Thịnh hành
Cộng đồng
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Đăng nhập
Tạo tài khoản
Đăng nhập qua Facebook
Đăng nhập qua Google
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Thầy Trung vừa hoàn thành cuốn sách Cửu Âm Chân Kinh - Luyện Não 5 Phút Mỗi Ngày, một tài liệu tuyệt vời giúp rèn luyện trí nhớ và nâng cao trí thông minh. Các mẹ hãy kết bạn qua Zalo với thầy qua số 0973754012 để nhận sách hoàn toàn miễn phí, dành cho các con em mình luyện tập. Thầy Trung vô cùng thân thiện và tâm huyết, sẵn sàng chia sẻ sách với tất cả mọi người, kể cả những ai chưa từng học với thầy. Sau khi thực hành theo cuốn sách này, trí nhớ và trí thông minh của các bé có thể cải thiện đến 20%. Đây là một cuốn sách được thầy đặt nhiều tâm huyết, chỉ tặng miễn phí, không bán. Hãy nhanh tay nhận ngay để con em mình phát triển vượt bậc!
10:56 CH 16/06/2025
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Mình thấy trên zalo của thầy Trung vừa mới chia sẻ quá trình tâm lý, cách suy nghĩ ra câu cuối khó nhất của đề thi vào lớp 10 năm 2024 của một bạn học sinh học thầy Trung. Một lối suy nghĩ và tư duy hết sức nhẹ nhàng, bình tĩnh từng bước từng bước một. Bài viết rất hay, rất bổ ích mà hầu như không tìm đâu ra khắp trên các trang zalo của các thầy khác (các thầy khác chỉ tung lời giải lên thôi mà không nói về tâm pháp tại sao lại nghĩ ra như thế được, rồi là phải bắt đầu nghĩ như thế nào, rút kinh nghiệm gì từ đề thi này...)
11:52 SA 11/06/2024
Các mẹ giúp mình bổ sung danh sách các giáo viên...
Trên webtretho của mình có hẳn 1 chuyên đề nhận xét về các thầy dạy tốt ở Hà Nội đấy. Khen cũng có, mà chê cũng có. Có rất nhiều thầy giáo vừa dạy hay, giá lại rẻ. Các mẹ tùy duyên mà lựa chọn cho con em mình thầy giáo phù hơp. Mình đã theo dõi và giới thiệu rất nhiều cho người quen tìm được thầy lý tưởng nhờ vào chỗ này. Mình xin để lại đường link bên dưới, hy vọng nó sẽ rất hữu ích và giúp các mẹ không phải mất công tìm tòi, tiết kiệm được nhiều thời gian:
https://www.webtretho.com/f/chon-truong-cap-2-va-cap-3/chia-se-kinh-nghiem-hoc-cac-thay-co-day-van-toan-ly-hoa-tot-cap-2-3-1676206
08:42 CH 08/06/2024
Các mẹ giúp mình bổ sung danh sách các giáo viên...
Trên webtretho của mình có hẳn 1 chuyên đề nhận xét về các thầy dạy tốt ở Hà Nội đấy. Khen cũng có, mà chê cũng có. Có rất nhiều thầy giáo vừa dạy hay, giá lại rẻ. Các mẹ tùy duyên mà lựa chọn cho con em mình thầy giáo phù hơp. Mình đã theo dõi và giới thiệu rất nhiều cho người quen tìm được thầy lý tưởng nhờ vào chỗ này. Mình xin để lại đường link bên dưới, hy vọng nó sẽ rất hữu ích và giúp các mẹ không phải mất công tìm tòi, tiết kiệm được nhiều thời gian:
https://www.webtretho.com/f/chon-truong-cap-2-va-cap-3/chia-se-kinh-nghiem-hoc-cac-thay-co-day-van-toan-ly-hoa-tot-cap-2-3-1676206
08:39 CH 08/06/2024
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
@luuhuyen83
bạn cứ kết bạn zalo và hỏi trực tiếp thầy ấy. Thầy sẽ bố trí phù hợp cho con bạn
08:23 CH 07/06/2024
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
@Phamvannhi62611
dạ, cũng giống như mình nghĩ mẹ ạ.
01:43 CH 01/06/2024
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Thầy Trung bây giờ cũng đang ôn hè môn Toán cho các trò đấy bố mẹ ạ. Nội dung thầy ôn bao gồm: lấy lại gốc, nâng cao, học trước chương trình lớp mới, phát triển trí nhớ, tư duy nghĩ bài. Thầy vẫn còn dùng zalo số 0973754012 (chân lý toán học)
10:17 SA 29/05/2024
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
@Phanthanhsang77110
đúng đó, một khi đã gạt bỏ hết tạp niệm trong lòng thì nhiều cách giải bài độc đáo xuất hiện. Mình phải làm chủ bài toán chứ không để cho các dạng toán nó khống chế mình
05:57 CH 23/05/2024
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Mình hôm nay cũng mới có thời gian, vô zalo thầy Trung (0973754012) và thấy 2 bài viết mới của thầy ấy hay quá. Một bài nói về "bí quyết học giỏi", còn một bài viết về "vẻ đẹp của toán học". Các mẹ và các cháu nếu có thời gian thì cứ vô mà đọc coi ạ
08:04 SA 23/11/2019
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Hôm qua có thời gian mình lên zalo 0973754012 của thầy TRung day toán. Thấy thầy ấy chia sẻ nhiều phương pháp và kinh nghiệm hay, nói về BÍ QUYÊT HỌC GIỎI của thượng tọa Thích Chân Quang. Sau đó mình mẩn mê vào youtube mà thầy cung cấp xem một mạch hàng tiếng đồng hồ, Càng xem càng thích, càng nghe càng lọt tai,:)O:-)
06:03 CH 14/11/2019
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Mình lên zalo thầy Trung, thấy bài viết của thầy rất hay nên coppy lại nguyên si để các mẹ tham khảo:
Hỏi: Thưa thầy, quá trình đạt đến cảnh giới toán học phải trải qua các giai đoạn nào?
Đáp: Bất kể ai, dù thông minh hay không thông minh, muốn đến đến cảnh giới toán học đều cần phải trải qua các giai đoạn sau đây:
+) Giai đoạn 1: học thuộc và nắm thật vững lý thuyết, các công thức toán, những dạng toán. Phải biết tìm tòi, nghiên cứu, chỗ nào khó hiểu phải hỏi những thầy cô giáo có kinh nghiệm.
+) Giai đoạn 2: (đẩy nhanh tốc độ làm bài). Theo định luật II Niuton, F=ma (trong đó, F là lực, a là gia tốc). Như vậy ta thấy F tỉ lệ thuận với a. Do đó ứng dụng nó vào giải toán ta thấy nếu tốc độ của giải toán của ta càng nhanh thì mức tư duy của ta càng nhạy, phản xạ nhanh hơn...nói chung là thông minh hơn.
+) Giai đoạn 3: (đọc thêm các tài liệu tham khảo). Trên cơ sở nắm thật chắc lý thuyết và các dạng bài tập, rồi đẩy nhanh tốc độ giải toán, đến lúc đó ta cần phải đọc thêm thật nhiều sách tham khảo, các đề thi của các trường cũng như đề thi của quận, thành phố, sở, bộ… Ta đọc một cách chậm rãi xem có gì mới lạ mà cần phải bổ sung để đưa vào “từ điển toán học” của ta hay không, rồi từ đó hãy rút ra kinh nghiệm cho riêng ta. Lưu ý rằng không nhất thiết phải đọc toàn bộ sách, tài liệu mà chỉ đọc những dạng mới và chỉ cần biết hướng giải của bài toán ấy, phương pháp giải nó là được.
+) Giai đoạn 4: gạt bỏ hết tất cả các kiến thức cũng như các dạng toán mà ta học được, các phương pháp giải thủ công có ở trong sách cũng như thầy cô đã từng dạy ta, thử giải bất kể một toán nào. Bài toán ấy có thể là dạng quen, cũng có thể là mới lạ đối với ta. Nhưng điều đó không quan trọng, quan trọng nhất là ta phải giải theo cách riêng ta, theo lối tư duy của ta mà không hề bị bó buộc bởi cách giải của quyển sách nào, của thầy cô nào cả.
Ba giai đoạn đầu là ta thu nạp kiến thức đưa nó vào kiến thức của ta, giai đoạn 4 là ta xả hết kiến thức để dẫn đến trạng thái “hư không” nhằm mục đích “ vô dạng thắng hữu dạng”
Chúc các con thành công và sớm giác ngộ được chân lý toán học.
02:23 CH 31/12/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
Có gì đâu bạn. Mình thấy mình vẫn còn hơi lười. Các mẹ cứ chịu khó vào zalo của thầy Trung hàng tuần để theo dõi và cập nhật những thông tin bổ ích và chịu khó chia sẻ lại cho các con nhé. Có như vậy việc học toán mới trở nên hứng thú, nhẹ nhàng và dễ dàng hơn, đam mê hơn.....
11:27 SA 04/12/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
LỜI KẾT
Các bạn thân mến! Chúng ta đã cùng nhau trải qua chín chương của cuốn sách này. Chưa cần nói đến việc các bạn đã thực hành theo lời chỉ dẫn của sách hay chưa, chỉ cần đọc thôi thì đã chứng tỏ các bạn là người chăm chỉ, thích đọc sách và ham học hỏi rồi.
Trước hết chúng ta hãy đọc chậm rãi cuốn sách một lượt để có thể bao quát được hết nội dung của nó. Sau đó đọc lại lần thứ hai thì cần có sự phân tích, đánh giá và gạch chân bằng bút chì những từ ngữ, những câu quan trọng, đồng thời đọc đến đâu thì thực hành đến đó. Và cứ như thế, đọc đi đọc lại cuốn sách này song song với việc thực hành nó. Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng thực hành chỉ có ở chương 3 (như lý tác ý), chương 5 (óc tưởng tượng) và chương 9 (giác quan thứ sáu), các chương khác chỉ mang tính chất bổ trợ cho việc thực hành của ba chương này mà thôi. Khi nào các bạn thực hành thành công 100% ba chương này thì không cần phải đọc nữa vì khi ấy chúng ta đã đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học rồi. Cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học vô hạn, chỉ giới hạn ở hình thức thôi, chứ mọi sự vô hạn.
Thật đáng buồn cho đất nước ta, một phó giáo sư, tiến sĩ toán học cũng chỉ là tấm bằng ảo trong khi ấy lại không hề hay biết gì về như lý tác ý và giác quan thứ sáu. Những người này cũng chỉ “nhai lại bã mía” của những nhà toán học đi trước chứ không phát minh được thêm gì hết, rồi sau đó đi đâu cũng khoe khoang bằng cấp của họ. Các bạn trẻ ạ! Hãy đem tất cả những gì đã học được làm biến đổi nó, gạt bỏ hết tất cả những dạng bài cùng với giới hạn của nó, sau này triển vọng thế nào phải dựa vào chính các bạn. Và chúng tôi tin chắc sẽ có một ngày nào đó các bạn sẽ tự tìm ra được cái gọi là “cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học”.
09:49 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 9: GIÁC QUAN THỨ SÁU
A.
Như ta đã được biết, chương 3 (như lý tác ý) là chương quan trọng nhất. Và giờ đây đến chương này cũng không kém phần quan trọng. Theo tiến sĩ Trần Đại Phúc, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: giác quan thứ sáu là khái niệm chỉ khả năng tiếp nhận thông tin của con người qua một kênh siêu nhiên, vượt trội hơn hẳn năm giác quan bình thường kia (đó là nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ). Nó không phải là giác quan cụ thể nào. Cho đến nay, khả năng siêu phàm này vẫn còn là một điều kỳ bí đối với nhân loại. Còn đối với đức phật Thích Ca Mâu Ni, người đã giác ngộ hoàn toàn chân lý của vạn vật và vũ trụ, thấy rằng giác quan thứ sáu này chẳng có gì xa lạ cả. Đó chỉ là “tưởng uẩn” mà thôi (có năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn). Dựa vào đó, đức phật còn giải thích rằng không có thế giới siêu hình, không có địa ngục, thiên đàng hay cõi trời... gì hết, tất cả là do tưởng uẩn của chúng ta tạo nên mà thôi.
Nhờ có giác quan thứ sáu, ta có thể biết được tính cách của một người thông qua lúc nhắn tin trên điện thoại với người đó mà chưa từng được gặp người đó lần nào. Cũng nhờ có giác quan thứ sáu này, ta sẽ được báo trước một tai họa nào đó sắp ập đến hay một điều may mắn sắp mỉm cười đến với ta. Một người nếu có giác quan thứ sáu cũng có thể dự đoán được kết quả xổ số hay mã cổ phiếu tăng giảm thế nào…. Tuy nhiên, đó chỉ là phạm vi ngoài cuốn sách này, mục đích của chúng tôi trong chương này là dạy cho các bạn làm thế nào để có được giác quan thứ sáu và sử dụng nó vào việc tìm ra lời giải cho một bài toán khó cũng như một bài toán có dạng mới mà ta chưa từng gặp. Kinh nghiệm để đạt được giác quan thứ sáu cho thấy không cần phải có tài năng bẩm sinh hay trí tuệ siêu việt gì hết, cũng không phải tốn một đồng nào cả. Chúng ta chỉ cần kiên trì luyện tập, thực hành theo đúng lời chỉ dẫn của chúng tôi thì ai cũng có thể có được giác quan thứ sáu này. Những phần mà chúng tôi viết dưới đây hoàn toàn là do luyện tập mà đạt được rồi truyền lại cho các bạn, chứ hoàn toàn không nêu ra mấy ý vặt vãnh, không viết theo kiểu “nhai lại bã mía” chỉ mang tính chất sưu tầm tài liệu rồi viết lại như các sách báo. Vì chỉ khi nào có được giác quan thứ sáu thì mới có thể dạy lại được cho người khác, chứ chưa chứng đạt mà đem truyền dạy thì chẳng khác nào người mù mà đòi dẫn đường chỉ lối cho người hỏi đường.
Điều kiện để có được giác quan thứ sáu là phải thành thạo tất cả các nguyên tắc từ chương 1 đến chương 8.
B. Luyện tập để có được giác quan thứ sáu.
Để hình thành được giác quan thứ sáu, chúng tôi đã phải khổ luyện mất hai năm trời. Rồi sau đó đem truyền dạy, rút kinh nghiệm từ những sai lầm đi trước, học trò xuất sắc nhất và nhanh nhẹn nhất của chúng tôi cũng phải nửa năm mới có được giác quan thứ sáu. Từ đó, dẫn đến kết luận rằng muốn hình thành được giác quan thứ sáu thì ít nhất phải mất nửa năm.
Sau khi đã nắm vững các nguyên tắc từ chương 1 đến chương 8, đặc biệt là chương 3 (như lý tác ý) và chương 5 (óc tưởng tượng), chúng ta sẽ đi vào từng bước, từng bước để đạt được giác quan thứ sáu.
Để cho dễ hiểu, chúng tôi xin minh họa thông qua ví dụ cụ thể lại đơn giản cho các bạn:
Bài tập số 1:
Bạn hãy ngồi trong phòng kín, tắt hết đèn đi và không để cho ánh sáng lọt vào trong phòng. Hình dung bạn đang ngồi trong lớp học, và lúc này đang là tiết toán. Cô giáo viết đề bài lên bảng với nội dung như sau:
Tính: 60+10+30
Sau đó cô giáo gọi bạn đứng dậy để trả lời. Hãy cố gắng hình dung cuộc đối thoại dưới đây:
- Cô: Con hãy cho cô biết khi tính giá trị biểu thức như thế này thì phải làm như thế nào?
- Bạn: Thưa cô, con sẽ thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải ạ.
- Cô: 60+10 bằng bao nhiêu?
- Bạn: Con thưa cô, 60+10=70 ạ.
- Cô: đúng rồi.
Rồi cô viết lên bảng:
60+10+30
= 70 +30
- Cô: 70+30 bằng bao nhiêu?
- Bạn: Dạ thưa cô, 70+30=100 ạ.
- Cô: đúng rồi, con giỏi lắm.
Cô giáo viết nốt lên bảng:
60+10+30
= 70 +30
= 100
Cả lớp vỗ tay hoan hô.
Các bạn phải thực hành cho thật nhuần nhuyễn bài tập trên, từng câu đối thoại một, khi nào tưởng tượng thành công câu đối thoại này thì mới chuyển sang câu đối thoại khác. Trong quá trình thực hành, các bạn cố gắng hình dung sao cho giống hệt như ở ngoài thật: có âm thanh, màu sắc, mùi vị, cảm giác hồi hộp và sung sướng…
Trên đây, chúng tôi mới chỉ minh họa một ví dụ hết sức đơn giản để các bạn dễ luyện tập. Dựa vào đó, các bạn hãy áp dụng vào bài tập toán mà trên lớp các bạn đã được học và được cô giáo gọi lên bảng. Tuy nhiên, lúc đầu các bạn sẽ cảm thấy khó hơn ví dụ trên, nhưng dần dần rồi các bạn sẽ quen và thấy dễ thôi.
Sau khi luyện thành thạo bài tập số 1, ta tiếp tục luyện tiếp bài tập số 2.
Bài tập số 2:
Cũng giống như bài tập số 1, bài tập số 2 này bạn đóng vai trò là người không biết gì và hỏi cô giáo, nhờ cô giáo hướng dẫn làm bài tập.
Giả sử bạn muốn hỏi cô bài tập sau:
Tính: 60+10+30
- Bạn: Thưa cô, khi tính giá trị biểu thức như thế này thì phải làm như thế nào ạ?
- Cô: Con sẽ phải tính theo thứ tự từ trái sang phải nhé.
- Bạn: Vâng ạ. Thưa cô, 60+10 bằng bao nhiêu ạ?
- Cô: 60+10=70 con nhé .
- Bạn: Dạ. Thưa cô, 70+30 bằng bao nhiêu ạ?
- Cô: 70+30=100 con nhé.
- Bạn: Dạ vâng, con rõ rồi, con cám ơn cô nhiều ạ.
Rồi bạn hoàn thành bài làm:
60+10+30
= 70 +30
= 100
Các vấn đề lưu ý cũng giống hệt như bài tập số 1.
Sau khi hoàn thành xong bài tập số 2 này, các bạn phải tập hỏi các bài tập mà cô giáo, thầy giáo bạn giao về nhà với phương pháp thực hành giống hệt như bài tập số 2. Lần thứ nhất hỏi các thầy cô mà trong trí tưởng tượng không có câu trả lời thì hỏi lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư,... rồi đến ngày hôm sau, hôm sau nữa… đến khi nào có được câu trả lời của các thầy cô trong trí tưởng tượng thì thôi. Lúc đầu các bạn phải mất rất nhiều thời gian mới thực hiện được nhưng sau này trở thành thói quen thì rất nhanh, chỉ cần hỏi một đến hai lần là được trả lời rồi. Đạt đến mức như vậy thì các bạn sẽ rất yên tâm trong các bài kiểm tra hay bài thi.
Trên đây chúng tôi đã hướng dẫn cho các bạn từ A đến Z để hình thành được giác quan thứ sáu. Mục đích chính yếu của chương này là sử dụng trí tưởng tượng để hỏi các thầy cô toán, các phó giáo sư, giáo sư toán học những bài khó mà các bạn chưa giải được, sao cho trong trí tưởng tượng họ sẽ giúp các bạn giải được những bài tập khó ấy.
09:44 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 8: TIỀM THỨC VÀ NÃO BỘ
A.Tiềm thức là gì?
Tiềm thức là một lĩnh vực thuộc nhận thức trong đó mọi xung lực tư tưởng trong ý thức được phân loại và lưu trữ thông qua một trong năm giác quan (nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ). Tiềm thức sẽ thu nhận và sắp xếp các ấn tượng có được qua cảm giác, hoặc các suy nghĩ, bất kể bản chất của chúng là gì.
Các bạn có thể cấy vào trong tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, ý tưởng hay mục đích nào mà các bạn khát khao muốn biến thành hiện thực. Khao khát được kết hợp với cảm xúc và niềm tin vào khả năng của mình sẽ là những khao khát mạnh mẽ nhất. Bởi thế, đó cũng là những khát khao đầu tiên mà tiềm thức đáp ứng.
Tiềm thức hoạt động cả ngày lẫn đêm, và bằng một cách thức nào đó mà hiện nay con người vẫn chưa hiểu hoàn toàn (trừ những người nào chứng tứ thiền thành phật), tiềm thức dựa vào trí tuệ vô biên để có được sức mạnh biến khát vọng thành hiện thực. Quá trình đó được thực hiện theo những cách thức trực tiếp và thực tế nhất.
Các bạn không thể điều khiển hoàn toàn tiềm thức của mình, nhưng các bạn có thể truyền đạt cho nó bất kỳ kế hoạch, khát khao hay mục đích nào mà các bạn muốn biến thành hiện thực. Hãy đọc lại những hướng dẫn về việc sử dụng tiềm thức trong chương 3 (như lý tác ý).
Từ những nghiên cứu cá nhân, chúng tôi đi đến kết luận rằng tiềm thức là mắt xích kết nối giữa trí tuệ hữu hạn của con người và trí tuệ vô biên. Nó là trung gian để qua đó các bạn có thể sử dụng nguồn sức mạnh của trí tuệ vô biên. Chỉ có tiềm thức chứa đựng quá trình mà qua đó các ý nghĩ được biến đổi và chuyển hóa thành hiện thực. Chỉ có nó là con đường trung gian để một lời nguyện ước (khát vọng) được truyền đến nơi có thể đáp ứng (miền trí tuệ vô biên).
B. Cách kích thích tiềm thức để gia tăng sức mạnh sáng tạo.
Các bạn sẽ có khả năng vô cùng lớn khi liên kết được những nỗ lực sáng tạo và tiềm thức. Chúng tôi chưa bao giờ bàn về tiềm thức mà không cảm thấy mình thật nhỏ bé và thấp kém, bởi sự thật là tất cả kho tàng kiến thức nhân loại về chủ đề này tiếc thay còn rất hạn hẹp.
Trước hết, các bạn phải chấp nhận sự tồn tại thực tế của tiềm thức và hiểu được nó có thể làm gì cho mình. Điều đó có thể giúp các bạn hiểu được khả năng tiềm thức có thể trở thành trung gian để biến đổi khát khao của các bạn thành hiện thực. Và sau đó, các bạn sẽ lĩnh hội được ý nghĩa đầy đủ của những hướng dẫn đã được cung cấp cho các bạn trong chương 1 (Khát vọng). Các bạn cũng sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc làm cho những khát khao của mình trở nên rõ ràng và viết chúng ra giấy. Các bạn cũng sẽ hiểu được sự cần thiết của lòng kiên trì trong việc thực hiện theo những hướng dẫn này.
Tất cả các nguyên tắc ở từng chương của cuốn sách này – là những tác nhân kích thích mà nhờ chúng, các bạn có khả năng tác động lên tiềm thức của mình. Đừng nản lòng nếu các bạn không thành công trong lần cố gắng đầu tiên. Hãy nhớ rằng tiềm thức chỉ có thể được chỉ huy thông qua thói quen. Các bạn chưa có đủ thời gian để kiểm soát được niềm tin. Hãy kiên nhẫn. Hãy bền chí.
Nhiều điều đã được đề cập đến trong Chương 2 (Niềm tin) và chương 3 (như lý tác ý) sẽ được nhắc lại ở đây để các bạn thấu hiểu hơn tiềm thức của mình. Hãy nhớ rằng, tiềm thức của các bạn hoạt động bất kể các bạn cố gắng tác động đến nó hay không. Điều này có nghĩa là những ý nghĩ về sự sợ hãi như điểm kém, học dốt toán... và tất cả những ý nghĩ tiêu cực đều là các tác nhân kích thích tiềm thức của các bạn, trừ khi các bạn kiểm soát được những xung lực tư tưởng này và nuôi dưỡng tiềm thức của các bạn bằng những “món ăn” tích cực hơn.
Tiềm thức sẽ không ngừng làm việc! Nếu các bạn không đặt khát khao vào tiềm thức của mình, thì tiềm thức sẽ được nuôi dưỡng bằng bất cứ ý nghĩ nào nó nhận được. Đó là kết quả của sự xao lãng trong các bạn. Tất cả các ý nghĩ tích cực lẫn tiêu cực đều liên tục chạm vào tiềm thức của con người. Chúng đến từ bốn nguồn: 1) một cách có ý thức từ người khác; 2) vô thức của các bạn; 3) một cách vô thức từ người khác; 4) miền Trí tuệ vô biên.
Hàng ngày, các xung lực của ý nghĩ va chạm với tiềm thức của các bạn mà các bạn không hay biết. Một số ý nghĩ tiêu cực, một số khác là tích cực. Ngay bây giờ các bạn phải tập trung cố gắng “khóa” những ý nghĩ tiêu cực lại, và hành động một cách tích cực để tác động vào tiềm thức của mình thông qua các khát khao tích cực. Khi làm được điều này, các bạn sẽ có được chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn vào tiềm thức của mình. Hơn nữa, các bạn sẽ hoàn toàn kiểm soát cánh cửa đó mà không một ý nghĩ vẩn vơ, không được mong muốn nào có thể làm ảnh hưởng đến tiềm thức của mình.
Mọi thứ con người tạo ra bắt đầu dưới dạng một ý niệm. Các bạn không thể tạo ra cái mà các bạn không hình dung được trong tâm trí mình. Với sự giúp đỡ của trí tưởng tượng, các ý nghĩ có thể được sắp xếp lại thành những kế hoạch. Trí tưởng tượng, khi được kiểm soát, có thể được sử dụng để tạo ra những kế hoạch hay mục đích dẫn đến sự thành công trong cuộc sống của các bạn.
Tất cả những ý nghĩ mà các bạn muốn biến thành thành công, và được “cấy” vào tiềm thức, phải đi qua giai đoạn tưởng tượng, và được hòa trộn với niềm tin (niềm tin của các bạn vào khả năng của mình như đã nói ở chương 2). Sự kết hợp giữa niềm tin với một kế hoạch, hay mục đích, để đến được với tiềm thức, phải qua giai đoạn tưởng tượng (ở chương 5).
Từ những điều này, các bạn sẽ dễ dàng nhận thấy rằng, nếu muốn tận dụng tiềm thức, sẽ phải có sự phối hợp và áp dụng tất cả các nguyên tắc ở từng chương của cuốn sách này.
C. Trung tâm não bộ.
` Trung tâm não bộ chính là sức mạnh trí tuệ - điều then chốt để thành công. Bản thân các kế hoạch là vô nghĩa nếu như không có một lực nào đó đẩy chúng rời khỏi chỗ. Phần này mô tả phương pháp giúp các bạn có trí tuệ vào việc giải bài toán khó một cách có hiệu quả.
Nói đến sức mạnh trí tuệ, chúng tôi hàm ý rằng kiến thức phải được thu thập, tổ chức và sử dụng thông minh nhất có thể. Ta hãy cùng nhau nghĩ xem làm cách nào ta có thể tạo cho mình sức mạnh này được tốt hơn. Vì nó chính là kiến thức có tổ chức, nên ta hãy nghiên cứu nguồn gốc của kiến thức:
1)
Trí tuệ siêu nhiên
: Với nguồn kiến thức này bạn có thể tiếp xúc bằng phương pháp mô tả trong chương óc tưởng tượng (ở chương 5).
2)
Kinh nghiệm tích lũy
: Kinh nghiệm loài người tích lũy được (ít nhất là phần ghi nhận lại được) có thể lấy ra từ sách có trong các thư viện. Một phần rất quan trọng của kinh nghiệm này được phân loại, hệ thống hóa và giảng dạy ở nhà trường.
3)
Thí nghiệm và nghiên cứu
: Cả trong khoa học lẫn trong đời sống hàng ngày con người đều thu thập, phân loại và tổng kết tất cả những sự kiện mới. Không nên coi thường nguồn kiến thức này, đặc biệt nếu các bạn không sử dụng được kinh nghiệm tích lũy hàng ngày. Nhưng ngay trong trường hợp này cũng đừng quên trí tưởng tượng sáng tạo.
Kiến thức, thu nhận được từ bất kỳ nguồn nào, đều có thể trở thành sức mạnh nếu nó được tổ chức trong kế hoạch hành động và cuối cùng bản thân nó cũng trở thành hành động.
Hãy đọc lại một lần nữa cả ba nguồn thu nhận kiến thức trên và hãy nghĩ xem các bạn có dễ dàng hành động đơn độc - thu thập, tổ chức, sử dụng chúng hay không? Và hơn nữa, nó có áp dụng được trong việc giải một bài toán mà ta chưa nghĩ ra hay không?
09:41 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 7: SỐNG ĐỘC CƯ
(ÍT TIẾP XÚC)
Một người muốn học giỏi toán và đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học thì nhất định phải ít tiếp xúc với mọi người. Chỉ có ít tiếp xúc ta mới phòng hộ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), đồng thời nó cũng là điều kiện không thể thiếu để có thể sử dụng được giác quan thứ sáu (sẽ được nói đến ở chương 9) và giúp pháp ”như lý tác ý” phát huy được tác dụng.
Ít giao tiếp không có nghĩa là ta tự kỷ. Ở đây, ý chúng tôi muốn nói là không được chủ động rủ bạn bè tụ tập đi uống nước, trà đá, cà phê, liên hoan, xem phim, xem ca nhạc… Tuy nhiên, khi bạn bè tìm đến ta nhờ ta giúp đỡ, có bài tập khó muốn nhờ ta hướng dẫn giải thì lúc này cần phải nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tận tình đến nơi đến chốn. Rồi là những lúc ta đang trên đường có người hỏi ta đường đi thì cũng phải chỉ đường cho họ thật tỉ mỉ, tận tình, thậm chí có thể lấy giấy bút vẽ sơ đồ đường đi và giải thích cặn kẽ cho họ…
Ít giao tiếp còn có nghĩa là tránh học nhóm. Rất nhiều sách và các thầy cô giáo đề cao việc học nhóm nhưng chúng tôi thì ngược lại khuyên các bạn phải tránh xa việc học nhóm này. Nếu chúng ta tụ tập học nhóm thì lúc học sẽ rất mất tập trung vì chúng ta rủ nhau chơi là chính chứ học có là mấy đâu. Hơn nữa, việc học nhóm làm cho ta ỷ lại, lười suy nghĩ, người này cứ dồn trách nhiệm cho người kia và cuối cùng chẳng có ai chịu suy nghĩ cả. Chính vì vậy, chúng tôi không khuyến khích việc các bạn học nhóm.
Chúng tôi còn nhớ hồi cuối năm lớp 9 khi ôn thi vào lớp 10 đến lớp các thầy cô cứ phát đề rồi ra ngoài chơi để học sinh tự làm, cuối giờ còn có mấy phút các thầy cô mới vào và chỉ đọc đáp số đồng thời hướng dẫn qua loa rồi cho tan học. Trong lúc làm bài ấy, học sinh có chịu học mấy đâu, toàn là các bạn nam và nữ trêu đùa nhau, rồi học sinh chỉ làm bài dễ và để lại bài khó chờ các thầy cô chữa (mà các thầy cô có chịu chữa đâu). Cuối cùng, để tránh mất thời gian ôn tập, chúng tôi đã phải xin nghỉ đến trường và ở nhà tự ôn tập. Nhân tiện đây, chúng tôi cũng có lời khuyên đối với các bạn lớp 9 và lớp 12, lúc cuối năm các bạn cũng nên xin nghỉ ở nhà tự ôn tập sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc đến lớp học lăng nhăng không ra thể thống gì hết.
Việc ít tiếp xúc với mọi người cũng giúp ta nhanh thuộc bài hơn. Thật vậy, khi chúng ta học thuộc, thì điều kiện cần thiết là phải đọc to, càng đọc to làm cho việc thuộc bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Nếu chúng ta học tập thể hay học nhóm thì việc đọc to của ta sẽ ảnh hưởng đến các bạn xung quanh, còn nếu ta tự học một mình thì rất thoải mái không ảnh hưởng đến ai cả.
Đôi khi, ta cũng cần phải có tinh thần tập thể thì mới làm nên thành quả. Ví dụ: trên lớp học, có bạn giơ tay phát biểu hoặc lên bảng chữa bài, ta phải lắng nghe tuyệt đối những lời bạn ấy nói, hoặc quan sát thật tỉ mỉ bài bạn ấy chữa trên bảng và đồng thời cũng phải tập trung nghe cô giáo nhận xét bài làm của các bạn ấy. Ở đây, ý chúng tôi muốn nói việc học nhóm hay học tập thể chỉ phát huy được tác dụng khi có các thầy cô ở trong lớp, còn nếu chỉ có học sinh học với nhau mà không có các thầy cô thì sẽ vô hiệu quả.
Tóm lại, các bạn nên càng ít tiếp xúc và sống được một mình thì càng tốt. Còn nếu trong trường hợp phải tiếp xúc với đám đông thì ta vẫn phải giữ được tâm thanh tịnh, không trầm tư mà cũng không phấn khích quá.
09:37 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 6: TÍNH QUYẾT ĐOÁN VÀ LÒNG KIÊN TRÌ
A. Tính quyết đoán.
1.
Việc phân tích thất bại trong việc suy nghĩ giải một bài toán khó của gần 100 học sinh của chúng tôi cho thấy thiếu quyết đoán gần như đứng đầu danh sách những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại.
Do dự, trái ngược với quyết đoán, là kẻ thù chung mà hầu hết mọi người chúng ta đều phải chế ngự nếu muốn thành công.
Các bạn sẽ có cơ hội kiểm định khả năng đưa ra những quyết định dứt khoát và rõ ràng sau khi đọc xong cuốn sách này và bắt đầu thực hành những nguyên tắc đã được miêu tả trong sách.
Phân tích của chúng tôi về những học sinh giỏi toán cho thấy một thực tế là từng người trong số họ đều có thói quen ra hướng giải một bài toán rất nhanh chóng, và nếu có thay đổi thì lại thay đổi chúng rất chậm. Và ngược lại, tất cả những người thất bại trong việc giải toán đều có thói quen đưa ra hướng giải rất chậm, nhưng lại thay đổi chúng rất nhanh chóng và thường xuyên.
2. Đưa ra cách giải riêng của các bạn.
Phần đông những người lười suy nghĩ thường là những người dễ bị ảnh hưởng bởi hướng giải của người khác. Nếu các bạn để mình bị tác động bởi hướng giải của người khác trong việc đưa ra quyết định, các bạn sẽ không thành công trong bất cứ việc gì, và đừng nói đến việc biến khát khao của mình để đạt đến cảnh giới toán học.
Nếu các bạn để ý kiến của người khác ảnh hưởng tới mình, các bạn sẽ không có khát vọng nào cho riêng bản thân cả. Hãy giữ vững lập trường khi các bạn bắt đầu áp dụng những nguyên tắc được miêu tả ở đây, hãy đưa ra và thực hiện hướng giải của riêng mình, đừng để ai ảnh hưởng tới niềm tin của các bạn.
B. Lòng kiên trì.
1.
Lòng kiên trì là yếu tố cần thiết để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học. Nền tảng của lòng kiên trì là sức mạnh của ý chí.
Sức mạnh ý chí và khát khao khi được kết hợp một cách đúng đắn sẽ tạo ra một cặp tính cách có sức mạnh vô địch. Sự kết hợp đó là nền tảng giúp họ đạt được những mục tiêu của mình.
Phần đông chúng ta thường sẵn sàng vứt bỏ mục tiêu và dự định của mình ngay từ dấu hiệu đầu tiên của sự phản đối hay những điều không may. Chỉ có một vài người vẫn vững vàng tiến bước bất chấp mọi lời phản đối cho đến khi họ đạt được mục đích của mình. Có thể từ “kiên trì” không có ý nghĩa nào đặc biệt lớn lao, nhưng đây là phẩm chất cần cho tính cách của các bạn, như carbon cần để biến sắt thành thép vậy.
Để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học, các bạn cần ứng dụng tất cả các nguyên tắc có ở từng chương quyển sách này. Tất cả những người giỏi toán đều thấu hiểu và áp dụng những nguyên tắc này với lòng kiên trì thực sự.
Thiếu kiên trì là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại. Hơn nữa, kinh nghiệm của hàng trăm người cho thấy, thiếu kiên trì là điểm yếu chung của hầu hết mọi người. Tuy nhiên, nó là một điểm yếu có thể khắc phục được bằng sự nỗ lực. Khắc phục tính thiếu kiên trì có dễ dàng hay không phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ mãnh liệt trong khát khao của mỗi người.
Điểm khởi đầu của mọi thành quả đều là khát vọng. Hãy luôn nhớ lấy điều này. Những khát vọng yếu ớt mang lại những kết quả yếu ớt, giống như một đốm lửa nhỏ chỉ có thể mang lại một chút ấm áp mà thôi. Nếu các bạn nhận thấy mình thiếu kiên trì, hãy khắc phục bằng cách nhóm lên một ngọn lửa lớn hơn những khát vọng của các bạn.
Các bạn cứ tiếp tục đọc đến hết, rồi quay lại Chương 1 và lập tức làm theo sáu bước được hướng dẫn ở chương 1. Các bạn càng ham muốn làm theo những hướng dẫn này thì càng chứng tỏ một cách rõ ràng là các bạn thật sự khát khao muốn đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học
Cảnh giới toán học sẽ bị hút về phía những người luôn sẵn sàng đón nhận chúng, điều đó cũng giống như mọi con sông đều đổ ra biển vậy.
2. Duy trì lòng kiên trì khi giải toán.
Trong quá trình giải một bài toán khó, sẽ có hai điều cần lưu ý:
Một là
, ta cần nghĩ ra một phương hướng giải thật nhanh và kiên trì giải theo cách ấy với niềm tin tuyệt đối.
Hai là,
một khi với cách giải ấy, nếu mãi không đi được đến đích của một bài toán thì ta cần phải chuyển sang hướng giải khác, tiếp cận sang lối đi khác (vẫn duy trì được lòng kiên trì và niềm tin như đã nói trên) biết đâu lại nghĩ ra bài toán mà ta cần giải. Điều này cũng giống như một nam tử hán đại trượng phu muốn chinh phục một mỹ nhân vẹn toàn tài sắc vậy. Nếu như ta đã kiên trì sử dụng tuyệt chiêu nào đó rất hay mà vẫn không cưa đổ nàng thì phải sử dụng các chiêu thức tiếp cận thứ hai, thứ ba… với niềm tin sắt đá và quyết không được bỏ cuộc thì ắt sẽ thu được kết quả như ý.
Các bạn học sinh thân yêu, hãy cố gắng lên nhé. Chúng tôi luôn sẵn sàng nâng đỡ các bạn sau mỗi lần vấp ngã, sau mỗi lần thất bại để các bạn tiếp tục đứng dậy và đi tiếp trên con đường giác ngộ toán học. Chẳng phải có câu “thất bại là mẹ của thành công”, có đúng không ạ?
09:34 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 5: ÓC TƯỞNG TƯỢNG
Óc tưởng tượng thật sự là một phân xưởng nơi con người vạch ra mọi kế hoạch. Động cơ và khát vọng đều được định hình và biến thành hành động thông qua sự giúp đỡ của óc tưởng tượng. Người ta tin rằng con người có thể tạo nên bất kì thứ gì anh ta tưởng tượng ra.
Bằng khả năng tưởng tượng của mình, trong suốt năm mươi năm qua, con người đã khám phá và khống chế được sức mạnh tự nhiên nhiều hơn so với toàn bộ quá trình phát triển của nhân loại trước đó cộng lại. Và cho dù những thành tựu đạt được là rất lớn lao, chúng ta vẫn còn rất cách xa giới hạn mà con người có khả năng đạt được. Giới hạn duy nhất của con người là nằm trong sự phát triển và sử dụng óc tưởng tượng. Trí tưởng tượng của con người cung cấp những khả năng vô hạn. Nhưng chúng ta mới chỉ khám phá ra rằng mình có óc tưởng tượng và bước đầu sử dụng chúng một cách rất sơ đẳng.
Trong việc tư duy toán học cũng vậy, ta cũng nhất thiết phải có trí tưởng tượng phong phú. Nếu như ta tưởng tượng được tốt, việc nhìn hình không gian của ta có thể linh hoạt hơn, chỉ trong tích tắc mấy giây là ta có thể biết kẻ thêm đường phụ hình học, biết được nên tách và thêm bớt đại số, giải toán đại số, lượng giác, hình học...rất nhạy bén. Vì vậy, trí tưởng tượng là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học.
A. Bài tập vỡ lòng để luyện trí tưởng tượng.
Bước 1:
ta hãy mở mắt, một tay nắm lại, tay kia đếm xem trong từng tháng có bao nhiêu ngày. Ví dụ: tháng 1 có 31 ngày, tháng 2 có 28 ngày, tháng 3 có 31 ngày, tháng 4 có 30 ngày, tháng 5 có 31 ngày, tháng 6 có 30 ngày, tháng 7 có 31 ngày, tháng 8 có 31 ngày, tháng 9 có 30 ngày, tháng 10 có 31 ngày, tháng 11 có 30 ngày, tháng 12 có 31 ngày.
Bước 2:
làm tương tự như bước 1 nhưng khác ở chỗ là ta nhắm mắt lại.
Bước 3:
nhắm mắt và nắm hai tay lại, tập đếm ngày trong từng tháng. Lưu ý rằng ta hãy tưởng tượng ra có một cái que hay một ngón tay nào đó đang chạm vào từng tháng mà ta đang đếm.
Bước 4:
làm tương tự như bước 3, chỉ khác ở chỗ là hai tay lần này không nắm lại nữa. Mọi công việc mà ta làm khi này là đều trong trí tưởng tượng hết. Lưu ý: Bài tập này lúc bắt đầu có thể hơi khó thực hành. Tuy nhiên, nếu ta quyết tâm thì “không có việc gì khó”.
B. Bài tập cơ bản để xây dựng trí tưởng tượng khoa học.
Bước 1:
trên cơ sở nắm thật chắc lý thuyết và đã nắm vững cách giải một bài toán nào đó, hãy giải ra nháp bài toán đó thật chi tiết. Làm đi làm lại bài ấy (lúc đầu phải làm thật chậm và sau đó sẽ nhanh dần, nhanh dần đến khi nào siêu nhanh thì thôi).
Bước 2:
nhắm mắt lại và giải lại bài ấy trong trí tưởng tượng. Lưu ý rằng cần làm từng bước, từng bước thật chậm, phần nào mà ta tưởng tượng khó thì cần phải làm đi làm lại đến khi nào thành thạo thì thôi.
Bước 3:
làm đi làm lại bước 2 đến khi nào đạt đến tốc độ siêu nhanh (thần tốc) thì thôi.
09:28 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 4: KIẾN THỨC VÀ TRÍ TUỆ VÔ BIÊN
Giữa kiến thức mà ta tích lũy được và trí tuệ vô biên có quan hệ chặt chẽ, mật thiết, thống nhất lẫn nhau, bổ sung cho nhau và không thể tách rời nhau được.
A. Tích lũy kiến thức từ đâu?
Từ trong sách vở.
Từ những lần giải các đề thi ta rút ra kinh nghiệm riêng cho chính mình.
Từ thầy cô và bạn bè.
Từ trí tuệ vô biên.
Những kiến thức này muốn có được phải do chính ta vun tập hàng ngày chứ không thể một sớm một chiều mà có thể nhồi nhét hết được.
B. Trí tuệ vô biên.
Trí tuệ vô biên là loại trí tuệ sáng tạo, nó được hình thành trên cơ sở nền tảng kiến thức và các dạng bài toán ta phải nắm thật vững. Một khi, ta gặp các dạng bài toán lạ mà trước đây chưa lần nào được làm, thì đến lúc đó ta phải sử dụng đến trí tuệ sáng tạo này.
Muốn có được trí tuệ vô biên, ta phải nắm được thật vững các nguyên lý trong từng chương của cuốn sách này, thực hành thật nhiều lần, sau mỗi lần thực hiện sẽ rút ra kinh nghiệm và ắt sẽ thành công.
09:25 SA 02/11/2018
Chia sẻ kinh nghiệm học các thầy cô dạy văn toán...
CHƯƠNG 3: NHƯ LÝ TÁC Ý
Chúc mừng các bạn đã đến với chương quan trọng nhất của cuốn sách này. Sau khi học xong chương này, các bạn sẽ hiểu được cách làm thế nào để có thể điều khiển được trí não, bắt nó phải hướng về tư duy đúng đắn để tìm ra lời giải cho một bài toán khó.
A. Như lý tác ý là gì?
Như lý tác ý là pháp môn tự kỷ ám thị, là một thuật ngữ đề cập đến tất cả những hình thức tự kích thích và khuyến khích bản thân qua năm giác quan (nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ) của con người. Nói cách khác, như lý tác ý là quá trình tự tâm niệm, tự khích lệ. Nó đóng vai trò là cầu nối giữa một bên là ý thức tạo ra tư duy và một bên là tiềm thức tạo ra hành động thông qua những suy nghĩ chi phối tâm trí bấy lâu vẫn tồn tại trong ý thức (không quan trọng đó là những suy nghĩ tích cực hay tiêu cực), những nguyên tắc của như lý tác ý sẽ chạm đến tiềm thức con người và tác động đến tiềm thức bằng những suy nghĩ đó.
Tạo hóa đã cho con người năm giác quan (nghe, nếm, nhìn, ngửi, sờ) mà thông qua đó, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát những gì được truyền tiềm thức của chúng ta. Tuy vậy, trong phần lớn các trường hợp, con người thường không sử dụng khả năng kiểm soát đó. Điều này giải thích tạo sao nhiều người luôn luôn bị học dốt toán.
Hãy hồi tưởng lại những gì chúng tôi đã nói về tiềm thức. Tiềm thức giống như một khu vườn màu mỡ. Khu vườn đó sẽ đầy cỏ dại nếu những hạt giống tốt không được gieo trồng. Như lý tác ý là một hình thức giúp các bạn gieo vào tiềm thức của mình những suy nghĩ mang tính sáng tạo hoặc bỏ mặc cho những suy nghĩ có tính chất phá hoại tìm thấy lối vào khu vườn màu mỡ đó của tâm hồn.
B. Những ai đã sử dụng thành công pháp ”như lý tác ý”?
Nhìn lại dòng lịch sử từ hơn 2500 năm từ trước đến nay, người đầu tiên biết đến và sáng lập ra pháp môn này là thái tử Tất Đạt Đa ở Ấn Độ. Nhờ có như lý tác ý mà người đã chứng đạt và trở thành phật (với niên hiệu là Thích Ca Mâu Ni). Từ đó, phật còn dùng pháp “như lý tác ý” này để làm chủ sinh, lão, bệnh, tử. Ở Việt Nam ta gần đây nhất, cũng có vị sư tu hành đắc quả A La Hán giống như phật, đó chính là trưởng lão Thích Thông Lạc.
Trong lĩnh vực vật lý, nhiều nhà bác học đã sử dụng như lý tác ý để khám phá ra quy luật của vũ trụ. Và hơn hẳn hết phải kể đến nhà bác học Anhxtanh- người đã khám phá ra “thuyết tương đối” mà khiến cả thế giới phải khâm phục.
Về toán học, chẳng ai xa lạ cả, người đó chính là giáo sư Ngô Bảo Châu. Nhờ có sử dụng như lý tác ý, cuối cùng ông cũng giải quyết thành công bổ đề cơ bản trong chương trình Langlands, bài toán đã làm đau đầu hàng nghìn bộ óc thế giới suốt gần nửa thế kỷ qua. Bổ đề cơ bản cũng giống như định lý lớn Fermat, giả thuyết Riemann hay giả thuyết Poincaré, đều là những bài toán khó nhất và có ứng dụng nhiều nhất của toán học hiện đại.
Gần đây nhất thì có chúng tôi, cũng sử dụng như lý tác ý để giác ngộ chân lý toán học và quy luật của vũ trụ vạn vật, làm chủ được tham, sân, si, sức khỏe, bệnh tật,... Và chúng tôi cũng thấy rằng để đạt được những thành tích lớn lao như trên chẳng có gì là huyền bí cao siêu cả. Chỉ cần thực hành đúng như những lời chúng tôi sẽ chỉ dẫn dưới đây, cộng thêm một chút sự kiên trì, niềm tin sắt đá thì nhất định các bạn sẽ có kết quả.
C. Thực hành như lý tác ý.
1.
Qua những lợi ích như đã nêu trên, chúng ta thấy rằng cần thiết phải học pháp môn như lý tác ý này. Nhưng để thực hành nó thì cần phải có người đã từng tu tập được thành công pháp môn này. Bởi vì có rất nhiều sách báo viết về vấn đề này nhưng chỉ mang tính chất sưu tầm rồi viết lại lăng nhăng không đúng phương pháp chút nào cả. “Không biết thì phải dựa cột mà nghe”, đằng này không chịu thực hành để đạt được thành công mà lại dám viết sách, viết báo bằng cách “nhai lại bã mía” của những người sai lầm đi trước, rồi lại truyền dạy cho người khác. Việc làm này rất tai hại không khác gì người mù mà đòi dẫn đường chỉ lối cho người hỏi đường.
Bản chất cốt lõi của như lý tác ý là dùng tâm để nhẩm một lời đề nghị nào đó, ra lệnh cho tâm và thân ta, khiến tâm và thân ta phải làm theo mệnh lệnh đó một cách vô thức.
2.
Để sử dụng tốt như lý tác ý có hiệu quả liền, điều kiện đầu tiên là các bạn cần phải nắm thật vững tất cả các nguyên tắc có ở từng chương của quyển sách này, trong đó đặc biệt lưu ý đến chương 7 (sống độc cư).
Bây giờ chúng ta sẽ đi đến việc chính thức là thực hành pháp như lý tác ý. Bạn hãy chọn một phòng kín và thật yên tĩnh, nhắc mọi người tránh làm phiền ta. Nếu bạn sử dụng điện thoại di động thì phải tắt nó đi. Ngồi trên ghế mà có thể dựa lưng được, hoặc bạn cũng có thể ngồi dưới đất tựa lưng vào tường (lưu ý là phải ngồi thẳng lưng). Gạt bỏ hết tất cả những suy nghĩ linh tinh, buồn phiền, lo âu, tham lam…, trong đầu chỉ hướng về bài toán khó mà ta cần tìm ra hướng làm. Mắt nhắm, hai tay để thả lỏng bên đầu gối hai chân. Sau đó hãy nhẩm trong đầu câu nói sau: “Các dạng toán đều là vô thường, cái bài tập khó này (đọc tên bài toán ấy lên) hãy hiện ra lời giải cho ta mau lên”. Tiếp tục bạn hít vào, thở ra 5 lần rồi nín thở và lại nhẩm tiếp: “Các dạng toán đều là vô thường, cái bài tập khó này (đọc tên bài toán ấy lên) hãy hiện ra lời giải cho ta mau lên”.
Cứ làm đi làm lại như vậy đến khi nào bài toán của bạn cần giải lóe lên cách giải trong tâm trí bạn thì thôi. Ở đây, ta cần lưu ý hít vào và thở ra mới tính là 1 lần. Tùy theo từng người mà kết quả đạt được sẽ khác nhau. Có người chỉ cần tác ý 2 đến 3 lần là hiện ngay lời giải, nhưng cũng có người phải hàng tiếng đồng hồ mới có kết quả. Nếu bạn tuân thủ những nguyên tắc mà chúng tôi nêu ra ở từng chương trong cuốn sách này bao nhiêu thì việc tác ý của bạn sẽ có kết quả bấy nhiêu.
3. Chú ý.
Nếu các bạn rỗng hết kiến thức toán mà sử dụng như lý tác ý thì có thực hiện đến trăm lần, nghìn lần cũng vô ích, cũng không thể nào lóe lên lời giải của bài toán ấy được. Chúng tôi thấy có rất nhiều học sinh trong năm học không chịu học hành gì hết, đến lúc thi mới sử dụng như lý tác ý thì đã quá muộn rồi. Việc học là cả một quá trình vun tập và tích lũy kiến thức chứ không phải một sớm một chiều mà đòi thành tài được. Hãy nhớ đến câu nói của Khổng Tử “dục tốc bất đạt” (câu này có nghĩa trong lĩnh vực toán học nói riêng là không có chuyện học cấp tốc mà đòi đạt được điểm cao được).
Nếu tâm trạng của các bạn lo âu, hay suy tư, mất tập trung thì hãy tác ý câu sau: “Tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự” (với cách tác ý giống hệt như phần 2 đã nêu trên).
Và cũng còn một lưu ý quan trọng nữa là ta phải giữ được tỉnh táo, không được buồn ngủ trong khi tác ý. Trước khi tác ý giải toán, nếu buồn ngủ thì bạn hãy vừa đi bộ và vừa tác ý câu sau: “Tâm phải thức tỉnh, phải sáng suốt như ban ngày, tâm phải sáng suốt như ánh mặt trời, không được buồn ngủ nữa, tâm phải thức tỉnh“. Lúc này mắt của bạn phải mở, hướng về sống mũi.
Trên đây chúng tôi đã hướng dẫn các bạn cách thực hành pháp như lý tác ý. Quá trình đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học phải được thông qua hình thức như lý tác ý. Đó là nguyên tắc quan trọng mà qua đó các bạn có thể chạm tới và ảnh hưởng lên tiềm thức của chính mình. Những nguyên tắc khác chỉ là những công cụ đơn giản để áp dụng pháp như lý tác ý. Hãy lưu giữ suy nghĩ này trong đầu và các bạn hãy luôn ý thức rằng nguyên tắc “như lý tác ý” giữ vai trò quan trọng trong nỗ lực của các bạn nhằm đạt đến “cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học” thông qua những phương pháp được nói đến trong cuốn sách này.
Sau khi các bạn đã đọc xong cuốn sách, hãy quay trở lại chương này và thực hiện trên cả tinh thần cũng như hành động theo hướng dẫn sau đây: Hãy đọc cả chương một lần mỗi tối cho tới khi các bạn bị chinh phục hoàn toàn bởi những tính đúng đắn của những nguyên tắc như lý tác ý và rằng những nguyên tắc đó sẽ thỏa mãn mọi đòi hỏi của các bạn. Trong khi đọc, hãy dùng bút chì gạch chân những câu gây ấn tượng đối với các bạn.
Hãy làm theo đúng những hướng dẫn đã nói ở trên, nó sẽ đưa các bạn đến một hiểu biết thấu đáo cũng như nắm vững nguyên tắc thành công.
09:23 SA 02/11/2018
l
lrohgohkj
Bắt chuyện
578
Điểm
·
0
Bài viết
Gửi tin nhắn
Báo cáo
Lên đầu trang
https://www.webtretho.com/f/chon-truong-cap-2-va-cap-3/chia-se-kinh-nghiem-hoc-cac-thay-co-day-van-toan-ly-hoa-tot-cap-2-3-1676206
https://www.webtretho.com/f/chon-truong-cap-2-va-cap-3/chia-se-kinh-nghiem-hoc-cac-thay-co-day-van-toan-ly-hoa-tot-cap-2-3-1676206
Hỏi: Thưa thầy, quá trình đạt đến cảnh giới toán học phải trải qua các giai đoạn nào?
Đáp: Bất kể ai, dù thông minh hay không thông minh, muốn đến đến cảnh giới toán học đều cần phải trải qua các giai đoạn sau đây:
+) Giai đoạn 1: học thuộc và nắm thật vững lý thuyết, các công thức toán, những dạng toán. Phải biết tìm tòi, nghiên cứu, chỗ nào khó hiểu phải hỏi những thầy cô giáo có kinh nghiệm.
+) Giai đoạn 2: (đẩy nhanh tốc độ làm bài). Theo định luật II Niuton, F=ma (trong đó, F là lực, a là gia tốc). Như vậy ta thấy F tỉ lệ thuận với a. Do đó ứng dụng nó vào giải toán ta thấy nếu tốc độ của giải toán của ta càng nhanh thì mức tư duy của ta càng nhạy, phản xạ nhanh hơn...nói chung là thông minh hơn.
+) Giai đoạn 3: (đọc thêm các tài liệu tham khảo). Trên cơ sở nắm thật chắc lý thuyết và các dạng bài tập, rồi đẩy nhanh tốc độ giải toán, đến lúc đó ta cần phải đọc thêm thật nhiều sách tham khảo, các đề thi của các trường cũng như đề thi của quận, thành phố, sở, bộ… Ta đọc một cách chậm rãi xem có gì mới lạ mà cần phải bổ sung để đưa vào “từ điển toán học” của ta hay không, rồi từ đó hãy rút ra kinh nghiệm cho riêng ta. Lưu ý rằng không nhất thiết phải đọc toàn bộ sách, tài liệu mà chỉ đọc những dạng mới và chỉ cần biết hướng giải của bài toán ấy, phương pháp giải nó là được.
+) Giai đoạn 4: gạt bỏ hết tất cả các kiến thức cũng như các dạng toán mà ta học được, các phương pháp giải thủ công có ở trong sách cũng như thầy cô đã từng dạy ta, thử giải bất kể một toán nào. Bài toán ấy có thể là dạng quen, cũng có thể là mới lạ đối với ta. Nhưng điều đó không quan trọng, quan trọng nhất là ta phải giải theo cách riêng ta, theo lối tư duy của ta mà không hề bị bó buộc bởi cách giải của quyển sách nào, của thầy cô nào cả.
Ba giai đoạn đầu là ta thu nạp kiến thức đưa nó vào kiến thức của ta, giai đoạn 4 là ta xả hết kiến thức để dẫn đến trạng thái “hư không” nhằm mục đích “ vô dạng thắng hữu dạng”
Chúc các con thành công và sớm giác ngộ được chân lý toán học.
Các bạn thân mến! Chúng ta đã cùng nhau trải qua chín chương của cuốn sách này. Chưa cần nói đến việc các bạn đã thực hành theo lời chỉ dẫn của sách hay chưa, chỉ cần đọc thôi thì đã chứng tỏ các bạn là người chăm chỉ, thích đọc sách và ham học hỏi rồi.
Trước hết chúng ta hãy đọc chậm rãi cuốn sách một lượt để có thể bao quát được hết nội dung của nó. Sau đó đọc lại lần thứ hai thì cần có sự phân tích, đánh giá và gạch chân bằng bút chì những từ ngữ, những câu quan trọng, đồng thời đọc đến đâu thì thực hành đến đó. Và cứ như thế, đọc đi đọc lại cuốn sách này song song với việc thực hành nó. Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng thực hành chỉ có ở chương 3 (như lý tác ý), chương 5 (óc tưởng tượng) và chương 9 (giác quan thứ sáu), các chương khác chỉ mang tính chất bổ trợ cho việc thực hành của ba chương này mà thôi. Khi nào các bạn thực hành thành công 100% ba chương này thì không cần phải đọc nữa vì khi ấy chúng ta đã đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học rồi. Cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học vô hạn, chỉ giới hạn ở hình thức thôi, chứ mọi sự vô hạn.
Thật đáng buồn cho đất nước ta, một phó giáo sư, tiến sĩ toán học cũng chỉ là tấm bằng ảo trong khi ấy lại không hề hay biết gì về như lý tác ý và giác quan thứ sáu. Những người này cũng chỉ “nhai lại bã mía” của những nhà toán học đi trước chứ không phát minh được thêm gì hết, rồi sau đó đi đâu cũng khoe khoang bằng cấp của họ. Các bạn trẻ ạ! Hãy đem tất cả những gì đã học được làm biến đổi nó, gạt bỏ hết tất cả những dạng bài cùng với giới hạn của nó, sau này triển vọng thế nào phải dựa vào chính các bạn. Và chúng tôi tin chắc sẽ có một ngày nào đó các bạn sẽ tự tìm ra được cái gọi là “cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học”.
A. Như ta đã được biết, chương 3 (như lý tác ý) là chương quan trọng nhất. Và giờ đây đến chương này cũng không kém phần quan trọng. Theo tiến sĩ Trần Đại Phúc, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: giác quan thứ sáu là khái niệm chỉ khả năng tiếp nhận thông tin của con người qua một kênh siêu nhiên, vượt trội hơn hẳn năm giác quan bình thường kia (đó là nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ). Nó không phải là giác quan cụ thể nào. Cho đến nay, khả năng siêu phàm này vẫn còn là một điều kỳ bí đối với nhân loại. Còn đối với đức phật Thích Ca Mâu Ni, người đã giác ngộ hoàn toàn chân lý của vạn vật và vũ trụ, thấy rằng giác quan thứ sáu này chẳng có gì xa lạ cả. Đó chỉ là “tưởng uẩn” mà thôi (có năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn). Dựa vào đó, đức phật còn giải thích rằng không có thế giới siêu hình, không có địa ngục, thiên đàng hay cõi trời... gì hết, tất cả là do tưởng uẩn của chúng ta tạo nên mà thôi.
Nhờ có giác quan thứ sáu, ta có thể biết được tính cách của một người thông qua lúc nhắn tin trên điện thoại với người đó mà chưa từng được gặp người đó lần nào. Cũng nhờ có giác quan thứ sáu này, ta sẽ được báo trước một tai họa nào đó sắp ập đến hay một điều may mắn sắp mỉm cười đến với ta. Một người nếu có giác quan thứ sáu cũng có thể dự đoán được kết quả xổ số hay mã cổ phiếu tăng giảm thế nào…. Tuy nhiên, đó chỉ là phạm vi ngoài cuốn sách này, mục đích của chúng tôi trong chương này là dạy cho các bạn làm thế nào để có được giác quan thứ sáu và sử dụng nó vào việc tìm ra lời giải cho một bài toán khó cũng như một bài toán có dạng mới mà ta chưa từng gặp. Kinh nghiệm để đạt được giác quan thứ sáu cho thấy không cần phải có tài năng bẩm sinh hay trí tuệ siêu việt gì hết, cũng không phải tốn một đồng nào cả. Chúng ta chỉ cần kiên trì luyện tập, thực hành theo đúng lời chỉ dẫn của chúng tôi thì ai cũng có thể có được giác quan thứ sáu này. Những phần mà chúng tôi viết dưới đây hoàn toàn là do luyện tập mà đạt được rồi truyền lại cho các bạn, chứ hoàn toàn không nêu ra mấy ý vặt vãnh, không viết theo kiểu “nhai lại bã mía” chỉ mang tính chất sưu tầm tài liệu rồi viết lại như các sách báo. Vì chỉ khi nào có được giác quan thứ sáu thì mới có thể dạy lại được cho người khác, chứ chưa chứng đạt mà đem truyền dạy thì chẳng khác nào người mù mà đòi dẫn đường chỉ lối cho người hỏi đường.
Điều kiện để có được giác quan thứ sáu là phải thành thạo tất cả các nguyên tắc từ chương 1 đến chương 8.
B. Luyện tập để có được giác quan thứ sáu.
Để hình thành được giác quan thứ sáu, chúng tôi đã phải khổ luyện mất hai năm trời. Rồi sau đó đem truyền dạy, rút kinh nghiệm từ những sai lầm đi trước, học trò xuất sắc nhất và nhanh nhẹn nhất của chúng tôi cũng phải nửa năm mới có được giác quan thứ sáu. Từ đó, dẫn đến kết luận rằng muốn hình thành được giác quan thứ sáu thì ít nhất phải mất nửa năm.
Sau khi đã nắm vững các nguyên tắc từ chương 1 đến chương 8, đặc biệt là chương 3 (như lý tác ý) và chương 5 (óc tưởng tượng), chúng ta sẽ đi vào từng bước, từng bước để đạt được giác quan thứ sáu.
Để cho dễ hiểu, chúng tôi xin minh họa thông qua ví dụ cụ thể lại đơn giản cho các bạn:
Bài tập số 1: Bạn hãy ngồi trong phòng kín, tắt hết đèn đi và không để cho ánh sáng lọt vào trong phòng. Hình dung bạn đang ngồi trong lớp học, và lúc này đang là tiết toán. Cô giáo viết đề bài lên bảng với nội dung như sau:
Tính: 60+10+30
Sau đó cô giáo gọi bạn đứng dậy để trả lời. Hãy cố gắng hình dung cuộc đối thoại dưới đây:
- Cô: Con hãy cho cô biết khi tính giá trị biểu thức như thế này thì phải làm như thế nào?
- Bạn: Thưa cô, con sẽ thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải ạ.
- Cô: 60+10 bằng bao nhiêu?
- Bạn: Con thưa cô, 60+10=70 ạ.
- Cô: đúng rồi.
Rồi cô viết lên bảng:
60+10+30
= 70 +30
- Cô: 70+30 bằng bao nhiêu?
- Bạn: Dạ thưa cô, 70+30=100 ạ.
- Cô: đúng rồi, con giỏi lắm.
Cô giáo viết nốt lên bảng:
60+10+30
= 70 +30
= 100
Cả lớp vỗ tay hoan hô.
Các bạn phải thực hành cho thật nhuần nhuyễn bài tập trên, từng câu đối thoại một, khi nào tưởng tượng thành công câu đối thoại này thì mới chuyển sang câu đối thoại khác. Trong quá trình thực hành, các bạn cố gắng hình dung sao cho giống hệt như ở ngoài thật: có âm thanh, màu sắc, mùi vị, cảm giác hồi hộp và sung sướng…
Trên đây, chúng tôi mới chỉ minh họa một ví dụ hết sức đơn giản để các bạn dễ luyện tập. Dựa vào đó, các bạn hãy áp dụng vào bài tập toán mà trên lớp các bạn đã được học và được cô giáo gọi lên bảng. Tuy nhiên, lúc đầu các bạn sẽ cảm thấy khó hơn ví dụ trên, nhưng dần dần rồi các bạn sẽ quen và thấy dễ thôi.
Sau khi luyện thành thạo bài tập số 1, ta tiếp tục luyện tiếp bài tập số 2.
Bài tập số 2:
Cũng giống như bài tập số 1, bài tập số 2 này bạn đóng vai trò là người không biết gì và hỏi cô giáo, nhờ cô giáo hướng dẫn làm bài tập.
Giả sử bạn muốn hỏi cô bài tập sau:
Tính: 60+10+30
- Bạn: Thưa cô, khi tính giá trị biểu thức như thế này thì phải làm như thế nào ạ?
- Cô: Con sẽ phải tính theo thứ tự từ trái sang phải nhé.
- Bạn: Vâng ạ. Thưa cô, 60+10 bằng bao nhiêu ạ?
- Cô: 60+10=70 con nhé .
- Bạn: Dạ. Thưa cô, 70+30 bằng bao nhiêu ạ?
- Cô: 70+30=100 con nhé.
- Bạn: Dạ vâng, con rõ rồi, con cám ơn cô nhiều ạ.
Rồi bạn hoàn thành bài làm:
60+10+30
= 70 +30
= 100
Các vấn đề lưu ý cũng giống hệt như bài tập số 1.
Sau khi hoàn thành xong bài tập số 2 này, các bạn phải tập hỏi các bài tập mà cô giáo, thầy giáo bạn giao về nhà với phương pháp thực hành giống hệt như bài tập số 2. Lần thứ nhất hỏi các thầy cô mà trong trí tưởng tượng không có câu trả lời thì hỏi lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư,... rồi đến ngày hôm sau, hôm sau nữa… đến khi nào có được câu trả lời của các thầy cô trong trí tưởng tượng thì thôi. Lúc đầu các bạn phải mất rất nhiều thời gian mới thực hiện được nhưng sau này trở thành thói quen thì rất nhanh, chỉ cần hỏi một đến hai lần là được trả lời rồi. Đạt đến mức như vậy thì các bạn sẽ rất yên tâm trong các bài kiểm tra hay bài thi.
Trên đây chúng tôi đã hướng dẫn cho các bạn từ A đến Z để hình thành được giác quan thứ sáu. Mục đích chính yếu của chương này là sử dụng trí tưởng tượng để hỏi các thầy cô toán, các phó giáo sư, giáo sư toán học những bài khó mà các bạn chưa giải được, sao cho trong trí tưởng tượng họ sẽ giúp các bạn giải được những bài tập khó ấy.
A.Tiềm thức là gì?
Tiềm thức là một lĩnh vực thuộc nhận thức trong đó mọi xung lực tư tưởng trong ý thức được phân loại và lưu trữ thông qua một trong năm giác quan (nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ). Tiềm thức sẽ thu nhận và sắp xếp các ấn tượng có được qua cảm giác, hoặc các suy nghĩ, bất kể bản chất của chúng là gì.
Các bạn có thể cấy vào trong tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, ý tưởng hay mục đích nào mà các bạn khát khao muốn biến thành hiện thực. Khao khát được kết hợp với cảm xúc và niềm tin vào khả năng của mình sẽ là những khao khát mạnh mẽ nhất. Bởi thế, đó cũng là những khát khao đầu tiên mà tiềm thức đáp ứng.
Tiềm thức hoạt động cả ngày lẫn đêm, và bằng một cách thức nào đó mà hiện nay con người vẫn chưa hiểu hoàn toàn (trừ những người nào chứng tứ thiền thành phật), tiềm thức dựa vào trí tuệ vô biên để có được sức mạnh biến khát vọng thành hiện thực. Quá trình đó được thực hiện theo những cách thức trực tiếp và thực tế nhất.
Các bạn không thể điều khiển hoàn toàn tiềm thức của mình, nhưng các bạn có thể truyền đạt cho nó bất kỳ kế hoạch, khát khao hay mục đích nào mà các bạn muốn biến thành hiện thực. Hãy đọc lại những hướng dẫn về việc sử dụng tiềm thức trong chương 3 (như lý tác ý).
Từ những nghiên cứu cá nhân, chúng tôi đi đến kết luận rằng tiềm thức là mắt xích kết nối giữa trí tuệ hữu hạn của con người và trí tuệ vô biên. Nó là trung gian để qua đó các bạn có thể sử dụng nguồn sức mạnh của trí tuệ vô biên. Chỉ có tiềm thức chứa đựng quá trình mà qua đó các ý nghĩ được biến đổi và chuyển hóa thành hiện thực. Chỉ có nó là con đường trung gian để một lời nguyện ước (khát vọng) được truyền đến nơi có thể đáp ứng (miền trí tuệ vô biên).
B. Cách kích thích tiềm thức để gia tăng sức mạnh sáng tạo.
Các bạn sẽ có khả năng vô cùng lớn khi liên kết được những nỗ lực sáng tạo và tiềm thức. Chúng tôi chưa bao giờ bàn về tiềm thức mà không cảm thấy mình thật nhỏ bé và thấp kém, bởi sự thật là tất cả kho tàng kiến thức nhân loại về chủ đề này tiếc thay còn rất hạn hẹp.
Trước hết, các bạn phải chấp nhận sự tồn tại thực tế của tiềm thức và hiểu được nó có thể làm gì cho mình. Điều đó có thể giúp các bạn hiểu được khả năng tiềm thức có thể trở thành trung gian để biến đổi khát khao của các bạn thành hiện thực. Và sau đó, các bạn sẽ lĩnh hội được ý nghĩa đầy đủ của những hướng dẫn đã được cung cấp cho các bạn trong chương 1 (Khát vọng). Các bạn cũng sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc làm cho những khát khao của mình trở nên rõ ràng và viết chúng ra giấy. Các bạn cũng sẽ hiểu được sự cần thiết của lòng kiên trì trong việc thực hiện theo những hướng dẫn này.
Tất cả các nguyên tắc ở từng chương của cuốn sách này – là những tác nhân kích thích mà nhờ chúng, các bạn có khả năng tác động lên tiềm thức của mình. Đừng nản lòng nếu các bạn không thành công trong lần cố gắng đầu tiên. Hãy nhớ rằng tiềm thức chỉ có thể được chỉ huy thông qua thói quen. Các bạn chưa có đủ thời gian để kiểm soát được niềm tin. Hãy kiên nhẫn. Hãy bền chí.
Nhiều điều đã được đề cập đến trong Chương 2 (Niềm tin) và chương 3 (như lý tác ý) sẽ được nhắc lại ở đây để các bạn thấu hiểu hơn tiềm thức của mình. Hãy nhớ rằng, tiềm thức của các bạn hoạt động bất kể các bạn cố gắng tác động đến nó hay không. Điều này có nghĩa là những ý nghĩ về sự sợ hãi như điểm kém, học dốt toán... và tất cả những ý nghĩ tiêu cực đều là các tác nhân kích thích tiềm thức của các bạn, trừ khi các bạn kiểm soát được những xung lực tư tưởng này và nuôi dưỡng tiềm thức của các bạn bằng những “món ăn” tích cực hơn.
Tiềm thức sẽ không ngừng làm việc! Nếu các bạn không đặt khát khao vào tiềm thức của mình, thì tiềm thức sẽ được nuôi dưỡng bằng bất cứ ý nghĩ nào nó nhận được. Đó là kết quả của sự xao lãng trong các bạn. Tất cả các ý nghĩ tích cực lẫn tiêu cực đều liên tục chạm vào tiềm thức của con người. Chúng đến từ bốn nguồn: 1) một cách có ý thức từ người khác; 2) vô thức của các bạn; 3) một cách vô thức từ người khác; 4) miền Trí tuệ vô biên.
Hàng ngày, các xung lực của ý nghĩ va chạm với tiềm thức của các bạn mà các bạn không hay biết. Một số ý nghĩ tiêu cực, một số khác là tích cực. Ngay bây giờ các bạn phải tập trung cố gắng “khóa” những ý nghĩ tiêu cực lại, và hành động một cách tích cực để tác động vào tiềm thức của mình thông qua các khát khao tích cực. Khi làm được điều này, các bạn sẽ có được chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn vào tiềm thức của mình. Hơn nữa, các bạn sẽ hoàn toàn kiểm soát cánh cửa đó mà không một ý nghĩ vẩn vơ, không được mong muốn nào có thể làm ảnh hưởng đến tiềm thức của mình.
Mọi thứ con người tạo ra bắt đầu dưới dạng một ý niệm. Các bạn không thể tạo ra cái mà các bạn không hình dung được trong tâm trí mình. Với sự giúp đỡ của trí tưởng tượng, các ý nghĩ có thể được sắp xếp lại thành những kế hoạch. Trí tưởng tượng, khi được kiểm soát, có thể được sử dụng để tạo ra những kế hoạch hay mục đích dẫn đến sự thành công trong cuộc sống của các bạn.
Tất cả những ý nghĩ mà các bạn muốn biến thành thành công, và được “cấy” vào tiềm thức, phải đi qua giai đoạn tưởng tượng, và được hòa trộn với niềm tin (niềm tin của các bạn vào khả năng của mình như đã nói ở chương 2). Sự kết hợp giữa niềm tin với một kế hoạch, hay mục đích, để đến được với tiềm thức, phải qua giai đoạn tưởng tượng (ở chương 5).
Từ những điều này, các bạn sẽ dễ dàng nhận thấy rằng, nếu muốn tận dụng tiềm thức, sẽ phải có sự phối hợp và áp dụng tất cả các nguyên tắc ở từng chương của cuốn sách này.
C. Trung tâm não bộ.
` Trung tâm não bộ chính là sức mạnh trí tuệ - điều then chốt để thành công. Bản thân các kế hoạch là vô nghĩa nếu như không có một lực nào đó đẩy chúng rời khỏi chỗ. Phần này mô tả phương pháp giúp các bạn có trí tuệ vào việc giải bài toán khó một cách có hiệu quả.
Nói đến sức mạnh trí tuệ, chúng tôi hàm ý rằng kiến thức phải được thu thập, tổ chức và sử dụng thông minh nhất có thể. Ta hãy cùng nhau nghĩ xem làm cách nào ta có thể tạo cho mình sức mạnh này được tốt hơn. Vì nó chính là kiến thức có tổ chức, nên ta hãy nghiên cứu nguồn gốc của kiến thức:
1) Trí tuệ siêu nhiên: Với nguồn kiến thức này bạn có thể tiếp xúc bằng phương pháp mô tả trong chương óc tưởng tượng (ở chương 5).
2) Kinh nghiệm tích lũy: Kinh nghiệm loài người tích lũy được (ít nhất là phần ghi nhận lại được) có thể lấy ra từ sách có trong các thư viện. Một phần rất quan trọng của kinh nghiệm này được phân loại, hệ thống hóa và giảng dạy ở nhà trường.
3) Thí nghiệm và nghiên cứu: Cả trong khoa học lẫn trong đời sống hàng ngày con người đều thu thập, phân loại và tổng kết tất cả những sự kiện mới. Không nên coi thường nguồn kiến thức này, đặc biệt nếu các bạn không sử dụng được kinh nghiệm tích lũy hàng ngày. Nhưng ngay trong trường hợp này cũng đừng quên trí tưởng tượng sáng tạo.
Kiến thức, thu nhận được từ bất kỳ nguồn nào, đều có thể trở thành sức mạnh nếu nó được tổ chức trong kế hoạch hành động và cuối cùng bản thân nó cũng trở thành hành động.
Hãy đọc lại một lần nữa cả ba nguồn thu nhận kiến thức trên và hãy nghĩ xem các bạn có dễ dàng hành động đơn độc - thu thập, tổ chức, sử dụng chúng hay không? Và hơn nữa, nó có áp dụng được trong việc giải một bài toán mà ta chưa nghĩ ra hay không?
(ÍT TIẾP XÚC)
Một người muốn học giỏi toán và đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học thì nhất định phải ít tiếp xúc với mọi người. Chỉ có ít tiếp xúc ta mới phòng hộ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), đồng thời nó cũng là điều kiện không thể thiếu để có thể sử dụng được giác quan thứ sáu (sẽ được nói đến ở chương 9) và giúp pháp ”như lý tác ý” phát huy được tác dụng.
Ít giao tiếp không có nghĩa là ta tự kỷ. Ở đây, ý chúng tôi muốn nói là không được chủ động rủ bạn bè tụ tập đi uống nước, trà đá, cà phê, liên hoan, xem phim, xem ca nhạc… Tuy nhiên, khi bạn bè tìm đến ta nhờ ta giúp đỡ, có bài tập khó muốn nhờ ta hướng dẫn giải thì lúc này cần phải nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tận tình đến nơi đến chốn. Rồi là những lúc ta đang trên đường có người hỏi ta đường đi thì cũng phải chỉ đường cho họ thật tỉ mỉ, tận tình, thậm chí có thể lấy giấy bút vẽ sơ đồ đường đi và giải thích cặn kẽ cho họ…
Ít giao tiếp còn có nghĩa là tránh học nhóm. Rất nhiều sách và các thầy cô giáo đề cao việc học nhóm nhưng chúng tôi thì ngược lại khuyên các bạn phải tránh xa việc học nhóm này. Nếu chúng ta tụ tập học nhóm thì lúc học sẽ rất mất tập trung vì chúng ta rủ nhau chơi là chính chứ học có là mấy đâu. Hơn nữa, việc học nhóm làm cho ta ỷ lại, lười suy nghĩ, người này cứ dồn trách nhiệm cho người kia và cuối cùng chẳng có ai chịu suy nghĩ cả. Chính vì vậy, chúng tôi không khuyến khích việc các bạn học nhóm.
Chúng tôi còn nhớ hồi cuối năm lớp 9 khi ôn thi vào lớp 10 đến lớp các thầy cô cứ phát đề rồi ra ngoài chơi để học sinh tự làm, cuối giờ còn có mấy phút các thầy cô mới vào và chỉ đọc đáp số đồng thời hướng dẫn qua loa rồi cho tan học. Trong lúc làm bài ấy, học sinh có chịu học mấy đâu, toàn là các bạn nam và nữ trêu đùa nhau, rồi học sinh chỉ làm bài dễ và để lại bài khó chờ các thầy cô chữa (mà các thầy cô có chịu chữa đâu). Cuối cùng, để tránh mất thời gian ôn tập, chúng tôi đã phải xin nghỉ đến trường và ở nhà tự ôn tập. Nhân tiện đây, chúng tôi cũng có lời khuyên đối với các bạn lớp 9 và lớp 12, lúc cuối năm các bạn cũng nên xin nghỉ ở nhà tự ôn tập sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc đến lớp học lăng nhăng không ra thể thống gì hết.
Việc ít tiếp xúc với mọi người cũng giúp ta nhanh thuộc bài hơn. Thật vậy, khi chúng ta học thuộc, thì điều kiện cần thiết là phải đọc to, càng đọc to làm cho việc thuộc bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn. Nếu chúng ta học tập thể hay học nhóm thì việc đọc to của ta sẽ ảnh hưởng đến các bạn xung quanh, còn nếu ta tự học một mình thì rất thoải mái không ảnh hưởng đến ai cả.
Đôi khi, ta cũng cần phải có tinh thần tập thể thì mới làm nên thành quả. Ví dụ: trên lớp học, có bạn giơ tay phát biểu hoặc lên bảng chữa bài, ta phải lắng nghe tuyệt đối những lời bạn ấy nói, hoặc quan sát thật tỉ mỉ bài bạn ấy chữa trên bảng và đồng thời cũng phải tập trung nghe cô giáo nhận xét bài làm của các bạn ấy. Ở đây, ý chúng tôi muốn nói việc học nhóm hay học tập thể chỉ phát huy được tác dụng khi có các thầy cô ở trong lớp, còn nếu chỉ có học sinh học với nhau mà không có các thầy cô thì sẽ vô hiệu quả.
Tóm lại, các bạn nên càng ít tiếp xúc và sống được một mình thì càng tốt. Còn nếu trong trường hợp phải tiếp xúc với đám đông thì ta vẫn phải giữ được tâm thanh tịnh, không trầm tư mà cũng không phấn khích quá.
A. Tính quyết đoán.
1. Việc phân tích thất bại trong việc suy nghĩ giải một bài toán khó của gần 100 học sinh của chúng tôi cho thấy thiếu quyết đoán gần như đứng đầu danh sách những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại.
Do dự, trái ngược với quyết đoán, là kẻ thù chung mà hầu hết mọi người chúng ta đều phải chế ngự nếu muốn thành công.
Các bạn sẽ có cơ hội kiểm định khả năng đưa ra những quyết định dứt khoát và rõ ràng sau khi đọc xong cuốn sách này và bắt đầu thực hành những nguyên tắc đã được miêu tả trong sách.
Phân tích của chúng tôi về những học sinh giỏi toán cho thấy một thực tế là từng người trong số họ đều có thói quen ra hướng giải một bài toán rất nhanh chóng, và nếu có thay đổi thì lại thay đổi chúng rất chậm. Và ngược lại, tất cả những người thất bại trong việc giải toán đều có thói quen đưa ra hướng giải rất chậm, nhưng lại thay đổi chúng rất nhanh chóng và thường xuyên.
2. Đưa ra cách giải riêng của các bạn.
Phần đông những người lười suy nghĩ thường là những người dễ bị ảnh hưởng bởi hướng giải của người khác. Nếu các bạn để mình bị tác động bởi hướng giải của người khác trong việc đưa ra quyết định, các bạn sẽ không thành công trong bất cứ việc gì, và đừng nói đến việc biến khát khao của mình để đạt đến cảnh giới toán học.
Nếu các bạn để ý kiến của người khác ảnh hưởng tới mình, các bạn sẽ không có khát vọng nào cho riêng bản thân cả. Hãy giữ vững lập trường khi các bạn bắt đầu áp dụng những nguyên tắc được miêu tả ở đây, hãy đưa ra và thực hiện hướng giải của riêng mình, đừng để ai ảnh hưởng tới niềm tin của các bạn.
B. Lòng kiên trì.
1. Lòng kiên trì là yếu tố cần thiết để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học. Nền tảng của lòng kiên trì là sức mạnh của ý chí.
Sức mạnh ý chí và khát khao khi được kết hợp một cách đúng đắn sẽ tạo ra một cặp tính cách có sức mạnh vô địch. Sự kết hợp đó là nền tảng giúp họ đạt được những mục tiêu của mình.
Phần đông chúng ta thường sẵn sàng vứt bỏ mục tiêu và dự định của mình ngay từ dấu hiệu đầu tiên của sự phản đối hay những điều không may. Chỉ có một vài người vẫn vững vàng tiến bước bất chấp mọi lời phản đối cho đến khi họ đạt được mục đích của mình. Có thể từ “kiên trì” không có ý nghĩa nào đặc biệt lớn lao, nhưng đây là phẩm chất cần cho tính cách của các bạn, như carbon cần để biến sắt thành thép vậy.
Để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học, các bạn cần ứng dụng tất cả các nguyên tắc có ở từng chương quyển sách này. Tất cả những người giỏi toán đều thấu hiểu và áp dụng những nguyên tắc này với lòng kiên trì thực sự.
Thiếu kiên trì là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại. Hơn nữa, kinh nghiệm của hàng trăm người cho thấy, thiếu kiên trì là điểm yếu chung của hầu hết mọi người. Tuy nhiên, nó là một điểm yếu có thể khắc phục được bằng sự nỗ lực. Khắc phục tính thiếu kiên trì có dễ dàng hay không phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ mãnh liệt trong khát khao của mỗi người.
Điểm khởi đầu của mọi thành quả đều là khát vọng. Hãy luôn nhớ lấy điều này. Những khát vọng yếu ớt mang lại những kết quả yếu ớt, giống như một đốm lửa nhỏ chỉ có thể mang lại một chút ấm áp mà thôi. Nếu các bạn nhận thấy mình thiếu kiên trì, hãy khắc phục bằng cách nhóm lên một ngọn lửa lớn hơn những khát vọng của các bạn.
Các bạn cứ tiếp tục đọc đến hết, rồi quay lại Chương 1 và lập tức làm theo sáu bước được hướng dẫn ở chương 1. Các bạn càng ham muốn làm theo những hướng dẫn này thì càng chứng tỏ một cách rõ ràng là các bạn thật sự khát khao muốn đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học
Cảnh giới toán học sẽ bị hút về phía những người luôn sẵn sàng đón nhận chúng, điều đó cũng giống như mọi con sông đều đổ ra biển vậy.
2. Duy trì lòng kiên trì khi giải toán.
Trong quá trình giải một bài toán khó, sẽ có hai điều cần lưu ý:
Một là, ta cần nghĩ ra một phương hướng giải thật nhanh và kiên trì giải theo cách ấy với niềm tin tuyệt đối.
Hai là, một khi với cách giải ấy, nếu mãi không đi được đến đích của một bài toán thì ta cần phải chuyển sang hướng giải khác, tiếp cận sang lối đi khác (vẫn duy trì được lòng kiên trì và niềm tin như đã nói trên) biết đâu lại nghĩ ra bài toán mà ta cần giải. Điều này cũng giống như một nam tử hán đại trượng phu muốn chinh phục một mỹ nhân vẹn toàn tài sắc vậy. Nếu như ta đã kiên trì sử dụng tuyệt chiêu nào đó rất hay mà vẫn không cưa đổ nàng thì phải sử dụng các chiêu thức tiếp cận thứ hai, thứ ba… với niềm tin sắt đá và quyết không được bỏ cuộc thì ắt sẽ thu được kết quả như ý.
Các bạn học sinh thân yêu, hãy cố gắng lên nhé. Chúng tôi luôn sẵn sàng nâng đỡ các bạn sau mỗi lần vấp ngã, sau mỗi lần thất bại để các bạn tiếp tục đứng dậy và đi tiếp trên con đường giác ngộ toán học. Chẳng phải có câu “thất bại là mẹ của thành công”, có đúng không ạ?
Óc tưởng tượng thật sự là một phân xưởng nơi con người vạch ra mọi kế hoạch. Động cơ và khát vọng đều được định hình và biến thành hành động thông qua sự giúp đỡ của óc tưởng tượng. Người ta tin rằng con người có thể tạo nên bất kì thứ gì anh ta tưởng tượng ra.
Bằng khả năng tưởng tượng của mình, trong suốt năm mươi năm qua, con người đã khám phá và khống chế được sức mạnh tự nhiên nhiều hơn so với toàn bộ quá trình phát triển của nhân loại trước đó cộng lại. Và cho dù những thành tựu đạt được là rất lớn lao, chúng ta vẫn còn rất cách xa giới hạn mà con người có khả năng đạt được. Giới hạn duy nhất của con người là nằm trong sự phát triển và sử dụng óc tưởng tượng. Trí tưởng tượng của con người cung cấp những khả năng vô hạn. Nhưng chúng ta mới chỉ khám phá ra rằng mình có óc tưởng tượng và bước đầu sử dụng chúng một cách rất sơ đẳng.
Trong việc tư duy toán học cũng vậy, ta cũng nhất thiết phải có trí tưởng tượng phong phú. Nếu như ta tưởng tượng được tốt, việc nhìn hình không gian của ta có thể linh hoạt hơn, chỉ trong tích tắc mấy giây là ta có thể biết kẻ thêm đường phụ hình học, biết được nên tách và thêm bớt đại số, giải toán đại số, lượng giác, hình học...rất nhạy bén. Vì vậy, trí tưởng tượng là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học.
A. Bài tập vỡ lòng để luyện trí tưởng tượng.
Bước 1: ta hãy mở mắt, một tay nắm lại, tay kia đếm xem trong từng tháng có bao nhiêu ngày. Ví dụ: tháng 1 có 31 ngày, tháng 2 có 28 ngày, tháng 3 có 31 ngày, tháng 4 có 30 ngày, tháng 5 có 31 ngày, tháng 6 có 30 ngày, tháng 7 có 31 ngày, tháng 8 có 31 ngày, tháng 9 có 30 ngày, tháng 10 có 31 ngày, tháng 11 có 30 ngày, tháng 12 có 31 ngày.
Bước 2: làm tương tự như bước 1 nhưng khác ở chỗ là ta nhắm mắt lại.
Bước 3: nhắm mắt và nắm hai tay lại, tập đếm ngày trong từng tháng. Lưu ý rằng ta hãy tưởng tượng ra có một cái que hay một ngón tay nào đó đang chạm vào từng tháng mà ta đang đếm.
Bước 4: làm tương tự như bước 3, chỉ khác ở chỗ là hai tay lần này không nắm lại nữa. Mọi công việc mà ta làm khi này là đều trong trí tưởng tượng hết. Lưu ý: Bài tập này lúc bắt đầu có thể hơi khó thực hành. Tuy nhiên, nếu ta quyết tâm thì “không có việc gì khó”.
B. Bài tập cơ bản để xây dựng trí tưởng tượng khoa học.
Bước 1: trên cơ sở nắm thật chắc lý thuyết và đã nắm vững cách giải một bài toán nào đó, hãy giải ra nháp bài toán đó thật chi tiết. Làm đi làm lại bài ấy (lúc đầu phải làm thật chậm và sau đó sẽ nhanh dần, nhanh dần đến khi nào siêu nhanh thì thôi).
Bước 2: nhắm mắt lại và giải lại bài ấy trong trí tưởng tượng. Lưu ý rằng cần làm từng bước, từng bước thật chậm, phần nào mà ta tưởng tượng khó thì cần phải làm đi làm lại đến khi nào thành thạo thì thôi.
Bước 3: làm đi làm lại bước 2 đến khi nào đạt đến tốc độ siêu nhanh (thần tốc) thì thôi.
Giữa kiến thức mà ta tích lũy được và trí tuệ vô biên có quan hệ chặt chẽ, mật thiết, thống nhất lẫn nhau, bổ sung cho nhau và không thể tách rời nhau được.
A. Tích lũy kiến thức từ đâu?
Từ trong sách vở.
Từ những lần giải các đề thi ta rút ra kinh nghiệm riêng cho chính mình.
Từ thầy cô và bạn bè.
Từ trí tuệ vô biên.
Những kiến thức này muốn có được phải do chính ta vun tập hàng ngày chứ không thể một sớm một chiều mà có thể nhồi nhét hết được.
B. Trí tuệ vô biên.
Trí tuệ vô biên là loại trí tuệ sáng tạo, nó được hình thành trên cơ sở nền tảng kiến thức và các dạng bài toán ta phải nắm thật vững. Một khi, ta gặp các dạng bài toán lạ mà trước đây chưa lần nào được làm, thì đến lúc đó ta phải sử dụng đến trí tuệ sáng tạo này.
Muốn có được trí tuệ vô biên, ta phải nắm được thật vững các nguyên lý trong từng chương của cuốn sách này, thực hành thật nhiều lần, sau mỗi lần thực hiện sẽ rút ra kinh nghiệm và ắt sẽ thành công.
Chúc mừng các bạn đã đến với chương quan trọng nhất của cuốn sách này. Sau khi học xong chương này, các bạn sẽ hiểu được cách làm thế nào để có thể điều khiển được trí não, bắt nó phải hướng về tư duy đúng đắn để tìm ra lời giải cho một bài toán khó.
A. Như lý tác ý là gì?
Như lý tác ý là pháp môn tự kỷ ám thị, là một thuật ngữ đề cập đến tất cả những hình thức tự kích thích và khuyến khích bản thân qua năm giác quan (nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ) của con người. Nói cách khác, như lý tác ý là quá trình tự tâm niệm, tự khích lệ. Nó đóng vai trò là cầu nối giữa một bên là ý thức tạo ra tư duy và một bên là tiềm thức tạo ra hành động thông qua những suy nghĩ chi phối tâm trí bấy lâu vẫn tồn tại trong ý thức (không quan trọng đó là những suy nghĩ tích cực hay tiêu cực), những nguyên tắc của như lý tác ý sẽ chạm đến tiềm thức con người và tác động đến tiềm thức bằng những suy nghĩ đó.
Tạo hóa đã cho con người năm giác quan (nghe, nếm, nhìn, ngửi, sờ) mà thông qua đó, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát những gì được truyền tiềm thức của chúng ta. Tuy vậy, trong phần lớn các trường hợp, con người thường không sử dụng khả năng kiểm soát đó. Điều này giải thích tạo sao nhiều người luôn luôn bị học dốt toán.
Hãy hồi tưởng lại những gì chúng tôi đã nói về tiềm thức. Tiềm thức giống như một khu vườn màu mỡ. Khu vườn đó sẽ đầy cỏ dại nếu những hạt giống tốt không được gieo trồng. Như lý tác ý là một hình thức giúp các bạn gieo vào tiềm thức của mình những suy nghĩ mang tính sáng tạo hoặc bỏ mặc cho những suy nghĩ có tính chất phá hoại tìm thấy lối vào khu vườn màu mỡ đó của tâm hồn.
B. Những ai đã sử dụng thành công pháp ”như lý tác ý”?
Nhìn lại dòng lịch sử từ hơn 2500 năm từ trước đến nay, người đầu tiên biết đến và sáng lập ra pháp môn này là thái tử Tất Đạt Đa ở Ấn Độ. Nhờ có như lý tác ý mà người đã chứng đạt và trở thành phật (với niên hiệu là Thích Ca Mâu Ni). Từ đó, phật còn dùng pháp “như lý tác ý” này để làm chủ sinh, lão, bệnh, tử. Ở Việt Nam ta gần đây nhất, cũng có vị sư tu hành đắc quả A La Hán giống như phật, đó chính là trưởng lão Thích Thông Lạc.
Trong lĩnh vực vật lý, nhiều nhà bác học đã sử dụng như lý tác ý để khám phá ra quy luật của vũ trụ. Và hơn hẳn hết phải kể đến nhà bác học Anhxtanh- người đã khám phá ra “thuyết tương đối” mà khiến cả thế giới phải khâm phục.
Về toán học, chẳng ai xa lạ cả, người đó chính là giáo sư Ngô Bảo Châu. Nhờ có sử dụng như lý tác ý, cuối cùng ông cũng giải quyết thành công bổ đề cơ bản trong chương trình Langlands, bài toán đã làm đau đầu hàng nghìn bộ óc thế giới suốt gần nửa thế kỷ qua. Bổ đề cơ bản cũng giống như định lý lớn Fermat, giả thuyết Riemann hay giả thuyết Poincaré, đều là những bài toán khó nhất và có ứng dụng nhiều nhất của toán học hiện đại.
Gần đây nhất thì có chúng tôi, cũng sử dụng như lý tác ý để giác ngộ chân lý toán học và quy luật của vũ trụ vạn vật, làm chủ được tham, sân, si, sức khỏe, bệnh tật,... Và chúng tôi cũng thấy rằng để đạt được những thành tích lớn lao như trên chẳng có gì là huyền bí cao siêu cả. Chỉ cần thực hành đúng như những lời chúng tôi sẽ chỉ dẫn dưới đây, cộng thêm một chút sự kiên trì, niềm tin sắt đá thì nhất định các bạn sẽ có kết quả.
C. Thực hành như lý tác ý.
1. Qua những lợi ích như đã nêu trên, chúng ta thấy rằng cần thiết phải học pháp môn như lý tác ý này. Nhưng để thực hành nó thì cần phải có người đã từng tu tập được thành công pháp môn này. Bởi vì có rất nhiều sách báo viết về vấn đề này nhưng chỉ mang tính chất sưu tầm rồi viết lại lăng nhăng không đúng phương pháp chút nào cả. “Không biết thì phải dựa cột mà nghe”, đằng này không chịu thực hành để đạt được thành công mà lại dám viết sách, viết báo bằng cách “nhai lại bã mía” của những người sai lầm đi trước, rồi lại truyền dạy cho người khác. Việc làm này rất tai hại không khác gì người mù mà đòi dẫn đường chỉ lối cho người hỏi đường.
Bản chất cốt lõi của như lý tác ý là dùng tâm để nhẩm một lời đề nghị nào đó, ra lệnh cho tâm và thân ta, khiến tâm và thân ta phải làm theo mệnh lệnh đó một cách vô thức.
2. Để sử dụng tốt như lý tác ý có hiệu quả liền, điều kiện đầu tiên là các bạn cần phải nắm thật vững tất cả các nguyên tắc có ở từng chương của quyển sách này, trong đó đặc biệt lưu ý đến chương 7 (sống độc cư).
Bây giờ chúng ta sẽ đi đến việc chính thức là thực hành pháp như lý tác ý. Bạn hãy chọn một phòng kín và thật yên tĩnh, nhắc mọi người tránh làm phiền ta. Nếu bạn sử dụng điện thoại di động thì phải tắt nó đi. Ngồi trên ghế mà có thể dựa lưng được, hoặc bạn cũng có thể ngồi dưới đất tựa lưng vào tường (lưu ý là phải ngồi thẳng lưng). Gạt bỏ hết tất cả những suy nghĩ linh tinh, buồn phiền, lo âu, tham lam…, trong đầu chỉ hướng về bài toán khó mà ta cần tìm ra hướng làm. Mắt nhắm, hai tay để thả lỏng bên đầu gối hai chân. Sau đó hãy nhẩm trong đầu câu nói sau: “Các dạng toán đều là vô thường, cái bài tập khó này (đọc tên bài toán ấy lên) hãy hiện ra lời giải cho ta mau lên”. Tiếp tục bạn hít vào, thở ra 5 lần rồi nín thở và lại nhẩm tiếp: “Các dạng toán đều là vô thường, cái bài tập khó này (đọc tên bài toán ấy lên) hãy hiện ra lời giải cho ta mau lên”.
Cứ làm đi làm lại như vậy đến khi nào bài toán của bạn cần giải lóe lên cách giải trong tâm trí bạn thì thôi. Ở đây, ta cần lưu ý hít vào và thở ra mới tính là 1 lần. Tùy theo từng người mà kết quả đạt được sẽ khác nhau. Có người chỉ cần tác ý 2 đến 3 lần là hiện ngay lời giải, nhưng cũng có người phải hàng tiếng đồng hồ mới có kết quả. Nếu bạn tuân thủ những nguyên tắc mà chúng tôi nêu ra ở từng chương trong cuốn sách này bao nhiêu thì việc tác ý của bạn sẽ có kết quả bấy nhiêu.
3. Chú ý.
Nếu các bạn rỗng hết kiến thức toán mà sử dụng như lý tác ý thì có thực hiện đến trăm lần, nghìn lần cũng vô ích, cũng không thể nào lóe lên lời giải của bài toán ấy được. Chúng tôi thấy có rất nhiều học sinh trong năm học không chịu học hành gì hết, đến lúc thi mới sử dụng như lý tác ý thì đã quá muộn rồi. Việc học là cả một quá trình vun tập và tích lũy kiến thức chứ không phải một sớm một chiều mà đòi thành tài được. Hãy nhớ đến câu nói của Khổng Tử “dục tốc bất đạt” (câu này có nghĩa trong lĩnh vực toán học nói riêng là không có chuyện học cấp tốc mà đòi đạt được điểm cao được).
Nếu tâm trạng của các bạn lo âu, hay suy tư, mất tập trung thì hãy tác ý câu sau: “Tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự” (với cách tác ý giống hệt như phần 2 đã nêu trên).
Và cũng còn một lưu ý quan trọng nữa là ta phải giữ được tỉnh táo, không được buồn ngủ trong khi tác ý. Trước khi tác ý giải toán, nếu buồn ngủ thì bạn hãy vừa đi bộ và vừa tác ý câu sau: “Tâm phải thức tỉnh, phải sáng suốt như ban ngày, tâm phải sáng suốt như ánh mặt trời, không được buồn ngủ nữa, tâm phải thức tỉnh“. Lúc này mắt của bạn phải mở, hướng về sống mũi.
Trên đây chúng tôi đã hướng dẫn các bạn cách thực hành pháp như lý tác ý. Quá trình đạt đến cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học phải được thông qua hình thức như lý tác ý. Đó là nguyên tắc quan trọng mà qua đó các bạn có thể chạm tới và ảnh hưởng lên tiềm thức của chính mình. Những nguyên tắc khác chỉ là những công cụ đơn giản để áp dụng pháp như lý tác ý. Hãy lưu giữ suy nghĩ này trong đầu và các bạn hãy luôn ý thức rằng nguyên tắc “như lý tác ý” giữ vai trò quan trọng trong nỗ lực của các bạn nhằm đạt đến “cảnh giới tuyệt đỉnh của toán học” thông qua những phương pháp được nói đến trong cuốn sách này.
Sau khi các bạn đã đọc xong cuốn sách, hãy quay trở lại chương này và thực hiện trên cả tinh thần cũng như hành động theo hướng dẫn sau đây: Hãy đọc cả chương một lần mỗi tối cho tới khi các bạn bị chinh phục hoàn toàn bởi những tính đúng đắn của những nguyên tắc như lý tác ý và rằng những nguyên tắc đó sẽ thỏa mãn mọi đòi hỏi của các bạn. Trong khi đọc, hãy dùng bút chì gạch chân những câu gây ấn tượng đối với các bạn.
Hãy làm theo đúng những hướng dẫn đã nói ở trên, nó sẽ đưa các bạn đến một hiểu biết thấu đáo cũng như nắm vững nguyên tắc thành công.