Theo nhiều nguồn thông tin, đồng thời với việc hạ đặt phi pháp giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc đang triển khai việc xây dựng một đường băng quân sự tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Trong một bài viết mới đây, nhà báo Bill Hayton suy đoán mục đích Trung Quốc đặt giàn khoan nói trên có thể chỉ là một động tác đánh lạc hướng nhằm hướng sự quan tâm của thế giới và Việt Nam vào quần đảo Hoàng Sa để Trung Quốc có “không gian cần thiết” thực hiện việc xây cất này trên đảo Gạc Ma mà tác giả gọi theo tên tiếng Anh là Johnson Reef.
Nếu đúng như suy đoán trên thì công trình mà Trung Quốc đang thực hiện tại Gạc Ma mới là mục tiêu chiến lược chính mà Trung Quốc đang hướng đến trong thời điểm hiện nay.
Trong Phiên điều trần tại Quốc hội Mỹ mới đây tại Washington, trong khi coi việc Trung Quốc triển khai giàn khoan Hải Dương-981 tại Biển Đông là hành động gây căng thẳng, đe dọa tới hòa bình, an ninh trong khu vực, ông Daniel Russel, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ cũng không quên cảnh báo về dự án xây dựng mà Trung Quốc đang tiến hành tại đảo Gạc Ma như là “một hành động nhằm quân sự hóa các hòn đảo để làm cơ sở cho các yêu sách chủ quyền”.
Điều này cho thấy Mỹ coi hành động này của Trung Quốc tại Gạc Ma là rất nghiêm trọng, ít nhất thì cũng không kém nghiêm trọng hơn hành động Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 tại khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Về hành động phi pháp này của Trung Quốc, ngày 14/5 vừa qua, Philippines đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc, đồng thời đã gửi công hàm phản đối Trung Quốc trong cuộc họp kín bên lề Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua.
Đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, hơn nữa đây còn là nơi thấm máu hàng chục chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hy sinh trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988. Thế thì tại sao Việt Nam lại không có phản ứng chính thức gì về hành động này của Trung Quốc tại đảo Gạc Ma mà lại nhường quyền lên tiếng về sự kiện nói trên cho Mỹ và Philipines?
Tôi đang định viết một bài commentary cho báo Tây về sự kiện mới nhất ở Biển Đông, nên phải đọc nhiều bài viết trên báo chí nước ngoài. Đọc qua những bài này tôi nghĩ Việt Nam lúc này quả thật là một nước tương đối cô đơn. Không có nước nào chính thức và trực tiếp ủng hộ Việt Nam.
Có một thông tin trong bài “China and Vietnam at Impasse over Drilling Rig in South China Sea” (New York Times) làm tôi chú ý.
Thông tin này trích nguồn từ một nhà ngoại giao thâm niên cho biết ông Tổng bí thư đảng đề nghị đi thăm Bắc Kinh để nói chuyện với Tập Cận Bình, nhưng phía Tàu đã từ chối đề nghị này. Có người nhận xét rằng đó là một nỗi nhục cho phía Việt Nam.
Báo chí Việt Nam thì nói rằng bài phát biểu của ngài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong Hội nghị ASEAN vừa qua ở Miến Điện là “đanh thép” và nhận được sự ủng hộ của các bạn trong khối ASEAN. Điều này tôi thấy không đúng. Bài phát biểu của ngài Thủ tướng cũng bình thường thôi, ngôn ngữ vừa phải, và theo tôi là lịch sự, chừng mực, tốt. Bài phát biểu chẳng có chỗ nào gọi là cứng rắn hay đanh thép cả.
Chẳng thấy nước ASEAN nào ủng hộ Việt Nam. Bản thông cáo chung được công bố tránh đề cập đến sự hung hãn của Tàu ở Biển Đông. Thật ra, giới bình luận quốc tế xem Việt Nam đã thất bại trong việc vận động bè bạn ủng hộ mình trong cuộc đối đầu với Tàu (báo New York Times viết tựa đề “Vietnam Fails to Rally Partners in China Dispute”). Vậy mà báo chí Việt Nam cứ đưa ra ảo tưởng rằng cả thế giới đang ủng hộ Việt Nam!
Tôi tự hỏi tại sao Việt Nam có chính nghĩa mà cô đơn như thế? Có thể người ta nhìn vào những bước đi của Việt Nam trong quá khứ. Chẳng hạn như Việt Nam chưa bao giờ ủng hộ Phi Luật Tân trong vụ kiện Tàu Cộng ra tòa án quốc tế. Việt Nam cũng đàn áp những công dân Việt Nam chống Tàu. Mỗi khi có gì căng thẳng với Tàu thì Việt Nam thường nói những câu như coi chừng các thế lực thù địch tìm cách chia rẽ đoàn kết giữa Tàu và Việt Nam. Tất cả những động thái đó cho người ta thấy Việt Nam muốn làm Tàu hài lòng, hay tệ hơn nữa, là đàn em của Tàu. Với cách nhìn đó, những nước trong khối ASEAN, vốn đã làm ăn với Tàu, thấy tranh chấp giữa Việt Nam và Tàu là chuyện hai anh em, cứ để họ giải quyết với nhau. Có lẽ không ít người Việt Nam cũng nghĩ thế (ví dụ như ông Đỗ Mười từng nói rằng Tàu nó đánh ta, nhưng nó cũng là cộng sản). Có thể nói không ngoa rằng Việt Nam tự đem sự cô đơn cho mình.
Nhưng cô đơn thì cô đơn, chuyện chúng ta lên tiếng với bạn bè quốc tế thì vẫn phải lên tiếng. Phải nói cho thiên hạ thấy hành động nguy hiểm và ngông cuồng của Tàu Cộng, và để bạn bè quốc tế thấy Tàu tuy là nước lớn nhưng cách hành xử thì rất nhỏ và rất thấp. Hy vọng tôi sẽ nói được cái ý này.
Ký giả Keith Bradsher của Tờ New York Times số ra ngày 12/5/2014 đã có một bài xã luận về mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh quanh vụ dàn khoan HD 981.
Trong bài viết này, Keith Bradsher đã dẫn một nguồn tin từ một viên chức ngoại giao cao cấp dấu tên cho biết là phía Hà Nội đưa đề nghị ông Nguyễn Phú Trọng sẽ sang Bắc Kinh gặp mặt và hội kiến với ông Tập Cận Bình; nhưng phía ông Tập Cận Bình
từ chối cuộc gặp
.
Trong khi đó, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Trung Quốc cho biết đã có 14 cuộc trao đổi giữa các giới chức và Trung Quốc kể từ khi xảy ra những xung đột quanh vụ dàn khoan HD 981 trong thềm lục địa Việt Nam. Tuy nhiên, viên chức ngoại giao Bắc Kinh nói trên cho rằng các cuộc nói chuyện không có thực chất.
Thái độ coi thường dư luận và không đếm xiả gì đến lời đề nghị gặp mặt từ phía ông Nguyễn Phú Trọng của lãnh đạo Bắc Kinh cho chúng ta thấy hai điều:
Thứ nhất là Bắc Kinh đã không chỉ coi thường những gì mà họ đã đồng ý với ông Trọng về đường dây nóng giải quyết các xung đột trong bản tuyên bố chung năm 2011 mà còn cố tình bỏ ra ngoài tai những kiến nghị từ Hà Nội.
Thứ hai là vụ đưa dàn khoan HD 981 không phải là việc làm ngẫu hứng mà Bắc Kinh đã tính toán từ trước và coi đây là bước chiến lược quan trọng để thôn tính biển Đông đặt ở vào thế đã rồi, khó xoay trở.
Từ vụ HD 981 và sự từ chối cuộc gặp của họ Tập nói trên, ông Trọng và lãnh đạo Hà Nội nên suy nghĩ thế đứng tương lai: tiếp tục dựa vào Bắc Kinh hay dựa vào lòng dân?
Việc Việt Nam cải tổ theo hướng thúc đẩy nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường tự do, và một xã hội dân sự phát triển chắc chắn sẽ kết nối Việt Nam với các nước Châu Âu, Úc, Hàn, Nhật và Mỹ. Khi đó, sự ủng hộ Việt Nam sẽ mạnh hơn nhiều. Hồn dân tộc nghìn năm không chịu khuất! Biển Đông: Việt Nam chỉ có một con đường LTS: Trong những lúc đất nước gặp khó khăn nguy hiểm, luôn cần những tiếng nói từ nhiều trái tim và khối óc cùng chia sẻ mối quan tâm, xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp loạt bài hiến kế của các nhân sĩ trí thức Việt, Tuần Việt Nam xin giới thiệu ý kiến của ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE) Đâu là "cái phanh" xung đột? Tìm ra một giải pháp tránh xung đột ở Biển Đông là không dễ dàng. Trung Quốc muốn thâu tóm Biển Đông để vươn ra thế giới, trở lại thời hoàng kim là "trung tâm của thiên hạ". Mỹ không muốn điều này xảy ra nhưng không thể tự mình "bảo vệ" Biển Đông nếu các nước có tranh chấp như Việt Nam không phải là đồng minh. Như vậy, nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì việc mất Biển Đông và lệ thuộc vào họ là điều nhãn tiền. Còn Việt Nam nghiêng về phía Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột nhiều rủi ro. Theo lý thuyết thì nếu thương mại giữa hai nước tăng thì chiến tranh sẽ khó xảy ra vì các ràng buộc về kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thương mại Việt-Trung thì nó không phải là "cái phanh" để ngăn cản xung đột. Tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2011 là 35,7 tỉ USD, tuy nhiên Việt Nam bị nhập siêu gần 13 tỉ USD từ Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc chiếm khoảng 18% tổng thương mại của Việt Nam, nhưng chưa đến 1% trong tổng số 3,87 nghìn tỉ đô thương mại của Trung Quốc. Rõ ràng, Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn, và việc cắt đứt thương mại giữa hai nước sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn đến Trung Quốc.
Giàn khoan CNOOC 981 của Trung Quốc đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam. Ảnh: THX
Dường như Việt Nam đang yếu thế trong việc đàm phán với Trung Quốc vì bị lệ thuộc trên mọi mặt trận từ kinh tế, chính trị đến an ninh. Rất không may, Việt Nam không có gì đủ hấp dẫn để đàm phán với Trung Quốc vì Biển Đông quá quan trọng với họ. Việt Nam cũng không thể bỏ Biển Đông vì Biển Đông cũng quá quan trọng với Việt Nam. Nếu mất Biển Đông coi như Việt Nam mất cửa đi ra thế giới, mất cơ hội phát triển, và mất lợi ích kinh tế từ Biển. Trong trường hợp này, liệu Việt Nam có phải "lên thuyền" với các quốc gia khác để cân bằng lại với Trung Quốc? ASEAN có thể giúp Việt Nam giữ Biển Đông? Câu trả lời dường như là không vì hiện tại ASEAN chỉ có thể là một cơ chế giúp Việt Nam và các nước lớn truyền tin và đàm phán, còn bản thân nó không thể là "con thuyền" đủ lớn và vững chắc chịu được sức ép từ Trung Quốc. Như vậy, "con thuyền" còn lại dường như là Mỹ để Việt Nam có thể dựa vào? Mỹ và Việt Nam có chung lợi ích đó là tự do hàng hải và ổn định ở Biển Đông. Trong những ngày qua, người phát ngôn Nhà trắng và các thượng nghị sĩ uy tín nhất của Mỹ như John McCain và Patrick Leahy liên tục đưa ra các tuyên bố lên án hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển đông. Tuy nhiên, vẫn có những rào cản để Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh. Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam có những e ngại về cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam. Điều này có cơ sở vì lợi ích của Mỹ trong mối quan hệ với Trung Quốc rất lớn, và rõ ràng động lực lớn nhất để Mỹ hành động là lợi ích quốc gia của họ. Thứ hai, việc trở thành đồng minh của Mỹ cũng đồng nghĩa với việc nằm cạnh miệng hố chiến tranh với Trung Quốc. Việt Nam muốn tránh điều này bằng mọi giá vì chiến tranh đã tàn phá đất nước này quá nhiều. Về phía mình, Mỹ dù có muốn cũng khó làm đồng minh chiến lược của Việt Nam vì những khác biệt về chính trị và bất đồng quan điểm về nhân quyền. Chính vì vậy, dù Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong bàn cờ chiến lược của mình ở châu Á, Mỹ khó lòng tiến xa hơn và gửi quân ứng cứu Việt Nam trong trường hợp có xung đột với Trung Quốc. Thêm vào đó, Việt Nam đóng vai trò không đáng kể trong phát triển kinh tế của Mỹ. Thương mại với Việt Nam chỉ chiếm dưới 0,65% tổng thương mại của Mỹ, so 13% thương mại của Mỹ với Trung Quốc. Rõ ràng, lợi ích kinh tế của Mỹ với Trung Quốc lớn hơn với Việt Nam nhiều, đặc biệt khi Mỹ lại đang nhập siêu hàng năm từ Việt Nam gần 15 tỉ USD vào năm 2011 và ngày càng tăng. Con đường nào cho Việt Nam? Có một lợi ích mà cả Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam đều chia sẻ - đó là hòa bình và ổn định ở Biển Đông và châu Á. Cho dù cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam đứng về phía mình, nhưng họ cũng tạm hài lòng với hiện trạng. Trung Quốc muốn Việt Nam ổn định nhưng không đủ mạnh để thách thức được họ. Việt Nam không được là "sân sau" của ai và nếu phụ thuộc vào Trung Quốc thì càng tốt. Mỹ muốn Việt Nam là liên minh để duy trì vai trò lãnh đạo ở Châu Á, nhưng không muốn gánh vác trách nhiệm bảo vệ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh khác biệt về chế độ chính trị và giá trị quốc gia. Tuy nhiên, duy trì hiện trạng mắc kẹt này không phải là điều tốt cho Việt Nam. Với chiến lược "từng bước một" Trung Quốc sẽ dần dần áp đặt sự kiểm soát của mình lên Biển Đông mà không cần đến chiến sự. Chiến lược này sẽ làm cho Việt Nam phân tâm, mệt mỏi và bất lực trước sự "gặm nhấm" của Trung Quốc. Hoa Kỳ, đôi khi sẽ lên tiếng "quan ngại sâu sắc" sau mỗi lần Trung Quốc gây hấn, nhưng không thể thách thức Trung Quốc trực tiếp vì Việt Nam không là đồng minh và những bước lấn "không đủ lớn để động binh". Điều này không ảnh hưởng đến cân bằng chiến lược toàn cầu ngay, nhưng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Việt Nam. Rõ ràng Việt Nam cần tự thoát khỏi thế kìm kẹp này bằng cách tự đổi mới mình. Là nước nhỏ trong tranh chấp, Việt Nam nhận được sự cảm thông toàn cầu trước o ép từ phía Trung Quốc. Tuy nhiên, thế giới vẫn nhìn Việt Nam như là
một đồng minh chia sẻ tư tưởng và ý thức hệ với Trung Quốc
. Vì vậy, sự cảm thông với Việt Nam chưa vững chắc vì không dựa trên nền tảng giá trị chung. Việc Việt Nam cải tổ theo hướng thúc đẩy nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường tự do, và một xã hội dân sự phát triển chắc chắn sẽ kết nối Việt Nam với các nước Châu Âu, Úc, Hàn, Nhật và Mỹ. Khi đó, sự ủng hộ Việt Nam sẽ mạnh hơn nhiều, vì bên cạnh tính hợp pháp của chủ quyền Việt Nam có ở Biển Đông, lợi ích kinh tế, đầu tư, và tâm lý nghi ngờ và e ngại Trung Quốc, nền tảng giá trị sẽ là điểm tựa cho việc bênh vực Việt Nam. Sự tự cải tổ này sẽ gây khó chịu cho Trung Quốc nhưng sẽ không là nguyên nhân để Trung Quốc gây chiến với Việt Nam. Ngược lại Trung Quốc sẽ mong Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế "trung lập" vì Việt Nam đã là một phần của các giá trị toàn cầu. Khi đó, Việt Nam sẽ "thông lưu" với các nước về kinh tế, chính trị và xã hội nhưng vẫn có thể tiếp tục hữu hảo với Trung Quốc. Trong vị thế của một nước độc lập và bình đẳng thực sự, việc duy trì hòa bình và chủ quyền ở Biển Đông có nhiều cơ hội thành công hơn.
Bài viết quá hay này nên gửi cho ai đọc? Ai đó có giám dũng cảm từ bỏ lợi ích phe nhóm của mình để VN này không bị xem là dị dạng với nền tảng giá trị chung của nhân loại?
Không hiểu sao VNN giám cho đăng bài viết này nhỉ?
Lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam là lực lượng bao quát kiểm soát các hoạt động thực thi pháp luật trên phạm vi lãnh hải Việt Nam cũng như các hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ môi trường trên biển khi có các sự cố xảy ra.
Sở chỉ huy Cảnh sát Biển theo dõi chặt chẽ diễn biến vụ việc. (Ảnh: báo QĐND)
Theo báo cáo của Cảnh sát Biển Việt Nam, liên tục từ đầu năm đến nay, đặc biệt là thời gian thuộc quý II này, có rất nhiều hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam xảy ra tại khu vực Vịnh Bắc Bộ liên quan đến đánh bắt, khai thác thủy sản trên biển. Đặc biệt, những ngày đầu tháng 5 cho đến lúc này, tại khu vực Tây Nam đảo Tri Tôn của quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, phía Trung Quốc đang cho giàn khoan thăm dò di động đến đặt tại vị trí thuộc thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Đến lúc này, giàn khoan thăm dò đã được định vị, các tàu hậu cần kỹ thuật đã tách khỏi giàn khoan.
Phía Trung Quốc liên tục duy trì 51 tàu bảo vệ, tạo thành hàng rào trên phạm vi rộng 7 hải lý xung quanh giàn khoan và thường xuyên có các tàu luân chuyển, thay đổi. Trong số này có cả các tàu quân sự, tàu tác chiến nhanh. Trên không còn có các máy bay trinh sát bay rất thấp và phía Bắc quần đảo Hoàng Sa, hiện đang có 11 tàu quân sự khác đang thực hiện các hoạt động diễn tập phối hợp và hỗ trợ chi viện xuống khu vực giàn khoan di động. Các tàu của Trung Quốc hiện đang tạo ra tình hình rất căng thẳng khi sử dụng vòi rồng áp lực mạnh phun nước vào các tàu Cảnh sát Biển, tàu Kiểm ngư của Việt Nam đang làm nhiệm vụ. Các tàu của Trung Quốc thường trực bố trí đội hình 5 tàu khác nhau để cản trở mỗi tàu Cảnh sát Biển Việt Nam, lực lượng Kiểm Ngư mỗi tàu cũng bị 2 tàu của Trung Quốc theo sát và sẵn sàng va chạm gây nguy hiểm hoặc các hình thức khác. Việc tiếp cận với giàn khoan của Trung Quốc để yêu cầu di dời là không dễ dàng,
thời điểm tiếp cận được gần nhất của lực lượng Cảnh sát Biển với giàn khoan là 4 hải lý.
Tuy nhiên, phía Trung Quốc sẵn sàng liều lĩnh dùng tàu tải trọng lớn để va chạm gây nguy hiểm nên chưa thể tiếp cận gần hơn với giàn khoan này. Các lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam hiện vẫn tiếp tục nhiệm vụ, túc trực thường xuyên với số lượng 31 tàu. Ngoài hoạt động xua đuổi được thực hiện, còn liên tục thông báo hành vi xâm phạm chủ quyền trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để các tàu của Trung Quốc ý thức rõ hành vi xâm phạm sai trái của mình.
Bắc Kinh vừa đưa một dàn khoan nước sâu vào vùng biển của Việt Nam.
Chế độ Cộng sản Việt Nam đã hy vọng rằng cách hành xử tôn kính của họ đối với TQ có thể làm dịu đi tham vọng thôn tính biển Đông của gã láng giềng khổng lồ phương Bắc này. Nhưng với việc đưa dàn khoan nước sâu HD-981 vào thăm dò khai thác dầu khí ở ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, Bắc Kinh đã đập tan hy vọng này và đặt Hà Nội vào một tình thế vô cùng khó xử.
Trong giai đoạn 2009-2011, Việt Nam đã từng là quốc gia đưa ra những lời phê phán mạnh mẽ nhất đối với tuyên bố chủ quyền của TQ đối với hầu hết Biển Đông, khi Hà Nội đang hy vọng sẽ tập hợp được một mặt trận thống nhất từ Hiệp hội các nước Đông Nam Á với sự hỗ trợ (ít nhất là một cách ngấm ngầm) bởi sức mạnh hải quân Mỹ. Sự miễn cưỡng của cộng đồng của ASEAN trong việc thách thức Trung Quốc đã khiến Mỹ không có được một nền tảng cần có cho một chính sách mạnh mẽ trong khu vực Biển Đông. Washington cũng chưa bao giờ tỏ ra mặn mà với việc cung cấp sự bảo đảm về mặt phòng thủ cho những nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông khác với Trung Quốc, kể cả đối với người đồng minh mà nó đã ký hiệp ước phòng thủ là Manila.
Trong hoàn cảnh như vậy, một thái độ nhún nhường dù ḳhôṇg được người dân ủng hộ, dường như là lựa chọn có thể xoa dịu được Bắc Kinh và tạo ra được sự kiềm chế. Đặc biệt từ khi chính phủ mới của Tập Cận Bình lên nắm quyền, các nhà lãnh đạo VN đã hết sức nỗ lực để cải thiện mối quan hệ với gã hàng xóm thô lỗ của mình.
Vào những năm 2012 và 2013, khi TQ "thực thi chủ quyền" của mình trên các rạn san hô trong vùng biển Philippines, phản ứng của HN là hoàn toàn im lặng. Khi TQ cử một đội tàu nhỏ để cắm cờ TQ trên bãi James ở phía Đông Mã Lai, VN cũng không hề lay chuyển. Khi tàu hải giám của TQ đuổi ngư dân VN ra khỏi ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa, đường dây nóng giữa Hà Nội và Bắc Kinh chẳng thấy vang lên lời phản đối nào. Khi căng thẳng bùng lên giữa Nhật Bản và TQ về quần đảo Điếu Ngư, Hà Nội vẫn khăng khăng giữ thái độ hoàn toàn im lặng. Khi Manila yêu cầu HN cùng tham gia khởi kiện TQ lên Tòa án Công lý quốc tế, Hà Nội đã hoàn toàn né tránh.
Trong hai năm qua, chỉ có hai sự kiện - cả hai đều diễn ra vào tháng Tám năm 2012 - đã khiến Hà Nội để lộ ra cơn thịnh nộ của mình. Đầu tiên là việc Công ty quốc gia khai thác dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc (Chinese National Offshore Oil, CNOOC) đã gửi lời mời đến các công ty dầu khí nước ngoài để chào giá thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi ở vùng bờ biển miền Trung Việt Nam. Thứ hai là việc thành lập "Thành phố Tam Sa" của Bắc Kinh trên một đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa làm trung tâm hành chính và quân sự cho sự hiện diện ngày càng tăng của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Trong suốt thời gian hai năm đó, bất kỳ lúc nào hoàn cảnh cho phép thì các nhà lãnh đạo Việt Nam đều đã không bỏ lỡ cơ hội tán dương mối quan hệ hợp tác anh em với các đối tác Trung Quốc. Hà Nội dường như đã lý luận rằng tình trạng hòa hoãn tương đối giữa hai nước là hoàn toàn có thể,một khi Tập Cận Bình và và nhóm thân cận của ông ta đã hoàn toàn thực sự nắm được các đòn bẩy quyền lực.
Trong thời gian chuẩn bị cho việc chuyển giao thế hệ tại Bắc Kinh, những kẻ theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn ở Trung Quốc đã rất gay gắt trong việc kích động chống Việt Nam.Rõ ràng là Hà Nội đã hy vọng rằng sau khi đã nắm được quyền lực ở trung ương, Tập Cận Bình và các cộng sự của ông ta sẽ ra lệnh cho cấp dưới giảm bớ việc tuyên truyền chống Việt Nam và tránh những hành động khiêu khích. Hoàn toàn tin tưởng vào điều này, các cơ quan an ninh nội bộ của Việt Nam đã gia tăng đàn áp các blogger bất đồng chính kiến; đây là một cử chỉ để chứng tỏ với Bắc Kinh, nhưng đã không có tác dụng dập tắt những lời chỉ trích của công chúng đối với chính sách “nhu nhược” của chế độ trước Trung Quốc.
Tại Hội nghị Shangri La vào tháng Chín năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi Trung Quốc và các thành viên khác hợp tác để "xây dựng lòng tin chiến lược." Tài hùng biện của ông Dũng đã được nhiệt liệt hoan nghênh nhưng, giờ đây khi dàn khoan HD-981 đã thả neo trong khu vực 120 km ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, liệu có quốc gia nào trong danh sách dài các đối tác của Hà Nội có hành động gì ngoài các lời nói đầu môi trước sự phản đối của Việt Nam?
Những lựa chọn khó khăn cho Hà Nội
Tin tức về việc triển khai dàn khoan nước sâu của TQ đã nổ ra vào ngày 4/5, khi một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối lời cảnh báo thường kỳ của Cục Quản lý an toàn hàng hải của Trung Quốc. Một bản đồ được cung cấp bởi công ty dầu khí của nhà nước, công ty PetroVietnam, cho thấy một chiếc tàu của CNOOC đang ở vị trí khoảng 34 km về phía nam của đảo Tri Tôn, hòn đảo nằm ở ngoài cùng ở phía tây nam trong quần đảo Hoàng Sa, và cách 221 km ở phía đông của đảo Lý Sơn (trớ trêu thay, đây chính là nơi Việt Nam có Hạm đội với thâm niên vài trăm năm nuôi trồng, đánh bắt hải sản ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa).
Việc triển dàn khoan HD-981 là "bất hợp pháp và vô giá trị", phát ngôn viên của Việt Nam đã tuyên bố, và nói thêm rằng vị trí này là hoàn toàn nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.
Không phải như vậy, Bắc Kinh nói. Địa điểm đặt dàn khoan là "hoàn toàn nằm trong vùng biển của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc."
Hà Nội bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, một nhóm đảo nhỏ và các rạn san hô nằm rải rác về phía nam của đảo Hải Nam và phía đông của miền Trung Việt Nam. Bắc Kinh đã đánh bại các đơn vị đồn trú đóng trên một số quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (chế độ Sài Gòn) vào năm 1974 và kể từ đó nó đã thực hiện ngày càng chặt chẽ việc kiểm soát trên thực tế trên quần đảo này và vùng biển lân cận.
Quần đảo Hoàng Sa mà TQ đã chiếm đóng vẫn không đủ để cho phép TQ mở rộng vùng đặc quyền kinh tế, xét theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Tuy nhiên, bất kỳ bãi đá nào không bị ngập khi thủy triều lên cũng có thể "tạo ra" vùng lãnh hải 12 hải lý tính từ bờ biển của nó. Vị trí khoan là 18,5 hải lý tính từ đảo Tri Tôn. Do đó nó sẽ không nằm trong "lãnh hải của Trung Quốc" ngay cả khi tuyên bố của Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa được coi là hợp lệ.
Theo báo cáo của Trung Quốc, dàn khoan nặng 31.000 tấn và trị giá 1 tỷ USD của CNOOC sẽ duy trì ở vị trí hiện nay đến tháng Tám. Ra mắt vào năm 2011, cho đến nay dàn khoan HD-981 được báo cáo là đã thực hiện khoan thăm dò ngoài khơi từ Hồng Kông. Dàn khoan này có khả năng khoan xuống đáy biển ở độ sâu đến 3.000 mét. Bản đồ Việt Nam cho thấy rằng vị trí khoan mới là ít hơn 1.000 mét dưới mực nước biển.
Cũng theo truyền thông Trung Quốc ngày 6 /5, tàu cảnh sát biển Việt Nam đã "can thiệp" vào các hoạt động của dàn khoan. Chẳng còn nghi ngờ nữa, các tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc cũng đã được đưa đến khu vực này. Cả hai quốc gia cũng có thể triển khai các tàu hải quân và không lực để bảo vệ các lực lượng bán quân sự của họ.
Việc triển khai dàn khoan HD-981 của TQ do đó đang đặt ra một tình thế khó xử và đau đầu cho Hà Nội. Tương tự như sự can thiệp của Trung Quốc cách đây ba năm đối với tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam, việc Trung Quốc đề nghị đấu giá lô thăm dò dầu khí trong vùng EEZ của Việt Nam và những nỗ lực đôi khi thành công của TQ trong việc đe dọa các công ty dầu mỏ nước ngoài, hành động khiêu khích mới nhất này đang đe dọa không chỉ làm nhục mà còn gây ra những thiệt hại kinh tế thực sự cho Việt Nam.
Không giống như quân đội Philippines, lực lượng vũ trang của Việt Nam là một sự cản trở đáng kể đối với TQ. Không ai nghi ngờ về lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của quân sĩ và thủy thủ Việt Nam, những người đã thừa kế một thiên niên kỷ những kinh nghiệm chiến đấu thành công chống quân xâm lược, mà đặc biệt là từ Trung Quốc. Hơn nữa, trong những năm gần đây Hà Nội cũng đã thực sự nỗ lực hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân của mình. Họ có khả năng thực hiện một số trận đánh, thậm chí có thể là nhiều trận, với Trung Quốc.
Trung Quốc dường như đang rất muốn làm nhục Hà Nội, hoặc ngược lại, kích động để Việt Nam tấn công. Việc theo đuổi chính sách bá quyền ở khu vực Biển Đông, được mô tả rất đúng là chiến lược "vừa đánh vừa đàm”, cho đến nay vẫn luôn đặc biệt thành công. Bắc Kinh dường như đang muốn tạo ấn tượng với dư luận thế giới, chứ không hề né tránh nó. Bị kích thích bởi các phương tiện truyền thông cổ vũ cho chủ nghĩa dân túy, người dân Trung Quốc đang sôi sục muốn tiến hành một cuộc chiến tranh.
Việc triển khai dàn khoan HD-981 đã tạo ra một tình huống xấu dễ dàng có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thực sự. Chỉ Bắc Kinh mới có thể làm dịu tình hình - và chỉ khi nó có quan tâm.
* VTC: Trung Quốc đang đưa một giàn khoan vào vùng biển Việt Nam. Là một nhà báo, ông có thể bình luận gì về ứng xử của Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian vừa qua?
- Tôi đã cố tìm hiểu vấn đề này. Nhưng tình cờ tôi đã ở Ukraine 2 tuần trước và sau đó đến Việt Nam. Rất thú vị. Vì cả Ukraine và Việt Nam đều là 2 quốc gia trung bình nằm cạnh một nước rất lớn. Ukraine sống cạnh một con gấu khổng lồ. Việt Nam sống cạnh một con hổ lớn. Con gấu nói với Ukraine: Hãy cưới anh, hãy cưới anh, không thì anh sẽ giết em. Và con hổ lớn nói với Việt Nam: Bình sữa này quá ngon, anh sẽ uống của anh và cả của em. Có một sự tương đồng nào đó trong 2 trường hợp này. Và cũng rất thú vị, Nga đã sử dụng “little green men” - lực lượng dân sự tràn ngập Ukraine. Và Trung Quốc sử dụng “tàu dân sự” - rất mới. Chúng ta phải phản ứng ra sao, quả là thử thách với cộng đồng quốc tế với 2 quốc gia đang lên này. Tôi chỉ có thể trích dẫn một ngạn ngữ xưa của chính các bạn, nếu chỉ có 2 cây đũa, rất dễ bị bẻ gãy, nhưng nếu bạn có một bó đũa, rất khó để bẻ gãy. Cách duy nhất để kìm chế được các sức mạnh đang lên là sử dụng liên minh các quốc gia trong vùng để cân bằng lại. * Thanh Niên Online: Vậy ngoài các liên minh vùng ra, liệu còn nhân tố nào mà nước nhỏ như Việt Nam có thể tìm kiếm lợi ích trong các mâu thuẫn này không? - Không. Không có cách nào khác! Việt Nam cần một đòn bẩy. Việt Nam chỉ có thể gia tăng sức lên cái đòn bẩy đó. * Thanh Niên Online: Có quốc gia nhỏ nào đã thành công trong việc ứng xử trước mâu thuẫn với nước lớn không? - Ukraine là một hình mẫu tốt. Ukraine tạo ra một liên minh với Mỹ, tạo ra một lực đẩy tác động trở lại Nga. * HTV: Trong chương 14 về lý thuyết Dell ngăn ngừa xung đột, ông có chỉ ra: “Những nước gắn kết tương lai và kinh tế của mình vào hội nhập và thương mại toàn cầu, họ sẽ kiềm chế gây chiến với các nước láng giềng”. Xin cho chúng tôi biết việc gắn kết hội nhập của một nước như Việt Nam khi đang ở bên cạnh một láng giềng lớn như Trung Quốc? - Hãy để tôi trả lời câu hỏi này dựa vào trường hợp của Ukraine. Sau khi Crimea trở thành một phần của Nga, Tổng thống Obama làm gì? Ông áp lệnh cấm vận kinh tế 25 người là doanh nhân và chính khách Nga. Chỉ có 25 người, cỡ như căn phòng này thôi. Có rất nhiều lời chỉ trích tại sao Obama chỉ cấm vận 25 người trong khi Nga đang “ăn” cả Crimea. Chuyện gì xảy ra trong thế giới phẳng? 60 tỉ USD đã biến mất khỏi Nga chỉ trong quý I năm nay, còn nhiều hơn cả năm 2013 cộng lại, chỉ cần cấm vận 25 người. Thế giới không chỉ liên kết với nhau mà còn là siêu liên kết. Vì thế chỉ cần cấm vận 25 người, thị trường chứng khoán Nga sụp đổ. Đồng rúp mất giá 8%. 60 tỉ USD ra đi. Hôm qua người Nga đã rút quân khỏi biên giới. Toàn cầu hóa không sai. Toàn cầu hóa không thể ngăn những lãnh đạo hay các quốc gia khỏi làm chuyện điên rồ. Con người vẫn sẽ làm những hành động tôn giáo cực đoan, vẫn có những hành vi chính trị điên rồ trong thế giới toàn cầu hóa này. Nhưng nếu một quốc gia làm chuyện điên rồ trong toàn cầu hóa, cái giá họ phải trả luôn lớn hơn họ nghĩ. Và cái giá phải trả sẽ đến nhanh không tưởng nổi đâu. Tôi tin đó là bài học bất cứ sức mạnh, chính phủ nào cũng phải học. * Cảm ơn ông!
Hà Hiển
Theo blog Hà Hiển
Theo nhiều nguồn thông tin, đồng thời với việc hạ đặt phi pháp giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc đang triển khai việc xây dựng một đường băng quân sự tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Trong một bài viết mới đây, nhà báo Bill Hayton suy đoán mục đích Trung Quốc đặt giàn khoan nói trên có thể chỉ là một động tác đánh lạc hướng nhằm hướng sự quan tâm của thế giới và Việt Nam vào quần đảo Hoàng Sa để Trung Quốc có “không gian cần thiết” thực hiện việc xây cất này trên đảo Gạc Ma mà tác giả gọi theo tên tiếng Anh là Johnson Reef.
Nếu đúng như suy đoán trên thì công trình mà Trung Quốc đang thực hiện tại Gạc Ma mới là mục tiêu chiến lược chính mà Trung Quốc đang hướng đến trong thời điểm hiện nay.
Trong Phiên điều trần tại Quốc hội Mỹ mới đây tại Washington, trong khi coi việc Trung Quốc triển khai giàn khoan Hải Dương-981 tại Biển Đông là hành động gây căng thẳng, đe dọa tới hòa bình, an ninh trong khu vực, ông Daniel Russel, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ cũng không quên cảnh báo về dự án xây dựng mà Trung Quốc đang tiến hành tại đảo Gạc Ma như là “một hành động nhằm quân sự hóa các hòn đảo để làm cơ sở cho các yêu sách chủ quyền”.
Điều này cho thấy Mỹ coi hành động này của Trung Quốc tại Gạc Ma là rất nghiêm trọng, ít nhất thì cũng không kém nghiêm trọng hơn hành động Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 tại khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Về hành động phi pháp này của Trung Quốc, ngày 14/5 vừa qua, Philippines đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc, đồng thời đã gửi công hàm phản đối Trung Quốc trong cuộc họp kín bên lề Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua.
Đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, hơn nữa đây còn là nơi thấm máu hàng chục chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hy sinh trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988.
Thế thì tại sao Việt Nam lại không có phản ứng chính thức gì về hành động này của Trung Quốc tại đảo Gạc Ma mà lại nhường quyền lên tiếng về sự kiện nói trên cho Mỹ và Philipines?
Tin về phản ứng của Phillipines đối với sự việc trên trên được báo Thanh Niên phản ánh dưới cái tít thật hài hước: ” Phillipines tố Trung Quốc xây đường băng trên đảo Gạc Ma của Việt Nam”
Hay là Việt Nam đã ngầm từ bỏ chủ quyền đối với đảo Gạc Ma cho Phillipines?
Hy vọng rằng điều đó không xảy ra.
Hồn dân tộc nghìn năm không chịu khuất!
Biển Đông: Việt Nam chỉ có một con đường
LTS: Trong những lúc đất nước gặp khó khăn nguy hiểm, luôn cần những tiếng nói từ nhiều trái tim và khối óc cùng chia sẻ mối quan tâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tiếp loạt bài hiến kế của các nhân sĩ trí thức Việt, Tuần Việt Nam xin giới thiệu ý kiến của ông Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE)
Đâu là "cái phanh" xung đột?
Tìm ra một giải pháp tránh xung đột ở Biển Đông là không dễ dàng. Trung Quốc muốn thâu tóm Biển Đông để vươn ra thế giới, trở lại thời hoàng kim là "trung tâm của thiên hạ". Mỹ không muốn điều này xảy ra nhưng không thể tự mình "bảo vệ" Biển Đông nếu các nước có tranh chấp như Việt Nam không phải là đồng minh. Như vậy, nếu Việt Nam nghiêng về Trung Quốc thì việc mất Biển Đông và lệ thuộc vào họ là điều nhãn tiền. Còn Việt Nam nghiêng về phía Mỹ thì tự biến mình thành tuyến đầu chống Trung Quốc, đẩy dân tộc vào nguy cơ xung đột nhiều rủi ro.
Theo lý thuyết thì nếu thương mại giữa hai nước tăng thì chiến tranh sẽ khó xảy ra vì các ràng buộc về kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thương mại Việt-Trung thì nó không phải là "cái phanh" để ngăn cản xung đột. Tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2011 là 35,7 tỉ USD, tuy nhiên Việt Nam bị nhập siêu gần 13 tỉ USD từ Trung Quốc. Thương mại với Trung Quốc chiếm khoảng 18% tổng thương mại của Việt Nam, nhưng chưa đến 1% trong tổng số 3,87 nghìn tỉ đô thương mại của Trung Quốc. Rõ ràng, Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn, và việc cắt đứt thương mại giữa hai nước sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều hơn đến Trung Quốc.
Dường như Việt Nam đang yếu thế trong việc đàm phán với Trung Quốc vì bị lệ thuộc trên mọi mặt trận từ kinh tế, chính trị đến an ninh. Rất không may, Việt Nam không có gì đủ hấp dẫn để đàm phán với Trung Quốc vì Biển Đông quá quan trọng với họ. Việt Nam cũng không thể bỏ Biển Đông vì Biển Đông cũng quá quan trọng với Việt Nam. Nếu mất Biển Đông coi như Việt Nam mất cửa đi ra thế giới, mất cơ hội phát triển, và mất lợi ích kinh tế từ Biển. Trong trường hợp này, liệu Việt Nam có phải "lên thuyền" với các quốc gia khác để cân bằng lại với Trung Quốc?
ASEAN có thể giúp Việt Nam giữ Biển Đông? Câu trả lời dường như là không vì hiện tại ASEAN chỉ có thể là một cơ chế giúp Việt Nam và các nước lớn truyền tin và đàm phán, còn bản thân nó không thể là "con thuyền" đủ lớn và vững chắc chịu được sức ép từ Trung Quốc. Như vậy, "con thuyền" còn lại dường như là Mỹ để Việt Nam có thể dựa vào?
Mỹ và Việt Nam có chung lợi ích đó là tự do hàng hải và ổn định ở Biển Đông. Trong những ngày qua, người phát ngôn Nhà trắng và các thượng nghị sĩ uy tín nhất của Mỹ như John McCain và Patrick Leahy liên tục đưa ra các tuyên bố lên án hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển đông. Tuy nhiên, vẫn có những rào cản để Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh.
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam có những e ngại về cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam. Điều này có cơ sở vì lợi ích của Mỹ trong mối quan hệ với Trung Quốc rất lớn, và rõ ràng động lực lớn nhất để Mỹ hành động là lợi ích quốc gia của họ. Thứ hai, việc trở thành đồng minh của Mỹ cũng đồng nghĩa với việc nằm cạnh miệng hố chiến tranh với Trung Quốc. Việt Nam muốn tránh điều này bằng mọi giá vì chiến tranh đã tàn phá đất nước này quá nhiều.
Về phía mình, Mỹ dù có muốn cũng khó làm đồng minh chiến lược của Việt Nam vì những khác biệt về chính trị và bất đồng quan điểm về nhân quyền. Chính vì vậy, dù Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong bàn cờ chiến lược của mình ở châu Á, Mỹ khó lòng tiến xa hơn và gửi quân ứng cứu Việt Nam trong trường hợp có xung đột với Trung Quốc.
Thêm vào đó, Việt Nam đóng vai trò không đáng kể trong phát triển kinh tế của Mỹ. Thương mại với Việt Nam chỉ chiếm dưới 0,65% tổng thương mại của Mỹ, so 13% thương mại của Mỹ với Trung Quốc. Rõ ràng, lợi ích kinh tế của Mỹ với Trung Quốc lớn hơn với Việt Nam nhiều, đặc biệt khi Mỹ lại đang nhập siêu hàng năm từ Việt Nam gần 15 tỉ USD vào năm 2011 và ngày càng tăng.
Con đường nào cho Việt Nam?
Có một lợi ích mà cả Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam đều chia sẻ - đó là hòa bình và ổn định ở Biển Đông và châu Á. Cho dù cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam đứng về phía mình, nhưng họ cũng tạm hài lòng với hiện trạng.
Trung Quốc muốn Việt Nam ổn định nhưng không đủ mạnh để thách thức được họ. Việt Nam không được là "sân sau" của ai và nếu phụ thuộc vào Trung Quốc thì càng tốt. Mỹ muốn Việt Nam là liên minh để duy trì vai trò lãnh đạo ở Châu Á, nhưng không muốn gánh vác trách nhiệm bảo vệ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh khác biệt về chế độ chính trị và giá trị quốc gia.
Tuy nhiên, duy trì hiện trạng mắc kẹt này không phải là điều tốt cho Việt Nam. Với chiến lược "từng bước một" Trung Quốc sẽ dần dần áp đặt sự kiểm soát của mình lên Biển Đông mà không cần đến chiến sự. Chiến lược này sẽ làm cho Việt Nam phân tâm, mệt mỏi và bất lực trước sự "gặm nhấm" của Trung Quốc. Hoa Kỳ, đôi khi sẽ lên tiếng "quan ngại sâu sắc" sau mỗi lần Trung Quốc gây hấn, nhưng không thể thách thức Trung Quốc trực tiếp vì Việt Nam không là đồng minh và những bước lấn "không đủ lớn để động binh". Điều này không ảnh hưởng đến cân bằng chiến lược toàn cầu ngay, nhưng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của Việt Nam.
Rõ ràng Việt Nam cần tự thoát khỏi thế kìm kẹp này bằng cách tự đổi mới mình. Là nước nhỏ trong tranh chấp, Việt Nam nhận được sự cảm thông toàn cầu trước o ép từ phía Trung Quốc. Tuy nhiên, thế giới vẫn nhìn Việt Nam như là
Sự tự cải tổ này sẽ gây khó chịu cho Trung Quốc nhưng sẽ không là nguyên nhân để Trung Quốc gây chiến với Việt Nam. Ngược lại Trung Quốc sẽ mong Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế "trung lập" vì Việt Nam đã là một phần của các giá trị toàn cầu. Khi đó, Việt Nam sẽ "thông lưu" với các nước về kinh tế, chính trị và xã hội nhưng vẫn có thể tiếp tục hữu hảo với Trung Quốc.
Trong vị thế của một nước độc lập và bình đẳng thực sự, việc duy trì hòa bình và chủ quyền ở Biển Đông có nhiều cơ hội thành công hơn.
Lê Quang Bình
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/174962/vn-thoat-the-ket-o-bien-dong-the-nao-.html
Tuy nhiên, Nhật, Mỹ, Phillipine, EU lại có những phát ngôn ủng hộ quan điểm VN. Mặc dù, trước đây khi Phillipines bị TQ bắt nạt VN cũng chẳng thèm nói gì. Gần đây, Nhật bị TQ khiêu khích, VN cũng chẳng thèm nói sao. Đã vậy còn nói tao chẳng cần liên kết liên minh quân sự với ai với chống ai.
Bây giờ thì rõ như ban ngày ai tốt ai đểu!
Hôm nay, Bộ Quốc phòng làm việc với Cảnh sát Biển về hoạt động chấp pháp Sáng nay (10.5), Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung đã có buổi làm việc nghe báo cáo các hoạt động chấp pháp trên biển của lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam từ đầu quý 2 đến thời điểm này.http://danviet.vn/thoi-su/hom-nay-bo-quoc-phong-lam-viec-voi-canh-sat-bien-ve-hoat-dong-chap-phap/20140510025832779p1c24.htm
>> Đụng độ tàu Trung Quốc, thêm 3 kiểm ngư Việt Nam bị thương
>> MV ngàn người hát về Trường Sa chạm sâu vào cảm xúc hàng triệu trái tim Việt
>> Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển VN: Chi phí kiện từ 10 đến 20 triệu USD
Lực lượng Cảnh sát Biển Việt Nam là lực lượng bao quát kiểm soát các hoạt động thực thi pháp luật trên phạm vi lãnh hải Việt Nam cũng như các hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ môi trường trên biển khi có các sự cố xảy ra.
Theo báo cáo của Cảnh sát Biển Việt Nam, liên tục từ đầu năm đến nay, đặc biệt là thời gian thuộc quý II này, có rất nhiều hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam xảy ra tại khu vực Vịnh Bắc Bộ liên quan đến đánh bắt, khai thác thủy sản trên biển.
Đặc biệt, những ngày đầu tháng 5 cho đến lúc này, tại khu vực Tây Nam đảo Tri Tôn của quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, phía Trung Quốc đang cho giàn khoan thăm dò di động đến đặt tại vị trí thuộc thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Trên không còn có các máy bay trinh sát bay rất thấp và phía Bắc quần đảo Hoàng Sa, hiện đang có 11 tàu quân sự khác đang thực hiện các hoạt động diễn tập phối hợp và hỗ trợ chi viện xuống khu vực giàn khoan di động.
Các tàu của Trung Quốc hiện đang tạo ra tình hình rất căng thẳng khi sử dụng vòi rồng áp lực mạnh phun nước vào các tàu Cảnh sát Biển, tàu Kiểm ngư của Việt Nam đang làm nhiệm vụ. Các tàu của Trung Quốc thường trực bố trí đội hình 5 tàu khác nhau để cản trở mỗi tàu Cảnh sát Biển Việt Nam, lực lượng Kiểm Ngư mỗi tàu cũng bị 2 tàu của Trung Quốc theo sát và sẵn sàng va chạm gây nguy hiểm hoặc các hình thức khác.
Việc tiếp cận với giàn khoan của Trung Quốc để yêu cầu di dời là không dễ dàng,
Các lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam hiện vẫn tiếp tục nhiệm vụ, túc trực thường xuyên với số lượng 31 tàu. Ngoài hoạt động xua đuổi được thực hiện, còn liên tục thông báo hành vi xâm phạm chủ quyền trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để các tàu của Trung Quốc ý thức rõ hành vi xâm phạm sai trái của mình.
Theo VTV
David Brown
Vũ Thị Phương Anh dịch từ ASean Sentinel
Theo FB Vũ Thị Phương Anh
Bắc Kinh vừa đưa một dàn khoan nước sâu vào vùng biển của Việt Nam.
Chế độ Cộng sản Việt Nam đã hy vọng rằng cách hành xử tôn kính của họ đối với TQ có thể làm dịu đi tham vọng thôn tính biển Đông của gã láng giềng khổng lồ phương Bắc này. Nhưng với việc đưa dàn khoan nước sâu HD-981 vào thăm dò khai thác dầu khí ở ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, Bắc Kinh đã đập tan hy vọng này và đặt Hà Nội vào một tình thế vô cùng khó xử.
Trong giai đoạn 2009-2011, Việt Nam đã từng là quốc gia đưa ra những lời phê phán mạnh mẽ nhất đối với tuyên bố chủ quyền của TQ đối với hầu hết Biển Đông, khi Hà Nội đang hy vọng sẽ tập hợp được một mặt trận thống nhất từ Hiệp hội các nước Đông Nam Á với sự hỗ trợ (ít nhất là một cách ngấm ngầm) bởi sức mạnh hải quân Mỹ. Sự miễn cưỡng của cộng đồng của ASEAN trong việc thách thức Trung Quốc đã khiến Mỹ không có được một nền tảng cần có cho một chính sách mạnh mẽ trong khu vực Biển Đông. Washington cũng chưa bao giờ tỏ ra mặn mà với việc cung cấp sự bảo đảm về mặt phòng thủ cho những nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông khác với Trung Quốc, kể cả đối với người đồng minh mà nó đã ký hiệp ước phòng thủ là Manila.
Trong hoàn cảnh như vậy, một thái độ nhún nhường dù ḳhôṇg được người dân ủng hộ, dường như là lựa chọn có thể xoa dịu được Bắc Kinh và tạo ra được sự kiềm chế. Đặc biệt từ khi chính phủ mới của Tập Cận Bình lên nắm quyền, các nhà lãnh đạo VN đã hết sức nỗ lực để cải thiện mối quan hệ với gã hàng xóm thô lỗ của mình.
Vào những năm 2012 và 2013, khi TQ "thực thi chủ quyền" của mình trên các rạn san hô trong vùng biển Philippines, phản ứng của HN là hoàn toàn im lặng. Khi TQ cử một đội tàu nhỏ để cắm cờ TQ trên bãi James ở phía Đông Mã Lai, VN cũng không hề lay chuyển. Khi tàu hải giám của TQ đuổi ngư dân VN ra khỏi ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa, đường dây nóng giữa Hà Nội và Bắc Kinh chẳng thấy vang lên lời phản đối nào. Khi căng thẳng bùng lên giữa Nhật Bản và TQ về quần đảo Điếu Ngư, Hà Nội vẫn khăng khăng giữ thái độ hoàn toàn im lặng. Khi Manila yêu cầu HN cùng tham gia khởi kiện TQ lên Tòa án Công lý quốc tế, Hà Nội đã hoàn toàn né tránh.
Trong hai năm qua, chỉ có hai sự kiện - cả hai đều diễn ra vào tháng Tám năm 2012 - đã khiến Hà Nội để lộ ra cơn thịnh nộ của mình. Đầu tiên là việc Công ty quốc gia khai thác dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc (Chinese National Offshore Oil, CNOOC) đã gửi lời mời đến các công ty dầu khí nước ngoài để chào giá thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi ở vùng bờ biển miền Trung Việt Nam. Thứ hai là việc thành lập "Thành phố Tam Sa" của Bắc Kinh trên một đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa làm trung tâm hành chính và quân sự cho sự hiện diện ngày càng tăng của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Trong suốt thời gian hai năm đó, bất kỳ lúc nào hoàn cảnh cho phép thì các nhà lãnh đạo Việt Nam đều đã không bỏ lỡ cơ hội tán dương mối quan hệ hợp tác anh em với các đối tác Trung Quốc. Hà Nội dường như đã lý luận rằng tình trạng hòa hoãn tương đối giữa hai nước là hoàn toàn có thể,một khi Tập Cận Bình và và nhóm thân cận của ông ta đã hoàn toàn thực sự nắm được các đòn bẩy quyền lực.
Trong thời gian chuẩn bị cho việc chuyển giao thế hệ tại Bắc Kinh, những kẻ theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn ở Trung Quốc đã rất gay gắt trong việc kích động chống Việt Nam.Rõ ràng là Hà Nội đã hy vọng rằng sau khi đã nắm được quyền lực ở trung ương, Tập Cận Bình và các cộng sự của ông ta sẽ ra lệnh cho cấp dưới giảm bớ việc tuyên truyền chống Việt Nam và tránh những hành động khiêu khích. Hoàn toàn tin tưởng vào điều này, các cơ quan an ninh nội bộ của Việt Nam đã gia tăng đàn áp các blogger bất đồng chính kiến; đây là một cử chỉ để chứng tỏ với Bắc Kinh, nhưng đã không có tác dụng dập tắt những lời chỉ trích của công chúng đối với chính sách “nhu nhược” của chế độ trước Trung Quốc.
Tại Hội nghị Shangri La vào tháng Chín năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi Trung Quốc và các thành viên khác hợp tác để "xây dựng lòng tin chiến lược." Tài hùng biện của ông Dũng đã được nhiệt liệt hoan nghênh nhưng, giờ đây khi dàn khoan HD-981 đã thả neo trong khu vực 120 km ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, liệu có quốc gia nào trong danh sách dài các đối tác của Hà Nội có hành động gì ngoài các lời nói đầu môi trước sự phản đối của Việt Nam?
Những lựa chọn khó khăn cho Hà Nội
Tin tức về việc triển khai dàn khoan nước sâu của TQ đã nổ ra vào ngày 4/5, khi một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối lời cảnh báo thường kỳ của Cục Quản lý an toàn hàng hải của Trung Quốc. Một bản đồ được cung cấp bởi công ty dầu khí của nhà nước, công ty PetroVietnam, cho thấy một chiếc tàu của CNOOC đang ở vị trí khoảng 34 km về phía nam của đảo Tri Tôn, hòn đảo nằm ở ngoài cùng ở phía tây nam trong quần đảo Hoàng Sa, và cách 221 km ở phía đông của đảo Lý Sơn (trớ trêu thay, đây chính là nơi Việt Nam có Hạm đội với thâm niên vài trăm năm nuôi trồng, đánh bắt hải sản ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa).
Việc triển dàn khoan HD-981 là "bất hợp pháp và vô giá trị", phát ngôn viên của Việt Nam đã tuyên bố, và nói thêm rằng vị trí này là hoàn toàn nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.
Không phải như vậy, Bắc Kinh nói. Địa điểm đặt dàn khoan là "hoàn toàn nằm trong vùng biển của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc."
Hà Nội bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, một nhóm đảo nhỏ và các rạn san hô nằm rải rác về phía nam của đảo Hải Nam và phía đông của miền Trung Việt Nam. Bắc Kinh đã đánh bại các đơn vị đồn trú đóng trên một số quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (chế độ Sài Gòn) vào năm 1974 và kể từ đó nó đã thực hiện ngày càng chặt chẽ việc kiểm soát trên thực tế trên quần đảo này và vùng biển lân cận.
Quần đảo Hoàng Sa mà TQ đã chiếm đóng vẫn không đủ để cho phép TQ mở rộng vùng đặc quyền kinh tế, xét theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Tuy nhiên, bất kỳ bãi đá nào không bị ngập khi thủy triều lên cũng có thể "tạo ra" vùng lãnh hải 12 hải lý tính từ bờ biển của nó. Vị trí khoan là 18,5 hải lý tính từ đảo Tri Tôn. Do đó nó sẽ không nằm trong "lãnh hải của Trung Quốc" ngay cả khi tuyên bố của Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa được coi là hợp lệ.
Theo báo cáo của Trung Quốc, dàn khoan nặng 31.000 tấn và trị giá 1 tỷ USD của CNOOC sẽ duy trì ở vị trí hiện nay đến tháng Tám. Ra mắt vào năm 2011, cho đến nay dàn khoan HD-981 được báo cáo là đã thực hiện khoan thăm dò ngoài khơi từ Hồng Kông. Dàn khoan này có khả năng khoan xuống đáy biển ở độ sâu đến 3.000 mét. Bản đồ Việt Nam cho thấy rằng vị trí khoan mới là ít hơn 1.000 mét dưới mực nước biển.
Cũng theo truyền thông Trung Quốc ngày 6 /5, tàu cảnh sát biển Việt Nam đã "can thiệp" vào các hoạt động của dàn khoan. Chẳng còn nghi ngờ nữa, các tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc cũng đã được đưa đến khu vực này. Cả hai quốc gia cũng có thể triển khai các tàu hải quân và không lực để bảo vệ các lực lượng bán quân sự của họ.
Việc triển khai dàn khoan HD-981 của TQ do đó đang đặt ra một tình thế khó xử và đau đầu cho Hà Nội. Tương tự như sự can thiệp của Trung Quốc cách đây ba năm đối với tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam, việc Trung Quốc đề nghị đấu giá lô thăm dò dầu khí trong vùng EEZ của Việt Nam và những nỗ lực đôi khi thành công của TQ trong việc đe dọa các công ty dầu mỏ nước ngoài, hành động khiêu khích mới nhất này đang đe dọa không chỉ làm nhục mà còn gây ra những thiệt hại kinh tế thực sự cho Việt Nam.
Không giống như quân đội Philippines, lực lượng vũ trang của Việt Nam là một sự cản trở đáng kể đối với TQ. Không ai nghi ngờ về lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của quân sĩ và thủy thủ Việt Nam, những người đã thừa kế một thiên niên kỷ những kinh nghiệm chiến đấu thành công chống quân xâm lược, mà đặc biệt là từ Trung Quốc. Hơn nữa, trong những năm gần đây Hà Nội cũng đã thực sự nỗ lực hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân của mình. Họ có khả năng thực hiện một số trận đánh, thậm chí có thể là nhiều trận, với Trung Quốc.
Trung Quốc dường như đang rất muốn làm nhục Hà Nội, hoặc ngược lại, kích động để Việt Nam tấn công. Việc theo đuổi chính sách bá quyền ở khu vực Biển Đông, được mô tả rất đúng là chiến lược "vừa đánh vừa đàm”, cho đến nay vẫn luôn đặc biệt thành công. Bắc Kinh dường như đang muốn tạo ấn tượng với dư luận thế giới, chứ không hề né tránh nó. Bị kích thích bởi các phương tiện truyền thông cổ vũ cho chủ nghĩa dân túy, người dân Trung Quốc đang sôi sục muốn tiến hành một cuộc chiến tranh.
Việc triển khai dàn khoan HD-981 đã tạo ra một tình huống xấu dễ dàng có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thực sự. Chỉ Bắc Kinh mới có thể làm dịu tình hình - và chỉ khi nó có quan tâm.
Nguồn:
http://www.asiasentinel.com/econ-business/vietnam-gamble-appeasement-south-china-sea/
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140509/thomas-l-friedman-neu-la-mot-bo-dua-ban-khong-the-bi-be-gay.aspx
* VTC: Trung Quốc đang đưa một giàn khoan vào vùng biển Việt Nam. Là một nhà báo, ông có thể bình luận gì về ứng xử của Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian vừa qua?
- Tôi đã cố tìm hiểu vấn đề này. Nhưng tình cờ tôi đã ở Ukraine 2 tuần trước và sau đó đến Việt Nam. Rất thú vị. Vì cả Ukraine và Việt Nam đều là 2 quốc gia trung bình nằm cạnh một nước rất lớn.
Ukraine sống cạnh một con gấu khổng lồ. Việt Nam sống cạnh một con hổ lớn. Con gấu nói với Ukraine: Hãy cưới anh, hãy cưới anh, không thì anh sẽ giết em. Và con hổ lớn nói với Việt Nam: Bình sữa này quá ngon, anh sẽ uống của anh và cả của em. Có một sự tương đồng nào đó trong 2 trường hợp này. Và cũng rất thú vị, Nga đã sử dụng “little green men” - lực lượng dân sự tràn ngập Ukraine. Và Trung Quốc sử dụng “tàu dân sự” - rất mới. Chúng ta phải phản ứng ra sao, quả là thử thách với cộng đồng quốc tế với 2 quốc gia đang lên này.
Tôi chỉ có thể trích dẫn một ngạn ngữ xưa của chính các bạn, nếu chỉ có 2 cây đũa, rất dễ bị bẻ gãy, nhưng nếu bạn có một bó đũa, rất khó để bẻ gãy. Cách duy nhất để kìm chế được các sức mạnh đang lên là sử dụng liên minh các quốc gia trong vùng để cân bằng lại.
* Thanh Niên Online: Vậy ngoài các liên minh vùng ra, liệu còn nhân tố nào mà nước nhỏ như Việt Nam có thể tìm kiếm lợi ích trong các mâu thuẫn này không?
- Không. Không có cách nào khác! Việt Nam cần một đòn bẩy. Việt Nam chỉ có thể gia tăng sức lên cái đòn bẩy đó.
* Thanh Niên Online: Có quốc gia nhỏ nào đã thành công trong việc ứng xử trước mâu thuẫn với nước lớn không?
- Ukraine là một hình mẫu tốt. Ukraine tạo ra một liên minh với Mỹ, tạo ra một lực đẩy tác động trở lại Nga.
* HTV: Trong chương 14 về lý thuyết Dell ngăn ngừa xung đột, ông có chỉ ra: “Những nước gắn kết tương lai và kinh tế của mình vào hội nhập và thương mại toàn cầu, họ sẽ kiềm chế gây chiến với các nước láng giềng”. Xin cho chúng tôi biết việc gắn kết hội nhập của một nước như Việt Nam khi đang ở bên cạnh một láng giềng lớn như Trung Quốc?
- Hãy để tôi trả lời câu hỏi này dựa vào trường hợp của Ukraine. Sau khi Crimea trở thành một phần của Nga, Tổng thống Obama làm gì? Ông áp lệnh cấm vận kinh tế 25 người là doanh nhân và chính khách Nga. Chỉ có 25 người, cỡ như căn phòng này thôi. Có rất nhiều lời chỉ trích tại sao Obama chỉ cấm vận 25 người trong khi Nga đang “ăn” cả Crimea.
Chuyện gì xảy ra trong thế giới phẳng? 60 tỉ USD đã biến mất khỏi Nga chỉ trong quý I năm nay, còn nhiều hơn cả năm 2013 cộng lại, chỉ cần cấm vận 25 người. Thế giới không chỉ liên kết với nhau mà còn là siêu liên kết. Vì thế chỉ cần cấm vận 25 người, thị trường chứng khoán Nga sụp đổ. Đồng rúp mất giá 8%. 60 tỉ USD ra đi. Hôm qua người Nga đã rút quân khỏi biên giới.
Toàn cầu hóa không sai. Toàn cầu hóa không thể ngăn những lãnh đạo hay các quốc gia khỏi làm chuyện điên rồ. Con người vẫn sẽ làm những hành động tôn giáo cực đoan, vẫn có những hành vi chính trị điên rồ trong thế giới toàn cầu hóa này. Nhưng nếu một quốc gia làm chuyện điên rồ trong toàn cầu hóa, cái giá họ phải trả luôn lớn hơn họ nghĩ. Và cái giá phải trả sẽ đến nhanh không tưởng nổi đâu. Tôi tin đó là bài học bất cứ sức mạnh, chính phủ nào cũng phải học.
* Cảm ơn ông!
Mơ giữa ban ngày bạn ạ. Nga và TQ đang chuyển vị trí tập trận về biển Đông kia kìa. Nga và TQ hiện nay là 2 nước duy nhất trên thế giới này còn có tham vọng bá quyền về lãnh thổ. Các nước phương Tây đã tiến lên xã hội văn minh rồi mà 2 nước này vẫn tham lam lãnh thổ. Chỉ khổ những nước nhỏ như VN, UKraine thôi.
Năm 1979 TQ đánh VN khiến ĐCSVN lần đầu tiên thực sự muốn thoát khỏi vòng kim cô TQ. Trong cái rủi có cái may, nhờ vụ chiếm Hoàng Sa 1974 và cuộc chiến biên giới 1979 giúp lãnh đạo Đ nhận ra bản chất tham lam của TQ nên đã thoát ảnh hưởng của TQ lần 1. Không giống như Bắc Triều Tiên, TQ và BTT ko có mâu thuẫn gì từ sau chiến tranh triều tiên nên bây giờ TT mới thành anh Chí Phèo và nhân dân TT mới khổ cực như vậy. Giá như sau năm 1979 Đ cho rút quân ngay khỏi Cam, bắt tay với phương Tây thì cú thoát Trung đã trọn vẹn và ngoạn mục. Giá như năm 1979 ĐCSVN ko có khối XHCN chống lưng thì VN hẳn sẽ khác rồi. Năm 1991 LX sụp đổ, ĐCSVN sợ mất quyền lãnh đạo, ko còn ai chống lưng nên buộc phải chơi lại với thằng tham lam TQ với những mặc cả Thành Đô thua thiệt nào đó vì ko còn lựa chọn nào khác mặc dù chúng vừa chiếm 1 số đảo ở Trường Sa của VN năm 1988.
Kể từ hội nghị Thành Đô VN ngày càng bị siết chặt vòng kim cô. Chúng thôn tính dần dần, từ kinh tế chính trị xã hội...mọi mặt.
Sự việc ngày hôm nay là kết quả của những tính toán lâu dài của TQ. Nếu TQ làm tới, quyết chiếm cho bằng được biển Đông thì sẽ đẩy ĐCSVN vào thế vô cùng khó khăn. Đánh thì ko giám đánh (chắc chắn rồi), mà ko phản kháng thì sẽ thêm mất lòng tin vào dân có thể dẫn đến mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Điều này TQ cũng ko muốn vì nếu Đ mất quyền lãnh đạo thì kq hội nghị Thành Đô sẽ vứt đi và TQ sẽ mất VN. Nếu lần này xảy ra xung đột chắc chắn đẩy VN ra xa TQ và có thể VN ngả theo Mỹ. TQ ko muốn VN trở thành Myanmar thứ hai đâu. Vì vậy, chắc chắn ko có xung đột quân sự, nhưng nó vẫn chiếm và giữ được phần biển mà chúng vừa đặt giàn khoan này.