| Hoàng kỳ 12g | Cam thảo 8g | Nhân sâm 12g | Đương quy 10g |
| Trần bì 10g | Thăng ma 10g | Sài hồ 10g | Bạch truật 12g |
| Sài hồ 10g | Đương quy 10g | Bạch thược 10g | Bạch truật 16g |
| Phục linh 10g | Cam thảo 6g | Bạc hà 8g | Sinh khương 3 lát |
| Nhân sâm 12g | Bạch truật 12g | Phục linh 10g | Cam thảo 12g |
| Sài hồ 10g | Sơn chi 10g |
| Nhân sâm 12g | Bach truật 12g | Phục linh 10g | Cam thảo 12g |
| Sài hồ 10g | Sơn chi 10g | Thăng ma 8g | Trần bì 8g |
| Bán hạ 8g |
| Sài hồ 12g | Đương quy 12g | Bạch truật 12g | Bạch thược 12g |
| Phục linh 12g | Cam thảo 6g | | |
| Đương quy 16g | Xuyên khung 12g | Tân lang 12g | Thanh bì 6g |
| Hương phụ 8g | Long đởm thảo 8g | Hắc phụ tử 2g | Chỉ xác 6g |
| Chích thảo 4g | Trầm hương 2g | Can khương 5 miếng | |
| Bán hạ 16g | Đởm tinh 16g | Quất hồng bì 12g | Chỉ thực 12g |
| Phục linh 12g | Nhân sâm 8g | Thạch xương bồ 8g | Trúc nhự 6g |
| Thương truật 4g | Ngưu tất 4g | Hồng hoa 4g |
| Cam thảo 4g | Cát cánh 4g |
| Thương truật 4g | Cát cánh 4g | Cam thảo2g |
| Hồng hoa 2g | Thuyền thoái 7 con | Hồng hoa 2g |
| Cúc hoa 2g | Ngưu tất 2g | Đăng tâm 4g |
| Lông nhím 1 cái | Quyết minh tử 4g | Xuyên sơn giáp 1 vảy (đốt tồn tính) |
| Hồng hoa 4g | Thương truật 8g | Lông nhím 2 cái (đốt cháy) |
| Ngưu tất 8g | Xuyên sơn giáp 12g (nướng vàng) | Đăng tâm 1 bó |
| Xuyên sơn giáp 8g (rang cháy vừa) | Thương truật 8g | Cây cỏ xước 8g (rang vàng hạ thổ) |
| Hồng hoa 4g | Lông nhím 2g (đốt cháy) |
| Hoa kinh giới 4g | Giây mang hổ 4g | Nghệ vàng 3 lát |
| Lá cam thảo đất 4g | Phèn phi 2g (tán nhỏ để ngoài) | Rễ vảy tiền hoa vàng 4g (cây bã trù, rang vàng) |
| Sa nhân 8g | Lông nhím 1 cái | Đinh hương 3 nụ |
| Tre non 1 đoạn | Gừng sống 3 lát | Đinh hương 3 nụ |
| Thương truật 2g | Bắc lùng 1g | Xuyên sơn giáp 1 vảy |
| Lông nhím 1 cái | Hồng hoa 2g | Ngưu tất 4g |
| Trạch tả 2g |
| Cam thảo 20g | Thăng ma 12g | Xuyên sơn giáp 12g |
| Bột Thanh đại 16g | Lông nhím 10g | Ngưu bàng tử 8g |
| Nam đại hoàng 12g | Huyền sâm 8g | Sinh địa 8g |
| Xích thược 8g | Cát căn 12g |
I. ĐẠI CƯƠNG
Phụ nữ sau khi sinh đẻ rồi bỗng nhiên đầu choáng, mắt hoa, không ngồi dậy được, trong ngức tức đầy, lợm giọng, nôn mửa hoặc đờm nhiều, thở gấp, nặng thì cấm khẩu, hôn mê, bất tỉnh nhân sự thì gọi là huyền vững. Đó là một chứng nguy hiểm lúc sản hậu nếu không chữa kịp thời thì thường sinh ra chứng hư thoát.
II. NGUYÊN NHÂN
1. Huyết hư
Sản hậu huyết mất nhiều, tâm can huyết kém, thần chí không yên, mà gây ra chóng mặt buồn phiền.
2. Huyết ứ
Huyết hôi không xuống, làm cho huyết ứ xông lên, tâm thần rối loạn, hoặc sau khi đẻ khí uất hàn trệ củng làm cho huyết ứ xông lên mà thành chứng huyền vững.
III. BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Chứng huyền vựng chia làm hai loại: chứng thoát và chứng bế. Chứng thoát là thuộc hư,huyết hư ra nhiều, lúc xây xẩm thì miệng há, tay xòe, chân tay lạnh,mạch vi tế muốn tuyệt, chứng bế là chứng thực, huyết hôi ra ít, bụng dưới trướng đau,lúc xây xẩm thì hôn mê, cấm khẩu, hai tay nắm chặt.
1. Thể huyết hư
1.1. Triệu chứng
Sản hậu mất huyết quá nhiều bỗng nhiên xây xẩm,sắc mặt xanh nhợt, buồn bực không thư thái, tim hồi hộp, lợm giọng, buồn nôn, dần dần mê nam, mắt nhắm, miệng há tay chân xòe, chân lạnh,nặng thì mồ hôi lạnh đầm đìa, lưỡi nhạt, không rêu, mạch vi tế, hoặc phù đại mà hư.
1.2. Phương pháp điều trị: bổ huyết, điều khí.
1.3. Phương thuốc: dùng bài Đương quy bổ huyết thang
Hoặc bài
* Nếu mất huyết nhiều, mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh thì cần cố dương, dùng bài Nhân sâm tứ nghịch thang.
2. Thể huyết ứ
2.1. Triệu chứng
Sản hậu huyết hôi không xuống được hoặc xuống rất ít, bụng dưới đau từng cơn, đau cự án, sắc mặt vàng nhợt, môi đỏ, dưới ngực tức đầy, nặng thì thở to và gấp, hôn mê, hàm răng nghiến lại, sắc mặt tím bầm, chất lưỡi đỏ tía, mạch huyền sác hữu lực.
2.2. Phương pháp điều trị: trục ứ, thông huyết.
2.3. Phương thuốc: dùng Độc hành tán.
- Ngũ linh chi( nử sống, nủa sao) tán bột, mỗi lần uống 8g hòa với rượu đổ vào cổ sẻ khỏi.
* Nếu không khỏi lại gia Bồ hoàng sao, liều lượng củng bằng ngũ linh chi, gọi là Thất tiếu tán.
* Hoặc dùng phương trên gia kinh giới, củng bằng các vị trên, hòa đồng tiện vào mà uống.
- Trường hợp sản hậu huyễn vững, đau bụng thì dùng thổ tam thất săc uống hoặc dùng bài thuốc kinh nghiệm.
- Trường hợp bệnh trầm trọng, khí hư muốn thoát thì dùng ngay Độc sâm thang ( có thể gia thêm 1 chén đồng tiền) mà chửa hoặc dùng các cách chữa ngoài như châm cứu hoặc xông giấm để cho chóng tỉnh lại, rồi tiếp tục điều trị bằng thuốc.
- Có thể phối hợp với cách chữa ngoài:
* Hoặc dùng đồ sắt nung đỏ, đổ giấm thanh vào mà xông lên mũi người đẻ.
* Hoặc đốt vị can tất rồi cho người đẻ hít lấy khói.
* Hoặc dùng cây kim bằng bạc nhể chích chổ giáp giữa hai đầu lông mày cho ra máu. Phương pháp này phối hợp với Đương quy bổ huyết thang làm cho người bệnh chóng tỉnh lại.
Nguồn: phusankhoa.com