Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Sỏi mật
Sỏi túi mật các bạn tìm hiểu ở đây nè: https://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/11/02/sỏi-tui-mật/
Túi mật là gì? Ở đâu?
Túi mật là một túi nhỏ hình quả lê nằm mắt dưới gan bên phải để lưu trữ và cô đặc mật. Mật do gan bài tiết được lưu trữ trong túi mật rồi được bài xuất xuống ruột để tiêu hoá chất béo.
Sỏi túi mật là gì?
Sỏi túi mật thể rắn hình thành bởi cholesterol, muối mật và canxi, kích thước sỏi từ vài mm đến vài cm. Số lượng có thể từ 1 đến hàng trăm viên.
Hình chụp macro một viên sỏi túi mật
Những viên sỏi được lấy ra từ một túi mật
Trường hợp khác, túi mật với đám sỏi cholesterol.
sỏi và polyp túi mật
Nguyên nhân gây sỏi túi mật là gì?
Thường do chuyển hoá, khi trong dịch mật có nồng độ cholesterol dư thừa quá cao tạo thành các tinh thể mà từ đó sỏi túi mật được hình thành.
Những ai có nguy cơ bị sỏi túi mật?
Có thể găp ở bất kể ai, người trẻ tuổi ít bị hơn. Những người sau đây thuộc nhóm có nguy cơ cao:
Người béo. Vì sỏi liên quan đến vấn đề thừa cholesterol trong máu.
Phụ nữ dùng thuốc tránh thai có chứa estrogen.
Người có bện viêm đường ruột như bệnh Crohn, viêm loét đại tràng.
Các triệu chứng của sỏi túi mật?
Hầu hết người bệnh không có triệu chứng gì, sỏi túi mật được phát hiện tình cờ khi đi làm siêu âm bệnh khác.
Nếu có triệu chứng thì:
Đau bụng âm ỉ dưới sườn phải, xuyên ra lưng, lên vai phải. Cơn đau quặn dữ dội ít xảy ra, thường lên quan đến việc sỏi gây tắc ống cổ túi mật, viêm túi mật cấp đòi hỏi người bệnh phải nằm viện dùng thuốc, theo dõi và có thể phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu nếu quá trình viêm tiến triển dẫn đến hoại tử túi mật.
Sốt, vàng da thường là sỏi đã gây biến chứng.
Chẩn đoán sỏi túi mật như thế nào?
Siêu âm, chụp cắt lớp là phương tiện hữu hiệu cho chẩn đoán sỏi túi mật.
Hình ảnh siêu âm của sỏi túi mật
Các xét nghiệm máu giúp xác định chức năng gan, tình trạng cholesterol máu.
Điều trị sỏi túi mật như thế nào? Có thể tóm lược mấy ý sau:
Sỏi túi mật to trên 1cm không có triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Vì trong thực tế sỏi thường được phát hiện ngẫu nhiên và người mang sỏi đó đã chung sống với sỏi nhiều năm không triệu chứng. Và biến chứng của loại sỏi này thường nhẹ: viêm túi mật. Trường hợp đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có sỏi túi mật thì theo tôi nên can thiệp phẫu thuật điều trị chủ động trước khi mang thai để đề phòng túi mật viêm đúng vào thời kỳ mang thai sẽ làm cho việc điều trị trở nên rất phức tạp, đặc biệt nếu phải can thiệp phẫu thuật cắt túi mật ở giai đoạn này.
Điều trị thuốc “tan sỏi” như nhiều hãng thuốc quảng cáo hầu như không có tác dụng.
Sỏi nhỏ 2-3mm nguy hiểm hơn sỏi lớn 1-2cm vì có thể gây biến chứng rất nặng thậm chí tử vong là viêm tuỵ cấp hoại tử. Do vậy theo quan điểm cá nhân của tôi, khi bệnh nhân phát hiện có sỏi túi mật nhỏ 2-3mm nên chủ động khám bệnh viện ngoại khoa yêu cầu phẫu thuật dù sỏi chưa gây triệu chứng gì.
Sỏi gây triệu chứng đau, sốt từng đợt nên điều trị bằng phẫu thuật.
Tán sỏi: Chưa áp dụng để điều trị sỏi túi mật. Không hiệu quả và gây biến chứng.
Điều trị chuẩn vàng hiện nay cho sỏi túi mật là phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Có thể phẫu thuật nội soi thông thường với 3-4 vết rạch da nhỏ 0.5-1cm trên thành bụng để đưa dụng cụ hoặc phẫu thuật SILS một đường rạch qua rốn để không thấy sẹo sau khi mổ.
Thời gian phẫu thuật trung bình cho 1 ca sỏi túi mật 10-30phút, thời gian nằm viện sau mổ 2-3 ngày.
Trong điều trị phẫu thuật, phẫu thuật khi túi mật không viêm dễ hơn nhiều khi túi mật đã viêm nhiều lần.
08:32 SA 15/12/2012
Bệnh sỏi túi mật – Urgent
Sỏi túi mật chẩn đoán dễ và chính xác với máy siêu âm ngày nay. Nếu họ đã siêu âm thì chắc đúng bạn ạ.
06:30 CH 15/03/2012
Sỏi túi mật
Mình copy ở đây: http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/11/02/s%e1%bb%8fi-tui-m%e1%ba%adt/
Điều trị sỏi túi mật như thế nào? Có thể tóm lược mấy ý sau:
•Sỏi túi mật to trên 1cm không có triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Vì trong thực tế sỏi thường được phát hiện ngẫu nhiên và người mang sỏi đó đã chung sống với sỏi nhiều năm không triệu chứng. Và biến chứng của loại sỏi này thường nhẹ: viêm túi mật. Trường hợp đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có sỏi túi mật thì theo tôi nên can thiệp phẫu thuật điều trị trước khi mang thai để phòng khi túi mật viêm đúng vào thời kỳ mang thai thì việc điều trị trở nên rất phức tạp.
•Điều trị thuốc “tan sỏi” như nhiều hãng thuốc quảng cáo hầu như không có tác dụng.
•Sỏi nhỏ 2-3mm nguy hiểm hơn sỏi lớn 1-2cm vì có thể gây biến chứng rất nặng thậm chí tử vong là viêm tuỵ cấp hoại tử. Do vậy theo quan điểm cá nhân của tôi, khi bệnh nhân phát hiện có sỏi túi mật nhỏ 2-3mm nên chủ động khám bệnh viện ngoại khoa yêu cầu phẫu thuật dù sỏi chưa gây triệu chứng gì.
•Sỏi gây triệu chứng đau, sốt từng đợt nên điều trị bằng phẫu thuật.
•Tán sỏi: Chưa áp dụng để điều trị sỏi túi mật. Không hiệu quả và gây biến chứng.
•Điều trị chuẩn vàng hiện nay cho sỏi túi mật là phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Có thể phẫu thuật nội soi thông thường với 3-4 vết rạch da nhỏ 0.5-1cm trên thành bụng để đưa dụng cụ hoặc phẫu thuật SILS một đường rạch qua rốn để không thấy sẹo sau khi mổ.
•Thời gian phẫu thuật trung bình cho 1 ca sỏi túi mật 10-30phút, thời gian nằm viện sau mổ 2-3 ngày.
•Trong điều trị phẫu thuật, phẫu thuật khi túi mật không viêm dễ hơn nhiều khi túi mật đã viêm nhiều lần.
06:26 CH 15/03/2012
Sử dụng hóa trị liệu sau phẫu thuật ung thư dạ dày
Mình thấy nếu K không di căn, đã phẫu thuật triệt để thì đâu cần hóa trị. Kiến thức này xưa quá rồi mà?!!!
Ung thư dạ dày
Filed under: 5. Ung bướu, 7. Y học — Leave a comment July 16, 2011
Mô tả chung
Dạ dày là một phần của đường tiêu hóa, nó tạo ra axit và enzym phá vỡ thức ăn trước khi chuyển chúng đến ruột non. Ung thư có thể phát triển ở bất kỳ phần nào của dạ dày.
Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày khác nhau trên toàn thế giới. Ở Nhật Bản, bệnh ung thư phổ biến nhất 1/1000 dân. Tỷ lệ này cũng cao ở Chile và Iceland.
Ung thư này được chẩn đoán chủ yếu ở người lớn tuổi, đàn ông nhiều hơn phụ nữ, người gốc châu Phi có nguy cơ cao hơn người Da trắng.
Nguyên nhân gây ung thư dạ dày.
Như với hầu hết ung thư, các nhà nghiên cứu không biết nguyên nhân chính xác của ung thư dạ dày, một số yếu tố đã được xác định là:
Chế độ ăn uống có chứa rất nhiều nitrat, với thực phẩm sấy khô, muối, hun khói hoặc dưa bảo quản
Hút thuốc
Tiền sử loét dạ dày (H. pylori)
Tuổi (hầu hết mọi người nhận được chẩn đoán trên 55 năm)
Giới nam giới tỷ lệ lớn hơn nữ.
Chủng tộc: người gốc châu Phi dễ bị
Teo dạ dày
Thiếu máu ác tính
Tiếp xúc với bụi và khói nhất định
Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư dạ dày
Lịch sử của phẫu thuật dạ dày
Tình trạng kinh tế xã hội: ung thư này xuất hiện phổ biến hơn trong quần thể kinh tế xã hội thấp hơn
Uống rượu
Triệu chứng và biến chứng
Nhiều triệu chứng của ung thư dạ dày rất mờ nhạt, không gây ra sự khó chịu hay đau đớn nào đó là lý do bệnh này thường được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn.
Một số các triệu chứng:
Ợ nóng hay khó tiêu
Buồn nôn và nôn
Đau bụng
Ăn mất ngon
Sút cân
Tiêu chảy hoặc táo bón
Hay mệt mỏi
Nôn hoặc máu trong phân
Đầy hơi sau bữa ăn
Ung thư dạ dày giai đoạn muộn sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng về tiêu hóa và dinh dưỡng. Nó sẽ lan ra các phần khác của cơ thể, cuối cùng dẫn đến cái chết.
Các biến chứng chính phát sinh từ điều trị ung thư liên quan đến việc phẫu thuật cắt bỏ dạ dày dẫn tới các vấn đề dinh dưỡng. Ngoài ra, ung thư có thể tái phát sau khi điều trị ban đầu, vì thế mà việc tôn trọng theo dõi định kỳ có tầm quan trọng sống còn.
Chẩn đoán
Nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư dạ dày, sẽ truy vấn các bệnh nhân về lối sống, bao gồm hút thuốc lá, uống rượu cũng như tiền sử ung thư dạ dày trong gia đình. Sau đó sẽ tiến hành khám lâm sàng và yêu cầu một số xét nghiệm sau:
1. Xét nghiệm máu
2. Xét nghiệm tìm máu trong phân
3. Chụp dạ dày có cản quang
4. Nội soi + sinh thiết – trong đó bao gồm một mẫu nhỏ mô được lấy ra sau đó quan sát dưới kính hiển vi tìm tế bào ung thư.
5. Một khi ung thư được chẩn đoán, bác sĩ phải xác định giai đoạn của bệnh bằng:
Xquang tim-phổi – để xem có ung thư đã lan đến phổi
Siêu âm
Chụp cắt lớp vi tinh
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Chỉ 10% trong những bệnh ung thư vẫn còn trong giai đoạn sớm lúc chẩn đoán.
Sau đây là các giai đoạn khác nhau của ung thư:
Giai đoạn 0: Ung thư không vươt ra ngoài lớp niêm mạc dạ dày
Giai đoạn I: ung thư đã lan xuống lớp dưới niêm mạc dạ dày nhưng vẫn chưa xâm lấn lớp cơ.
Giai đoạn II: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở gần dạ dày hoặc lớp cơ.
Giai đoạn III: Ung thư đã lan ra lớp cơ và các hạch bạch huyết, nhưng vẫn chưa xâm lấn đến các cơ quan khác hoặc ung thư đã lan đến một cơ quan gần đó mà không xâm lấn hạch bạch huyết
Giai đoạn IV: Ung thư đã lan tràn vượt ra ngoài các hạch bạch huyết thành dạ dày, và các cơ quan.
Tái phát: Ung thư phát triển trở lại sau khi điều trị ban đầu
Điều trị và phòng chống
Các ung thư dạ dày thường được chẩn đoán khi nó đã lan rộng, làm cho điều trị khó khăn hơn. Cũng như ở nhiều bệnh ung thư khác, các tùy chọn có sẵn chống lại ung thư dạ dày bao gồm xạ trị, hóa trị và phẫu thuật, được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp.
Giai đoạn 0 và I, thường chỉ phẫu thuật loại bỏ phần dạ dày ung thư với sự vét hạch bạch huyết nếu cần thiết.
Giai đoạn II, cắt dạ dày và vét hạch bạch huyết bụng.
Giai đoạn III yêu cầu phẫu thuật và hóa trị hoặc xạ trị.
Giai đoạn IV, điều trị nhằm mục đích giảm bớt các triệu chứng, và do đó phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị đều có thể được sử dụng.
Phẫu thuật:
Phẫu thuật thực hiện trong trường hợp ung thư dạ dày là cắt dạ dày. Nếu ung thư được phát hiện sớm, bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện cắt một phần dạ dày. Nếu toàn bộ dạ dày bị loại bỏ gọi là cắt dạ dày toàn bộ.
Phẫu thuật cắt dạ dày có thể được thực hiện bằng nội soi với nhiều ưu điểm: Đường mổ nhỏ, ít đau hơn, thẩm mỹ, ít biến chứng thành bụng…
Ở giai đoạn sớm ung thư dạ dày còn khu trú ở niêm mạc và dưới niêm mạc việc can thiệp có thể chỉ bằng cắt niêm mạc qua nội soi mềm (endoscopy-mucosectomy), không cần mổ.
Sau khi cắt dạ dày, câu hỏi của dinh dưỡng được đặt ra. Những người đã cắt dạ dày một phần có thể ăn tương đối bình thường sau khi chữa bệnh, trong khi điều chỉnh chế độ ăn là cần thiết ở những người cắt dạ dày toàn bộ như uống bổ sung vitamin… Bởi vì bây giờ không còn dạ dày và do đó không thể hấp thụ vitamin B12 từ thức ăn được và phải thay thế bằng đường tiêm hàng tháng.
Chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp thiết lập một chế độ ăn uống thích hợp để hỗ trợ tiêu hóa cho bệnh nhân. Họ cũng khuyên bạn nên dùng thường xuyên các bữa ăn nhỏ thay vì ba bữa ăn trong ngày.
Một số người sau mổ cắt dạ dày có thể có buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy và chóng mặt gọi là hội chứng Dumping. Những triệu chứng này là do việc thức ăn qua ruột trực tiếp mà không trải qua quá trình phân hủy và đưa xuống ruột một cách từ từ từ dạ dày. Ăn bữa nhỏ thường xuyên có thể giúp giảm sự khó chịu này.
Hóa trị
Hóa trị bao gồm việc sử dụng thuốc để chống lại các bệnh ung thư từ bên trong cơ thể. Trong điều trị ung thư dạ dày có nhiều phác đồ hoá chất đã được áp dụng.
Hóa trị ít hoặc không có tác dụng khi ung thư đã được phẫu thuật triệt để (khi chưa có di căn). Do vậy chỉ được chỉ định khi ung thư ở giai đoạn III.
Các tác dụng phụ của hóa trị liệu:
buồn nôn và ói mửa
Rụng tóc
mệt mỏi
tiêu chảy
ớn lạnh
khó thở
ho
vết loét miệng
Nghiên cứu đang được triển khai để phát triển một hóa trị tại chỗ, do đó cho phép các thuốc trực tiếp vào bụng, nơi có thể có tế bào ung thư.
Xạ trị:
Xạ trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư từ một nguồn bên ngoài. Trong một số trường hợp, xạ trị trước khi phẫu thuật có thể làm giảm khối lượng của khối u và tạo thuận lợi cho phẫu thuật.
Một số tác dụng phụ thường gặp, bao gồm:
mệt mỏi
tấy đỏ và khô da ở các bức xạ
buồn nôn và ói mửa
giảm sự thèm ăn
tiêu chảy
Các yếu tố nguy cơ nói trên, bao gồm chế độ ăn uống có thể cho chúng ta những manh mối để có các biện pháp giảm nguy cơ ung thư dạ dày:
áp dụng một chế độ ăn uống cân bằng và lành mạnh, và dùng thường xuyên của các loại trái cây và rau quả
bỏ rượu
tránh viêm loét (H. pylori), và theo sự tiến triển của các triệu chứng hoặc các vấn đề khác
Tìm: google->bacsyphauthuat->ung thư dạ dày
02:27 CH 04/03/2012
Ai dễ bị ung thư dạ dày?
Copy cho cả nhà cái bài này.
Tìm kiếm: google->bacsyphauthuat->ung thư dạ dày
Ung thư dạ dày
Filed under: 5. Ung bướu, 7. Y học — Leave a comment July 16, 2011
Mô tả chung
Dạ dày là một phần của đường tiêu hóa, nó tạo ra axit và enzym phá vỡ thức ăn trước khi chuyển chúng đến ruột non. Ung thư có thể phát triển ở bất kỳ phần nào của dạ dày.
Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày khác nhau trên toàn thế giới. Ở Nhật Bản, bệnh ung thư phổ biến nhất 1/1000 dân. Tỷ lệ này cũng cao ở Chile và Iceland.
Ung thư này được chẩn đoán chủ yếu ở người lớn tuổi, đàn ông nhiều hơn phụ nữ, người gốc châu Phi có nguy cơ cao hơn người Da trắng.
Nguyên nhân gây ung thư dạ dày.
Như với hầu hết ung thư, các nhà nghiên cứu không biết nguyên nhân chính xác của ung thư dạ dày, một số yếu tố đã được xác định là:
Chế độ ăn uống có chứa rất nhiều nitrat, với thực phẩm sấy khô, muối, hun khói hoặc dưa bảo quản
Hút thuốc
Tiền sử loét dạ dày (H. pylori)
Tuổi (hầu hết mọi người nhận được chẩn đoán trên 55 năm)
Giới nam giới tỷ lệ lớn hơn nữ.
Chủng tộc: người gốc châu Phi dễ bị
Teo dạ dày
Thiếu máu ác tính
Tiếp xúc với bụi và khói nhất định
Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư dạ dày
Lịch sử của phẫu thuật dạ dày
Tình trạng kinh tế xã hội: ung thư này xuất hiện phổ biến hơn trong quần thể kinh tế xã hội thấp hơn
Uống rượu
Triệu chứng và biến chứng
Nhiều triệu chứng của ung thư dạ dày rất mờ nhạt, không gây ra sự khó chịu hay đau đớn nào đó là lý do bệnh này thường được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn.
Một số các triệu chứng:
Ợ nóng hay khó tiêu
Buồn nôn và nôn
Đau bụng
Ăn mất ngon
Sút cân
Tiêu chảy hoặc táo bón
Hay mệt mỏi
Nôn hoặc máu trong phân
Đầy hơi sau bữa ăn
Ung thư dạ dày giai đoạn muộn sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng về tiêu hóa và dinh dưỡng. Nó sẽ lan ra các phần khác của cơ thể, cuối cùng dẫn đến cái chết.
Các biến chứng chính phát sinh từ điều trị ung thư liên quan đến việc phẫu thuật cắt bỏ dạ dày dẫn tới các vấn đề dinh dưỡng. Ngoài ra, ung thư có thể tái phát sau khi điều trị ban đầu, vì thế mà việc tôn trọng theo dõi định kỳ có tầm quan trọng sống còn.
Chẩn đoán
Nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư dạ dày, sẽ truy vấn các bệnh nhân về lối sống, bao gồm hút thuốc lá, uống rượu cũng như tiền sử ung thư dạ dày trong gia đình. Sau đó sẽ tiến hành khám lâm sàng và yêu cầu một số xét nghiệm sau:
1. Xét nghiệm máu
2. Xét nghiệm tìm máu trong phân
3. Chụp dạ dày có cản quang
4. Nội soi + sinh thiết – trong đó bao gồm một mẫu nhỏ mô được lấy ra sau đó quan sát dưới kính hiển vi tìm tế bào ung thư.
5. Một khi ung thư được chẩn đoán, bác sĩ phải xác định giai đoạn của bệnh bằng:
Xquang tim-phổi – để xem có ung thư đã lan đến phổi
Siêu âm
Chụp cắt lớp vi tinh
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Chỉ 10% trong những bệnh ung thư vẫn còn trong giai đoạn sớm lúc chẩn đoán.
Sau đây là các giai đoạn khác nhau của ung thư:
Giai đoạn 0: Ung thư không vươt ra ngoài lớp niêm mạc dạ dày
Giai đoạn I: ung thư đã lan xuống lớp dưới niêm mạc dạ dày nhưng vẫn chưa xâm lấn lớp cơ.
Giai đoạn II: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở gần dạ dày hoặc lớp cơ.
Giai đoạn III: Ung thư đã lan ra lớp cơ và các hạch bạch huyết, nhưng vẫn chưa xâm lấn đến các cơ quan khác hoặc ung thư đã lan đến một cơ quan gần đó mà không xâm lấn hạch bạch huyết
Giai đoạn IV: Ung thư đã lan tràn vượt ra ngoài các hạch bạch huyết thành dạ dày, và các cơ quan.
Tái phát: Ung thư phát triển trở lại sau khi điều trị ban đầu
Điều trị và phòng chống
Các ung thư dạ dày thường được chẩn đoán khi nó đã lan rộng, làm cho điều trị khó khăn hơn. Cũng như ở nhiều bệnh ung thư khác, các tùy chọn có sẵn chống lại ung thư dạ dày bao gồm xạ trị, hóa trị và phẫu thuật, được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp.
Giai đoạn 0 và I, thường chỉ phẫu thuật loại bỏ phần dạ dày ung thư với sự vét hạch bạch huyết nếu cần thiết.
Giai đoạn II, cắt dạ dày và vét hạch bạch huyết bụng.
Giai đoạn III yêu cầu phẫu thuật và hóa trị hoặc xạ trị.
Giai đoạn IV, điều trị nhằm mục đích giảm bớt các triệu chứng, và do đó phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị đều có thể được sử dụng.
Phẫu thuật:
Phẫu thuật thực hiện trong trường hợp ung thư dạ dày là cắt dạ dày. Nếu ung thư được phát hiện sớm, bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện cắt một phần dạ dày. Nếu toàn bộ dạ dày bị loại bỏ gọi là cắt dạ dày toàn bộ.
Sau khi cắt dạ dày, câu hỏi của dinh dưỡng được đặt ra. Những người đã cắt dạ dày một phần có thể ăn tương đối bình thường sau khi chữa bệnh, trong khi điều chỉnh chế độ ăn là cần thiết ở những người cắt dạ dày toàn bộ như uống bổ sung vitamin… Bởi vì bây giờ không còn dạ dày và do đó không thể hấp thụ vitamin B12 từ thức ăn được và phải thay thế bằng đường tiêm hàng tháng.
Chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp thiết lập một chế độ ăn uống thích hợp để hỗ trợ tiêu hóa cho bệnh nhân. Họ cũng khuyên bạn nên dùng thường xuyên các bữa ăn nhỏ thay vì ba bữa ăn trong ngày.
Một số người sau mổ cắt dạ dày có thể có buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy và chóng mặt gọi là hội chứng Dumping. Những triệu chứng này là do việc thức ăn qua ruột trực tiếp mà không trải qua quá trình phân hủy và đưa xuống ruột một cách từ từ từ dạ dày. Ăn bữa nhỏ thường xuyên có thể giúp giảm sự khó chịu này.
Hóa trị
Hóa trị bao gồm việc sử dụng thuốc để chống lại các bệnh ung thư từ bên trong cơ thể. Trong điều trị ung thư dạ dày có nhiều phác đồ hoá chất đã được áp dụng.
Các tác dụng phụ của hóa trị liệu:
buồn nôn và ói mửa
Rụng tóc
mệt mỏi
tiêu chảy
ớn lạnh
khó thở
ho
vết loét miệng
Nghiên cứu đang được triển khai để phát triển một hóa trị tại chỗ, do đó cho phép các thuốc trực tiếp vào bụng, nơi có thể có tế bào ung thư.
Xạ trị:
Xạ trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư từ một nguồn bên ngoài. Trong một số trường hợp, xạ trị trước khi phẫu thuật có thể làm giảm khối lượng của khối u và tạo thuận lợi cho phẫu thuật.
Một số tác dụng phụ thường gặp, bao gồm:
mệt mỏi
tấy đỏ và khô da ở các bức xạ
buồn nôn và ói mửa
giảm sự thèm ăn
tiêu chảy
Các yếu tố nguy cơ nói trên, bao gồm chế độ ăn uống có thể cho chúng ta những manh mối để có các biện pháp giảm nguy cơ ung thư dạ dày:
áp dụng một chế độ ăn uống cân bằng và lành mạnh, và dùng thường xuyên của các loại trái cây và rau quả
bỏ rượu
tránh viêm loét (H. pylori), và theo sự tiến triển của các triệu chứng hoặc các vấn đề khác
01:57 CH 04/03/2012
Hỏi về bệnh ung thư dạ dày
Copy cho bạn cái bài này.
Tìm kiếm: google->bacsyphauthuat->ung thư dạ dày
Chúc bạn thành công.
Ung thư dạ dày
Filed under: 5. Ung bướu, 7. Y học — Leave a comment July 16, 2011
Mô tả chung
Dạ dày là một phần của đường tiêu hóa, nó tạo ra axit và enzym phá vỡ thức ăn trước khi chuyển chúng đến ruột non. Ung thư có thể phát triển ở bất kỳ phần nào của dạ dày.
Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày khác nhau trên toàn thế giới. Ở Nhật Bản, bệnh ung thư phổ biến nhất 1/1000 dân. Tỷ lệ này cũng cao ở Chile và Iceland.
Ung thư này được chẩn đoán chủ yếu ở người lớn tuổi, đàn ông nhiều hơn phụ nữ, người gốc châu Phi có nguy cơ cao hơn người Da trắng.
Nguyên nhân gây ung thư dạ dày.
Như với hầu hết ung thư, các nhà nghiên cứu không biết nguyên nhân chính xác của ung thư dạ dày, một số yếu tố đã được xác định là:
Chế độ ăn uống có chứa rất nhiều nitrat, với thực phẩm sấy khô, muối, hun khói hoặc dưa bảo quản
Hút thuốc
Tiền sử loét dạ dày (H. pylori)
Tuổi (hầu hết mọi người nhận được chẩn đoán trên 55 năm)
Giới nam giới tỷ lệ lớn hơn nữ.
Chủng tộc: người gốc châu Phi dễ bị
Teo dạ dày
Thiếu máu ác tính
Tiếp xúc với bụi và khói nhất định
Tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư dạ dày
Lịch sử của phẫu thuật dạ dày
Tình trạng kinh tế xã hội: ung thư này xuất hiện phổ biến hơn trong quần thể kinh tế xã hội thấp hơn
Uống rượu
Triệu chứng và biến chứng
Nhiều triệu chứng của ung thư dạ dày rất mờ nhạt, không gây ra sự khó chịu hay đau đớn nào đó là lý do bệnh này thường được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn.
Một số các triệu chứng:
Ợ nóng hay khó tiêu
Buồn nôn và nôn
Đau bụng
Ăn mất ngon
Sút cân
Tiêu chảy hoặc táo bón
Hay mệt mỏi
Nôn hoặc máu trong phân
Đầy hơi sau bữa ăn
Ung thư dạ dày giai đoạn muộn sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng về tiêu hóa và dinh dưỡng. Nó sẽ lan ra các phần khác của cơ thể, cuối cùng dẫn đến cái chết.
Các biến chứng chính phát sinh từ điều trị ung thư liên quan đến việc phẫu thuật cắt bỏ dạ dày dẫn tới các vấn đề dinh dưỡng. Ngoài ra, ung thư có thể tái phát sau khi điều trị ban đầu, vì thế mà việc tôn trọng theo dõi định kỳ có tầm quan trọng sống còn.
Chẩn đoán
Nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư dạ dày, sẽ truy vấn các bệnh nhân về lối sống, bao gồm hút thuốc lá, uống rượu cũng như tiền sử ung thư dạ dày trong gia đình. Sau đó sẽ tiến hành khám lâm sàng và yêu cầu một số xét nghiệm sau:
1. Xét nghiệm máu
2. Xét nghiệm tìm máu trong phân
3. Chụp dạ dày có cản quang
4. Nội soi + sinh thiết – trong đó bao gồm một mẫu nhỏ mô được lấy ra sau đó quan sát dưới kính hiển vi tìm tế bào ung thư.
5. Một khi ung thư được chẩn đoán, bác sĩ phải xác định giai đoạn của bệnh bằng:
Xquang tim-phổi – để xem có ung thư đã lan đến phổi
Siêu âm
Chụp cắt lớp vi tinh
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Chỉ 10% trong những bệnh ung thư vẫn còn trong giai đoạn sớm lúc chẩn đoán.
Sau đây là các giai đoạn khác nhau của ung thư:
Giai đoạn 0: Ung thư không vươt ra ngoài lớp niêm mạc dạ dày
Giai đoạn I: ung thư đã lan xuống lớp dưới niêm mạc dạ dày nhưng vẫn chưa xâm lấn lớp cơ.
Giai đoạn II: Ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết ở gần dạ dày hoặc lớp cơ.
Giai đoạn III: Ung thư đã lan ra lớp cơ và các hạch bạch huyết, nhưng vẫn chưa xâm lấn đến các cơ quan khác hoặc ung thư đã lan đến một cơ quan gần đó mà không xâm lấn hạch bạch huyết
Giai đoạn IV: Ung thư đã lan tràn vượt ra ngoài các hạch bạch huyết thành dạ dày, và các cơ quan.
Tái phát: Ung thư phát triển trở lại sau khi điều trị ban đầu
Điều trị và phòng chống
Các ung thư dạ dày thường được chẩn đoán khi nó đã lan rộng, làm cho điều trị khó khăn hơn. Cũng như ở nhiều bệnh ung thư khác, các tùy chọn có sẵn chống lại ung thư dạ dày bao gồm xạ trị, hóa trị và phẫu thuật, được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp.
Giai đoạn 0 và I, thường chỉ phẫu thuật loại bỏ phần dạ dày ung thư với sự vét hạch bạch huyết nếu cần thiết.
Giai đoạn II, cắt dạ dày và vét hạch bạch huyết bụng.
Giai đoạn III yêu cầu phẫu thuật và hóa trị hoặc xạ trị.
Giai đoạn IV, điều trị nhằm mục đích giảm bớt các triệu chứng, và do đó phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị đều có thể được sử dụng.
Phẫu thuật:
Phẫu thuật thực hiện trong trường hợp ung thư dạ dày là cắt dạ dày. Nếu ung thư được phát hiện sớm, bác sĩ phẫu thuật có thể thực hiện cắt một phần dạ dày. Nếu toàn bộ dạ dày bị loại bỏ gọi là cắt dạ dày toàn bộ.
Sau khi cắt dạ dày, câu hỏi của dinh dưỡng được đặt ra. Những người đã cắt dạ dày một phần có thể ăn tương đối bình thường sau khi chữa bệnh, trong khi điều chỉnh chế độ ăn là cần thiết ở những người cắt dạ dày toàn bộ như uống bổ sung vitamin… Bởi vì bây giờ không còn dạ dày và do đó không thể hấp thụ vitamin B12 từ thức ăn được và phải thay thế bằng đường tiêm hàng tháng.
Chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp thiết lập một chế độ ăn uống thích hợp để hỗ trợ tiêu hóa cho bệnh nhân. Họ cũng khuyên bạn nên dùng thường xuyên các bữa ăn nhỏ thay vì ba bữa ăn trong ngày.
Một số người sau mổ cắt dạ dày có thể có buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy và chóng mặt gọi là hội chứng Dumping. Những triệu chứng này là do việc thức ăn qua ruột trực tiếp mà không trải qua quá trình phân hủy và đưa xuống ruột một cách từ từ từ dạ dày. Ăn bữa nhỏ thường xuyên có thể giúp giảm sự khó chịu này.
Hóa trị
Hóa trị bao gồm việc sử dụng thuốc để chống lại các bệnh ung thư từ bên trong cơ thể. Trong điều trị ung thư dạ dày có nhiều phác đồ hoá chất đã được áp dụng.
Các tác dụng phụ của hóa trị liệu:
buồn nôn và ói mửa
Rụng tóc
mệt mỏi
tiêu chảy
ớn lạnh
khó thở
ho
vết loét miệng
Nghiên cứu đang được triển khai để phát triển một hóa trị tại chỗ, do đó cho phép các thuốc trực tiếp vào bụng, nơi có thể có tế bào ung thư.
Xạ trị:
Xạ trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư từ một nguồn bên ngoài. Trong một số trường hợp, xạ trị trước khi phẫu thuật có thể làm giảm khối lượng của khối u và tạo thuận lợi cho phẫu thuật.
Một số tác dụng phụ thường gặp, bao gồm:
mệt mỏi
tấy đỏ và khô da ở các bức xạ
buồn nôn và ói mửa
giảm sự thèm ăn
tiêu chảy
Các yếu tố nguy cơ nói trên, bao gồm chế độ ăn uống có thể cho chúng ta những manh mối để có các biện pháp giảm nguy cơ ung thư dạ dày:
áp dụng một chế độ ăn uống cân bằng và lành mạnh, và dùng thường xuyên của các loại trái cây và rau quả
bỏ rượu
tránh viêm loét (H. pylori), và theo sự tiến triển của các triệu chứng hoặc các vấn đề khác
01:55 CH 04/03/2012
Có khối u ở bẹn-bện gì
Bạn xem ở đây nhé: Google ->bacsyphauthuat-> thoát vị bẹn
Thoát vị bẹn là gì?
Thoát vị bẹn xảy ra khi có sự ‘di chuyển’ nội dung ổ bụng (ruột, mạc nối) vào trong ống bẹn do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) hay có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải).
Biểu hiện của thoát vị bẹn như thế nào?
Xuất hiện khối phồng vùng bẹn, thường bị bên phải nhiều hơn bên trái, khối này mềm, thường không đau, rõ hơn khi đứng, to lên khi rặn, ho, hắt hơi, khóc…(khi có sự tăng áp lực trong ổ bụng).
Nguyên nhân của thoát vị bẹn là gì?
Do tồn tại ống phúc tinh mạc (bẩm sinh) gặp ở trẻ em hay.
Có điểm yếu của cân cơ thành bụng (mắc phải) gặp ở người trưởng thành.
Ai có nguy cơ bị thoát vị bẹn?
Nam bị nhiều hơn nữ. Trẻ em do tồn tại ống phúc tinh mạc (cùng loạt bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc còn có: nang thừng tinh, dịch màng tinh hoàn).
Những người có áp lực ổ bụng cao, thành bụng yếu:
Bí tiểu do bệnh phì đại tuyến tiền liệt (u xơ tiền liệt tuyến).
Táo bón thường xuyên.
Ho mãn tính.
Béo phì.
Khi nào thoát vị bẹn cần điều trị?
Khi thoát vị tự nó không tự khỏi được, khối thoát vị ngày càng to ra. Trong thực tế ít khi thoát vị bẹn tự khỏi được vì hàng ngày ruột, mạc nối chui vào lỗ thoát vị và làm thoát vị ngày càng lớn. Số ít khỏi được khi xảy ra ở trẻ chưa biết đi, do trẻ không ở tư thế đứng nên ruột và mạc nối không chui vào lỗ thoát vị để làm lỗ thoát vị ngày một to ra. Do vậy ở trẻ em nếu không có biến chứng nghẹt thì có thể theo dõi và chờ đợi tới khi trẻ biết đi mà thoát vị bẹn vẫn không tự khỏi mới cần phải phẫu thuật.
Khi nào thoát vị bẹn phải cấp cứu.
Là khi ruột, mạc nối mắc kẹt và nghẹt trong bao thoát vị. Do bị nghẹt, phần ruột, mạc nối nằm trong bao thoát vị bị thiếu máu nuôi dưỡng, để lâu có thể bị hoại tử đoạn ruột nghẹt. Biểu hiện bệnh nhân rất đau đớn. Khối phồng rất đau và không hết khi nằm nghỉ.
Phẫu thuật điều trị như thế nào?
Có nhiều phương pháp điều trị. Mục đích của phẫu thuật là làm mất đi (khâu 2 bờ của lỗ thoát vị, làm mất điểm yếu trên thành bụng nhưng để lại sức căng của đường khâu-tension repair) hoặc làm vững mạnh (tạo vạt che hoặc dùng mesh sợi tổng hợp che phủ điểm yếu của thành bụng, làm vững mạnh điểm yếu và không làm căng đường khâu-tension free repair) điểm yếu của thành bụng.
Mổ mở:
Tension repair:
Phẫu thuật Bassini.
Phẫu thuật Shouldice
Phẫu thuật McVay
Tension-free repair
Đặt mesh tổng hợp (giống như tấm lưới sợi tổng hợp) làm vững mạnh hơn vị trí thành bụng yếu.
Mổ nội soi: Có thể đi trong hoặc ngoài phúc mạc qua đó đặt mesh tổng hợp che phủ điểm yếu của thành bụng ngoài phúc mạc.
Trẻ em: Thoát vị bẹn là do tồn tại ống phúc tinh mạc nên khi mổ chỉ cần rạch da 2-3 cm trên thành bụng, phẫu tích và thắt ống phúc tinh mạc ở lỗ bẹn sâu là đủ.
Ưu nhược điểm của phương pháp nội soi so với mổ mở:
Ưu điểm:
Hồi phục nhanh.
Ít đau sau mổ.
Ít biến chứng sau mổ: Nhiễm trùng, chảy máu.
Ít nguy cơ đau mãn tính sau mổ.
Không thêm sẹo khi phẫu thuật cả 2 bên.
Nhược điểm:
Thời gian phẫu thuật có thể lâu hơn(?). Trên thực tế, hiện tại phẫu thuật nội soi không lâu hơn phẫu thuật mở. Thậm chí còn nhanh hơn nhiều khi phẫu thuật cả hai bên vì không phải thêm đường rạch.
Phục hồi sau phẫu thuật.
Hầu hết bệnh nhân có thể trở lại với hoạt động bình thường sau 2-4 tuần.
Trong tuần đầu sau mổ cần chú ý với những hoạt động làm tăng áp lực ổ bụng, căng vết mổ như:
Đang nằm ngồi dậy, đang ngồi đứng dậy.
Ho.
Hắt hơi.
Khóc.
Bê mang vật nặng.
Nôn.
Chúc bạn thành công.
01:46 CH 04/03/2012
Kiến thức về bệnh sỏi thận, sỏi mật!
google -> bacsyphauthuat ra cái này:
Nguyên nhân gây sỏi túi mật là gì?
Thường do chuyển hoá, khi trong dịch mật có nồng độ cholesterol dư thừa quá cao tạo thành các tinh thể mà từ đó sỏi túi mật được hình thành.
Những ai có nguy cơ bị sỏi túi mật?
Có thể găp ở bất kể ai, người trẻ tuổi ít bị hơn. Những người sau đây thuộc nhóm có nguy cơ cao:
Người béo. Vì sỏi liên quan đến vấn đề thừa cholesterol trong máu.
Phụ nữ dùng thuốc tránh thai có chứa estrogen.
Người có bện viêm đường ruột như bệnh Crohn, viêm loét đại tràng.
Các triệu chứng của sỏi túi mật?
Hầu hết người bệnh không có triệu chứng gì, sỏi túi mật được phát hiện tình cờ khi đi làm siêu âm bệnh khác.
Nếu có triệu chứng thì:
Đau bụng âm ỉ dưới sườn phải, xuyên ra lưng, lên vai phải. Cơn đau quặn dữ dội ít xảy ra, thường lên quan đến việc sỏi gây tắc ống cổ túi mật, viêm túi mật cấp đòi hỏi người bệnh phải nằm viện dùng thuốc, theo dõi và có thể phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu nếu quá trình viêm tiến triển dẫn đến hoại tử túi mật.
Sốt, vàng da thường là sỏi đã gây biến chứng.
Chẩn đoán sỏi túi mật như thế nào?
Siêu âm, chụp cắt lớp là phương tiện hữu hiệu cho chẩn đoán sỏi túi mật.
Các xét nghiệm máu giúp xác định chức năng gan, tình trạng cholesterol máu.
Điều trị sỏi túi mật như thế nào? Có thể tóm lược mấy ý sau:
Sỏi túi mật to trên 1cm không có triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Vì trong thực tế sỏi thường được phát hiện ngẫu nhiên và người mang sỏi đó đã chung sống với sỏi nhiều năm không triệu chứng. Và biến chứng của loại sỏi này thường nhẹ: viêm túi mật. Trường hợp đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có sỏi túi mật thì theo tôi nên can thiệp phẫu thuật điều trị trước khi mang thai để phòng khi túi mật viêm đúng vào thời kỳ mang thai thì việc điều trị trở nên rất phức tạp.
Điều trị thuốc “tan sỏi” như nhiều hãng thuốc quảng cáo hầu như không có tác dụng.
Sỏi nhỏ 2-3mm nguy hiểm hơn sỏi lớn 1-2cm vì có thể gây biến chứng rất nặng thậm chí tử vong là viêm tuỵ cấp hoại tử. Do vậy theo quan điểm cá nhân của tôi, khi bệnh nhân phát hiện có sỏi túi mật nhỏ 2-3mm nên chủ động khám bệnh viện ngoại khoa yêu cầu phẫu thuật dù sỏi chưa gây triệu chứng gì.
Sỏi gây triệu chứng đau, sốt từng đợt nên điều trị bằng phẫu thuật.
Tán sỏi: Chưa áp dụng để điều trị sỏi túi mật. Không hiệu quả và gây biến chứng.
Điều trị chuẩn vàng hiện nay cho sỏi túi mật là phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Có thể phẫu thuật nội soi thông thường với 3-4 vết rạch da nhỏ 0.5-1cm trên thành bụng để đưa dụng cụ hoặc phẫu thuật SILS một đường rạch qua rốn để không thấy sẹo sau khi mổ.
Thời gian phẫu thuật trung bình cho 1 ca sỏi túi mật 10-30phút, thời gian nằm viện sau mổ 2-3 ngày.
Trong điều trị phẫu thuật, phẫu thuật khi túi mật không viêm dễ hơn nhiều khi túi mật đã viêm nhiều lần.
01:34 CH 04/03/2012
Em có bầu 28 tuần mà bị sỏi mật, mọi người giúp...
Bạn ý lo là đúng rồi. Vì có sỏi túi mật lại mang thai thì sẽ rất khó khăn khi túi mật bị viêm. Mổ cắt túi mật cũng dở, điều trị thuốc cũng dở. Nhưng hiện giờ lâm vào tình cảnh này rồi thì đành chờ đợi thôi bạn ạh. Mong là đến khi sinh rồi sỏi túi mật vẫn không gây chuyện.
Thường thì để an toàn sẽ giải quyết sỏi túi mật trước khi mang thai.
Chúc bạn mẹ tròn con vuông.
Thông tin thêm: google tìm từ khóa bacsyphauthuat
01:26 CH 04/03/2012
Cần giúp đỡ ạ! Hỏi bác sĩ mổ sỏi mật giỏi ở hà...
Bạn tham khảo ở đây: http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/11/02/s%E1%BB%8Fi-tui-m%E1%BA%ADt/
Hoặc có thể tìm thông tin bằng google với từ khóa bacsyphauthuat. Chúc bạn tìm được thông tin hữu ích.
01:15 CH 04/03/2012
U nang buồng trứng phải
Theo mình thì:
1.em không có kinh nguyệt có phải do em bị u nang không?
Có thể nếu u nang đó liên quan đến vấn đề nội tiết.
2.em bị u nang là do em phá thai phải không?
Cái này chắc chắn là không phải
3.trường hợp của em cần phải chữa như thế nào và liệu em có em bé được nữa không?
Điều này thì không dám chắc vì bạn không có kinh thì khó mà có em bé. Bạn nên đi khám chuyên khoa sản-phụ khoa đi. Còn chỉ vì cái u nang kia thì bạn có thể xem ở đây:
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/10/05/m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-ph%E1%BA%ABu-thu%E1%BA%ADt-n%E1%BB%99i-soi-m%E1%BB%99t-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-r%E1%BA%A1ch-sils/
05:52 CH 28/02/2012
mổ nội soi
Bạn xem ở đây nữa. Nhưng mà lại ở Hà nội cơ. Toàn nội soi đó:
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/11/02/s%E1%BB%8Fi-tui-m%E1%BA%ADt/
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/07/16/ph%E1%BA%ABu-thu%E1%BA%ADt-c%E1%BA%AFt-tui-m%E1%BA%ADt-n%E1%BB%99i-soi-laparoscopic-cholecystectomy/
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/10/05/m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-ph%E1%BA%ABu-thu%E1%BA%ADt-n%E1%BB%99i-soi-m%E1%BB%99t-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-r%E1%BA%A1ch-sils/
05:44 CH 28/02/2012
Sỏi túi mật
Các bạn quan tâm sỏi túi mật vào đây nha.
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/11/02/s%E1%BB%8Fi-tui-m%E1%BA%ADt/
05:35 CH 28/02/2012
Bị sỏi túi mật có thể có thai an toàn không?
Đúng đấy bạn ạ. Mổ trước khi có thai thì hơn. Vì nhỡ khi đang mang bầu mà túi mật có sỏi bị viêm thì mổ cũng dở, không mổ không được, sẽ rất khó đấy. Giờ mổ cắt túi mật nội soi nghe nói cũng nhẹ nhàng thôi.
05:31 CH 28/02/2012
Tai biến nguy hiểm do thoát vị bẹn
Mình cũng đang quan tâm vấn đề này. Tìm mãi cũng thấy mấy link tiếng việt. Trong đó có cái này thấy cũng dễ hiểu.
http://bacsyphauthuatsurgeon.wordpress.com/2011/12/01/thoat-v%E1%BB%8B-b%E1%BA%B9n-ch%E1%BA%A9n-doan-va-di%E1%BB%81u-tr%E1%BB%8B-ph%E1%BA%ABu-thu%E1%BA%ADt/
05:11 CH 28/02/2012
Bệnh thoát vị bẹn ở trẻ em
Ôi khó quá, chả biết thế nào. Chỗ bảo biết đi mới mổ, chỗ hơn tháng mổ rồi thế là thế nào hả các mẹ?
05:04 CH 28/02/2012
l
lknhu
Hóng
482Điểm·0Bài viết
Báo cáo