.
Lưu ý: Một số trường hợp sau thì nên tạm ngừng cho bé bú mẹ hoàn toàn. Người mẹ bị nhiễm cúm đồng thời với viêm gan (hoặc HIV) có tổn thương ở đầu vú. Các trường hợp người mẹ băn khoăn không biết nên cho bé bú hay không thì nên đi khám để bác sĩ hướng dẫn chi tiết.
Nguyên nhân
Các nguyên nhân gây khò khè thường gặp nhất là: suyễn (hen phế quản), viêm tiểu phế quản, viêm phổi. Trong đó, ở bé dưới 6 tháng, nguyên nhân thường gặp nhất là viêm tiểu phế quản. Còn ở bé trên 18 tháng tuổi, nguyên nhân thường gặp nhất là suyễn. Đặc biệt, khò khè hay gặp ở bé dưới 2-3 tuổi vì ở lứa tuổi này, phế quản (cuống phổi) có kích thước còn nhỏ lại dễ bị co thắt, phù nề, tiết dịch và nghẽn tắc khi bị viêm nhiễm (30-40% bé còn bú có triệu chứng này).
Ngoài ra còn các nguyên nhân hiếm gặp là: dị vật đường thở, một số dị tật bẩm sinh của phế quản, phế quản bị chèn ép (do mạch máu bất thường, u, hạch cạnh phế quản)… Trong trường hợp này, bé có triệu chứng khò khè dai dẳng, kéo dài.
Khò khè là tiếng thở bất thường có âm sắc trầm nghe rõ nhất khi bé thở ra. Có thể nghe bằng cách áp sát tai gần miệng bé (nghe gần giống như tiếng ngáy,“tiếng nhạc“). Khi nặng hơn, có thể thấy bé thở ra kéo dài, gắng sức. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khó có thể nghe được bằng tai. Khi đó, bác sĩ có thể phát hiện dễ dàng triệu chứng này hơn bằng cách dùng ống nghe (trong chuyên môn gọi là tiếng ran ngáy, ran rít ).
Trên thực tế, ở bé sơ sinh cần phân biệt tiếng khò khè (là triệu chứng ít gặp nhưng là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này) với tiếng thở do tắc mũi (là triệu chứng rất thường gặp và không phải là triệu chứng nặng). Bé sơ sinh thở chủ yếu bằng mũi, trong khi kích thước lỗ mũi bé còn nhỏ và rất dễ bị tắc khi bị cảm ho (làm bé thở nghe khụt khịt). Khi đó, có thể làm thông thoáng mũi bé với 2-3 giọt nước muối sinh lý nhỏ mũi, sau đó nghe lại. Bé bị nghẹt mũi sẽ thở êm hơn sau khi được làm thông thoáng mũi.
Khi bé cần đi khám
- Bé thở khò khè lần đầu tiên; khò khè kèm khó thở, tím tái, rối loạn tri giác (vật vã, bứt rứt, hay li bì ); khò khè tái phát.
- Nếu bé dưới 3 tháng tuổi bị khò khè, cần đưa bé đến bệnh viện ngay vì đây là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này.
- Khi bé bị khò khè kéo dài, dai dẳng (3- 4 tuần), cần cho bé đến khám bệnh viện chuyên khoa vì nhiều trường hợp cần phải làm nhiều xét nghiệm chuyên sâu để xác định chẩn đoán (chụp X quang, siêu âm, đo hô hấp ký, chụp CT ngực, nội soi đường hô hấp).
- Không nên tự ý dùng thuốc, kể cả các loại thuốc kháng sinh, long đờm, kháng viêm,… vì có thể sẽ không đạt hiệu quả tốt mà có khi còn làm bé khò khè nhiều hơn, dẫn đến bệnh nặng hơn.