Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
chứng đau đầu, chóng mặt, xây xẩm mặt mày sau khi...
SẢN HẬU HUYỀN VỰNG

I. ĐẠI CƯƠNG
Phụ nữ sau khi sinh đẻ rồi bỗng nhiên đầu choáng, mắt hoa, không ngồi dậy được, trong ngức tức đầy, lợm giọng, nôn mửa hoặc đờm nhiều, thở gấp, nặng thì cấm khẩu, hôn mê, bất tỉnh nhân sự thì gọi là huyền vững. Đó là một chứng nguy hiểm lúc sản hậu nếu không chữa kịp thời thì thường sinh ra chứng hư thoát.
II. NGUYÊN NHÂN
1. Huyết hư
Sản hậu huyết mất nhiều, tâm can huyết kém, thần chí không yên, mà gây ra chóng mặt buồn phiền.
2. Huyết ứ
Huyết hôi không xuống, làm cho huyết ứ xông lên, tâm thần rối loạn, hoặc sau khi đẻ khí uất hàn trệ củng làm cho huyết ứ xông lên mà thành chứng huyền vững.
III. BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Chứng huyền vựng chia làm hai loại: chứng thoát và chứng bế. Chứng thoát là thuộc hư,huyết hư ra nhiều, lúc xây xẩm thì miệng há, tay xòe, chân tay lạnh,mạch vi tế muốn tuyệt, chứng bế là chứng thực, huyết hôi ra ít, bụng dưới trướng đau,lúc xây xẩm thì hôn mê, cấm khẩu, hai tay nắm chặt.
1. Thể huyết hư
1.1. Triệu chứng
Sản hậu mất huyết quá nhiều bỗng nhiên xây xẩm,sắc mặt xanh nhợt, buồn bực không thư thái, tim hồi hộp, lợm giọng, buồn nôn, dần dần mê nam, mắt nhắm, miệng há tay chân xòe, chân lạnh,nặng thì mồ hôi lạnh đầm đìa, lưỡi nhạt, không rêu, mạch vi tế, hoặc phù đại mà hư.
1.2. Phương pháp điều trị: bổ huyết, điều khí.
1.3. Phương thuốc: dùng bài Đương quy bổ huyết thang







Đương quy
40g
Hoàng kỳ
80g


Hoặc bài



















Hoàng kỳ
12g
Bạch truật
12g
Trần bì
4g
Bào khương
10g
Chích thảo
4g
Đương quy
12g


* Nếu mất huyết nhiều, mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh thì cần cố dương, dùng bài Nhân sâm tứ nghịch thang.













Nhân sâm
12g
Chích thảo
6g
Phụ tử chê
8g
Can khương
6g


2. Thể huyết ứ
2.1. Triệu chứng
Sản hậu huyết hôi không xuống được hoặc xuống rất ít, bụng dưới đau từng cơn, đau cự án, sắc mặt vàng nhợt, môi đỏ, dưới ngực tức đầy, nặng thì thở to và gấp, hôn mê, hàm răng nghiến lại, sắc mặt tím bầm, chất lưỡi đỏ tía, mạch huyền sác hữu lực.
2.2. Phương pháp điều trị: trục ứ, thông huyết.
2.3. Phương thuốc: dùng Độc hành tán.
- Ngũ linh chi( nử sống, nủa sao) tán bột, mỗi lần uống 8g hòa với rượu đổ vào cổ sẻ khỏi.
* Nếu không khỏi lại gia Bồ hoàng sao, liều lượng củng bằng ngũ linh chi, gọi là Thất tiếu tán.
* Hoặc dùng phương trên gia kinh giới, củng bằng các vị trên, hòa đồng tiện vào mà uống.
- Trường hợp sản hậu huyễn vững, đau bụng thì dùng thổ tam thất săc uống hoặc dùng bài thuốc kinh nghiệm.













Sơn tra
16g
Ngưu tất
12g
Diên hồ sách
8g




- Trường hợp bệnh trầm trọng, khí hư muốn thoát thì dùng ngay Độc sâm thang ( có thể gia thêm 1 chén đồng tiền) mà chửa hoặc dùng các cách chữa ngoài như châm cứu hoặc xông giấm để cho chóng tỉnh lại, rồi tiếp tục điều trị bằng thuốc.
- Có thể phối hợp với cách chữa ngoài:
* Hoặc dùng đồ sắt nung đỏ, đổ giấm thanh vào mà xông lên mũi người đẻ.
* Hoặc đốt vị can tất rồi cho người đẻ hít lấy khói.
* Hoặc dùng cây kim bằng bạc nhể chích chổ giáp giữa hai đầu lông mày cho ra máu. Phương pháp này phối hợp với Đương quy bổ huyết thang làm cho người bệnh chóng tỉnh lại.
Nguồn: phusankhoa.com
05:23 CH 25/03/2014
Uống thuốc bắc điều trị rối loạn kinh nguyệt ở...
Chữa rối loạn kinh nguyệt bằng đông y
Kỳ kinh nguyệt bình thường
là chu kỳ trung bình 28 ngày hành kinh 3 ngày lượng kinh vừa phải, màu kinh đỏ tươi không đông, không có máu cục, không đặc, không lỏng, không bầm tím, không hôi.
Bệnh kinh nguyệt là bệnh phụ khoa thường thấy, nếu không kịp thời chú ý đề phòng và chữa trị rất dễ ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh đẻ của phụ nữ
Kinh nguyệt không đều là nói chu kỳ của kinh, số lượng kinh, màu sắc của kinh, chất của kinh, không cứ một phương diện nào, đã có sự thay đổi và đã phát hiện ra bệnh trạng. Thường thấy những chứng kinh ra trước kỳ, kinh ra sau kỳ, kinh ra trước sau không định kỳ, hoặc kinh quá nhiều hay ít.
Bệnh này thường hiện ra các chứng trạng khác nhau nhưng tóm lại không ngoài hai phương diện là: Thay đổi về chu kỳ và thay đổi về số lượng, màu sắc…của kinh.
1. Thay đổi về chu kỳ
Rối loạn về chu kỳ: Ngắn quá hoặc dài quá theo chu kỳ chung (Một tháng 1 lần) hoặc theo chu kỳ đặc thù riêng của cá thể phụ nữ; hoặc thất thường khi có khi mất.Thường hành kinh sớm trên 7 ngày, thậm chí trong một tháng có hai lần thì gọi là kinh ra trước kỳ; kinh nguyệt lùi lại sau 7 ngày; hoặc 40-50 ngày.hoặc 2-3 tháng một lần thì gọi là kinh ra sau kỳ; kinh nguyệt khi sớm khi muộn không không kỳ hạn nhất định, trước sau sai nhau 7 ngày trở lên gọi là kinh rối loạn.
2. Sự thay đổi về số lượng, về màu, về chất của kinh
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường mà số lượng quá lúc bình thường hoặc kinh dài hơn gọi là đa kinh; số lượng kinh ít hơn bình thường hoặc thời gian ra huyết rút ngắn thì gọi là thiểu kinh
Nguyên nhân không ngoài nội thương thất tình, ngoại cảm lục âm, như uất giận, lo nghĩ, Thời gian hành kinh bị cảm hàn thấp, ăn uống ẩm thực… Còn thêm một số nguyên nhân khác như chế độ vệ sinh kinh nguyệt, tập tục sinh hoạt, phòng dục… cũng gây bệnh lý nghiên trọng. Dẫn đến khí huyết không điều, công năng tạng phụ bị rối loạn, hai mạch xung nhâm tổn thương gây ra. Phòng khám đông y hoàn xuân đường chuyên chữa bệnh phụ khoa kinh nguyệt không đều chia ra các thể bệnh chính sau:
A. HÀNH KINH TRƯỚC KỲ
Triệu chứng chủ yếu: Kỳ kinh sớm trên 7 ngày thậm chí trong 1 tháng có kinh 2 lần thì gọi là kinh trước kỳ, Sự sai lệch này phải từ 2 lần trở lên mới gọi là bệnh.Nguyên nhân triệu chứng và phương pháp điều trị1.1 Huyết nhiệt
Thường ở người ham ăn đồ cay nóng, hút thuốc, uống rượu, hoặc khí hậu nóng quá, cảm phải nhiệt tà, nhiệt đọng vào huyết, làm cho huyết phải đi sai đường, thường dẫn đến kinh quá sớm và kinh ra nhiều. Do thể trạng vốn có âm hư huyết nhiệt hoặc cảm nhiễm khí hậu nóng nội nhiệt hiệp với ngoại tà ẩn náu lâu ngày, gây sinh ra nhiệt uất ảnh hưởng đến Xung Nhâm mà gây ra.
a. Triệu chứng: thấy kinh trước kỳ, lượng kinh nhiều, màu đỏ sẫm hoặc đen, đặc dính, có lú ra cục, mùi tanh hôi, sắc mặt đỏ hồng, môi đỏ khô cứng, người hay choáng váng, tâm phiền dễ giận, thích lạnh sợ nóng, đại tiên bí,tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ rêu vàng,
b. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt lương huyết. điều kinh
1.2 Hư nhiệt
Ở người chân âm vốn dĩ bị thương tổn, lo nghĩ và phòng lao, hoặc do thất tình thương tổn bên trong, làm cho âm huyết kém, âm hư nội nhiệt nên kinh cũng ra sớm nhưng lượng ít.
a. Triệu chứng: Kinh nguyệt không đều hành kinh trước kỳ, lượng kinh ít, màu đỏ mà trong, không có cục, sắc mặt không tươi, có lúc hai gò má đỏ, đầu mặt xây xẩm, tong nóng mà phiền nhiệt, đêm ngủ không yên, tinh thần mệt mỏi, chất lưỡi đỏ nhợt rêu hơi vàng mà khô hoặc miệng lưỡi lở loét, mạch tế sác.
b. Phương pháp điều trị: dưỡng âm thanh nhiệt.
1.3 Khí hư
Ở người nhọc mệt, lao thương, chính khí suy kém, mạch xung, nhâm không kiên cố, không thể gìn giữ và chế ức được kinh nguyệt, thường thấy kinh đi sớm mà nhiều.
a. Triệu chứng: hành kinh ra trước kỳ mà nhiều, màu nhợt, chất loãng, sắc mặt trắng, tinh thần uể oải, tim hồi hộp, ngắn hơi, ngại nói, người mệt mỏi, cảm thấy bụng dưới sa xuống, chất lưỡi nhợt mà rêu mỏng ướt, mạch hư nhược vô lực.
b. Phương pháp điều trị: bổ khí, nhiếp huyết, cố kinh.

1.4 Can uất:
Do công năng sơ tiết của can không được bình thường làm cho việc tàng trữ huyết không tốt, can khí và can huyết mất thăng bằng, làm cho khí huyết ứ trệ mà gây ra.
a. Triệu chứng lâm sàng: Kinh nguyệt ra trước kỳ, sắc kinh đỏ tươi (sắc bình thường), hoặc đỏ thẫm, có khi lẫn máu cục, lượng nhiều, ít không nhất định, ngực sườn đầy tức, hay đau hai bên mạng sườn, đau trướng trước khi hành kinh, người hay choáng váng, tâm phiền, có khi sốt về chiều. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch huyền, sác. Nếu uất lâu sinh nhiệt thì kiêm thấy tâm phiền sốt về chiều (cảm giác gai gai sốt, nhưng đo nhiệt độ bình thường). Môi hồng, miệng khô, huyết kinh sắc hồng. lượng nhiều, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch huyền sác. Trị thì nên bình can giải uất.
b. Phương pháp điều trị: sơ can giải uất, điều kinh.
1.5 Huyết ứ:
Sau hành kinh hoặc sau đẻ huyết dư (Huyết hôi) không ra hết lưu lại ở bào cung lâu ngày kết hợp với các yếu tố ngoại tà làm tổn thương đến xung Nhâm mà gây ra.
a. Triệu chứng lâm sàng: Kinh nguyệt ra trước kỳ, cò khi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ một vài ngày, sắc kinh đỏ tươi, hoặc đỏ sẫm tím tối, có khi lẫn máu cục, lượng ít mà ra không thông, hay đau bụng, trướng đầy vùng bụng dưới trước khi hành kinh, ấn vào càng đau hơn, người mệt mỏi, đại tiện có thể phân đen. Chất lưỡi đỏ, có khi thấy nốt tím trên lưỡi. Mach tế sác hoặc trầm sác.
b. Phương pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, điều kinh
1.6 Đàm trệ:
Do công năng vận hóa thủy thấp của tỳ không tốt kết hợp với việc hóa khí hành thủy không được làm cho đàm trở trệ ảnh hưởng tới Xung Nhâm, kinh huyết mà gây ra
a. Triệu chứng lâm sàng: Kinh nguyệt ra sau kỳ, sắc kinh nhợt, có khi lẫn máu cục, lượng ít, ngực bụng đầy tức, ậm ạch, buồn nôn hoặc nôn mửa ra đàm, ăn uống kém, người mệt mỏi, uể oải, khó chịu, thường gặp ở người béo bệu. Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, dính nhớt. Mạch hoạt.
b. Phương pháp điều trị: Hóa đàm hành trệ, điều kinh.
1.7 Khí trệ
a. Triệu chứng lâm sàng: Kinh nguyệt chậm 6- 7 ngày, sắc kinh đỏ hoặc đỏ sẫm không nhất định, có khi lẫn máu cục, lượng ít, lưng đau, bụng trướng, người mệt mỏi, sắc mặt xanh xạm, ấm ách khó chịu. Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng. Mạch huyền.
b. Phương pháp điều trị: Hành khí hoạt huyết, điều kinh.

B. HÀNH KINH SAU KỲ
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường khoảng 28 ngày. Nếu quá 7 ngày trở lên cho tới 40-50 ngày hoặc 2-3 tháng mới thấy một lần gọi là kinh nguyệt đến sau thời gian Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trịKinh ra sau kỳ chủ yếu là do hư và hàn, nhưng củng có khi vì huyết ứ, đờm ngăn trở khác nhau.
1.1. Huyết hàn
Thường do lúc hành kinh ăn nhiều thứ sống lạnh, hoặc dầm mưa lội nước quá nhiều, hàn nhiễm vào cơ thể, hàn nhập vào bào cung và hai mạch xung nhâm làm cho huyết bị ngưng trệ nên gây hành kimh sau kỳ
a. Triệu chứng: hành kinh sau kỳ, lượng kinh ít, màu nhợt hoặc hơi xám đen, có khi lẫn máu cục, chất loãng, sắc mặt trắng bợt, thích nóng, sợ lạnh, chân tay mát lạnh, người mệt mỏi, hay đầy bụng, ăn kém tiêu. bụng đau liên miên, hoặc đau bụng vùng bụng dưới trước khi hành kinh, thích được chườm nóng, môi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì vô lược.
b. Phương pháp điều trị: ôn kinh tán hàn, hoá ứ

1.2. Huyết hư
Huyết hư phân nhiều vì các bệnh xuất huyết dai dẳng hoặc sinh đẻ quá nhiều, hoặc phòng lao, sau bệnh nặng, sẩy thai hao tổn âm huyết, xung nhâm suy tổn, bể huyết không đủ, kinh không thể đúng kỳ được, thường thấy kinh muộn mà ít.
a. Triệu chứng: kinh ra sau kỳ, lượng ít, màu đỏ nhợt (sắc nhạt), chất loãng, thân thể gầy yếu, sắc mặt úa vàng; hoặc thấy môi lưỡi và móng chân xanh nhợt, lưng đau, da dẻ khô sáp, đầu choáng mắt hoa, tim hồi hợp, ít ngủ, hay đầy bụng, ăn uống kém tiêu, chất lưỡi nhợt không có rêu, mạch tế sác hoặc hư tế. Nếu kèm theo khí hư là khí huyết đều hư.
b. Phương pháp điều trị: bổ huyết, điều kinh

1.3. Huyết ứ
Sau khi đẻ hay hành kinh, ứ huyết đọng lại sau tử cung, tắc trệ mất đường kinh làm cho kinh không đúng kỳ.
a. Triệu chứng: kinh ra sau kỳ, lượng ít, màu tím đen (sắc tối), có đọng cục nhỏ, sắc mặt tím xám, bụng dưới trướng đau, ấn đau, tinh thần uất ức, khi huyết ra rồi thì bớt đau nhức, ngực bụng trướng đầy không thư thái, có thể đại tiện táo bón, tiểu tiện ngắn vàng. Lưỡi đỏ xám, mạch trầm sáp.
b. Phương pháp điều trị :hành huyết, hóa ứ.

1.4. Tỳ hư đàm trệ
Đàm thấp trở trệ làm trở ngại tử cung, sinh ra huyết mạch không thông, kinh huyết trở lại không hành, nặng thì sinh kinh bế. Nếu lâu ngày có thể thành đàm hỏa lai gây kinh ra nhiều mà trước kỳ.
a. Triệu chứng. hành kinh sau kỳ, sắc nhợt mà đặc dính, lượng nhiều ít không chừng, sắc mặt trắng bệch, trong lồng ngực bực tức, ăn uống kém sút, thường khí hư nhiều, ngực bụng tức buồn, hoặc quặn bụng trên, nôn ra chất đờm, miệng nhạt rêu lưỡi trắng nhớt, mach huyền hoạt.
b. Phương pháp điều trị. Kiện tỳ, tiêu đàm
1.5 Thể khí trệ
a.Triệu chứng lâm sàng: Hành kinh đến sau thời gian 7-8 ngày hoặc hơn, sắc tối, tinh thần uất ức, ngực buồn bằn, ợ hơi thì đỡ, hoặc bụng không trướng nhiều mà có đau chút ít. Rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng, mạch huyền
b. Phương pháp điều trị: Hành khí hoạt huyết

C. HÀNH KINH TRƯỚC SAU KHÔNG ĐỊNH KỲ
Nguyên nhân Triệu chứng và phương pháp điều trị1.1. Can khí uất
Tức giận lo nghĩ, tình chí không được thoải mái, can khí uất kết không thư thái, không sơ tiết được, do đó mà kinh nguyệt không đều. Can chủ sơ tiết, trường hợp tình chí rối loạn, tức giận, lo nghĩ, tính tình nóng nảy hay tức giận làm cho can khí uất kết không thư thái, không sơ tiết được, do đó mà ảnh hưởng đến chức năng khí theo cơ chế Khí hành thì huyết hành, Khí uất trệ gây nên rối loạn kinh nguyệt.
a. Triệu chứng:
Kinh ra trước kỳ sau kỳ không nhất định, không thư thái, lượng ít, sắc đỏ tía cục, sắc mặt hiện ra xanh xám, tinh thần uất ức, trước khi hành kinh bầu vú căng lên, lúc hành kinh bụng dưới trướng đau ( củng có thể thấy trước lúc hành kinh), đau lan lên ngực và sườn; hoặc ngực tức, đầy bụng, ợ hơi được thì nhẹ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch huyền; nếu kèm có nhiệt thì thấy kinh trước kỳ, phiền nhiệt, môi khô, miệng ráo, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
b. Phương pháp điều trị: sơ can, giải uất.

1.2. Tỳ hư
Tỳ vị hư yếu không thể thu nạp và vận hóa được thủy cốc, làm cho nguồn sinh hóa của khí huyết bị suy kém, huyết dịch không đủ mà thấy kịnh muộn. Tuy nhiên tỳ thống nhiếp huyết, nếu tỳ hư mà kinh giảm xuống, không thống nhiếp được thì kinh huyết lại dễ thấy trước kỳ.
a. Triệu chứng: kinh hành sớm muộn không nhất định, lượng nhiều ít không chừng, sắc nhợt mà trong, sắc mặt vàng bệch, tay chân phù thụng, tinh thần mệt mỏi, yếu sức, tay chân không ấm,đầu xây xẩm, tim hồi hộp, có lúc bụng trướng. miệng nhạt, ăn ít, ăn không biết ngon, hay buồn nôn, đại tiện lỏng, rêu lưởi trắng, mạch trầm nhược.
b. Phương pháp điều tri.: bổ tỳ, điều kinh.

1.3. Can thận hư
Vì phòng dục quá độ, tổn hại tới can thận mà ảnh hưởng tới mạch xung nhâm; can hư thì không tàng chứa được huyết, thận hư thiên quý kém nên kinh tỳ rối loạn không nhất định. Đối với người phụ nữ vốn thận khí kém lại phòng dục quá độ, hoặc sau sinh đẻ nhiều, làm tổn hại can thận làm cho mạch xung nhâm bị tổn thương; Can hư thì không tàng chứa được Huyết, Thận hư thiên quý kém nên kinh kỳ rối loạn không nhất định
a. Triệu chứng: kinh ra hoặc trước hoặc sau kỳ, lúc nhiều lúc ít, màu nhợt, chất loãng, sắc mặt xanh nhợt hoặc hơi xám tối, đầu choáng, tai ù, vùng eo lưng đau nhiều, ăn ít, ngủ kém, bụng dưới ra xuống và đau, tiểu tiện đêm nhiều, lưỡi bệu nhạt rêu vàng mỏng, mạch tế sác.
a. Phương pháp điều trị: tư bổ can thận. điều kinh

Phòng khám đông y Hoàn xuân đường đã điều trị cho rất nhiều bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt khỏi theo biện chứng và thuốc đông y.
10:47 SA 21/03/2014
Giúp mình với: mang thai 5 tuần tự nhiên ra máu...
Bạn tham khảo các bài thuốc đông y xem nhé!

NHÂM THẦN LẬU THAI HẠ HUYẾT
I. Đại cương
Bình thường khi phụ nữ có thai thì kinh nguyệt dừng đến khi con bú mà lượng sữa đã giảm còn ít lúc đó mới hành kinh trở lại. Khi đã có thai ra máu kiểu hành kinh hoặc ra một ít máu đen sẫm gọi là nhâm thần lậu thai hạ huyết.
II. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Nguyên nhân do Xung nhâm khí hư không chế ước được tâm, tiểu trường. Bình thường hai kinh mạch tâm và tiểu tràng có liên quan biểu lý với nhau, ở thượng tiêu thì tạo ra nhũ chấp, ở hạ tiêu thì tạo thành kinh thủy. Khi thụ thai thì Xung Nhâm tập trung khí huyết để nuôi dưỡng thai và chuẩn bị các công đoạn để tạo sữa, khi thai nhi ra ngoài là có đủ sữa để nuôi dưỡng hài nhi. Khi Xung Nhâm bị phong nhiệt hoặc do can hỏa vượng hoặc do tỳ vị hư nhược…làm cho Xung nhâm bất cố không thực hiện đúng quy trình, khí huyết không tập trung dưỡng thai mà ra huyết như kinh thủy, thành lậu thai hạ huyết. Ngoài ra còn do các nguyên nhân khác như chấn thương hoặc bệnh lý cũ tại bào cung hoặc cơ quan bộ phận bên cạnh mà gây ra lậu huyết. Lâu ngày không được chữa trị ảnh hưởng đến thai nhi,
III. Biện chứng luận trị
Triệu chứng lâm sàng chung: Phụ nữ khi tắt kinh có thai vài tháng, tự nhiên thấy ra một ít máu như kinh nguyệt, thời gian đầu máu đỏ tươi, sau đó màu thâm tím đen, kèm theo các chứng trạng toàn thân như đau bụng, cơ thể suy giảm.
1. Có thai ra máu Do tỳ khí hư
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ khi tắt kinh có thai vài tháng, tự nhiên thấy ra một ít máu như kinh nguyệt, ăn uống kém, cơ thể mệt mỏi, da nhợt, môi nhợt, da xanh. Mạch tế sác.
* Phương pháp điều trị: Bổ tỳ, ích khí thăng đề.
* Bài thuốc: Bổ trung ích khí thang













Hoàng kỳ 12gCam thảo 8gNhân sâm 12gĐương quy 10g
Trần bì 10gThăng ma 10gSài hồ 10gBạch truật 12g

* Cách bào chế: Hoàng kỳ tẩm mật sao, Cam thảo chích, Nhân sâm bỏ cuống, Đương quy tửu tẩy, Trần bì khứ bạch. Các vị trên cho vào 1800ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
* Cách dùng: Ngày sắc 1 thang uống chia đều 3 lần.
2. Có thai ra máu Do can hỏa vượng
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ khi tắt kinh có thai vài tháng, tự nhiên thấy ra máu một ít như kinh nguyệt, hay cáu gắt, ngực sườn đầy tức, hoặc giận dữ nhiều gây ra các triệu chứng người lúc nóng lúc lạnh thất thường. Mạch sác.
* Phương pháp điều trị: Sơ can lý khí, an thai.
* Bài thuốc: Gia vị tiêu giao tán













Sài hồ 10gĐương quy 10gBạch thược 10gBạch truật 16g
Phục linh 10gCam thảo 6gBạc hà 8gSinh khương 3 lát

* Cách bào chế: Đương quy và Bạch thược tửu tẩm, Bạch truật tẩm đông bích thổ sao, Cam thảo chích. Các cị trên tán mạt cho vào 1200ml sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
* Cách dùng: Ngày sắc 1 thang, uống ấm chia đều 3 lần.
Uống 3-5 thang khi hết ra huyết, sau đó uống bổ trung ích khí thang.
3. Có thai ra máu thể Can khắc tỳ
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ tắt kinh có thai vài tháng tự nhiên thấy ra máu một ít như kinh nguyệt, khát nước, ăn kém, người gầy yếu, chân tay mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, hai mạng sườn đầy tức. Rêu lưỡi vàng dày. Mạch sác.
* Phương pháp điều trị: Sơ can hòa tỳ, ích khí.
* Bài thuốc: Tứ quân tử gia Sài hồ Sơn chi













Nhân sâm 12gBạch truật 12gPhục linh 10gCam thảo 12g
Sài hồ 10gSơn chi 10g

* Cách bào chế: Bán hạ khương chế sau đó bào. Các vị trên cho vào 1200ml sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.
* Cách dùng: Sắc ngày 1 thang, uống ấm chia đều ngày 3 lần.
Uống 3-5 thang khi hết ra huyết, sau đó uống tiếp bài Lục quân tử gia Sài hồ, Sơn chi, Thăng ma



















Nhân sâm 12gBach truật 12gPhục linh 10gCam thảo 12g
Sài hồ 10gSơn chi 10gThăng ma 8gTrần bì 8g
Bán hạ 8g

* Cách bào chế: Bán hạ khương chế sau đó bào. Các vị trên cho vào 1500ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 150ml.
* Cách dùng: sắc ngày 1 thang uống ấm chia đều ngày 3 lần.
4. Mang thai ra máu Do huyết nhiệt
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ khi tắt kinh có thai vài tháng, tự nhiên thấy ra một ít máu như kinh nguyệt, đầu thống, huyễn vựng, phiền táo, khẩu khát. Mạch trầm sác.
* Phương pháp điều trị: Tư âm, dưỡng huyết.
* Bài thuốc: Nhị hoàng tán
Sinh địa hoàng 12g
Thục địa hoàng 12g
* Cách bào chế: Hai vị trên tán mạt + Bạch truật 10g + Chỉ xác 8g + nước 1200ml sắc lọc bỏ bã lấy 120ml.
* Cách dùng: Sắc ngày 1 thang, uống ấm chia đều ngày 3 lần.
Nguồn:
http://phusankhoa.com/benh-khi-mang-thai/mang-thai-ra-mau.html
05:44 CH 13/03/2014
cảm giác nghẹn ở cổ họng-nhờ các mẹ giúp
CHỨNG UẤT
I. Đại cương
Chứng uất là một trong những chứng trạng thường gặp ở mọi lứa tuổi. Hay gặp nhất ở phụ nữ và ở những người tinh thần không ổn định. Sở dĩ phụ nữ hay mắc nhiều vì: Đặc điểm sinh lý của phụ nữ có những đặc thù riêng trong quá trình phát dục, phát triển. Vệ khí, dinh huyết, tinh thần, tân dịch có biến động lớn theo chu kỳ như: kinh nguyệt, thai, sản, bài tiết sữa, nuôi con và tiền mãn kinh...Từ những đặc điểm trên nên mỗi khi bị một tác nhân bên ngoài gây ảnh hưởng đến tinh thần dễ gây ra chứng uất.
II. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Nguyên nhân mối quan hệ vệ khí, dinh huyết, tân dịch bị biến động theo yêu cầu của từng tạng, phủ trong cơ thể để phát dục hoặc hành kinh hoặc nuôi thai hoặc tiết sữa hoặc ngừng kinh thủy...Khi vệ khí, dinh huyết, tân dịch không bình thường, biến động làm cho tinh thần bản thân người phụ nữ đã không được ổn định bình thường. Khi có tác nhân gây ảnh hưởng đến tinh thần là yếu tố cộng hưởng khiến người bệnh dễ bị uất chứng. Tùy theo mức độ tác động cũng như thời gian tác động và khả năng thích ứng của từng cá nhân mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau. Thường gặp các chứng trạng chủ yếu là: Nghẹn tức đầy lên cổ, nghẹt thở, có khi ngã ngất bất tỉnh nhân sự, nếu nặng có thể tử vong. Nguyên nhân do yếu tố tình chí uất kết (thất tình) tác động gây ra khí uất kết hợp với đàm hỏa nhiễu động thanh khiếu gây ra nghẹn tức, bất tỉnh nhân sự.
III. Biện chứng luận trị
1. Khí uất
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ sắp hành kinh hoặc đang mang thai biểu hiện vướng lập lờ trên cổ như có đờm, khạc thì không thấy đờm ra, nghẹn tức đầy lên cổ, cảm giác nóng cổ họng, ngực sườn đầy tức, chán ăn. Mạch huyền.
* Phương pháp điều trị: Bình can giải uất
* Bài thuốc: Tiêu giao tán













Sài hồ 12g
Đương quy 12g
Bạch truật 12g
Bạch thược 12g
Phục linh 12g
Cam thảo 6g



* Cách bào chế: Đương quy tẩm rượu, Bạch thược tẩm rượu, Bạch truật hoàng thổ sao, Cam thảo chích. Các vị trên sao giòn tán mịn.
* Cách dùng: Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 15gam với nước sắc: Uất kim, Bạc hà, Sinh khương, Đại táo.
2. Huyết uất.
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ trong những ngày hành kinh hoặc sau đẻ nghẹn tức đầy lên cổ, cảm giác nóng cổ họng, ngực sườn đầy tức, đau đầu, choáng váng, mặt mày xây xẩm, trong tâm phiền muộn, chán ăn. Mạch kết.
* Phương pháp điều trị: Bình can giải uất
* Bài thuốc: Hòa huyết khai uất phương



















Đương quy 16g
Xuyên khung 12g
Tân lang 12g
Thanh bì 6g
Hương phụ 8g
Long đởm thảo 8g
Hắc phụ tử 2g
Chỉ xác 6g
Chích thảo 4g
Trầm hương 2g
Can khương 5 miếng


* Cách bào chế: Các vị trên trừ Trầm hương + nước 1500ml, sắc lọc bỏ bã lấy 150ml. Sau đó mài Trầm hương hòa uống.
* Cách dùng: Ngày uống 1 thang chia 3 lần.
3. Đàm uất
* Triệu chứng lâm sàng: Phụ nữ trong những ngày hành kinh hoặc sau đẻ nghẹn tức đầy lên cổ, lợm giọng, buồn nôn, ậm ạch khó chịu, ngực sườn đầy tức, đau đầu, choáng váng, cảm giác như có dị vật đút nút chặt lên cổ, khó thở. Mạch hoạt.
* Phương pháp điều trị: Tiêu đàm, thông khiếu, bình can giải uất.
* Bài thuốc: Điều đàm thang













Bán hạ 16g
Đởm tinh 16g
Quất hồng bì 12g
Chỉ thực 12g
Phục linh 12g
Nhân sâm 8g
Thạch xương bồ 8g
Trúc nhự 6g

* Cách bào chế: Các vị trên + Sinh khương 3 miếng, Nghệ vàng 3 miếng, Đại táo 3 quả + nước 1800ml, sắc lọc bỏ bã lấy 150ml.
* Cách dùng: Ngày uống 1 thang chia đều 3 lần.
IV. Phòng bệnh và hộ lý
1. Giữ cho tinh thần thanh thản thoải mái nhất là sau khi đẻ, thời gian đang ở cữ, trong khi đang hành kinh, trước hoặc sau khi hành kinh hai hoặc ba ngày, giai đoạn tiền mãn kinh.
2. Điều trị các bệnh đã mắc theo chỉ dẫn của thầy thuốc.
3. Giữ gìn vệ sinh thân thể, chỗ ở thoáng mát, đủ ánh sáng, thường xuyên luyện tập thể dục, dưỡng sinh, làm việc nghỉ ngơi điều độ, ăn đủ chất dinh dưỡng.
Nguồn:
http://phusankhoa.com/benh-phu-khoa-khac/nghen-tuc-day-len-co.html
05:22 CH 13/03/2014
Ai có cách chữa bệnh hậu sản mòn giúp mình với
Bệnh hậu sản là gồm những chứng bệnh sau sinh của phụ nữ, Gồm rất nhiều chứng bệnh nên không thể trình bày ở đây được. Bạn có thể tham khảo thêm ở đây để hiểu về bệnh của bạn nhé: http://phusankhoa.com/benh-san-hau/
05:14 CH 08/03/2014
Hậu sản
Bệnh Hậu sản bao gồm nhiều chứng bệnh sau sinh. Các bạn có thể tham khảo các chứng bệnh đó tại đây: http://phusankhoa.com/benh-san-hau/
05:41 CH 07/03/2014
Sa tử cung/ sa sinh dục
SA DẠ CON
Âm đỉnh là trong âm hộ phụ nữ, bào cung hoặc bộ phận liên quan sa xuống âm đạo hoặc bị lòi ra cửa mình mỗi khi lao động nặng. Âm đỉnh xảy ra từng đợt hoặc liên tục ảnh hưởng liên tục ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động và sức khỏe của phụ nhân (Y học hiện đại gọi là sa dạ con, sa sinh dục).
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Nguyên nhân chủ yếu là do khí hư hạ hãm. Khí hư do nhiều nguyên nhân như: Trong khi chửa, đẻ chế độ ăn uống kém không đầy đủ, hoặc sau khi đẻ bào cung chưa co hồi về vị trí bình thường đã phải lao động nặng hoặc phòng dục; hoặc bệnh lý ở một số cơ quan lân cận đẩy bào cung sa xuống và ra ngoài mà không co về vị trí ban đầu được. Hoặc do thấp nhiệt xâm nhập thì ngoài sa giãn còn kèm theo loét, chảy nước vàng dầm dề, âm hộ sưng tấy có khi phát sốt...
Bạn có thể tham khảo các bài thuốc chữa bệnh này ở đây:
http://phusankhoa.com/benh-phu-khoa-khac/sa-sinh-duc-sa-da-con.html
03:09 CH 07/03/2014
chữa hen suyễn bằng đông y
Hensuyen.net tham khảo cách chữa bệnh hen phế quản bằng đông y tại
hensuyen.net
04:27 CH 24/02/2014
Bệnh phụ khoa - Tư vấn giúp em với
Các bạn có thể tham khảo thêm cách chữa bằng đông y các bệnh sản phụ khoa tại đây nhé: PHUSANKHOA.COM
phusankhoa.com
05:18 CH 21/02/2014
Rối loạn thần kinh thực vật
EM có thể tham khảo cách phòng bệnh rối loạn thần kinh thực vật tại đây: http://roiloanthankinhthucvat.vn/roi-loan-kinh-thuc-vat-cach-phong-tranh/
Nghỉ ngơi thường xuyên
. Giấc ngủ ngắn thường xuyên, và ngủ ít nhất 8 tiếng hoặc hơn mỗi đêm. Trước nửa đêm là thời điểm tốt nhất để ngủ. Tránh hoạt động quá sức ngay cả tập thể dục.Tránh bị kiệt sức bởi bất kỳ hoạt động bạn tham gia.
Tập thể dục thường xuyên
để xua tan sự căng thẳng. Hãy cho phép mình nghỉ ngơi khi cần thiết.
Tập thở sâu
. Đây là một cách để kiểm soát các một hành động tự nhiên. Chậm, hít thở sâu tự tắt hệ thống thần kinh.
02:59 CH 26/10/2013
Bệnh đẹn ở trẻ em
Các bạn có thể tham khảo các cách chữa đẹn trẻ em sau nha:
Đẹn trẻ em ( khách ngộ, vía)
Trẻ sơ sinh cơ thể tạng phủ còn non yếu chưa thích nghi với môi trường bên ngoài, sức chống đỡ với bệnh tật còn kém, dễ nhạy cảm với thay đổi về môi trường xung quanh như sự thay đổi về khí hậu, về phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa nên mỗi khi gặp khí trời thay đổi, môi trường xung quanh thay đổi có khi là hơi đất, hơi người cũng làm trẻ bị bệnh quấy khóc chứng đó gọi là Khách Ngộ hay còn gọi là Đẹn.

Những bài thuốc kinh nghiệm thừa kế gia truyền
chữa đẹn trẻ em

Bài 1: Chữa đẹn trẻ em
Đẹn có 3 loại: Đẹn đất (do hơi đất); Đẹn huyết (do hơi máu); Đẹn phong (do khí hậu) nói chung đều là đẹn và có những cách chữa riêng.

Bài thuốc:












Thương truật 4gNgưu tất 4gHồng hoa 4g
Cam thảo 4gCát cánh 4g

- Nếu là Đẹn đất: thì bụng trẻ đầy thở khò khè gia: Trạch tả 4g, Hoạt thạch 2g, Đăng tâm 4g

- Nếu là Đẹn huyết thì mắt nhã ghen 2 chân tréo lại gia: Quy vĩ 4g, Liên kiều 4g.

- Nếu là Đẹn phong: trẻ thở khò khè có khi sốt gia: Phòng phong 4g, Mộc hương 4g (Mộc hương mài ngoài cho vào sau)

Cách chế và dùng: Tất cả hợp thanh đổ 1 bát rưỡi nước sắc kỹ còn nữa bát, cho trẻ uống mỗi lần 10-20ml, ngày uống 2-3 lần (Riêng Mộc hương không sắc mà mài cho vào thuốc khi uống).


Bài 2: Chữa khách ngộ (vía đại tang)
Ban đêm trẻ khóc cho bú vào nhưng không bú vẫn khóc ngửa cổ đàm khò khè, cơ thể bình thường, cũng có trường hợp trẻ bị nóng.

Cách chữa: Lấy một cái chổi rành đã quét cùn thắp lửa đốt cho đỏ, bế trẻ mà xông qua 03 lần rồi ẵm trẻ chặt trẻ sẻ ngủ yên và bú bình thường.

Hoặc lấy lá Tiết lỗ (Rau mỏ) nấu nước xông hơi hay lấy một mẻ than bỏ lá Tiết lỗ vào hơi bốc lên rồi bế trẻ xông qua xông lại 03 lần trẻ sẽ ngủ yên.


Bài 3: Chữa khách ngộ




















Thương truật 4gCát cánh 4gCam thảo2g
Hồng hoa 2gThuyền thoái 7 conHồng hoa 2g
Cúc hoa 2gNgưu tất 2gĐăng tâm 4g
Lông nhím 1 cáiQuyết minh tử 4gXuyên sơn giáp 1 vảy (đốt tồn tính)

Cách chế và dùng: Tất cả cho vào siêu đổ 01 bát nước sắc lấy non nửa bát, trẻ em từ 03 tháng tuổi trở lên mỗi lần uống 1/3 chén con, ngày uống 03 lần trước khi cho bú, trẻ dưới 03 tháng tuổi thì giảm liều.


Bài 4: Đẹn đất, bụng trướng đầy ách bí đái ỉa.
Vò một nắm lá na ăn quả, thêm vào một ít nước nóng, vắt lấy bỏ bã lóng kỹ, cho uống 1 vài lần là khỏi. ( độc ?)


Bài 5: Chữa đẹn










Hồng hoa 4gThương truật 8gLông nhím 2 cái (đốt cháy)
Ngưu tất 8gXuyên sơn giáp 12g (nướng vàng)Đăng tâm 1 bó

Cách chế và dùng: Cho vào siêu đổ 1 bát nước sắc lấy non nữa bát cho trẻ uống ngày 2-3 lần. Mỗi lần 10-20ml.


Bài 6: Chữa Đẹn, hai mắt nhắm, tiểu bí, bụng đầy hơi, nằm thì tay chân ít cử động.
Bắt một con Thạch sùng nướng cháy bỏ vào chén nước đun sôi để nguội đâm nát lóng nước cho trẻ uống.

Hoặc lấy sừng dê mài mài với sữa cho trẻ uống nhiều lần sẽ khỏi.


Bài 7: Chữa Đẹn, đi ngoài lúc xanh lúc bọt, khó đi, đờm kéo khò khè.










Xuyên sơn giáp 8g (rang cháy vừa)Thương truật 8gCây cỏ xước 8g (rang vàng hạ thổ)
Hồng hoa 4gLông nhím 2g (đốt cháy)

Cách chế và dùng: Tất cả cho vào siêu, nước 1 bát sắc lấy nửa bát cho uống 2-3 lần trong ngày.


Bài 8: Đẹn trẻ em, do thai độc hoặc nhiễm hơi nặng trẻ bị ho suyễn.










Hoa kinh giới 4gGiây mang hổ 4gNghệ vàng 3 lát
Lá cam thảo đất 4gPhèn phi 2g (tán nhỏ để ngoài)Rễ vảy tiền hoa vàng 4g (cây bã trù, rang vàng)

Cách chế và dùng: Phèn phi để ngoài các vị thuốc hợp thang cho vào siêu đổ 01 bát nước sắc lấy non nửa bát, thuốc rót ra bát cho phèn phi vào đánh tan, với trẻ nhỏ cứ độ 5 phút cho uống 1-5 giọt, tùy tháng tuổi mà tăng dần.

Nếu người có nóng nhiều, gia Hạ khô thảo 4g.

Nếu ho nhiều gia Xuyên sơn giáp 2g (đốt cháy cùng sắc uống)


Bài 9: Trẻ phạm uế khí, hơi thở đàm khò khè hoặc tắc nghẽn trong cổ
có mấy cách chữa sau:

Cách 1:

Bài thuốc:







Sa nhân 8gLông nhím 1 cáiĐinh hương 3 nụ

Cách chế và dùng: Sa nhân tán nhỏ cho vào 1 bát nước sắc lấy chừng 1 chén (100ml), Lông nhím đốt tồn tính tán bột mịn cho vào trong thuốc, Đinh hương mài vào với thuốc lấy nước nhỏ vào miệng bé, cứ cách 1 giờ nhỏ 5 giọt, làm 4-5 lần.

Cách 2:

Bài thuốc:







Tre non 1 đoạnGừng sống 3 látĐinh hương 3 nụ

Cách chế và dùng: Chẻ đoạn tre non làm 2 mảnh cho 3 lát Gừng vào đốt trên lửa cho chín vắt lấy nước, mài 3 nụ Đinh hương vào cho trẻ uống 1 lần 3-5 giọt, uống 4-5 lần.

Cách 3:

Bài thuốc:

















Thương truật 2gBắc lùng 1gXuyên sơn giáp 1 vảy
Lông nhím 1 cáiHồng hoa 2gNgưu tất 4g
Trạch tả 2g

Cách chế và sử dụng: Thương truật sao nước gạo, Xuyên sơn giáp (vỏ trút, tê tê) đốt cháy, lông nhím đốt cháy cho tất cả vào siêu đổ một bát nước sắc kỹ, cho uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.


Đẹn trẻ em

Bài 10: Chữa đẹn trẻ sơ sinh Táo bón, Ngủ dậy vặn mình, rốn ngày 1 lồi cao, ngủ ít hay khóc.
Bài thuốc:






















Cam thảo 20gThăng ma 12gXuyên sơn giáp 12g
Bột Thanh đại 16gLông nhím 10gNgưu bàng tử 8g
Nam đại hoàng 12gHuyền sâm 8gSinh địa 8g
Xích thược 8gCát căn 12g

Cách chế và sử dụng: Vảy trút đốt thành than, Lông nhím đốt cháy tất cả tán thành bột mịn, hồ hoàn thành viên bằng hạt đậu, trẻ em sinh được một tuần ngày uống 2 viên hòa với sữa mẹ, Trẻ ngoài tháng uống ngày 4 viên hòa với sữa mẹ, uống liên tục nhiều ngày.
Nguồn: http://chuabenhdongy.net/benh-tre-em/chua-benh-den-tre-em-khach-ngo-via.html
11:52 SA 14/10/2013
Chữa rối loạn dây thần kinh thực vật
Chào bạn tuoimoilon258! Bạn đi khám bác sĩ kết luận bạn bị hở nhẹ van tim 1/4 thì bạn không phải lo lắng nhiều. Vì đó là hở van tim sinh lý không phải là bệnh lý, trên thực tế gặp rất nhiều, do đó bạn yên tâm nhé! Tuy nhiên bạn cần kiểm tra thêm có các triệu chứng gì khác kèm theo không nhé! Như tim lúc mạnh lúc nhanh, có thể do rối loạn thần kinh tim, Để chẩn đoán đúng bệnh cần phải mô tả chi tiết thêm.
Bạn dùng thuốc phải đúng bệnh đúng thuốc, ở đây bạn dùng thuốc gì và ở đâu tôi không biết bài thuốc nên không thể trả lời bạn được! Bạn có thể gửi email cho tôi: hoanxuanduong@yahoo.com
05:05 CH 01/10/2013
Làm gì khi chồng bị yếu sinh lý?
LIỆT DƯƠNG (DƯƠNG SUY)
I. KHÁI NIỆM
Liệt dương là 1 loại chướng ngại công năng nổi lên của dương vật. Ở người đàn ông trưởng thành sinh hoạt tình dục và kích thích, dương vật không thể cương lên hoặc cương không cương cứng được lâu hoặc sự nổi lên không duy trì được 1 thời gian, không nhét được vào bên trong âm đạo hoặc có thể sau khi cho vào được âm đạo thì dương vật teo, cho tới không thể hoàn thành giao hợp ảnh hưởng tới hoạt tính dục bình thường. Liệt dương 1 trong những nguyên nhân rất thường thấy của vô sinh, ước tính chiếm 15,88% vô sinh nam, ở ngôi thứ 2 Trong nguyên nhân vô sinh nam.
Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân liệt dương có 2 mặt: Một là nhân tố tinh thần, như do trạng thái tâm lý sợ hãi lo lắng trách nhiệm mà phát sinh, hoặc do cảm tình giữa vợ chồng mỏng manh nhạt nhẽo, hoàn cảnh sinh hoạt tình dục khỏng đẹp đẽ; hai là nhân tố khí chất, chỉ vì các loại bệnh tật tạo thành. Theo thống kê, chứng 80- 90% liệt dương là liệt dương do tinh thần, 10-20% liệt dương là liệt dương do khí chất.
Đông y cho rằng liệt dương có gắn với Can, Thận, Tâm, Tỳ, nhưng quan hệ với thận rất là mật thiết. Thận tàng tinh, là chất tăng cường, chủ bộ máy sinh dục. lại chủ nhị âm, tiền hậu, thận tinh khuynh, mệnh môn hoả suy là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới liệt dương, mà dương vật là chỗ tụ của dòng nhà gân, là chỗ rải ra của can kinh, cho nên liệt dương cũng quan hệ mật thiết với can. Khí suy, thấp nhiệt hạ chú hoặc ứ huyết nội trở đều có thể tới dòng nhà gân mất nuôi dưỡng mà phát làm bệnh này.
- Nguyên nhân ở tinh thần(tâm lý): Tinh thần căng thẳng, sợ hãi, lo lắng, buồn phiền, đau thương, vợ chồng bất hòa có thể gây bệnh.
- Nguyên nhân ở Hormone sinh dục: Chủ yếu do hormone sinh dục nam tiết ra không đủ gây nên.
- Nguyên nhân ở Mạch máu: Do động mạch tắc nghẽn, trở ngại đến máu lưu thông bình thường ở dương vật ; hoặc do chức năng tĩnh mạch ở dương vật bị trở ngại, có thể dẫn tới liệt dương.
- Nguyên nhân ở thần kinh: Bệnh viêm ở não, tủy và thần kinh ngoại biên như u não, ngoại thương não, chảy máu não, viêm tủy sống, tổn thương tủy sống, tổn thương thần kinh vùng hội âm đều có thể dẫn đến liệt dương.
- Nguyên nhân ở bệnh toàn thân: Bệnh đái tháo đường, thiểu năng hoặc cường tuyến giáp. Chức năng tuyến thượng thận bất bình thường, viêm gan mạn tính, xơ gan, suy thận mạn tính đều có thể gây bệnh liệt dương
Vậy điều trị liệt dương thế nào là đúng?

Thuốc cường dương Tây y hoàn toàn khác hẳn với thuốc tráng dương Đông y, từ cơ chế tác dụng cũng như thành phần thuốc, khi dùng Thuốc tây càng lâu thì càng có hại cho sức khỏe, cũng như càng lệ thuộc thuốc. Cơ quan sinh dục của nam giới thuộc hệ thống thận nên nhiều người hể bị rối loạn cương dương hoặc liệt dương đều cho rằng mình bị yếu thận. Nhiều người không cần đi khám mà tự mua các loại thuốc bổ thận về dùng. Có những người uống thấy “khỏe” hơn nhưng nhiều người uống không những không có tác dụng mà còn “yếu” hơn cũng rất nhiều. Thực tế là sau khi dùng thuốc bổ thận, tráng dương, nhiều người chẳng những không cải thiện được khả năng tình dục mà còn mất ngủ, căng thẳng, thần kinh mờ mắt, chóng mặt, miệng khô, táo bón, mụn nhọt, chảy máu chân răng, huyết áp tăng cao,… do dùng loại thuốc không phù hợp với thể bệnh. Việc dùng nhầm các thuốc cường dương là hết sức nguy hiểm
Các thuốc và thực phẩm hỗ trợ sức khỏe tình dục nam giới và nữ giới khá phổ biến nhưng dùng thế nào là đúng thì không phải ai cũng biết
Thuốc bổ Đông y được chia làm 4 loại, đó là bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương. Nếu chia theo âm dương thì thuốc bổ dương và bổ khí thuộc dương; còn thuốc bổ âm, bổ huyết thuộc âm. Nói như vậy vì trong cơ thể, khí thuộc dương và huyết thuộc âm. Tuy nhiên, mỗi loại thuốc lại có một ý nghĩa riêng, nhằm mục đích "bổ" riêng vào từng đối tượng cụ thể. Và người ta chỉ sử dụng chúng khi các đối tượng này đã bị hư, tức là bị suy yếu đi.
khi nói đến thuốc bổ dương nhiều người quan niệm chỉ dùng "bổ"cho nam giới. Điều đó quả là cái nhìn phiến diện, dẫn đến thiệt thòi cho phái nữ. Trên thực tế, không phải chỉ có nam giới bị "dương hư", mà nữ giới cũng bị chứng trạng này, thể hiện ở các triệu chứng kinh nguyệt không đều, khí hư bạch đới, lãnh cảm, vô sinh... Cần hiểu rõ điều đó để có phương thuốc điều trị phù hợp cho chị em. Thuốc bổ Đông y rất đa dạng, rất phong phú. Tuy nhiên khi sử dụng, người ta thường kết hợp một cách linh hoạt: có thể dùng riêng từng loại, cũng có thể kết hợp bổ khí với bổ huyết; hoặc bổ âm với bổ dương; hoặc bổ khí với bổ dương và bổ huyết với bổ âm.
Theo kinh nghiệm chữa liệt dương của tôi trên thực tế cho thấy:
Dùng thuốc không phù hợp với thể bệnh bệnh càng nặng thêm

YHCT cho rằng bệnh tật sinh ra là do mất đi sự cân bằng trong cơ thể về các mặt âm dương, hàn nhiệt, hư, thực... Vì vậy, ngay một chứng bệnh cũng chia ra thể hàn (lạnh), thể nhiệt (nóng), thể hư (bản thân các cơ quan trong cơ thể bị hư suy), thể thực (bệnh cấp tính do yếu tố bên ngoài là chủ yếu chưa ảnh hưởng tới công năng của các tạng trong cơ thể)...
Mỗi một thể có những phương pháp điều trị cụ thể đặc hiệu khác nhau. Với nguyên tắc bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt thì dùng thuốc hàn, hư thì phải dùng thuốc bổ, bệnh thực phải dùng thuốc tả để công phạt đi. Không thể có một phương thuốc chung cho bất kỳ một bệnh nào. Nếu dùng trái đi sẽ gây nên những hậu quả tai hại. Người xưa có câu Nhiệt gặp nhiệt tắc cuồng, hàn gặp hàn tắc tử(bệnh thể nhiệt mà dùng thuốc cay nóng, bệnh thuộc hàn mà dùng thuốc lạnh đều làm cho bệnh nặng thêm). Tôi phân tích ví dụ ở đây như sau: Như người bệnh liệt dương do thể âm hư Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng, hoặc cương lên được mà không rắn, có kèm xuất tinh sớm, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, mệt mỏi không có sức, họng khô, phân có thể khô táo, hoặc có thể có cảm giác sốt nhẹ về chiều, có thể có thỉnh thoảng hoa mắt chóng mặt, ra mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt lòng bàn tay chân có thể nóng, lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác. hay gặp ở người cao huyết áp. Rối loạn tiền mãn kinh …
Nếu ta dùng các vị thuốc có tác dụng bổ dương chẳng khác nào thêm dầu vào lửa, lửa sẽ cháy to hơn dẫn đến tình trạng bệnh không khỏi mà còn nặng hơn. 1
II. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán liệt dương phải hỏi tỷ mỉ người bệnh về sinh hoạt giới tính quá khứ. Ngoài đó ra, cần xác định nguyên nhân chủ yếu của liệt dương là do tinh thần hay là khí chất của giới tính, cũng có thể giúp cho chẩn đoán. Phân biệt liệt dương thuộc về khí chất hoặc do thần kinh, nếu liệt dương thuộc về khí chất, khi ngủ sự cương lên sẽ giảm yếu hoặc mất đi, mà liệt dương do tinh thần thì sự cương lên vẫn như thường.
III. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
1. BỔ THẬN TRÁNG DƯƠNG LÀ NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU CƠ BẢN:
Bệnh này Lấy thận hư làm gốc, Hoàn xuân đường thường thấy thận dương hư, trên trị liệu phải nặng ở bổ thận tráng dương. Nhưng cũng không thể dùng quá thuốc ôn táo, cơ thể làm theo ý của cảnh Nhạc là "Âm trung cần dương" để bổ dương làm chủ, cùng bổ âm dương. Mà đối với thận âm khuynh tổn hoặc âm hư hoả vượng đều nhất định kỵ nhắm mắt mà ôn thận tráng dương, để tránh lại hại thận âm.
2. TÂM LÝ SƠ ĐẠO VÀ SƠ CAN GIẢI UẤT KIÊM THÍ:
Người liệt dương phần nhiều do nhân tố tinh thần dẫn tới, có 1 số người bệnh không thể chỉ riêng dựa vào dược vật mà thực hiện hiệu quả, phải tiến hành tất yếu là tiến hành phân tích tâm lý, trị liệu tâm lý, giải trừ áp lực tư tưởng, và đối với người can khí uất kết, ta lấy sơ can giải uất điều thông khí cơ mà trị liệu.
3. BỔ THẬN VỚI BỔ KHÍ HUYẾT CÙNG TIẾN HÀNH ĐỂ LÀM TƯƠI TỐT DÒNG DÕI NHÀ GÂN:
Người bệnh liệt dương ngoài số đông thường thấy thận hư ra, cũng thấy chứng khí huyết lưỡng hư, bởi thế bổ thận cùng với bổ khí huyết cùng tiến hành thì khí huyết thịnh vượng, thận tinh đầy đủ, họ hàng nhà gân được tươi tốt, tức là đối với chữa trị được chứng liệt dương liệu tình thêm vào Loại thuốc bổ thận và bổ khí huyết cũng có thể giúp cho bệnh gốc khoẻ trở lại.
4. KHÔNG THỂ DÙNG QUÁ THUỐC KHỔ HÀN:
Bệnh này tuy là cũng thấy chứng âm hư hỏa vượng hoặc thấp nhiệt hạ chú, trên trị liệu cần loại thuốc khổ hàn nhưng không thể dùng quá để tránh tổn thương thận khí, kéo dài bệnh tình.
IV. PHÂN BIỆT THẺ BỆNH

1. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẬN DƯƠNG: (Bao cả thận tỳ lưỡng hư)
Biểu hiện làm sàng: Liệt dương, Dương vật không cứng lên được, sắc mặt trắng nhợt, tinh trong lỏng, đầu choáng tai ù hoa mắt, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, tinh thần ủ rủ, sợ lạnh chân tay lạnh, Ttiểu tiện trong dài. Có thể Tiểu nhiều lần về đêm. lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ thận tráng dương, phụ lấy điều bổ tinh huyết.
2. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẬN ÂM HƯ: (Bao cả âm hư hoả vượng)
Biểu hiện lâm sàng: Liệt dương, Dương vật không cứng, hoặc cương lên được mà không rắn, có kèm xuất tinh sớm, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, lại có thêm mệt mỏi không có sức, họng khô, phân khô táo, hoặc có cảm giác gai sốt về chiều, có thể có 2 gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, ngủ không ngon, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi hồng, ít rêu rêu lưỡi có thể vàng mỏng, mạch tế sác.
Nguyên tắc trị liệu: bổ thận điều tinh làm chủ, kiêm thanh tả thận hoả.
3. THỂ LIỆT DƯƠNG DO CAN KHÍ UẤT KẾT:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên được, tình chí uất ức, dễ cáu gắt, ngực buồn bằn, hoặc ngực sườn cương đau hay thở dài, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
Nguyên tắc trị liệu: Sơ can giải uất, phụ lấy kiện tỳ ích nhân.
4. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẤP NHIỆT HẠ CHÚ:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật héo mềm, túi bìu ẩm ướt mà tanh hôi xệ căng, chân tay mệt mỏi, chân dưới nặng mỏi, nước tiểu ít mà đỏ, có thể tiểu ra không hết, lưỡi hồng hoặc đỏ, rêu lưỡi vàng trơn hoặc trắng nhầy, mạch huyền hoạt, trầm hoạt.
Nguyên tắc trị liệu: Thanh nhiệt lợi thấp, kiêm lấy bổ thận thông khiếu.
5. THỂ LIỆT DƯƠNG DO Ứ HUYẾT NỘI:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên hoặc có ngoại thương, hoặc đã trải qua phẫu thuật, hoặc cưỡng lại việc phóng tinh nhịn nín lại hoặc tính tình biến hoá dị thường, đa nghi hay cáu, tinh thần không hăng hái, sắc mặt tối mờ, chất lưỡi tím tối hoặc có ban ứ, mạch trầm sáp.
Nguyên tắc trị liệu: Hoạt huyết hoá ứ, phụ lấy bổ thận tráng dương.
6. THỂ LIỆT DƯƠNG DO TÂM TỲ LƯỠNG HƯ: (Bao quát tỳ khí hư hình)
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên, sắc mặt không tươi, tinh thần uể oải, lo lắng bồn chồn, hay quên, ăn ít chán ăn, choáng váng tim thổn thức, đêm ngủ không yên, ít hơi tự ra mồ hôi, phân lỏng hoặc nát không thành khuôn, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch ti nhược tế vô lực.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ ích tâm tỳ. Ích khí tráng dương
7. THỂ LIỆT DƯƠNG DO HOẢNG SỢ THƯƠNG THẬN:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng, hoặc nâng lên mà không rắn, sợ hãi, đa nghi, tim thổn thức dễ sợ, đêm ngủ không yên, tinh thần không hăng hái, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế.
Nguyên tắc trị liệu: ích thận an thần.
Trên thị trường hiện tại quảng cáo rất nhiều loại thuốc chữa yếu sinh lý, liệt dương, Nhưng người bệnh cần sáng suốt trong lựa chọn thuốc đúng bệnh để không mang họa vào thân!
Bs: Nguyễn Như Hoàn. Email:
hoanxuanduong@yahoo.com
05:24 CH 10/09/2013
Hoang mang vì chồng yếu sinh lý
LIỆT DƯƠNG (DƯƠNG SUY)
I. KHÁI NIỆM
Liệt dương là 1 loại chướng ngại công năng nổi lên của dương vật. Ở người đàn ông trưởng thành sinh hoạt tình dục và kích thích, dương vật không thể cương lên hoặc cương không cương cứng được lâu hoặc sự nổi lên không duy trì được 1 thời gian, không nhét được vào bên trong âm đạo hoặc có thể sau khi cho vào được âm đạo thì dương vật teo, cho tới không thể hoàn thành giao hợp ảnh hưởng tới hoạt tính dục bình thường. Liệt dương 1 trong những nguyên nhân rất thường thấy của vô sinh, ước tính chiếm 15,88% vô sinh nam, ở ngôi thứ 2 Trong nguyên nhân vô sinh nam.
Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân liệt dương có 2 mặt: Một là nhân tố tinh thần, như do trạng thái tâm lý sợ hãi lo lắng trách nhiệm mà phát sinh, hoặc do cảm tình giữa vợ chồng mỏng manh nhạt nhẽo, hoàn cảnh sinh hoạt tình dục khỏng đẹp đẽ; hai là nhân tố khí chất, chỉ vì các loại bệnh tật tạo thành. Theo thống kê, chứng 80- 90% liệt dương là liệt dương do tinh thần, 10-20% liệt dương là liệt dương do khí chất.
Đông y cho rằng liệt dương có gắn với Can, Thận, Tâm, Tỳ, nhưng quan hệ với thận rất là mật thiết. Thận tàng tinh, là chất tăng cường, chủ bộ máy sinh dục. lại chủ nhị âm, tiền hậu, thận tinh khuynh, mệnh môn hoả suy là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới liệt dương, mà dương vật là chỗ tụ của dòng nhà gân, là chỗ rải ra của can kinh, cho nên liệt dương cũng quan hệ mật thiết với can. Khí suy, thấp nhiệt hạ chú hoặc ứ huyết nội trở đều có thể tới dòng nhà gân mất nuôi dưỡng mà phát làm bệnh này.
- Nguyên nhân ở tinh thần(tâm lý): Tinh thần căng thẳng, sợ hãi, lo lắng, buồn phiền, đau thương, vợ chồng bất hòa có thể gây bệnh.
- Nguyên nhân ở Hormone sinh dục: Chủ yếu do hormone sinh dục nam tiết ra không đủ gây nên.
- Nguyên nhân ở Mạch máu: Do động mạch tắc nghẽn, trở ngại đến máu lưu thông bình thường ở dương vật ; hoặc do chức năng tĩnh mạch ở dương vật bị trở ngại, có thể dẫn tới liệt dương.
- Nguyên nhân ở thần kinh: Bệnh viêm ở não, tủy và thần kinh ngoại biên như u não, ngoại thương não, chảy máu não, viêm tủy sống, tổn thương tủy sống, tổn thương thần kinh vùng hội âm đều có thể dẫn đến liệt dương.
- Nguyên nhân ở bệnh toàn thân: Bệnh đái tháo đường, thiểu năng hoặc cường tuyến giáp. Chức năng tuyến thượng thận bất bình thường, viêm gan mạn tính, xơ gan, suy thận mạn tính đều có thể gây bệnh liệt dương
Vậy điều trị liệt dương thế nào là đúng?

Thuốc cường dương Tây y hoàn toàn khác hẳn với thuốc tráng dương Đông y, từ cơ chế tác dụng cũng như thành phần thuốc, khi dùng Thuốc tây càng lâu thì càng có hại cho sức khỏe, cũng như càng lệ thuộc thuốc. Cơ quan sinh dục của nam giới thuộc hệ thống thận nên nhiều người hể bị rối loạn cương dương hoặc liệt dương đều cho rằng mình bị yếu thận. Nhiều người không cần đi khám mà tự mua các loại thuốc bổ thận về dùng. Có những người uống thấy “khỏe” hơn nhưng nhiều người uống không những không có tác dụng mà còn “yếu” hơn cũng rất nhiều. Thực tế là sau khi dùng thuốc bổ thận, tráng dương, nhiều người chẳng những không cải thiện được khả năng tình dục mà còn mất ngủ, căng thẳng, thần kinh mờ mắt, chóng mặt, miệng khô, táo bón, mụn nhọt, chảy máu chân răng, huyết áp tăng cao,… do dùng loại thuốc không phù hợp với thể bệnh. Việc dùng nhầm các thuốc cường dương là hết sức nguy hiểm
Các thuốc và thực phẩm hỗ trợ sức khỏe tình dục nam giới và nữ giới khá phổ biến nhưng dùng thế nào là đúng thì không phải ai cũng biết
Thuốc bổ Đông y được chia làm 4 loại, đó là bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương. Nếu chia theo âm dương thì thuốc bổ dương và bổ khí thuộc dương; còn thuốc bổ âm, bổ huyết thuộc âm. Nói như vậy vì trong cơ thể, khí thuộc dương và huyết thuộc âm. Tuy nhiên, mỗi loại thuốc lại có một ý nghĩa riêng, nhằm mục đích "bổ" riêng vào từng đối tượng cụ thể. Và người ta chỉ sử dụng chúng khi các đối tượng này đã bị hư, tức là bị suy yếu đi.
khi nói đến thuốc bổ dương nhiều người quan niệm chỉ dùng "bổ"cho nam giới. Điều đó quả là cái nhìn phiến diện, dẫn đến thiệt thòi cho phái nữ. Trên thực tế, không phải chỉ có nam giới bị "dương hư", mà nữ giới cũng bị chứng trạng này, thể hiện ở các triệu chứng kinh nguyệt không đều, khí hư bạch đới, lãnh cảm, vô sinh... Cần hiểu rõ điều đó để có phương thuốc điều trị phù hợp cho chị em. Thuốc bổ Đông y rất đa dạng, rất phong phú. Tuy nhiên khi sử dụng, người ta thường kết hợp một cách linh hoạt: có thể dùng riêng từng loại, cũng có thể kết hợp bổ khí với bổ huyết; hoặc bổ âm với bổ dương; hoặc bổ khí với bổ dương và bổ huyết với bổ âm.
Theo kinh nghiệm chữa liệt dương của tôi trên thực tế cho thấy:
Dùng thuốc không phù hợp với thể bệnh bệnh càng nặng thêm

YHCT cho rằng bệnh tật sinh ra là do mất đi sự cân bằng trong cơ thể về các mặt âm dương, hàn nhiệt, hư, thực... Vì vậy, ngay một chứng bệnh cũng chia ra thể hàn (lạnh), thể nhiệt (nóng), thể hư (bản thân các cơ quan trong cơ thể bị hư suy), thể thực (bệnh cấp tính do yếu tố bên ngoài là chủ yếu chưa ảnh hưởng tới công năng của các tạng trong cơ thể)...
Mỗi một thể có những phương pháp điều trị cụ thể đặc hiệu khác nhau. Với nguyên tắc bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt thì dùng thuốc hàn, hư thì phải dùng thuốc bổ, bệnh thực phải dùng thuốc tả để công phạt đi. Không thể có một phương thuốc chung cho bất kỳ một bệnh nào. Nếu dùng trái đi sẽ gây nên những hậu quả tai hại. Người xưa có câu Nhiệt gặp nhiệt tắc cuồng, hàn gặp hàn tắc tử (bệnh thể nhiệt mà dùng thuốc cay nóng, bệnh thuộc hàn mà dùng thuốc lạnh đều làm cho bệnh nặng thêm). Tôi phân tích ví dụ ở đây như sau: Như người bệnh liệt dương do thể âm hư Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng, hoặc cương lên được mà không rắn, có kèm xuất tinh sớm, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, mệt mỏi không có sức, họng khô, phân có thể khô táo, hoặc có thể có cảm giác sốt nhẹ về chiều, có thể có thỉnh thoảng hoa mắt chóng mặt, ra mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt lòng bàn tay chân có thể nóng, lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác. hay gặp ở người cao huyết áp. Rối loạn tiền mãn kinh …
Nếu ta dùng các vị thuốc có tác dụng bổ dương chẳng khác nào thêm dầu vào lửa, lửa sẽ cháy to hơn dẫn đến tình trạng bệnh không khỏi mà còn nặng hơn. 1
II. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán liệt dương phải hỏi tỷ mỉ người bệnh về sinh hoạt giới tính quá khứ. Ngoài đó ra, cần xác định nguyên nhân chủ yếu của liệt dương là do tinh thần hay là khí chất của giới tính, cũng có thể giúp cho chẩn đoán. Phân biệt liệt dương thuộc về khí chất hoặc do thần kinh, nếu liệt dương thuộc về khí chất, khi ngủ sự cương lên sẽ giảm yếu hoặc mất đi, mà liệt dương do tinh thần thì sự cương lên vẫn như thường.
III. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
1. BỔ THẬN TRÁNG DƯƠNG LÀ NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU CƠ BẢN:
Bệnh này Lấy thận hư làm gốc, Hoàn xuân đường thường thấy thận dương hư, trên trị liệu phải nặng ở bổ thận tráng dương. Nhưng cũng không thể dùng quá thuốc ôn táo, cơ thể làm theo ý của cảnh Nhạc là "Âm trung cần dương" để bổ dương làm chủ, cùng bổ âm dương. Mà đối với thận âm khuynh tổn hoặc âm hư hoả vượng đều nhất định kỵ nhắm mắt mà ôn thận tráng dương, để tránh lại hại thận âm.
2. TÂM LÝ SƠ ĐẠO VÀ SƠ CAN GIẢI UẤT KIÊM THÍ:
Người liệt dương phần nhiều do nhân tố tinh thần dẫn tới, có 1 số người bệnh không thể chỉ riêng dựa vào dược vật mà thực hiện hiệu quả, phải tiến hành tất yếu là tiến hành phân tích tâm lý, trị liệu tâm lý, giải trừ áp lực tư tưởng, và đối với người can khí uất kết, ta lấy sơ can giải uất điều thông khí cơ mà trị liệu.
3. BỔ THẬN VỚI BỔ KHÍ HUYẾT CÙNG TIẾN HÀNH ĐỂ LÀM TƯƠI TỐT DÒNG DÕI NHÀ GÂN:
Người bệnh liệt dương ngoài số đông thường thấy thận hư ra, cũng thấy chứng khí huyết lưỡng hư, bởi thế bổ thận cùng với bổ khí huyết cùng tiến hành thì khí huyết thịnh vượng, thận tinh đầy đủ, họ hàng nhà gân được tươi tốt, tức là đối với chữa trị được chứng liệt dương liệu tình thêm vào Loại thuốc bổ thận và bổ khí huyết cũng có thể giúp cho bệnh gốc khoẻ trở lại.
4. KHÔNG THỂ DÙNG QUÁ THUỐC KHỔ HÀN:
Bệnh này tuy là cũng thấy chứng âm hư hỏa vượng hoặc thấp nhiệt hạ chú, trên trị liệu cần loại thuốc khổ hàn nhưng không thể dùng quá để tránh tổn thương thận khí, kéo dài bệnh tình.
IV. PHÂN BIỆT THẺ BỆNH

1. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẬN DƯƠNG: (Bao cả thận tỳ lưỡng hư)
Biểu hiện làm sàng: Liệt dương, Dương vật không cứng lên được, sắc mặt trắng nhợt, tinh trong lỏng, đầu choáng tai ù hoa mắt, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, tinh thần ủ rủ, sợ lạnh chân tay lạnh, Ttiểu tiện trong dài. Có thể Tiểu nhiều lần về đêm. lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ thận tráng dương, phụ lấy điều bổ tinh huyết.
2. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẬN ÂM HƯ: (Bao cả âm hư hoả vượng)
Biểu hiện lâm sàng: Liệt dương, Dương vật không cứng, hoặc cương lên được mà không rắn, có kèm xuất tinh sớm, thắt lưng và đầu gối buốt mềm, lại có thêm mệt mỏi không có sức, họng khô, phân khô táo, hoặc có cảm giác gai sốt về chiều, có thể có 2 gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, ngủ không ngon, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi hồng, ít rêu rêu lưỡi có thể vàng mỏng, mạch tế sác.
Nguyên tắc trị liệu: bổ thận điều tinh làm chủ, kiêm thanh tả thận hoả.
3. THỂ LIỆT DƯƠNG DO CAN KHÍ UẤT KẾT:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên được, tình chí uất ức, dễ cáu gắt, ngực buồn bằn, hoặc ngực sườn cương đau hay thở dài, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
Nguyên tắc trị liệu: Sơ can giải uất, phụ lấy kiện tỳ ích nhân.
4. THỂ LIỆT DƯƠNG DO THẤP NHIỆT HẠ CHÚ:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật héo mềm, túi bìu ẩm ướt mà tanh hôi xệ căng, chân tay mệt mỏi, chân dưới nặng mỏi, nước tiểu ít mà đỏ, có thể tiểu ra không hết, lưỡi hồng hoặc đỏ, rêu lưỡi vàng trơn hoặc trắng nhầy, mạch huyền hoạt, trầm hoạt.
Nguyên tắc trị liệu: Thanh nhiệt lợi thấp, kiêm lấy bổ thận thông khiếu.
5. THỂ LIỆT DƯƠNG DO Ứ HUYẾT NỘI:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên hoặc có ngoại thương, hoặc đã trải qua phẫu thuật, hoặc cưỡng lại việc phóng tinh nhịn nín lại hoặc tính tình biến hoá dị thường, đa nghi hay cáu, tinh thần không hăng hái, sắc mặt tối mờ, chất lưỡi tím tối hoặc có ban ứ, mạch trầm sáp.
Nguyên tắc trị liệu: Hoạt huyết hoá ứ, phụ lấy bổ thận tráng dương.
6. THỂ LIỆT DƯƠNG DO TÂM TỲ LƯỠNG HƯ: (Bao quát tỳ khí hư hình)
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng lên, sắc mặt không tươi, tinh thần uể oải, lo lắng bồn chồn, hay quên, ăn ít chán ăn, choáng váng tim thổn thức, đêm ngủ không yên, ít hơi tự ra mồ hôi, phân lỏng hoặc nát không thành khuôn, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch ti nhược tế vô lực.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ ích tâm tỳ. Ích khí tráng dương
7. THỂ LIỆT DƯƠNG DO HOẢNG SỢ THƯƠNG THẬN:
Biểu hiện lâm sàng: Dương vật không cứng, hoặc nâng lên mà không rắn, sợ hãi, đa nghi, tim thổn thức dễ sợ, đêm ngủ không yên, tinh thần không hăng hái, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế.
Nguyên tắc trị liệu: ích thận an thần.
Trên thị trường hiện tại quảng cáo rất nhiều loại thuốc chữa yếu sinh lý, liệt dương, Nhưng người bệnh cần sáng suốt trong lựa chọn thuốc đúng bệnh để không mang họa vào thân!
Bs: Nguyễn Như Hoàn. Email:
hoanxuanduong@yahoo.com
05:19 CH 10/09/2013
Suy nhược thần kinh, xin nhờ giúp!!
Suy nhược thần kinh là bệnh hay gặp Thường do chấn động về tinh thần: lo nghĩ, hoạt động thần kinh khẩn trương quá độ, căng thẳng lâu ngày, chế độ làm việc nghỉ ngơi không hợp lý, hoặc sau khi bị bệnh cơ thể hư nhược gây nên. Hoặc do thần kinh yếu đưa đến sự rối loạn về công năng. Hay gặp ở người lao động trí óc, ít vận động.

Triệu chứng suy nhược thần kinh biểu hiện rất đa dạng, chủ yếu tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, tinh thần ủy mị, ưu tư, đờ đẫn, hiệu suất học tập công tác giảm, trí nhớ giảm, không tập trung lực chú ý, nhức đầu, nặng đầu. Có thể kèm theo kém ăn, tình dục giảm, phụ nữ có thể có kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh. Nam giới có thể bị xuất tinh sớm,chức năng sinh lý yếu…..

Suy nhược thần kinh Trên thực tế lâm sàng phòng khám đông y Hoàn Xuân Đường thường gặp các thể bệnh sau:

Tùy thuộc tình trạng bệnh mà có ít hay nhiều các triệu chứng khác nhau.

A. CAN VÀ TÂM KHÍ UẤT KẾT

Triệu chứng:

Tinh thần uất ức hay phiền muộn, hay nghi, hay nghĩ nhiều, hay cáu gắt vô cớ, có thể có bụng ngực buồn bằn đầy tức, hay thở dài, bụng trướng, đầy hơi, có thể có ợ hơi, ăn kém, rêu lưỡi trắng, mạch huyền

B. TÂM, CAN, THẬN ÂM HƯ

I. Âm hư hỏa vượng (âm hư dương xung)

Triệu chứng:

Hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, hay quên, hồi hộp, tim có thể thổn thức, hay xúc động vui buồn thất thường,ngủ ít hay nằm mê, miệng có thể khô, họng khô, người hay bừng nóng, có thể lòng bàn tay chân nóng, Có thể táo bón, có thể kèm theo hồi hộp, lưng ê mỏi, nước tiểu vàng đỏ, mạch huyền sác.

II. Tâm can thận âm hư

Triệu chứng:

Đau mỏi lưng, đầu xoay ù tai, di tinh, ngủ ít, hồi hộp, nhức đầu, tiểu tiển trong, đại tiện ít, táo, miệng khô, mạch tế.

C. TÂM TỲ HƯ

Triệu chứng:

ăn kém, cảm giác không biết ngon, ngủ ít, nằm ngủ hay bị tỉnh giấc chập chờn không sâu, mộng mị nhiều, dễ hoảng sợ, sụt cân, người mỏi mệt, 2 mắt thâm quầng, mệt mỏi không có sức, hồi hộp, hay quên, tinh thần ủ rũ, mệt mỏi, sắc mặt không tươi, rêu lưỡi trắng, mạch nhu tế hoãn.

D. THẬN ÂM, THẬN DƯƠNG HƯ

Triệu chứng:

Sắc mặt trắng, tinh thần ủy mị, lưng gối mỏi yếu, di tinh, liệt dương, lưng và chân tay lạnh, sợ lạnh, ngủ ít, tiểu tiện trong, đái nhiều lần, lưỡi đạm nhạt, mạch tế vô lực.


Suy nhược thần kinh
là chứng bệnh phổ biến, nhất là trong giới lao động trí óc, học tập và người thành thị. Bệnh nhân kêu ca, thầy thuốc coi thường hay chỉ cho thuốc an thần. Người bị chứng Suy nhược thần kinh cần phải làm công tác tư tưởng tỉ mỉ và bền bỉ, xây dựng tinh thần lạc quan, nắm và hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến bệnh, Bài viết này tôi viết để mong giới thiệu các thể bệnh theo đông y Mỗi thể bệnh có các phương pháp điều trị khác nhau, không ai giống ai. Vì thế nếu bạn bị chứng suy nhược thần kinh thì cần phải Khám xét kỹ xem mình thuộc thể bệnh nào rồi mới điều trị.

Các bạn cần tư vấn thêm có thể liên lạc với tôi qua email:
Hoanxuanduong@yahoo.com">
Hoanxuanduong@yahoo.com
Bác sĩ:
Nguyễn Như Hoàn
03:37 CH 02/09/2013
Suy nhược thần kinh , rối loạn thần kinh thực vật
Suy nhược thần kinh là bệnh hay gặp Thường do chấn động về tinh thần: lo nghĩ, hoạt động thần kinh khẩn trương quá độ, căng thẳng lâu ngày, chế độ làm việc nghỉ ngơi không hợp lý, hoặc sau khi bị bệnh cơ thể hư nhược gây nên. Hoặc do thần kinh yếu đưa đến sự rối loạn về công năng. Hay gặp ở người lao động trí óc, ít vận động.

Triệu chứng suy nhược thần kinh biểu hiện rất đa dạng, chủ yếu tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, tinh thần ủy mị, ưu tư, đờ đẫn, hiệu suất học tập công tác giảm, trí nhớ giảm, không tập trung lực chú ý, nhức đầu, nặng đầu. Có thể kèm theo kém ăn, tình dục giảm, phụ nữ có thể có kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh. Nam giới có thể bị xuất tinh sớm,chức năng sinh lý yếu…..

Suy nhược thần kinh Trên thực tế lâm sàng phòng khám đông y Hoàn Xuân Đường thường gặp các thể bệnh sau:

Tùy thuộc tình trạng bệnh mà có ít hay nhiều các triệu chứng khác nhau.


A. CAN VÀ TÂM KHÍ UẤT KẾT

Triệu chứng:

Tinh thần uất ức hay phiền muộn, hay nghi, hay nghĩ nhiều, hay cáu gắt vô cớ, có thể có bụng ngực buồn bằn đầy tức, hay thở dài, bụng trướng, đầy hơi, có thể có ợ hơi, ăn kém, rêu lưỡi trắng, mạch huyền

B. TÂM, CAN, THẬN ÂM HƯ

I. Âm hư hỏa vượng (âm hư dương xung)

Triệu chứng:

Hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, hay quên, hồi hộp, tim có thể thổn thức, hay xúc động vui buồn thất thường, ngủ ít hay nằm mê, miệng có thể khô, họng khô, người hay bừng nóng, có thể lòng bàn tay chân nóng, Có thể táo bón, có thể kèm theo hồi hộp, lưng ê mỏi, nước tiểu vàng đỏ, mạch huyền sác.

II. Tâm can thận âm hư

Triệu chứng:

Đau mỏi lưng, đầu xoay ù tai, di tinh, ngủ ít, hồi hộp, nhức đầu, tiểu tiển trong, đại tiện ít, táo, miệng khô, mạch tế.

C. TÂM TỲ HƯ

Triệu chứng:

ăn kém, cảm giác không biết ngon, ngủ ít, nằm ngủ hay bị tỉnh giấc chập chờn không sâu, mộng mị nhiều, dễ hoảng sợ, sụt cân, người mỏi mệt, 2 mắt thâm quầng, mệt mỏi không có sức, hồi hộp, hay quên, tinh thần ủ rũ, mệt mỏi, sắc mặt không tươi, rêu lưỡi trắng, mạch nhu tế hoãn.

D. THẬN ÂM, THẬN DƯƠNG HƯ

Triệu chứng:

Sắc mặt trắng, tinh thần ủy mị, lưng gối mỏi yếu, di tinh, liệt dương, lưng và chân tay lạnh, sợ lạnh, ngủ ít, tiểu tiện trong, đái nhiều lần, lưỡi đạm nhạt, mạch tế vô lực.


Suy nhược thần kinh
là chứng bệnh phổ biến, nhất là trong giới lao động trí óc, học tập và người thành thị. Bệnh nhân kêu ca, thầy thuốc coi thường hay chỉ cho thuốc an thần. Người bị chứng Suy nhược thần kinh cần phải làm công tác tư tưởng tỉ mỉ và bền bỉ, xây dựng tinh thần lạc quan, nắm và hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến bệnh, Bài viết này tôi viết để mong giới thiệu các thể bệnh theo đông y Mỗi thể bệnh có các phương pháp điều trị khác nhau, không ai giống ai. Vì thế nếu bạn bị chứng suy nhược thần kinh thì cần phải Khám xét kỹ xem mình thuộc thể bệnh nào rồi mới điều trị.

Các bạn cần tư vấn thêm có thể liên lạc với tôi qua email:
Hoanxuanduong@yahoo.com">
Hoanxuanduong@yahoo.com
Bác sĩ:
Nguyễn Như Hoàn
03:23 CH 02/09/2013
Hô biến vòng 2 'phệ' bằng lá sen khô
Một số bài thuốcgiảm cân, giảm mỡ máu, hạ
cholesterol
:


- Sơn tra 60 g, gạo tẻ 100 g, đườngtrắng 10 g. Nấu sơn tra và gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường, chia ăn vài lầntrong ngày. Công dụng: Tiêu thực tích, tán huyết ứ, làm giảm mỡ máu.

- Trà mạn 6 g, sơn tra 15 g, hoahòe 18 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 18 g, hà thủ ô 30 g; sắc uống thay trà. Côngdụng: Tiêu thực giảm béo, làm mềm huyết quản, hạ lipid máu, thích hợp cho nhữngngười béo phì có kèm theo rối loạn lipid máu.

- Sơn tra 30 g, tang thầm (quả dâuchín) 15 g, gạo tẻ 30 g; nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng:Dưỡng huyết, hoạt huyết, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu. Thích hợp cho nhữngngười bị rối loạn lipid máu thuộc thể Âm hư dương cang (hoa mắt chóng mặt, lòngbàn tay bàn chân nóng, hay sốt nóng về chiều, đau vùng trước tim, đổ mồ hôitrộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ ít hoặc không rêu).

- Sơn tra 30 g, hà diệp (lá sen) 10 g, sắc uốngthay trà. Công dụng: Thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạnlipid máu ở tất cả các thể.

- Sơn tra 10 g, hòe hoa 10 g, hãmvới nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay tràtrong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt bình can, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bịrối loạn lipid máu có kèm theo cao huyết áp.

- Sơn tra 10 g, cúc hoa 10 g, thảoquyết minh 15 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Làm giảm mỡ máu, khứ ứ thanhnhiệt, thông tiện. Dùng cho người bị rối loạn lipid máu và béo phì.

- Sơn tra, kim ngân hoa, cúc hoamỗi thứ 15 g, tang diệp 10 g; sắc uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanhnhiệt, bình can, hoạt huyết, hóa ứ, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bị rối loạnlipid máu kèm theo cao huyết áp và các chứng trạng của Can dương thượng cang(đầu choáng mắt hoa, mắt đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, ngực bụng đầy tức, taiù, hay quên, đại tiện táo kết).

- Sơn tra 15 g, trạch tả 15 g, kỷtử 30 g, sắc uống thay trà. Công dụng: Dưỡng can, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu,dùng thích hợp cho người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp.

- Sơn tra 30 g, hoa hòe tươi 5 g,lá sen non 15 g, thảo quyết minh 10 g, đường trắng vừa đủ; sắc kỹ lấy nước, chếthêm đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Làm giãn mạch máu,thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu.

- Sơn tra 15 g, đan sâm 15 g, quyếtminh tử 12 g, hồng hoa 5 g; sắc uống thay trà, dùng liên tục 1-3 tháng. Côngdụng: Hoạt huyết thông mạch, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng cho người bịrối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, thiểu năng tuần hoàn não và bệnh độngmạch vành.

- Sơn tra 15 g, nhân trần 20 g,sinh mạch nha 15 g; sắc kỹ 2 lần, chia uống 2 lần trong ngày, liên tục trongnửa tháng. Công dụng: Thanh can lợi đởm, thanh nhiệt, làm giảm mỡ máu, dùng chonhững người bị rối loạn lipid máu có kèm theo tình trạng chán ăn, đầy bụng,chậm tiêu.

- Sơn tra 9 g, nấm linh chi 9 g,trạch tả 15 g, thảo quyết minh 15 g, xích thược 12 g; sắc uống trong ngày. Côngdụng: Tán ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạnlipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.

- Sơn tra 50 g, mạch môn 30 g, ngâmvới 1.000 ml rượu trắng, mỗi ngày lắc 2 lần, sau 10 ngày thì dùng được, uốngmỗi ngày 20 ml. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt và làm giảm mỡ máu,dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch.

- Sơn tra, quyết minh tử, hà thủ ô,tang ký sinh, trạch tả mỗi thứ 100 g, mật ong vừa đủ. Đem các vị thuốc sắc kỹlấy 500 ml rồi hòa với mật ong, đun sôi một lát là được, uống mỗi ngày 2 lần,mỗi lần 50 ml, 30 ngày là một đợt điều trị. Công dụng: Hoạt huyết, hóa ứ, thanhnhiệt và làm giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyếtáp.

- Sơn tra, tang ký sinh, hoàng kỳmỗi thứ 30 g, ngũ vị tử 10 g, bồ công anh 70 g, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày3 lần, mỗi lần 2 g; 30 ngày là một liệu trình điều trị. Công dụng: Hoạt huyếthóa ứ, thanh nhiệt, ích khí bổ thận và làm giảm mỡ máu.

- Sơn tra 30 g, cát căn 15 g, tangký sinh 15 g, quyết minh tử 30 g. Tất cả sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần,mỗi lần 8 g với nước ấm, 30 ngày là một liệu trình. Công dụng: Hoạt huyết hóaứ, thanh nhiệt, giáng áp, giảm mỡ máu, dùng cho những người bị rối loạn lipidmáu kèm theo huyết áp cao.

- Sơn tra, hà thủ ô, thảo quyếtminh mỗi thứ 15 g, đan sâm 20 g, kỷ tử 10 g, sắc kỹ, uống thay trà trong ngày.Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, ích khí bổ thận, thanh nhiệt, giảm mỡ máu, dùngcho những người bị rối loạn lipid máu, cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành.

- lá chè xanh - lá sen non - hoa đào - sơn tra:
Lásen non rửa sạch, thái nhỏ, phơi trong bóng mát cho khô, để vào lọ đậy nắp kín.Lá chè xanh rửa sạch, dùng tươi. Sơn tra rửa sạch, thái nhỏ như sợi chỉ phơikhô, để vào lọ đậy nắp kín. Hái hoa đào Đà Lạt hoặc Hà Nội vừa nở lúc 8 giờsáng, phơi khô trong bóng mát, để vào lọ đậy nắp kín. Lấy lá chè xanh, lá sennon, hoa đào và sơn tra mỗi thứ 20 gam, hãm với 2 lít nước sôi, lấy nước uốngcả ngày. Phương thuốc này giúp giảm cân, tiêu mỡ bụng, hạ cholesterol, đẹp tươinhan sắc, ổn định huyết áp.
- lá sen - lá chè xanh:
Lá sen non và lá chè xanh chế biến như trên. Lấy lá senkhô và chè xanh mỗi vị 20 gam hãm với 1,5 lít nước sôi, lấy nước uống cả ngày.Phương thuốc này giúp hạ mỡ máu, giảm cân, yếu tì vị. Riêng người bị mất ngủthì chú ý chỉ uống đến 16 giờ chiều và người bị táo bón không được dùng
Lưu ý: Dùng những bài thuốc nàynên lưu ý kiêng bơ, bánh ngọt, mỡ động vật, sô cô la, kẹo và nước giải khát cóđường. Táomèo có thể làm hao khí và tổn hại răng. Những người gầy còm, chức năng tiêu hóasuy yếu nặng không nên dùng
Áp dụng đúng những phương pháp trên để giảm cân bằng thảo dược kết hợp với tập thể dục thường xuyên, bạn sẽ lấy lại vóc dáng thon gọn trong thời gian ngắn. Chúc bạn có vóc dáng như ý mình.
Nguồn: chuabenhdongy.net
06:48 CH 12/09/2012
Hô biến vòng 2 'phệ' bằng lá sen khô
Giảm cân là một vấn đề nhức đầu của biết bao nhiêu người. Không chỉ riêng các bạn nữmới lo lắng chăm sóc đến vóc dáng và sức khỏe của mình mà đấng mày râu cũng thểhiện sự quan tâm không kém. Vậy làm sao để có thể giảm cân bằng thảo dược mộtcách hiệu quả nhất?

Béo phì là do sự mất cân bằng giữa năng lượng thu nạp và tiêu hao hoặc rối loạn chuyển hóa.

Trongquá trình giảm cân, thuốc được đánh giá là hiệu quả hay không là khi thuốc tácđộng lên các mô mỡ làm phân hủy mỡ từ đó tăng mức tiêu hao năng lượng, làm giảmmức năng lượng hấp thu, giúp người bệnh tự kiềm chế cảm giác thèm ăn. Tuy vậyđể cho thuốc có hiệu quả cao bạn phải quyết tâm thay đổi lối sống, chế độ ănuống và thói quen vận động.

Sau đây là một số bài thuốc thảo dược giúp bạn giảm cân:



Lá Sen còn gọi là hà diệp hay liên diệp. Sách Nam dược thầnhiệu của Tuệ Tĩnh viết: “Hà diệp là lá sen, vị đắng, tính bình, không độc, trịtâm phiền, chữa các bệnh thai sản, chữa lở ghẻ, đậu mùa, chỉ huyết (cầm máu),cố tinh, ích nguyên khí của dạ dày”.Lá sen không chỉ có tác dụng giảm béo màcòn giúp phòng chống cao huyết áp hiệu quả, chữa say nóng (thử nhiệt), làmthuốc an thần, chữa kiết lỵ.

Liên Diệp ) 荷叶 Tên khác: Lá sen
Tính vị:
Vị đắng, hơi ngọt, tính bình
Quy kinh: Vào kinh tâm, can, tỳ

Dược năng: Thanh nhiệt giải thử, thăng dươngkhí, chỉ huyết

Liều Dùng: 9 - 15g

Chủ trị:

- Trị cảm thử, sốt cao, đổ mồ hôi quá nhiều, tiêu chảy

- Trị tiêu chảy do tỳ dương suy

- Đại tiện, tiểu tiện có máu do nhiệt ở hạ tiêu

Kiêng kỵ:

- Xuất huyết do hàn không dùng
- Liên diệp kỵ Phục linh


Theo các công trình nghiên cứu gần đây, lá sen có tác dụnglàm dịu cơn đau, chống co giật, chống dị ứng, chống viêm, an thần và giảm mỡtrong máu, chống béo phì.


Có thể dùng lá sen tươi (mỗi ngày 1 lá) sắc lấy nước, cô đặclại, hòa với đường để uống. Hoặc dùng lá sen khô (15-20g) tán bột, uống vớinước cơm; hãm nước sôi hay sắc lấy nước để uống trong ngày


Sơn tra: Sơn tra là vị thuốc chế từ quả táo mèo, quảchín màu vàng lục, ăn có vị chua, hơi chát nên còn có tên gọi là chua chát.Tháng 9-10, quả táo mèo chín, hái về thái ngang hay bổ dọc, phơi sấy khô để cấtđi dùng dần làm thuốc. Nó có tác dụng tiêu hóa thức ăn tích trệ, tán ứ huyết,sát trùng, tăng cường miễn dịch, chống oxy hóa, hạ huyết áp, giảm cholesterol,kháng khuẩn tốt, bảo vệ gan, chống ung thư.

Nếu như trong y học cổ truyền, loại quả này chỉ giúp tiêu thực thì với y học hiện đại, nó còn có nhiều tác dụng khác, trongđó có công năng điều chỉnh rối loạn lipid máu.

SƠN TRA
Tác dụng dược lý:

A.Tác dụng dược lý theo Y học cổ truyền:

Tiêu thực hóa tích, hoạt huyết tán ứ. Chủ trị cácchứng tích trệ, bụng đau tiêu chảy, sản hậu ứ trệ đau bụng, nước ối ra khôngdứt, sán khí, đau tinh hoàn.

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Theo các nhà nghiên cứu dược lý Trung quốc Sơn tra cótác dụng:

Cường tim, hạ áp, tăng lưu lượng máu mạch vành, giãn mạch và chống loạn nhịp tim. Nước cất Sơn tra bắc trên động vật thực nghiệm có tác dụng phòng và giảm bớt thiếu máu cơ tim thực nghiệm.

Có tác dụng làm hạ lipid huyết rõ rệt và làm giảm xơ mỡ động mạch, cơ chế chủ yếu là do thuốc có tác dụng tăng nhanh bài tiết cholesterol chứ không phải chống hấp thu cholesterol.

Sau khi uống Sơn tra lượng enzym trong bao tử tăng, giúp tiêu hóa tốt hơn, lượng acid béo tăng cũng giúp tiêu hóa chất mỡ tốt hơn.

Sơn tra có tác dụng ức chế các trực khuẩn thương hàn, lî, bạch hầu, mũ xanh, liên cầu beta, tụ cầu vàng. Phương pháp bào chế khác nhau không ảnh hưởng đến tác dụng kháng khuẩn của thuốc.

Sơn tra có tác dụng an thần, làm tăng tính thẩm thẩucủa mao mạch và làm co cơ tử cung.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng thực tích bụng đầy đau, rốiloạn tiêu hóa:



Quân khí tán: Sơn tra, Thanh bì, Mộc hương lượng bằng nhau tán bột mịn. Mỗi lần 3g, ngày 2 lần uống với nước sôi nguội.

Sơn tra sống, Sơn tra sao mỗi thứ 15g sắc uống trị ợ hơi, rối loạn tiêu hóa.

Sơn tra sao cháy 10g tán bột mịn uống với nước sôi nguội trị tiêu chảy, có thể gia đường đỏ vừa đủ cho dễ uống.

Trị trẻ em tiêu chảy: Lưu đại Phát dùng Xirô Sơn tra cho trẻ uống, mỗi lần 5 - 10ml, ngày uống 3 lần. Đã trị 212 ca, kết quả đều khỏi, trong 2 - 3 ngày khỏi có 176 ca (Tạp chí Trung y Hồ bắc 1985,4:28).

2.Trị tắt kinh do ứ huyết hoặc sau sanhbụng đau do ứ trệ dùng:



Sơn tra 30g sắc bỏ xác cho trộn 25g đường mía uống. Kinh nghiệm của Chu Đan Khê chỉ dùng độc vị Sơn tra, trường hợp đau kinh, sau sanh đau bụng, nước ối ra không dứt có thể gia thêm Đương qui, Xuyên khung, Ích mẫu thảo. Trường hợp sán khí (sa ruột) bụng đau căng tức, có thể cùng dùng với Hồi hương, Quất hạch.

3.Trị kiết lî cấp, viêm đại tràng cấp :
dùng Sơntra 60g sao cháy nhẹ gia 30g rượu trắng trộn đều sao lại cho khô rượu, cho nướcđun trong 15 phút (cho 200ml nước) bỏ xác cho đường đỏ 60g sắc sôi, uống lúcthuốc còn nóng ngày 1 thang, thường chỉ 1 thang là đủ. Trị 100 ca đều khỏi (BáoTân y học 1975,2:111).

Với phương pháp trên một báo cáo khác dùng trị 51 calî cấp khỏi 41 ca, kết quả tốt hơn dùng Clorocid (Báo cáo của Chu Kiến Viễn,Báo Tân y học 1977, bìa 3).

Có tác giả dùng thang thuốc có Sơn tra sao cháy 120gvà Hoa đậu ván trắng 30g, ngày 1 thang sắc uống trị lî cấp và viêm đại tràngcấp 91 ca, có kết quả 97,80% và có nhận xét Sơn tra trị lî tốt hơn, còn Hoa đậuván trắng đối với viêm đại tràng tốt hơn (Thông tin trung thảo dưọc 197,3:31).



Sơn tra 30g, sắc nước cho vào đường mía 30g, lá trà nhỏ vào nước thuốc sôi nóng khuấy đều 30 phút, uống trị lî mới bắt đầu.

4.Trị chứng lipid huyết cao:
tácgiả dùng Sơn tra, Mạch nha cô chế thành dạng trà, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1gói 30g, mỗi liệu trình 2 tuần. Trị cholesteron cao 127 ca có kết quả 92% (Tạpchí Trung y Liêu ninh 1979,5:23).

5.Trị cơn đau thắt tim, bệnh mạch vành:
tác giảdùng chiết xuất lá Sơn tra chế thành viên, mỗi viên 25mg, mỗi lần uống 4 viên,ngày 3 lần, một liệu trình 4 tuần. Dùng trị 219 ca cơn đau thắt ngực. Kết quảkhỏi triệu chứng tỷ lệ 92,2%, điện tâm đồ được cải thiện 47,1% (Báo cáo của ÔngDuy Lương, Báo Y học Bắc kinh 1986,2:101).

6.Trị viêm thận bể thận:
mỗingày dùng Sơn tra sống 100g sắc với nước lạnh sôi trong 15 - 20 phút, sắc 3lần, mỗi lần 500ml (lượng người lớn, trẻ em dùng 1/3 - � lượng người lớn), mộtliệu trình 14 ngày, đã trị 105 ca, trong đó có 45 ca cấp tính, kết quả chung là91,1%, số mạn tính 60 ca, tỷ lệ kết quả 88,3% (Báo cáo của Lôi chấn Giáp, BáoTân trung y Thiễm tây 1975, 1:35).

7.Trị nấc cụt:
uốngnước sắc Sơn tra sống, người lớn mỗi lần 15ml, ngày 3 lần. Đã trị 85 ca nấc cụtkhó khỏi, phần lớn trong một ngày khỏi.( Đoạn quần Lục và cộng sự, Báo Tạp chíTrung tây y kết hợp 1984,5:315).

8.Trị Polip thanh đới:
mỗingày dùng lượng Tiêu Sơn tra 24 - 30g sắc 2 lần được 1500ml nước thuốc, đểnguội từ từ uống hết. Tác giả đã trị 10 ca kết quả đều tốt (Trương hữu Quyền,Báo Y dược Thiên tân 1977,6:281).

9.Trị hóc xương cá:
Sơntra 15g sắc đặc với 200ml nước ngâm một lúc lâu rồi nuốt. Còn dùng nấu nước tắmtrị ghẻ lở, lở sơn dị ứng.

Liều dùng và chú ý:



Liều: 10 - 30g sắc uống.

Dùng thận trọng đối với bệnh nhân tỳ vị hư nhược.

Đông y đặc biệt chú ý đến cách bàochế: sơn tra để sống có tác dụng hoá ứ trệ, dùng hoá các chất tích trệ, khótiêu do ăn thịt. Khi sao vàng hoặc sao cháy, tác dụng hành khí hoá ứ có giảm điđôi chút nhưng tác dụng tiêu thực sẽ mạnh lên, lại có thêm cả tác dụng thuliễm, thường dùng chữa chứng đầy bụng, viêm lỵ, viêm ruột
06:48 CH 12/09/2012
Chữa rối loạn dây thần kinh thực vật
Rối loạn thần kinh thực vật/ Rối loạn thần kinh tim/ suy nhược thần kinh
THEO TÂY Y
Hệ thần kinh thực vật là hệ thần kinh tự động. Nó có tác dụng điều khiển hoạt động của các cơ quan trong cơ thể một cách chủ động, không phụ thuộc vào sự chỉ huy của não bộ. chức năng của hệ thần kinh thực vật là điều hoà các quá trình chuyển hoá vật chất, điều hoà hoạt động của cơ quan nội tạng cũng như hệ thần kinh trung ương. Trong điều hoà chức năng của các cơ quan thường có sự tham gia của cả hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm.
Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của 2 hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Hai hệ thống này về cơ bản gần như trái ngược nhau:
Tác động của hệ thần kinh giao cảm rất đa dạng trên hệ tim mạch (làm co mạch, tăng huyết áp mạch nhanh kích thích tiết mồ hôi); trên hệ hô hấp (làm nhịp thở nhanh, nông). Vì vậy khi cường chức năng giao cảm sẽ gây hồi hộp, trống ngực mạnh, tăng huyết áp, vã mồ hôi, giảm co bóp và tiết dịch đối với một số cơ quan tiêu hóa như dạ dày, túi mật, ruột, dịch vị dạ dày...; co thắt cơ trơn phế quản... bốc nóng ở mặt, vã mồ hôi ở lòng bàn chân, bàn tay; nặng hơn có thể tức ngực, khó thở... tim hồi hộp thở gấp, luôn luôn ra mồ hôi. mồ hôi ra đầm đìa, sợ gió, môi tím tái, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh ngắt.
Tác dụng của hệ phó giao cảm thì ngược lại, khi cường chức năng phó giao cảm sẽ làm chậm nhịp tim, tăng co thắt và tăng tiết dịch vị...
Ví dụ: giao cảm làm giãn đồng tử thì phó giao cảm làm co, giao cảm làm giãn mạch vành (beta 2) và co (alpha) thì phó giao cảm làm giãn, giao cảm làm tăng nhịp tim thì phó giao cảm làm giảm nhịp tim, giao cảm làm giảm nhu động và trương lực lòng ruột thì phó giao cảm làm tăng nhu động và trương lực…
Bình thường có sự cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm hoặc phó giao cảm duy trì các chức năng bình thường của cơ thể. ở một cơ thể khỏe mạnh, hoạt động của hệ thần kinh thực vật điều hòa và cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm và hệ thống phó giao cảm. Khi một trong hai hệ thống bị rối loạn sẽ đưa đến hội chứng rối loạn thần kinh thực vật.
Mặc dù có các trung tâm điều hoà hoạt động của thần kinh thực vật nhưng trong trường hợp mất cân bằng thì không điều hoà được hệ thống này và đưa đến các triệu chứng của rối loạn. Thường gặp triệu chứng ở hệ tim mạch và bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn thần kinh tim. Thường bệnh nhân có nhịp tim nhanh, thậm chí co thắt cả mạch vành làm cho bệnh nhân đau ngực, nhịp tim nhanh làm cho bệnh nhân cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, đôi khi cảm giác hẫng người. Đặc biệt, các cơn rối loạn này không có quy luật gì cả và cơn có thể kết thúc đột ngột làm cho người ngoài tưởng rằng bệnh nhân giả bộ.
Đối với rối loạn thần kinh thực vật mà phó giao cảm chiếm ưu thế thì người bệnh bị co thắt phế quản làm khó thở. Nhiều người cảm thấy triệu chứng xảy ra bất thường quá giống như giả bộ nên có thái độ trầm cảm và nghĩ rằng mình bị rối loạn tâm thần nên đến chuyên khoa tâm thần. Bệnh nhân có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt, rụng tóc, da khô, hư móng, giảm hứng thú tình dục, mất ngủ…

Bệnh nhân khi bị hội chứng này thường xuất hiện những triệu chứng cơ năng rất mơ hồ như: thường xuyên chóng mặt, mệt mỏi, tim hồi hộp, lo sợ có thể có khó ngủ nữa. Việc chẩn đoán hội chứng này vừa dễ mà cũng vừa khó vì bệnh nhân không hề có một tổn thương thực thể nào. Các xét nghiệm đều trong giới hạn bình thường, có thể lầm lẫn với các triệu chứng của tình trạng trầm cảm, và có khi do chính thầy thuốc áp đặt một khi không tìm ra một chẩn đoán nào hợp lý cho bệnh nhân.
Việc điều trị cũng rất khó khăn và kéo dài. Tuy bệnh không gây tử vong nhưng nó làm giảm đi rất nhiều chất lượng cuộc sống, chỉ gây ra khó chịu cho người bệnh và kéo dài làm thay đổi tâm lý. Do tính chất không nguy hiểm nên người bệnh thường không được quan tâm đúng mức, bị từ chối điều trị và càng làm cho bệnh nhân lo lắng. Để điều trị, bệnh nhân được dùng các thuốc điều trị triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân. Hiện đối với thể bệnh bị trầm cảm người ta dùng thuốc chống trầm cảm, đối với rối loạn nhịp tim nhanh thì dùng thuốc kiểm soát nhịp tim và nói chung là điều trị triệu chứng. Bệnh nhân sau một thời gian bị bệnh thường rơi vào tình trạng trầm uất, lo lắng không tin vào cuộc sống và không tin vào y học.
12:41 CH 18/10/2009
Bị mất ngủ - Kíu kíu
Các nguyên nhân gây mất ngủ theo y học cổ truyền


Mất ngủ thường kèm theo chóng mặt đau đầu, hồi hộp hay quên phần nhiều do chức năng thần kinh suy nhược.
Nguyên nhân:
- Do lo nghĩ và lam lũ lao động nhiều hại đến Tâm tỳ, huyết dịch hao tổn không dưỡng được Tâm dẫn đến tâm thần không yên gây mất ngủ.
+ Biểu hiện: Mơ nhiều nhanh tỉnh, hồi ọpp hay quên, ăn không biết ngon có thể đi ngoài phân hơi nhão....
Do Tâm tỳ suy yếu, huyết không dưỡng tâm nên mơ nhiều nhanh tỉnh, hay quên, huyết không vinh nhuận lên Mặt nên da mặt xạm, Tỳ là chức năng vận hóa đồ ăn, tỳ hư nên gây chán ăn, nguồn sinh hóa, dinh dưỡng kém nên khí huyết suy, tinh thần mệt mỏi ....
- Do cơ thể suy yếu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng được tâm, dẫn đến tâm thần không yên gây mất ngủ
+ Biểu hiện: âm hư hỏa vượng: buồn bực khó ngủ, miệng khô, lòng bàn tay chân nóng, hay quên, sợ sệt, mỏi lưng, có thể phân khô cứng, trong người nóng bứt rứt, có thể thỉnh thoảng ù tai, chóng mặt ....
- Do Ăn uống không điều độ, lâu ngày thành đờm nhiệt, trở ngại bên trong nhiễu loạn lên trên Tâm nên gây mất ngủ.
+ Biểu hiện: đầu nặng, ngực sườn đầy tức khó chịu, Trong Tim nóng bứt rứt, miệng có thể đắng, mắt hoa, nặng thì có buồn nôn và nôn....
Bệnh này ngoài dùng thuốc, bệnh nhân nên kiêng ăn các đồ ăn Cay nóng. Cần thư thái tinh thần, nên vận động thể dục nhẹ nhàng như đi bộ.
Tôi xin phân tích Chứng mất ngủ để mỗi người tìm được nguyên nhân bệnh của mình để điều trị tận gốc, chứ không phải là mất ngủ thì dùng các loại thuốc gây ngủ là có thể khỏi được.
Ai chưa hiểu hoặc cần tư vấn xin gửi thư về địa chỉ:
hoanxuanduong@yahoo.com hoặc 0972333003
thân mến! Nguyễn Như Hoàn
:Smiling::Smiling::Smiling:
08:54 SA 09/06/2009
h
hoanxuanduong
Bắt chuyện
800Điểm·3Bài viết
Báo cáo