Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Đặt tên cho con yêu năm Nhâm Thìn 2012
Tks mẹ nó nhiều.
Nhưng 2 cái tên này mẹ cháu cũng k hoàn toàn ưng ý lắm. Hay là nhờ mẹ nó xem hộ mẹ cháu có cái tên nào có đệm là Tuệ giống như con gái đầu mà lại hợp phong thủy có được k?

:(( mẹ nó quên e à? e đang ngồi lót dép đợi cmt của mẹ nó đây ạ. cố gắng giúp nhà e với nhé. tks mẹ nó nhiều nhiều. tặng hoa cho mẹ nó nài @};-@};-@};-@};-@};-@};-@};-@};-@};-
03:03 CH 12/03/2012
Đặt tên cho con yêu năm Nhâm Thìn 2012
Gần đây, E đang đọc 1 quyển sách đặt tên theo ngũ cách- Thử áp dụng luôn với cái tên: Trương Phúc Minh luôn nhá.
Trương Phúc Minh 張 ( 11 nét ) 福 ( 14 nét ) 明 ( 8 nét ).
Thiên Cách ( Vận thế tổ tiên truyền lại ) 12 Mộc ( Hung ): số gia đình cô đơn, ý chí yếu mềm.
Nhân Cách ( Vận mệnh chung, ảnh hưởng đến cả đời ) 25 Thổ ( Cát ): số cương nghị, thông minh
Địa Cách ( Tiền vận, ảnh hưởng trước 36 tuổi ) 22 Mộc ( Hung ): số này có tính cạnh tranh lớn.
Tổng Cách( Hậu vận, ảnh hưởng sau 36 tuổi ) 59 Thủy ( Hung ): số thời vận không tốt, chú ý tránh hỏa hoạn bên ngoài.
Tam tài phối hợp, số lý ám chỉ ( 2- 5- 2 mộc thổ mộc ): có được thành công, nhưng chỉ là thành công nhất thời, dễ lưu vong, tổn thất, gặp nhiều điều phiền muộn, ốm yếu, bất an ( Hung ).
Mọi thông tin mang tính tham khảo

Ui, thế thì lại không được à mẹ nó, híc. Thế mẹ nó thử xem giúp mẹ cháu tên Trương Minh Đăng có được k? Nếu k được, xin mẹ nó cho vài cái tên để nhà cháu chọn được k?
à, mẹ cháu xem cmt của mẹ nó cũng có thắc mắc tí (dù k hiểu giè về cái này đâu :D):
- Thứ nhất là cái Địa Cách: trc 36 tuổi thì tên này k tốt
- Thứ hai là cái Tổng Cách: sau 36 tuổi tên này cũng k tốt
--> thế sao Nhân Cách là vận mệnh chung của tên này lại tốt nhỉ. :-?
Đấy là theo Ngũ cách của mẹ nó, thế theo Ngũ hành thì sao hả mẹ nó :D.
Hihi, mẹ cháu thắc mắc hơi nhiều, mẹ nó giúp mẹ cháu với nhá. Nếu k có thời gian, mẹ nó cho mẹ cháu vài cái tên để mẹ cháu chọn cũng đc nhé. Cảm ơn mẹ nó nhiều nhiều.
Mà sao mẹ nó hay òn lai muộn thế, híc.
02:56 CH 09/03/2012
Đặt tên cho con yêu năm Nhâm Thìn 2012
Theo cách tra ngũ cách này hơi mất thời gian, mẹ nó tham khảo
Trương Vĩ Hữu
Trương Vĩ Nhân

Thiên cách ( Vận thế tổ tiên truyền lại ) 12 mộc : số gia đình cô đơn, ý chí yếu mềm.
Nhân cách ( Vận mệnh chung, ảnh hưởng đến cả đời ) 13 hỏa: trí tuệ, tài năng, nhiều mưu lược.
Địa cách ( Tiền vận, ảnh hưởng trước 36 tuổi ) 6 Thổ : số thiên tướng cát nhân, ổn định dư dả.
Ngoại cách ( linh tinh, chủ về xã giao, trí tuệ, khả năng cảm nhận ) 5 Thổ : số phúc đức viên mãn, phúc lộc trường thọ
Tổng Cách ( Hậu vận, ảnh hưởng sau 36 tuổi ) 17 Kim : số song nhu song hành, vượt qua mọi khó khăn, kiên cường.
Tam tài (mộc hỏa thổ 2-3-6 ): có quý nhân phù trợ, sự nghiệp phát triển thuận lợi, gặt hái được nhiều thành công, cuộc đời bình an, trường thọ, hạnh phúc lý tưởng.

Tks mẹ nó nhiều.
Nhưng 2 cái tên này mẹ cháu cũng k hoàn toàn ưng ý lắm. Hay là nhờ mẹ nó xem hộ mẹ cháu có cái tên nào có đệm là Tuệ giống như con gái đầu mà lại hợp phong thủy có được k?
08:52 SA 09/03/2012
Đặt tên cho con yêu năm Nhâm Thìn 2012
Nhờ mẹ nó cho ý kiến quý báu giúp nhà e với ạ:
- Bố: Trương Đức Thành, 1/5/80 âm lịch;
- Mẹ: Nguyễn Thị Phương, 3/5/83 âm lịch;
- Con gái: Trương Tuệ Minh, 18/1/2010 âm lịch;
- Dự kiến tên e bé dự sinh vào tháng 8/2012 âm lịch (chưa biết trai hay gái) là: Trương Phúc Minh có được k ạ?
Thanks.

Mẹ ntmn123 quên mẹ cháu à, híc.
03:17 CH 06/03/2012
Đặt tên cho con yêu năm Nhâm Thìn 2012
Sơ Lược Nguồn Gốc Những Tên Họ Phổ Biến Nhất Tại Việt Nam: Không phải bất cứ tên họ nào của người Việt cũng là họ của Tàu. Tuy nhiên, đa số tên họ mà người Việt có, đều là họ của người Tàu. Ðiều đó không có nghĩa ta là Tàu, mà chỉ có nghĩa ta đã bắt chước hay bị bắt buộc nhận tên họ của Tàu, vì ảnh hưởng văn hóa, vì các cuộc hôn nhân dị chủng. Sau đây là nguồn gốc các tên họ phổ biến nhất tại Việt Nam. Viết phần này, chúng tôi căn cứ theo tài liệu của Sheau Yeuh J. Chao trong tác phẩm: In Search Of Your Asian Roots - Genealogical Research On Chinese Surnames.

Âu Theo sách Đường Thư Tể Tướng Thế Hệ Biểu, Vô Cương chắt đời thứ 7 của Câu Tiễn được ban cho đất ở núi Âu Dư Sơn để cai trị. Do vậy, một số cháu chắt Vô Cương đã nhận họ Âu và chọn đất Bình Dương, tỉnh Thiểm Tây để cư ngụ, một số khác nhận họ kép Âu Dương vì ở đó có ngọn núi Âu Dương. Dòng họ Âu Dương cư ngụ tại 2 tỉnh Giang Tô và Sơn Đông.
Bùi Theo sách Thông Chí Thị Tộc Lược, ông Bá Khôi, thời vua Đại Vũ nhà Hạ, được ban cho đất ở làng Bùi. Con cháu ông Bá Khôi nhận tên làng Bùi làm tên họ. Dòng họ Bùi ban đầu cư ngụ tại tỉnh Hà Đông, phía đông sông Hoàng Hà.
Cao Theo Quảng Vận, đời Chu, con cháu của Kỷ Thái Công được ban cho nước Cao để cai trị. Cháu chắt đã nhận tên nước Cao làm tên họ. Dòng họ Cao ban đầu cư ngụ tại tỉnh Sơn Đông.
Chu Thời xưa, nước Tàu có nước nhỏ gọi là Chu, do Thái Vương cai trị. Con là Văn Vương nối nghiệp, nhận tên Chu làm tên họ nên gọi là Chu Văn Vương. Ban đầu, dòng họ Chu cư ngụ tại Thiểm Tây, sau lan dần sang Hà Nam.
Cung Theo sách Tính Thị Khảo Lược do Trần Đình Vi viết vào đời nhà Thanh, Huy là con thứ 5 của Hoàng Đế đã sáng chế ra cây cung nên được ban cho đất Trương để cai trị. Con cháu đã nhận chữ Cung và Trương làm tên họ. Theo sách Vạn Tính Thống Phổ, Thúc Cung làm quan đại phu nước Lỗ ở tỉnh Sơn Đông. Cháu chắt đã nhận chữ Cung làm tên họ. Gia tộc họ Cung phát triển ở vùng Sơn Tây. Vào thời Nam Bắc Triều, nhiều họ Cung đổi sang họ Trương để tránh bị bạc đãi.
Quan Theo sách Cổ Kim Tính Thị Biện Chứng, họ Quan do tên chức quan canh gác cung điện nhà Chu. Quan Chí Cơ, giữ chức Đại Phu nước Ngu, là người đầu tiên nhận họ Quan. Dòng họ Quan tập trung nhiều ở tỉnh Sơn Tây là nơi ngày xưa có nước Ngu.
Doãn Ban đầu từ Doãn để chỉ bộ lạc cổ gọi là rợ Nhung. Khi người Nhung cư ngụ trong lãnh thổ Hán, bị đồng hóa thì người Nhung đã nhận tên bộ tộc Doãn làm tên họ.
Dư Theo sách Nguyên Hà Tính Toản của Lâm Bảo, viết vào đời Đường (618-907), người sáng lập họ Dư là Do Dư làm quan đời nhà Tần. Con cháu nhận tên ông làm tên họ. Trong Hán văn, hình dạng chữ Dư và chữ Xa rất giống nhau nên vào đời nhà Đường, vì viết lầm họ Dư ra họ Xa, nên từ đó nước Tàu có thêm họ Xa.
Dương Theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, họ Dương là chi nhánh của họ kép Dương Thiệt, và bắt đầu xuất hiện thời Xuân Thu- Chiến Quốc. Dòng tộc họ Dương ban đầu cư ngụ tại Sơn Tây, sau di chuyển qua Thái Sơn tỉnh Sơn Đông.
Đào Họ Đào bắt nguồn từ chức quan gọi là Đào Chính. Đào Chính là chức quan trông coi việc chế tạo đồ gốm cho cung điện nhà Chu. Người đầu tiên giữ chức quan Đào Chính là ông Ngu, con cháu ông lấy từ Đào làm tên họ. Trong Hán tự, đào có nghĩa là đồ gốm.
Đặng Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Đặng là chi nhánh của họ Mạn. Đặng là tên nước. Cuối đời Thương, con cháu của Kim Thiên Thị được ban cho đất Đặng để cai trị. Do vậy, cháu chắt đã nhận tên Đặng làm tên họ. Dòng họ Đặng cư ngụ tại Hà Nam là nơi xưa kia có nước Đặng.
Đinh Họ Đinh rất phổ biến tại Trung Quốc, theo Vạn Tính Thống Phổ và Thông Chí Thị Tộc Lược được viết vào đời Tống (960-1279), họ Đinh là chi nhánh của họ Khương, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Vào đời nhà Chu, hậu duệ của Hoàng Đế nhận chữ Đinh làm tên họ. Dòng tộc Đinh ban đầu cư ngụ tại tỉnh Sơn Đông.
Đoàn Theo Nguyên Hà Tính Toản, Đoàn là tên của giống dân du mục mà người Hán gọi là rợ Hồ. Khi họ định cư tại đất Hán vào đời hậu Chu (947-950), họ nhận tên Đoàn làm tên họ. Theo sách Sử Ký Ngụy Thế Gia, họ Đoàn là chi nhánh của họ kép Đoàn Can. Đoàn Can là tên ấp nằm trong nước Ngụy và ông tổ của dòng họ này là Đoàn Can Mộc. Dòng họ Đoàn và Đoàn Can ban đầu cư ngụ tại Sơn Tây và Hồ Bắc là nơi xưa kia có nước Ngụy.
Đỗ, Phạm: Theo Nguyên Hà Tính Toản và Lộ Sử, Lưu Luy thuộc dòng Đường Đế Nghiêu. Lưu Luy lập ra nước Đường nay ở Sơn Tây và người ta thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triều đại nhà Chu, Chu Thành Vương chiếm nước Đường. Một người cháu Lưu Luy được cấp đất Đỗ Thành ở Tây An tỉnh Thiểm Tây và được phong tước Đỗ Bá. Do vậy, con cháu nhận tên Đỗ làm tên họ. Đất Đỗ Thành lại bị Chu Tuyên Vương chiếm và con của Đỗ Bá là Đỗ Thấp Thúc chạy sang nước Tấn, được phong chức Sĩ Sư nên đổi họ Đỗ thành họ Sĩ. Đến đời chắt của ông này là Sĩ Hội được ban cho đất Phạm, gọi là Phạm Ấp để cai trị, nên đã đổi họ Sĩ ra họ Phạm. Dòng họ Phạm phát triển mạnh tại tỉnh Sơn Tây.
Giang Theo Nguyên Hà Tính Toản, chắt vua Chuyên Húc là Bá Khôi được ban cho đất Giang Lăng để cai trị. Vào thời Xuân Thu, nước Giang bị nước Sở thôn tính, cháu chắt Bá Khôi đã chọn tên Giang làm tên họ để tưởng nhớ nước Giang.
Giáp Theo Phong Tục Thông, họ Giáp bắt nguồn từ họ kép Giáp Phụ và Giáp Phụ là tên nước.
Hà/Hàn Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Hà có từ đời nhà Tần, là chi nhánh của họ Hàn, thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Người lập nên họ Hà là Hàn An, sống ở nước Hàn nay ở tỉnh Sơn Tây. Khi Tần Thủy Hoàng chiếm nước Hàn, Hàn An trốn sang Giang Tô và đổi thành họ Hà. Dòng họ Hà sinh sống dọc theo sông Dương Tử và sông Hoài chảy qua hai tỉnh Giang Tô và An Huy.
Hoàng Theo Nguyên Hà Tính Toản, Hoàng là tên đất. Chu Vũ Vương cho con cháu Lục Chung đất Hoàng ở Hà Nam để cai trị. Nước Hoàng bị nước Sở Chiếm, con cháu Lục Chung nhận từ Hoàng làm tên họ để tưởng nhớ nước Hoàng.
Hồ Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Hồ thuộc dòng dõi Đế Thuấn, và người lập nên họ Hồ là Hồ Công Mãn. Họ Hồ là chi nhánh của họ Trần. Hồ Công Mãn được Chu Vũ Vương ban cho đất Trần để cai trị. Khi Hồ Công Mãn chết, con cháu lấy họ Hồ để tưởng nhớ người sáng lập nước Trần. Dòng họ Hồ cư ngụ tại Hồ Bắc.
Khổng Họ Khổng thuộc dòng dõi Hoàng Đế, theo Quảng Vận, họ Khổng là chi nhánh của họ Tử. Con của Đế Cốc đã nhận chữ Tử làm tên họ. Đến đời vua Thành Thang (1766-1753 TCN), một người chắt Đế Cốc được giữ chức Thái Ất. Do vậy, con cháu đã phối hợp chữ Tử và Ất, tạo thành chữ Khổng để làm tên họ. Người đầu tiên nhận họ Khổng là Khổng Phú Gia.
Khuất Theo Thượng Hữu Lục và Vạn Tính Thống Phổ, Khuất là tên đất gọi là Khuất Ấp. Con của Chu Vũ Vương được ban cho Khuất Ấp để cai trị. Cháu chắt đã nhận địa danh Khuất làm tên họ. Dòng họ Khuất ban đầu cư ngụ tại Hà Nam.
Khúc Theo Vạn Tính Thống Phổ và Thông Chí Thị Tộc Lược, họ Khúc thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Con của Mục Hầu nước Tấn được ban cho đất gọi là Khúc Ốc. Do vậy, con cháu đã nhận họ Khúc. Dòng họ Khúc cư ngụ tại Thiểm Tây là nơi xưa kia có đất Khúc.
Kiều Theo Nguyên Hà Tính Toản, và Vạn Tính Thống Phổ, họ Kiều là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Ðế. Theo hai sách này, Hoàng Ðế chết, được chôn ở núi Kiều Sơn nên con cháu nhận tên núi Kiều làm tên họ. Dòng dõi họ Kiều cư ngụ tại Sơn Tây.
Lại Theo Tính Thị Khảo Lược, Lại là tên nước thời Xuân Thu. Người nước Lại lấy tên nước làm tên họ. Dòng dõi họ Lại đầu tiên cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
Lâm Theo Lộ Sử và Nguyên Hà Tính Toản, họ Lâm là chi nhánh họ Tử thuộc dòng dõi vua Thành Thang. Người đầu tiên nhận họ Lâm là Tỷ Can. Tỷ Can bị Trụ Vương giết, con Tỷ Can trốn vào rừng. Về sau Chu Vũ Vương ban cho con Tỷ Can đất Bá Lăng, nay ở Hà Bắc và ban cho tên họ Lâm. Dòng họ Lâm ban đầu cư ngụ tại Hà Bắc, sau lan sang Sơn Đông và Hà Nam.
Lê Có 2 tài liệu nói về họ Lê. Theo sách Phong Tục Thông, dưới triều vua Thiếu Hạo (2598-2513 TCN), có nhóm quan gồm 9 người gọi là Cửu Lê. Con cháu các quan này đã nhận chữ Lê làm tên họ. Theo Lộ Sử và Nguyên Hà Tính Toản, Lê là tên nước đời nhà Thương. Khi nhà Thương bị diệt, nước Lê thuộc nhà Chu. Con cháu Đường Đế Nghiêu được phong tước Lê Hầu. Do vậy con cháu đã lấy tên tước Lê làm tên họ. Dòng họ Lê ban đầu cư ngụ tại Sơn Đông là nơi khi xưa có nước Lê.
Lưu Họ Lưu thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Theo sách Thông Chí Tính Tộc Lược, cháu chắt của Đường Đế Nghiêu được ban cho đất Lưu, nay ở tỉnh Hà Bắc để cai trị. Cháu chắt đã nhận tên đất Lưu làm tên họ. Nhưng theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, Lưu là tên huyện. Một người cháu chắt Chu Văn Vương làm quan đại phu, được ban cho đất Lưu Ấp. Con cháu đã nhận tên đất Lưu làm tên họ.
Lương Theo sách Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, họ Lương thuộc thị tộc Doanh. Con của Tần Trọng được ban cho đất Hạ Dương và được phong tước Lương Bá. Cháu chắt Lương Bá nhận tên Lương làm tên họ. Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội Tàu, trong đó có lệnh bắt đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan thành họ Lương.
Lý Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Lý (nghĩa: cây mận) là chi nhánh của họ Lý (nghĩa: thớ thịt). Cả hai họ này có ông tổ chung là Chuyên Húc. Cửu Dao là cháu Chuyên Húc giữ chức Lý Quan tức quan án nên Cửu Dao đổi sang họ Lý (nghĩa: thớ thịt). Đến đời Thương, Lý Trưng phạm tội bị Trụ Vương đuổi khỏi nước và chết, con là Lý Lợi Trinh sống sót nhờ ăn trái cây gọi là Mộc Tử. Để ghi nhớ sự kiện này, ông ghép chữ Mộc và chữ Tử thành chữ Lý( nghĩa: cây mận) để làm tên họ. Dòng họ Lý cư ngụ tại Hà Bắc.
Ma Có 2 tài liệu nói về họ Ma. Theo sách Phong Tục Thông, thì Ma Anh làm quan đại phu nước Tề, con cháu nhận tên Ma làm tên họ. Theo sách Tính Thị Khảo Lược, quan đại phu nước Sở được ban cho đất Ma gọi là Ma Ấp để cai trị. Cháu chắt đã nhận chữ Ma làm tên họ. Dòng họ Ma cư ngụ tại Hà Bắc là nơi xưa kia có nước Ma.
Mã Họ Mã rất phổ thông tại Trung Quốc và đặc biệt đa số người họ Mã theo Hồi Giáo. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Mã là chi nhánh của họ Doanh, thuộc dòng dõi Chuyên Húc. Người sáng lập dòng họ Mã là Triệu Xa. Triệu Xa giữ chức Mã Phục Quân là chức quan trông coi việc thuần thục ngựa cho kỵ binh thời Chiến Quốc. Con cháu Triệu Xa đã nhận tên chức quan Mã làm tên họ. Dòng họ Mã cư ngụ tại vùng Thiểm Tây.
Mạc Theo Tính Thị Khảo Lược, Mạc là tên thành. Vua Chuyên Húc xây Mạc Thành. Cư dân trong Mạc Thành đã lấy chữ Mạc làm tên họ. Dòng họ Mạc cư ngụ nhiều tại Hà Bắc là nơi xưa kia đã xây Mạc Thành. Thuyết thứ hai cho rằng, họ Mạc là do tên chức vụ công quyền: chức Mạc Ngao. Khuất Nguyên của nước Sở giữ chức vụ này nên con cháu đã lấy chữ Mạc làm tên họ.
Mai Theo Đường Thư Tể Tướng Thế Hệ Biểu, họ Mai là chi nhánh của họ Tử. Mai là tên đất. Vào đờI nhà Thương, người anh của Thái Đinh được ban cho đất Mai và được phong tước Mai Bá. Con cháu đã nhận tên đất Mai làm tên họ. Dòng họ Mai cư ngụ tại Hà Nam.
Nghiêm Họ Nghiêm xuất phát từ họ Trang, thuộc dòng tộc Trang Vương nước Sở. Theo Nguyên Hà Tính Toản, khi Trang Vương mất, con cháu đã nhận tên Trang làm tên họ. Theo Tính Thị Khảo Lược, vì tránh tên húy của Hán Minh Đế nên ông Trang Quang đã đổi sang họ Nghiêm. Từ đó nảy sinh dòng họ Nghiêm. Dòng họ này phát triển mạnh tại tỉnh Chiết Giang.
Ngô Vào thời Xuân Thu-Chiến Quốc, phía nam sông Dương Tử là vùng Giang Nam. Vùng này là lãnh thổ của nước Ngô. Theo Thông Chí Thị Tộc Lược, dân chúng nước Ngô đã nhận tên Ngô làm tên họ. Dòng họ Ngô ban đầu cư ngụ tại tỉnh Giang Tô là nơi có nước Ngô. Sau này, người họ Ngô cũng cư ngụ tại Chiết Giang và Sơn Đông.
Nguyễn Theo hai tài liệu Nguyên Hà Tính Toản và Vạn Tính Thống Phổ, đời nhà Thương có nước Nguyễn. Cư dân nước này nhận tên Nguyễn làm tên họ. Nhiều người dòng họ Nguyễn cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam.
Nông Theo Vạn Tính Thống Phổ, họ Nông bắt nguồn từ Thần Nông Thị. Vua Thần Nông dậy dân làm ruộng nên dân chúng nhận tên Nông làm tên họ.
Ông Theo Nguyên Hà Tính Toản và Tính Thị Khảo Lược, họ Ông thuộc dòng Chu Văn Vương. Con Chu Văn Vương là Chu Chiêu Vương được ban cho đất Ông để cai tri. Con cháu đã nhận tên họ Ông. Tại đất Ông có ngọn núi tên là Ông Sơ Dòng họ Ông cư ngụ tại Chiết Giang.
Phạm Xem họ Đỗ.
Phan Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Phan thuộc dòng tộc Chu Văn Vương. Chu Văn Vương cho chắt của mình là Chu Chí Tôn vùng đất gọi là Phan Ấp để cai trị. Con cháu Chí Tôn đã nhận tên Phan làm tên họ. Ban đầu dòng họ Phan cư ngụ tại Thiểm Tây, sau lan ra An Huy và Chiết Giang.
Phó Theo Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo, người sáng lập dòng họ Phó là quan Thừa Tướng của vua Vũ Tính nhà Thương. Ông cư ngụ tại đất Phó Nghiễm, nay là tỉnh Sơn Tây. Con cháu đã nhận tên Phó làm tên họ. Dòng họ Phó cư ngụ tại Hà Bắc và Sơn Đông.
Phùng Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Phùng thuộc dòng dõi Chu Văn Vương. Người con thứ 15 của vua này là Tất Công Cao được ban cho đất Phùng, gọi là Phùng Ấp để cai trị. Con cháu đã nhận tên Phùng làm tên họ. Dòng dõi họ Phùng cư ngụ tại Hà Nam và Sơn Tây.
Quách Theo Tính Thị Khảo Lược, họ Quách có từ đời nhà Hạ. Thời nhà Hạ dân chúng sống trong khu vực có tường lũy bao quanh gọi là Quách. Dân chúng lấy tên Quách làm tên họ. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Quách là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Con thứ tư của Chu Văn Vương được ban cho đất Quách để cai trị nên con cháu nhận tên Quách làm tên họ. Dòng họ Quách phát triển mạnh tại Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây là nơi xưa kia có nước Quách.
Sơn Theo Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo và Thông Chí Thị Tộc Lược, Sơn là tên một chức quan đời nhà Chu gọi là Sơn Sư. Quan Sơn Sư trông coi việc thu thuế lâm và ngư nghiệp. Con cháu nhận tên chức quan Sơn làm tên họ.
Tạ Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tạ là chi nhánh của họ Khương, thuộc dòng dõi Viêm Đế. Tạ là tên nước. Thân Bá là anh em rể của Chu Tuyên Vương được ban cho đất Tạ nên con cháu Thân Bá đã nhận tên Tạ làm tên họ. Đất Tạ nay ở tỉnh Sơn Đông.
Tăng Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tăng là chi nhánh của họ Từ, thuộc dòng dõi vua Đại Vũ đời nhà Hạ. Khi Thiếu Khang hồi phục nhà Hạ, ông ban đất Khoái cho con út của ông là Khúc Liệt để lập nên nước Khoái. Nước Khoái bị diệt, họ hàng chạy sang nước Lỗ và để tưởng nhớ nước Khoái, con cháu đã lấy chữ Khoái nhưng bỏ bớt ngữ căn Ấp để thành chữ Tăng làm tên họ. Dòng họ Tăng phát triển mạnh tại Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông.
Thái Theo Tính Thị Tầm Nguyên, họ Thái là do họ kép Thái Thúc mà ra. Họ Thái Thúc là chi nhánh của họ Cơ, thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Người lập ra họ Thái Thúc là Thái Thúc Nghĩa. Con cháu đã nhận Thái Thúc làm tên họ. Họ Thái Thúc ban đầu ở Hà Nam, Hà Bắc, sau phát triển ở Sơn Đông.
b Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Thân là chi nhánh họ Khương, thuộc dòng tộc Viêm Đế. Thân Lã được ban cho đất Thân để cai trị và được tước Thân Bá. Cháu chắt Thân Lã đã nhận địa danh Thân làm tên họ.
Tô Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tô thuộc dòng dõi Chuyên Húc. Đời nhà Hạ, Côn Ngô được ban cho đất Tô Thành nên con cháu đã lấy họ Tô. Đầu tiên, họ Tô cư ngụ tại Hà Nam. Sang đời Chu, họ rời về Cam Túc.
Tôn Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Tôn bắt nguồn từ tên chức quan gọi là Tôn Bá. Chức quan này trông coi việc tế tự trong triều đình nhà Chu. Con cháu đã nhận tên chức quan làm tên họ. Họ Tôn cư ngụ tại phía đông sông Dương Tử, trong vùng gọi là Hà Đông.
Tống Theo Vạn Tính Thế Phổ, họ Tống là chi nhánh của họ Tử và Tống là địa danh nước Tống. Chu Vũ Vương ban đất Tống cho Vi Tử Khải là con út của Đế Ất. Nước Tống bị nước Sở chiếm. Dân nước Tống nhận tên Tống làm tên họ. Họ Tống cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
Trần Theo Thông Chí Thị Tộc Lược và Nguyên Hà Tính Toản, họ Trần là do tên nước Trần. Chu Vũ Vương cho Quỳ Mãn hay còn gọi là Hồ Công Mãn đất Trần nay ở tỉnh Hà Nam để cai trị. Mười thế hệ sau, cháu chắt Hồ Công Mãn bỏ đất Trần đi nơi khác để tránh binh biến. Để tưởng nhớ đất cũ, họ đã nhận tên nước Trần làm tên họ. Dòng dõi họ Trần cư ngụ nhiều tại tỉnh Hà Nam và Sơn Đông.
Triệu Theo sách Bách Gia Tính xuất bản thời Bắc Tống, họ Triệu được con cháu đặt ra để tưởng nhớ vị sáng lập triều đại Bắc Tống là Triệu Khuông Dận. Theo sách Nguyên Hà Tính Toản, Triệu là tên vùng đất gọi là Triệu Thành. Đời nhà Chu, Tạo Phủ được ban cho đất Triệu Thành nên đã nhận chữ Triệu làm tên họ. Dòng họ Triệu cư ngụ tại Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây
Trịnh Theo Nguyên Hà Tính Toản, Trịnh là tên nước. Đời vua Chu Tuyên Vương, Chu Hữu được ban cho đất Trịnh. Con cháu nhận tên Trịnh làm họ. Dòng họ Trịnh cư ngụ tại huyện Trịnh tỉnh Hà Nam.
Trương Theo Tính Thị Khảo Lược và Nguyên Hà Tính Toản, họ Trương thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Người con thứ 5 là Huy sáng chế ra cây cung. Muốn bắn cung phải trương dây cung. Vì vậy, chữ Trương gồm 2 chữ Cung và Trường ghép lại. Một số cháu chắt ông Huy lấy từ Cung, số khác lấy từ Trương làm tên họ. Dòng họ Trương cư ngụ tại Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây.
Từ Theo Nguyên Hà Tính Toản, ông tổ họ Từ là Bá Khôi. Bá Khôi là quan đại thần của Đế Thuấn. Vua Đại Vũ nhà Hạ ban nước Từ cho con cháu Bá Khôi cai trị. Nước Từ bị nước Sở chiếm nên cháu chắt Bá Khôi đã nhận tên Từ làm tên họ để tưởng nhớ quê hương cũ. Dòng họ Từ cư ngụ tại tỉnh Hà Nam.
Văn Theo Phong Tục Thông, họ Văn thuộc dòng dõi Hoàng Đế. Sau khi Chu Văn Vương chết, con cháu đã nhận chữ Văn làm tên họ.
Vũ/Võ Có 2 tài liệu về họ Vũ. Theo Nguyên Hà Tính Toản, họ Vũ là chi nhánh của họ Cơ và người sáng lập dòng họ này là Cơ Vũ, con của Chu Bình Vương. Theo Phong Tục Thống, họ Vũ thuộc dòng dõi Tống Vũ Công thời Xuân Thu. Con cháu đã nhận tên Vũ làm họ để tưởng nhớ ông tổ Tống Vũ Công. Dòng họ Vũ cư ngụ tại Thái Nguyên, Sơn Tây và Giang Tô.
Vương: Họ Vương rất phổ thông tại Trung Quốc là chi nhánh của nhiều họ trước đây là vua hay hoàng đế Trung Quốc. Theo Thông Chí Thị Tộc Lược, họ Vương là chi nhánh của dòng tộc Chu Văn Vương. Vương Đạo là con cháu danh tiếng nhất của dòng họ này. Tài liệu khác cho rằng họ Vương thuộc dòng họ Đế Thuấn. Dòng họ Vương lan tràn khắp nước Tàu như Sơn Đông, Thái Nguyên, Hà Nam, Hà Bắc, Giang Tô.
Trích SƠ THẢO
TÍNH DANH HỌC VIỆT NAM

Nhờ mẹ nó cho ý kiến quý báu giúp nhà e với ạ:
- Bố: Trương Đức Thành, 1/5/80 âm lịch;
- Mẹ: Nguyễn Thị Phương, 3/5/83 âm lịch;
- Con gái: Trương Tuệ Minh, 18/1/2010 âm lịch;
- Dự kiến tên e bé dự sinh vào tháng 8/2012 âm lịch (chưa biết trai hay gái) là: Trương Phúc Minh có được k ạ?
Thanks.
11:44 SA 05/03/2012
Sinh con yêu năm nào hợp tuổi bố mẹ ( tầng 6)...
Cảm ơn mẹ nó. Lần trc mẹ nó có xem cho nhà cháu chỉ nói là bé rồng sẽ hợp với bố cháu lắm, còn lại k đả động j đến mẹ cháu cả :Sad:. Nhưng theo mẹ cháu nghĩ thì hợp với bố nhiều sẽ tốt hơn so vơi mẹ đúng k?:Silly:. Thôi mẹ cháu cứ pốt lại thông tin của nhà cháu để nhờ MBM xem lại cho cụ thể nhé. Để mẹ cháu có thêm khí thế để săn rồng. Mẹ nó ủng hộ mẹ cháu với nhé :LoveStruc:.
Bố cháu: 1/5al, năm 1980, giờ dần;
mẹ cháu: 3/5al, năm 1983, giờ thìn;
con gái: 18/1al, năm 2010, giờ dần.
Đang mong săn được hotboy. Tks mẹ nó nhiều nhiều.

lâu lắm mới lại vào nhà mình vì bận đi công tác, híc. Thấy bài của mình trôi đi tận đâu đâu rồi í. Mong MBM xem lại cụ thể cho nhà cháu với. Mẹ nó xem thêm hộ nhà cháu xem có hợp với con gái đầu lòng nhà cháu k nữa nhé.
Hic, nhà cháu tham lam quá, mong các mẹ khác thông cảm dùm nhé. Tks MBM nhìu nhìu.
05:32 CH 15/07/2011
Sinh con yêu năm nào hợp tuổi bố mẹ ( tầng 6)...
Bé đầu được cái hợp mẹ về mệnh và tuổi, với bố thì hơi khắc về tuổi. Còn bé Rồng này hợp với bố lắm.
Nếu săn boy thì thụ thai tháng âm là 5, 6, 7, 8, 9 và tháng 1 năm sau. Còn nếu kết hợp cả tháng đẹp của năm thì mình sẽ sinh vào Thu hay Đông. Vậy, mình sẽ thụ thai vào tháng 1 là đẹp nhất, được nguyên con Rồng luôn đấy. Nhưng mình có nên nháp thử vài tháng săn boy để xem sao, chứ đặt cược vào một tháng duy nhất thì em thấy hơi mạo hiểm. Chúc mẹ nó bách phát bách trúng nha.
Ở bên nhà Chuẩn bị sinh con, em thấy sốt ruột quá. Tình hình em hơi gay go nên dạo này em cũng mất tinh thần một tí. Chỉ dám trụ lại nhà chọn năm này thôi. Khi nào có tí hy vọng nào thì em lại vào nhà.

Cảm ơn mẹ nó nhé, hihi. Mẹ cháu mới đọc đc thông tin của mẹ Khanh_Ly88 rằng thì là: sinh con thứ 2 vào năm 27t - 32t hoặc 43t, 3 tuổi này nếu sinh con là đẻ con tiền đấy, đấy là tính chung chung cho các mẹ, rất chuẩn. Mẹ nó lại xem giúp nhà cháu lần nữa xem là năm mẹ cháu 32 tuổi thì con có hợp với cả nhà k? để tớ làm thêm đứa nữa :Silly::Silly::Silly:. Mà nếu k thì mẹ nó so sánh hộ nhà cháu xem là sang năm tốt hơn hay là đến năm mẹ cháu 32 tuổi tốt hơn, hì. MẸ cháu hơi tham tí tị tì ti :D. Tks mẹ nó nhiều nhiều lắm.
03:12 CH 17/06/2011
Sinh con yêu năm nào hợp tuổi bố mẹ ( tầng 6)...
Năm mẹ nó 32 tuổi thì sẽ sinh con vào 2015. Năm ấy thì tốt cho mẹ thật nhưng có khắc bố về mệnh. Có thể năm đấy mẹ nó được tuổi sinh con nhưng phải xem cả bố nữa, tốt mẹ mà khắc bố thì cũng đâu có tốt, phải không mẹ nó? Tốt nhất mình nên xem cho cả hai để được cái tốt trọn vẹn.

Cảm ơn mẹ nó. Lần trc mẹ nó có xem cho nhà cháu chỉ nói là bé rồng sẽ hợp với bố cháu lắm, còn lại k đả động j đến mẹ cháu cả :Sad:. Nhưng theo mẹ cháu nghĩ thì hợp với bố nhiều sẽ tốt hơn so vơi mẹ đúng k?:Silly:. Thôi mẹ cháu cứ pốt lại thông tin của nhà cháu để nhờ MBM xem lại cho cụ thể nhé. Để mẹ cháu có thêm khí thế để săn rồng. Mẹ nó ủng hộ mẹ cháu với nhé :LoveStruc:.
Bố cháu: 1/5al, năm 1980, giờ dần;
mẹ cháu: 3/5al, năm 1983, giờ thìn;
con gái: 18/1al, năm 2010, giờ dần.
Đang mong săn được hotboy. Tks mẹ nó nhiều nhiều.
09:13 SA 17/06/2011
Sinh con yêu năm nào hợp tuổi bố mẹ ( tầng 6)...
Chào Mẹ bé Muỗi, nhờ chị xem giúp nhà e với nhé.
Chồng: 1/5al năm 1980, giờ dần;
vợ: 3/5al năm 1983, giờ thìn;
con gái: 18/1al năm 2010, giờ dần.
E đang có ý định sinh con năm 2012. Chị xem giúp e vào tháng nào thì được mùa sinh nhé, e đang muốn săn hotboy ạ. tks chị nhiều.
p/s: tự nhiên k thấy chị ở bên nhà Chuẩn bị sinh con năm 2012, híc.
05:11 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con 2012 ( tầng 3 )
Mẹ cháu chuyển bài này từ tầng trước sang đây cho tiện theo dõi

Chị ơi, nếu thuốc này hàm lượng acidfolic như vậy thì cao quá chnị nhé. Vì ngày trước em được Bsi trong ĐH Y chỉ dẫn là trong thời kỳ chuẩn bị mang bầu chỉ nên bổ sung acidfolic ở dạng mutivitamin với hàm lượng ko quá 400mcg/ ngày chị ạ
@romgau: Em gửi tin nhắn cho Mod để báo Mod khoá nhà cũ nhé
Chúc mừng nhà mới :Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose::Rose:

Nhưng mẹ cháu thấy hầu như các loại thuốc vitamin và khoáng chất tổng hợp đều có hàm lượng acid folic là 1mg (ví dụ như obimin, prenatal). mà 1mg là lượng tối đa cần bổ sung của bà mẹ mang thai (chưa kể qua nguồn thức ăn, đồ uống khác). Như thế có sợ thừa k các mẹ?
04:11 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con 2012 ( tầng 3 )
mình cũng giống mẹ này:Crying::Crying::Crying::Crying::Crying::Crying:

Thôi k sao mẹ nó ạ, để các mẹ 2 vạch đi trước ủn mông, chị e ta lót dép theo sau. chúc cả nhà săn đc rồng theo ý muốn!!!
04:04 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con 2012 ( tầng 3 )
Tối qua k vào mạng mà các mẹ đã xây nhà mới rồi. sáng nay mẹ cháu vẫn đang hóng ở nhà cũ :Crying::Crying::Crying:. Lại xảy mất mặt tiền, số mẹ cháu sao mà hẩm hiu quá cơ.
03:40 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
mẹ nào mát tay, 2 vạch đỏ chót rồi thì xây nhà mới cho cả nhà lấy hên nhé. mẹ cháu chưa có j nên cứ lót dép theo các mẹ thôi. hóng lấy cái mặt tiền để lấy may mắn, hí hí :Silly::Silly::Silly:
03:35 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Tầng 2 nhà mình xây nhanh quá, sắp có nhà mới rồi các mẹ ơi, hihi.
03:16 CH 16/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Chả phải, vì nhà cháu có chuyện rồi nên buộc phải như vậy thui. Bé nhà mình hiện giờ là con thứ 2 và cũng là con đầu đấy. Nói vậy mong các mẹ hiểu. Do đó nhà cháu buộc phải như vậy :Sad::Sad::Sad:

So rì mẹ nó. mẹ cháu vô ziên quá cơ. chia sẻ với mẹ nó. mong cho vụ săn rồng lần này của mẹ nó đc trọn vẹn. tặng hoa cổ vũ mẹ nó nhé :Rose::Rose::Rose:
10:05 SA 15/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Nhà mình có boy rùi, nhưng về yếu tố tâm linh nên vữn phải canh boy tiếp. Với lại sang năm là năm Thìn lại đứng chữ Nhâm nên con trai tốt hơn con gái.

Mẹ nó có vẻ cũng hay tìm hiểu vụ tâm linh nhể :D. Mẹ cháu cũng hay hóng vụ đấy lắm, nhưng rút cuộc bjo rối tung mù, chả biết nên làm cái giè, :Crying::Crying::Crying:. Mẹ cháu cũng đang muốn canh hotboy mừ.
08:55 SA 15/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Các mẹ để ý 1 tí thì sẽ phát hiện ra trứng rụng thôi, nó tức tức sau đó thì nhói 1 phát, xong rồi thôi. Hì hì, giờ tháng nào trứng rụng là mình cũng biết.

Tức tức như nào hả mẹ nó nhể? nghe mà thấy mông lung quá cơ. mẹ cháu thấy ngưỡng mộ mẹ nó vụ này quá cơ.
05:40 CH 09/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Quê nội cháu ở thành Nam mẹ nó ạ,hihi. còn quê ngoại cháu ở Cố đô Hoa lư ạ, hiện tại nhà cháu đang sống ở quê ngoại ạ (vì cả 2bme cháu đều làm ở đây ạ). Rất zui đc làm quen với nhà bác ạ. Thế có anh em k thế bác :D
Hỏi khí ko phải Bố của Tuệ Minh quê ở đâu đới, bít đâu lại là họ hàng nhể :Thinking::Thinking:
05:59 CH 08/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Nhà Bễu này có nhiều cái trùng với nhà mình lắm nhé, tính vậy thì nhà bễu ít tuổi hơn nhà mình roài, cùng bắt tay nào :LoveStruc::LoveStruc::LoveStruc:

hihi, có mẹ nó trên hành trình săn cu rồng thì còn gì bằng. mẹ nó chia sẻ kinh nghiệm cho mẹ cháu với nhá. tặng hoa cho mẹ nó nài :Rose::Rose::Rose:
p/s: nhà cháu là nhà Bếu (béo), k fai Bễu đâu nhá :Crying::Crying::Crying:
05:49 CH 08/06/2011
Chuẩn bị sinh con năm 2012 ( tầng 2)
Mẹ bếu giống mẹ cháu quá. Mẹ cháu cũng cùng tuổi mẹ nó nè. Cũng con trưởng, và đang lên KH săn ku rồng đây. lo lắng, hồi hộp và căng thẳng quá. QKD của mẹ cháu là 1/6, CK 29-30 ngày đều như vắt chanh, Tháng này mình bắt đầu thả đây. Mong các mẹ ủn mông mẹ cháu lấy hên tháng này nhé.

híc, chu kỳ của mẹ cháu thì lại lung tung lắm. Dự định đến tầm tháng 11 al mới thả để bắt đuôi rồng mẹ nó ạ. thế ax nhà mẹ nó sn bnhieu. Mẹ cháu định săn rồng để hợp tuổi với bố cháu (sn80). Cầu Quán âm bồ tát phù hộ cho tất cả chúng ta đước săn rồng như ý muốn.
02:51 CH 08/06/2011
m
mẹ bếu
Bắt chuyện
713Điểm·0Bài viết
Báo cáo