Đã pm cho bác tuyetlanh84 nhé, bác có vào đây ngó nghiêng thì nhớ ngó nghiêng cả cái hộp thư :DNhân tiện, có 1 mẹ bận việc gia đình với khách hủy nên em đang còn 1 ít vé cho cặp ngày 8 - 10/7 và 15 - 17/7, ưu tiên mẹ nào hỏi sớm nhé!
VC e định đi trăng mật lần 2 ở sa pa từ tối thứ 6 ngày 15/7 đến tối thứ 2 18/7 về. Có cặp vc nào cùng đi thì đk đi chung cho zui nhé.
Chào mọi người,Mình là sinh viên mới tốt nghiệp đại học năm nay, hôm trước mình đi hiến máu thì có xét nghiệm bị viêm gan B. Mình có tìm hiểu qua thì biết viêm gan B nếu mắc ở tuổi trưởng thành thì 90% sẽ khỏi nên định 6 tháng nữa sẽ đi xét nghiệm lại.Tuy nhiên nếu vẫn bị thì mình muốn hỏi bị viêm gan B thì cơ hội xin việc là thế nào vì mình nghe nói một số nơi không nhận người bị bệnh này ( tuy viêm gan B không lây qua ăn uống cũng như giao tiếp thông thường mà chỉ qua đường máu, tình dục và từ mẹ sang con thôi )Cám ơn mọi người
Mình chưa bao giờ cho bé đến khám ở Viện Huyết học TƯ vì nghĩ đây là bệnh về nội tiết. Bạn có thể nói rõ giúp mình nếu đến đó thì cụ thể sẽ vào khoa nào để khám bệnh? Mìn cảm ơn nhiều.
E đi tản đà 2 lần rồi thấy cũng đc mà nhưng giá ở nhóm mua đắt hơn so với mình tự đi. Cả nhà nghĩ xem đi đâu thì cho e bám càng với ah
hehe còn bao nhiêu vé thế bố nó................ nhóm mình khoảng 7-8 người muốn đi vào t7, cn tuần sau đó. Có gì ll cho mình : 0986668674 nhé
ihi nhóm e cũng đang định đi sâp đây ah. chắc cũng khoảng thời gian đó là đi nhưng bây h mưa gió thế này không bít trên sapa ra sao. e đã có điạ chỉ nhà nghỉ và hàng ăn hết rồi ah nhưng chỉ sợ thơi tiết thui.Nếu mà hôm dó trời đẹp thì có khi nhóm e cung vc a chị lại đi đc cùng nhau đấy ah
Mình cho con tới khám BS Dũng hồi xưa làm ở khoa Nhi bệnh viện Bạch mai vừa về hưu xong , chuyên nhi rất tốt địa chỉ :8 ngõ 67 đường giáp bát làm việc tử 6h tối thôi nhé
Còn nếu bé bị như vậy muốn ha sót thì mẹ nới lỏng quần áo cho bé sau đó dùng khăn ấm lau trán, tay chân và hõm nách, nếu không đỡ hãy dùng thuốc nhé.hạn chế dùng thuốc mẹ nhé
đây là 1 số biểu hiện cảu trẻ mắc bệnh down để mẹ theo dõi nhé:
- Đầu ngắn và bé, gáy rộng và phẳng; cổ ngắn, vai tròn.
- Mặt dẹt, trông ngốc.
- Đôi tai thấp nhỏ, dị thường, kém mềm mại.
- Mắt xếch, mí mắt lộn lên, đôi khi bị lác, nếp gấp da phủ trong mí mắt, mắt hơi sưng và đỏ. Trong lòng đen có nhiều chấm trắng nhỏ như hạt cát và thường mất đi sau 12 tháng tuổi.
- Mũi nhỏ và tẹt.
- Miệng trễ và luôn luôn há, vòm miệng cao, lưỡi dày thè ra ngoài.
- Chân tay ngắn, bàn tay ngắn, to. Các ngón tay ngắn, ngón út thường khoèo. Lòng bàn tay có nếp sâu nằm nghiêng. Bàn chân phẳng, ngón chân chim, ngón cái toè ra; khoảng cách giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai quá rộng. Các khớp khuỷu, háng, gối, cổ chân lỏng lẻo; đôi khi trật khớp háng, trật xương bánh chè.
Ngoài những đặc điểm nói trên, một nửa số trẻ bị Down có những khuyết tật tim bẩm sinh, song phần lớn có thể chữa được và sức khoẻ của trẻ được cải thiện. Các vấn đề về hô hấp, tắc nghẽn đường tiêu hoá sớm ở trẻ sơ sinh và ung thư máu ở tuổi ấu thơ cũng thường gặp. Trẻ bị Down dễ nhạy cảm với các tác nhân nhiễm khuẩn. Nhờ những tiến bộ vượt bậc của y học, ngày nay hầu hết các vấn đề này đã giải quyết được, do vậy tuổi thọ trung bình của những người bệnh Down có thể đạt tới 55 tuổi
Bạn ơi ! Mình cũng đang mắc bệnh viêm gan B.Nhưng mình mắc bệnh cũng mấy năm rồi
Theo mình bạn nên tìm hiểu về bệnh viêm gan B nhé.Theo mình được biết thì các công ty của việt nam vẫn tuyển dụng những người mắc bệnh viêm gan B, chỉ có những công ty của nước ngoài ý thì người ta mới không tuyển những người mắc bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là dân xuất khẩu lao động
Mà mình nói thật bệnh viêm gan B , C, A hiện nay ngươi ta vẫn chưa tìm ra thuốc điều tri đặc hiệu, chỉ có điều tri duy trì thôi bạn ah. Như mình đây mình làm ngành y nên mình biết bệnh cuả mình không thể khỏi được ở thời điểm hiện nay không biết về sau người ta có tìm ra thuốc để điều tri đặc hiệu không.Nhưng hiện nay sức khỏe của mình rất tốt, 6 tháng mình vẫn đi xét nghiệm HBSAg 1 lần, còn chức năng gan SGOT, SGPT thì 1 tháng mình đi kiểm tra 1 lần .ăn uống , ngủ nghỉ, sinh hoạt, làm việc điều độ cũng đã là 1 điều kiện để bệnh của mình thuyên giảm
Mỡ máu cao là gì?
Chứng mỡ máu cao là chỉ hàm lượng chất cholesterol hoặc glycerin trilaurate (trilaurin) trong máu cao hơn trị số tham khảo bình thường. Về việc phán đoán chứng mỡ máu cao ở trẻ em, thực ra hiện nay trên thế giới vẫn chưa định ra được tiêu chuẩn thống nhất. Tuy nhiên, nói chung người ta vẫn lấy tiêu chuẩn chuẩn đoán chứng mỡ máu cao của trẻ trên hai tuổi do Ủy ban chuyên gia Chương trình giáo dục cholesterol Quốc gia Mỹ (NCEP) lập ra năm 1992 làm tiêu chuẩn phán đoán.
Theo tiêu chuẩn này, chuẩn lý tưởng về mỡ máu ở trẻ là tổng cholesterol trong huyết thanh < 4,42 mmol/l, lipoprotein cholesterol khối lượng thấp < 2,82 mmol/l; nếu tổng cholesterol trong huyết thanh >5,20 mmlo/l hoặc lipoprotein cholesterol khối lượng thấp > 3,38 mmlo/l thì đó là chứng mỡ máu cao (lipemia), nằm giữa hai mức kể trên gọi là “trị số giới hạn”, tức dễ chuyển thành chứng mỡ máu cao. Theo tiêu chuẩn này thực tế cho thấy, khi đời sống dân chúng ngày một nâng cao, chế độ dinh dưỡng phong phú thêm thì tỷ lệ mắc chứng mỡ cao ở trẻ em cũng tăng.
Tác hại của chứng mỡ máu cao
Trước hết, đây là hung thủ hàng đầu gây nên xơ vữa động mạch và bệnh tim, tai biến mạch máu não. Tuy loại bệnh này chủ yếu xảy ra ở sau tuổi trung niên nhưng sự thay đổi bệnh lý của nó khiến có chiều hướng xuất hiện ở độ tuổi nhi đồng. Thứ đến, các chứng bệnh như béo phì, gan mỡ, sỏi mật, viêm lá lách cấp tính, đái tháo đường… đều có liên quan trực tiếp với chứng mỡ máu cao.
Tại sao mắc chứng mỡ máu cao? Nguyên nhân phát sinh chứng mỡ máu cao ở trẻ, chủ yếu gồm:
1. Gia tộc có tiền sử bệnh tim mạch, cũng có nghĩa là nếu trong gia tộc từng có người mắc các chứng bệnh như mỡ máu cao, huyết áp cao, bệnh tim mạch… thì đứa trẻ ngay từ rất nhỏ phải cần được quan tâm theo dõi đặc biệt, tốt nhất là định kỳ cho trẻ đi kiểm tra đo mức mỡ máu.
2. Tập quán ăn uống không tốt, thường xuyên ăn uống những thứ có thành phần chất béo cao, giàu năng lượng, giàu protein; thích ăn đồ ngọt, thực phẩm quay rán, thực phẩm thịt gia cầm như gà, ngan, ngỗng, vịt… lẫn cả da; khoái ăn vặt, không thích ăn rau xanh, hoa quả, không ưa ăn chay…
Hiện có học giả nêu ý kiến, cho rằng đề phòng trị chứng mỡ máu cao ở trẻ em ngoài việc khống chế tổng nhiệt lượng hấp thụ ra còn phải chú trọng tới tỷ lệ chất béo trong khẩu phần ăn, cần phải chọn phương thức ăn uống các loại thực phẩm chất béo thấp, nhất là loại chứa ít axit béo (fatti acid) bão hòa và ít cholesterol (nội tạng động vật và long đỏ trứng gà có hàm lượng cholesterol khá cao); đề nghị năng lượng cung cấp từ axit béo bão hòa (chủ yếu là mỡ động vật) phải nhỏ hơn 10% tổng lượng nhiệt hấp thu từ bữa ăn, lượng cholesterol ăn vào mỗi ngày cần phải ít hơn 300mg (trong mỗi 100g trứng gà có chứa 680mg cholesterol, trong mỗi 100g lòng đỏ trứng gà có chứa 1.705 mg cholesterol)
3. Thói quen lười vận động. Ví như thời gian hoạt động thể lực quá ngắn, hạng mục vận động quá ít…
4. Béo phì và siêu trọng. Béo phì và chứng mỡ máu cao có tương quan mật thiết với nhau bởi vậy phải đặc biệt chú trọng tới hiện tượng béo phì ở trẻ em. Với trẻ em có khả năng phát sinh hiện tượng mỡ máu khác thường cần phải sớm kiểm tra sang lọc, dự phòng kịp thời. Bởi trắc định mỡ máu phải hút mỡ máu từ tĩnh mạch, điều này đối với trẻ em vừa không dễ, vừa dễ gây tâm lý sợ hãi, bởi vậy thường thì các bác sĩ lấy bốn tình hình kể trên làm chỉ tiêu quan sát chung để tiến hành phán đoán.
Ví dụ, ở một cháu nhỏ có xuất hiện 2 hạng mục hoặc trên 2 hạng mục trong 4 hạng mục tình hình kể trên (tiền sử gia tộc dương tính, chế độ ăn uống và dinh dưỡng tùy tiện không khoa học, lười vận động, béo phì và thể trọng quá lớn so với mức chuẩn) thì cần phải tới bệnh viện đo kiểm tra mức độ mỡ máu và sau đó phải phúc tra định kỳ. Điều càng cần quan tâm hơn là, nếu như tồn tại bất kỳ hạng mục nào trong 4 hạng mục kể trên, cho dù hóa nghiệm thấy mức độ máu mỡ không cao cũng cần phải có biện pháp sớm can thiệp tương ứng, thay đổi phương thức và hành vi sinh hoạt không tốt, nếu không thì phát sinh chứng mớ máu cao chỉ là chuyện sớm hay muộn mà thôi.
Dự phòng chứng béo phì và mỡ máu cao ở trẻ em, phải nắm vững 3 thời kỳ mấu chốt sau:
- Thời kỳ thứ nhất là 3 tháng cuối cùng trong thời kỳ mang bầu, phụ nữ mang bầu trong thời kỳ này cần phải đặc biệt chú ý cân bằng bữa ăn, dinh dưỡng hợp lý nhằm tránh thai nhi quá “bụ” tạo nên trẻ béo phì. Hiện nay phổ biến cho rằng, trẻ sơ sinh khống chế thể trọng trong khoảng 3.000 đến 3.500g là tốt.
- Thời kỳ thứ hai là thời kỳ trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh có thể tích dạ dày không lớn, cho con bú mẹ là biện pháp tốt vừa đảm bảo sức khỏe trẻ sơ sinh, vừa khống chế thể trọng của đứa trẻ. Nếu phải nuôi bé bằng sữa bột, phải đặc biệt chú ý về chất lượng sữa, hạn sử dụng và cách pha chế, bón sữa cho trẻ.
- Thời kỳ thứ ba là giai đoạn trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo và tiểu học. Với trẻ sau 3, 4 tuổi, phạm vi hoạt động của chúng tăng lên, chức năng tiêu hóa phát triển hoàn thiện, cộng thêm với sự cuốn hút của quảng cáo đối với các loại đồ ăn thức uống cùng sự cưng chiều quá mức của phụ huynh , rất dễ thành thói quen ăn uống không khoa học (như ăn nhiều đồ ngọt, thường xuyên ăn thịt mỡ và thịt gà vịt lẫn với da, ăn vặt, uống các loại nước giải khát chứa nhiều đường…) truyền hình, trò chơi điện tử…
Ghim chặt trẻ một chỗ, ít hoạt động làm khả năng béo phì ở trẻ tăng lên. Bởi vậy, cả gia đình và nhà trường đều cần phải giáo dục cho trẻ em có thói quen lành mạnh, không tham ăn, năng hoạt động. Điều quan trọng nhất vẫn là tại gia đình, phụ huynh phải khống chế một cách khoa học thể trọng của trẻ. Và khi phát hiện trẻ xuất hiện thói quen xấu phải kịp thời uốn nắn, chắc chắn sẽ cái thiện được sức khỏe cả cuộc đời của trẻ.
Bệnh viện này chuyên các bệnh vể máu , bệnh nội tiết. nói chung là bv điều trị hết mà nhưng chuyên khoa chính là bệnh về máu.Nếu mới tới lần đầu thị bạn cho cháu vào khoa khám bệnh của bênh viện để các bác sỹ khám cho cháu và sau khi có kết luận thì người ta sẽ làm thủ tục cho cháu nhập viện để điều trị hoặc điều trị ngoại trú đó điều do tình hình sức khỏe và bệnh của con bạn .Bác sỹ sẽ tư vấn cho bạn
- Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.
- Bệnh tay-chân-miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
- Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Lâm sàng:
1.1. Triệu chứng lâm sàng:
a) Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.
b) Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.
c) Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:
- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi.
- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm.
- Sốt nhẹ.
- Nôn.
- Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.
- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.
d) Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.
1.2. Các thể lâm sàng:
- Thể tối cấp: Bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê co giật dẫn đến tử vong trong vòng 48 giờ.
- Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình như trên.
- Thể không điển hình: Dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.
2. Cận lâm sàng:
2.1. Các xét nghiệm cơ bản:
- Công thức máu: Bạch cầu thường trong giới hạn bình thường.
- Protein C phản ứng (CRP) (nếu có điều kiện) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L).
2.2. Các xét nghiệm theo dõi phát hiện biến chứng:
- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi.
- Khí máu khi có suy hô hấp
- Troponin I, siêu âm tim khi nhịp tim nhanh ≥ 150 lần/phút, nghi ngờ viêm cơ tim hoặc sốc.
- Dịch não tủy:
+ Chỉ định chọc dò tủy sống khi có biến chứng thần kinh.
+ Xét nghiệm protein bình thường hoặc tăng nhẹ, số lượng tế bào trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Trong giai đoạn sớm có thể tăng bạch cầu từ 100-1000 bạch cầu/mm3, với tỉ lệ đa nhân chiếm ưu thế.
- Chụp cộng hưởng từ não: Tổn thương tập trung ở thân não. Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh.
2.3. Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân do EV71 hay Coxsackievirus A16.
3. Chẩn đoán xác định: Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học.
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.
- Lâm sàng: Sốt kèm theo phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.
- Xét nghiệm xác định có vi rút gây bệnh.
4. Chẩn đoán phân biệt:
4.1. Các bệnh có biểu hiện loét miệng:
Viêm loét miệng (áp-tơ): Vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát.
4.2. Các bệnh có phát ban da:
- Sốt phát ban: hồng ban xen kẽ ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai.
- Dị ứng: hồng ban đa dạng, không có phỏng nước.
- Viêm da mủ: Đỏ, đau, có mủ.
- Thuỷ đậu: Phỏng nước nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.
- Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: mảng xuất huyết hoại tử trung tâm
- Sốt xuất huyết Dengue: Chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.
4.3. Viêm não-màng não:
- Viêm màng não do vi khuẩn
- Viêm não-màng não do vi rút khác
5. Biến chứng:
5.1. Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não.
- Rung giật cơ (myoclonic jerk): Từng cơn ngắn 1-2 giây, chủ yếu ở tay và chân, trong cơn trẻ vẫn còn ý thức.
- Ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược.
- Yếu liệt chi (liệt mềm cấp).
- Liệt dây thần kinh sọ não.
- Co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn.
5.2. Biến chứng tim mạch, hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch.
- Mạch nhanh > 150 lần/phút.
- Thời gian đổ đầy mao mạch chậm trên 3 giây.
- Da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh.
- Giai đoạn đầu có huyết áp tăng (HA tâm thu: trẻ dưới 2 tuổi ≥ 115 mmHg, trẻ trên 2 tuổi ≥ 120 mmHg), giai đoạn sau mạch, huyết áp không đo được.
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, thở rít thanh quản, thở không đều.
- Phù phổi cấp: Sùi bọt hồng, khó thở, tím tái, phổi nhiều ran ẩm.
Da nổi vân tím, vã mồ hôi, chi lạnh.
- Giai đoạn đầu có huyết áp tăng (HA tâm thu: trẻ dưới 2 tuổi ≥ 115 mmHg, trẻ trên 2 tuổi ≥ 120 mmHg), giai đoạn sau mạch, huyết áp không đo được.
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, thở rít thanh quản, thở không đều.
- Phù phổi cấp: Sùi bọt hồng, khó thở, tím tái, phổi nhiều ran ẩm.
6. Phân độ lâm sàng:
6.1. Độ 1: Chỉ loét miệng và/hoặc tổn thương da.
6.2. Độ 2: Biến chứng thần kinh hoặc tim mạch mức độ trung bình.
Rung giật cơ: Kèm theo 1 trong các dấu hiệu sau:
- Đi loạng choạng.
- Ngủ gà.
- Yếu liệt chi.
- Mạch nhanh >150 lần/phút (khi trẻ nằm yên và không sốt).
- Sốt cao ≥ 39o5C (nhiệt độ hậu môn).
6.3. Độ 3: Biến chứng nặng về thần kinh, hô hấp, tim mạch.
- Co giật, hôn mê (Glasgow < 10 điểm).
- Khó thở: Thở nhanh, rút lõm ngực, SpO2 < 92% (không oxy hỗ trợ).
- Mạch nhanh >170 lần/phút hoặc tăng huyết áp.
6.4. Độ 4: Biến chứng rất nặng, khó hồi phục
- Phù phổi cấp.
- Sốc, truỵ mạch.
- SpO2 < 92% với oxy qua gọng mũi 6 lít/phút.
- Ngừng thở.
III. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc điều trị:
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm).
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.
2. Điều trị cụ thể:
2.1. Độ 1: Điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở.
- Dinh dưỡng đầy đủ theo tuổi. Trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ.
- Hạ sốt khi sốt cao bằng Paracetamol liều 10 mg/kg/lần (uống) mỗi 6 giờ hoặc lau mát.
- Vệ sinh răng miệng.
- Nghỉ ngơi, tránh kích thích.
- Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 5-10 ngày đầu của bệnh
- Dặn dò dấu hiệu nặng cần tái khám ngay:
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Thở nhanh, khó thở.
+ Rung giật cơ, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ.
+ Co giật, hôn mê.
+ Yếu liệt chi.
+ Da nổi vân tím.
- Chỉ định nhập viện:
+ Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp (từ độ 2).
+ Sốt cao ≥ 39oC.
+ Nôn nhiều.
+ Nhà xa: không có khả năng theo dõi, tái khám.
2.2. Độ 2: Điều trị nội trú tại bệnh viện huyện hoặc tỉnh
- Điều trị như độ 1.
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút khi có thở nhanh.
- Chống co giật: Phenobarbital 10 mg/kg/lần tiêm bắp hay truyền tĩnh mạch. Lặp lại sau 6-8 giờ khi cần.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, mạch mỗi 4- 6 giờ.
- Đo độ bão hòa oxy SpO2 và theo dõi mạch liên tục (nếu có máy).
2.3. Độ 3: Điều trị nội trú tại bệnh viện tỉnh hoặc bệnh viện huyện nếu đủ điều kiện.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút. Đặt nội khí quản giúp thở sớm khi thất bại với thở oxy.
- Chống phù não (xem điều trị biến chứng).
- Chống co giật: Phenobarbital 10-20mg/kg pha trong Glucose 5% truyền tĩnh mạch trong 30- 60 phút. Lặp lại 8-12 giờ nếu cần.
- Hạ đường huyết: Glucose 30% 2 ml/kg/lần, lặp lại khi cần.
- Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm.
- Dobutamin được chỉ định khi suy tim mạch > 170 lần/phút, liều khởi đầu 5µg/kg/phút truyền tĩnh mạch, tăng dần 1-2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có cải thiện lâm sàng; liều tối đa 10µg/kg/phút.
- Immunoglobulin (nếu có).
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, tri giác, ran phổi, SpO2, mỗi 1- 2 giờ.
2.4. Độ 4: Điều trị nội trú tại bệnh viện trung ương, hoặc bệnh viện tỉnh, huyện nếu đủ điều kiện.
- Xử trí tương tự độ 3.
- Điều trị biến chứng (xem phần điều trị các biến chứng).
3. Điều trị các biến chứng:
3.1. Phù não:
- Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
- Thở oxy qua mũi 1- 4 lít/phút. Đặt nội khí quản sớm để giúp thở khi SpO2 < 92% hay PaCO2 > 50 mmHg.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25-35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90-100 mmHg.
- Hạn chế dịch: tổng dịch bằng 1/2-3/4 nhu cầu bình thường.
3.2. Sốc: Sốc do viêm cơ tim hoặc tổn thương trung tâm vận mạch ở thân não.
- Thở oxy qua mũi 3-6 lít/phút.
- Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung ương.
- Truyền dịch Natri clorid 0,9% hoặc Ringer lactat: 5 ml/kg/15 phút, điều chỉnh tốc độ theo hướng dẫn CVP và đáp ứng lâm sàng. Trường hợp không có CVP cần theo dõi sát dấu hiệu quá tải, phù phổi cấp.
- Dopamin là thuốc được chọn lựa, liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 10 µg/kg/phút. Trường hợp không đáp ứng với Dopamin phối hợp Dobutamin liều khởi đầu 5µg/kg/phút, tăng dần 1- 2,5µg/kg/phút mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 20 µg/kg/phút.
3.3. Suy hô hấp: Suy hô hấp do phù phổi cấp, hoặc viêm não.
- Thông đường thở: hút sạch đờm rãi.
- Thở oxy 3- 6 lít/phút, duy trì SpO2 > 92%.
- Đặt nội khí quản nếu có cơn ngừng thở hoặc thất bại với thở oxy.
- Thở máy: Tăng thông khí giữ PaCO2 từ 25- 35 mmHg và duy trì PaO2 từ 90- 100 mmHg.
3.4. Phù phổi cấp:
- Ngừng ngay dịch truyền nếu đang truyền dịch.
- Dùng Dobutamin liều 5-20 µg/kg/phút.
- Furosemide 1-2 mg/kg/lần tiêm tĩnh mạch chỉ định khi quá tải dịch.
4. Immunoglobulin (nếu có):
- Chỉ định từ độ 2 và độ 3.
- Liều: 1g/kg/ngày truyền tĩnh mạch trong 6- 8 giờ x 2 ngày liên tiếp.
- Riêng độ 2 cần đánh giá lại lâm sàng trước chỉ định liều thứ 2. Không dùng liều 2 nếu lâm sàng cải thiện tốt.
5. Kháng sinh:
- Kháng sinh không có chỉ định trong bệnh tay-chân-miệng.
- Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm.
- Có thể dùng các kháng sinh sau đây:
+ Amoxicillin
+ Cephalosporin thế hệ 3:
Cefotaxim 200 mg/kg/ngày chia 4 lần (tĩnh mạch)
Hoặc Ceftriaxon 100 mg/kg/ngày chia 1-2 lần (tĩnh mạch)
IV. PHÒNG BỆNH
1. Nguyên tắc phòng bệnh:
- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu.
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.
2. Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:
- Cách ly theo nhóm bệnh.
- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc.
- Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2%.
- Xử lý chất thải theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá.
3. Phòng bệnh ở cộng đồng:
- Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt).
- Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà.
- Lau sàn nhà bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B 2%.
- Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh.
GỬI NGÀN LỜI CHÚC TỚI CON MẸ MONG CON SỚM KHỎI BỆNH
Mình thành thật chia buồn với vợ chồng bạn
Nếu bạn muốn biết địa chỉ bỏ thai an toàn thì gọi điện cho mình , Mình sẽ giúp