MĨnh nghĩ những loại thuốc sịt hay thuốc ngậm chỉ giải quyết được vấn đề tạm thời hay những vấn đề liên quan đến răng miệng thôi. Quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân của bệnh để tìm ra cách điều trị. Những ai lưỡi có rêu dày và hôi thì chắc chắn là bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa, ngoài ra tim gan nóng, dạ dày tích nhiệt lâu ngày cũng sẽ gây ra rêu lưỡi, dẫn đến hôi miệng. Mình đi khám ở một phòng khám đông y ở quê, ở đó có " máy đo kinh lạc ", thầy thuốc k bắt mạch nữa mà để máy làm, máy đo nhiệt độ ở 24 huyệt trên cơ thể, rồi dựa trên cơ sở dữ liệu có sẵn của các lương y đúc kết từ trước để tìm ra bệnh, mình đo thì thấy rất chính xác, tìm ra đúng bệnh của mình là dạ dày và viêm họng, ngoài ra người ta còn bảo tim gan nóng. MÌnh uống thuốc đc 9 ngày rồi, thấy đỡ hơn rất nhiều, k còn hôi như trước nữa. Sáng nay ngủ dậy cảm giác thật thoải mái, mong là sau đợt này sẽ hết hẳn
”Mối liên quan giữa “Mục đích cuộc sống/ Ikigai”(Purpose in life/PIL), Chức năng vỏ não trước, và sự ngăn chặn Halitosis gây ra bởi căng thẳng tâm thần, Halitosis giả và ám ảnh Halitosis “
Riichiro Ishida
Tóm tắt
Halitosis là một tình trạng đặc trưng bởi sự khó chịu về mùi hơi thở hay mùi hơi thở có vấn đề mà dẫn đến những cản trở tâm lý xã hội, nó có thể do hơi thở hôi thật sự hay hôi giả. Một trong những nguyên nhân ngoài miệng của hôi miệng thật là căng thẳng tâm lý, điều này gây ra một sự giảm cả sự tiết nước bọt và sự hiện diện của những tác nhân phân hủy trong nước bọt như lysozymes, dẫn tới hơi thở hôi. Thậm chí không có hơi thở hôi một cách khách quan, những người hôi miệng giả phàn nàn về triệu chứng hôi miệng, trong khi ở những thể ám ảnh hôi miệng có một nỗi sợ về hôi miệng. Hôi miệng thật bởi stress, hôi miệng giả và ám ảnh hôi miệng có lẽ tất cả bởi sự lo lắng nguồn gốc từ một “nhu cầu về sự chấp nhận từ những người khác”. “Mục đích trong cuộc sống (Purpose in life) / Ikigai (PIL)”, liên quan đến “chức năng vỏ não trước trán (prefrontal cortex function) PCF”, đã được chứng minh là cách có hiệu quả để kiểm soát những sự kiện gây căng thẳng, và có tương quan nghịch với nhu cầu quá mức sự chấp nhận từ những người khác. PIL/Ikigai, tương tự với chức năng vỏ não trước, phát triển qua những trải nghiệm tích cực từ thơ ấu đến trưởng thành, như việc dành thời gian ngoài thiên nhiên tươi đẹp, thành công trong những mục tiêu có ý nghĩa, và có được sự đồng cảm chấp nhận từ những người khác. Sự hiểu biết về những đặc điểm và những tình trạng phát triển tâm thần liên quan với PIL/ikigai và PCF có thể cải thiện khả năng của những cá nhân để kiểm soát những sự kiện áp lực, do đó tăng cường sự ngăn chặn/phòng ngừa halitosis, hôi miệng giả, và ám ảnh hôi miệng. Đề xuất này có thể đóng góp kinh nghiệm cho những nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
1. Giới thiệu:
1.1 Halitosis:
Halitosis được định nghĩa là những vấn đề về hơi thở có mùi khó chịu, thường dẫn tới những cản trở tâm lý xã hội. Về lâm sàng, halitosis có thể được phân loại halitosis thật, halitosis giả hay ám ảnh halitosis. Halitosis thật có những bệnh căn từ cả trong và ngoài miệng; những nguyên nhân trong miệng như viêm nha chu và mảng bám lưỡi, trong khi nguyên nhân ngoài miệng gồm những vấn đề tiêu hóa,dạ dày,gan,phổi…và căng thẳng tâm lý. Căng thẳng tâm lý gây ra nỗi sợ và lo lắng cũng như mất cân bằng trong hệ thần kinh tự chủ như hoạt động quá mức của hệ thần kinh giao cảm. Nước bọt, được điều tiết bởi hệ thần kinh tự chủ, có chứa lysozyme, một enzyme phân hủy nhiều vi khuẩn gây ra mùi hôi ở miệng. Do vậy, căng thẳng tâm lý dẫn tới sự giảm tiết nước bọt, và gây ra hôi miệng thật sự. Mặt khác, thậm chí mùi hôi không có, những cá nhân hôi miệng giả phàn nàn về những triệu chứng hôi miệng, trong khi đối với ám ảnh hôi miệng, nỗi sợ hôi miệng hiện diện với những triệu chứng hôi miệng. Tuy nhiên, dù có sự khác nhau giữa chúng, hôi miệng thật sự gây ra bởi stress, hôi miệng giả, và ám ảnh hôi miệng có lẽ tất cả từ sự lo lắng mà nguồn gốc từ “ nhu cầu cần chấp nhận quá mức từ người khác (need of approval from others”. Do vậy, tất cả ba tình trạng này nên được kiểm soát về tâm lý và tâm thần, mà không qua thực hành răng miệng. Tiêu điểm của đề xuất này là dựa trên vai trò của serotonin, một chất dẫn truyền ức chế được sản xuất trong não, làm giảm nỗi sợ và lo lắng và tạo ra những sự cân bằng cảm xúc.
1.2Kiểm soát những sự kiện áp lực:
Mỗi người có một nhu cầu nội sinh để thiết lập ý nghĩa cuộc sống hay thuyết phục sống cách có ý nghĩa xứng đáng. Nhu cầu này liên quan đến chức năng vỏ não trước trán (Prefrontal cortex function /PCF). Nhu cầu quá mức sự chấp nhận từ những người khác cũng được đề nghị như yếu tố nguy cơ cho sự tăng căng thẳng tâm lý. Kiểm soát stress liên quan những dẫn truyền thần kinh, chủ yếu serotonin. Gần đây, tiêu điểm được đặt ra dựa trên “ ý nghĩa cuộc sống” hay “ cuộc sống đáng sống”, biểu lộ bởi “mục đích cuộc sống/PIL” như một cách hiệu quả kiểm soát căng thẳng. Một ví dụ của PIL là “ PIL của tôi là dạy cho lũ trẻ biết chơi âm nhạc”. ..hoạt động đơn giản như “dọn dẹp con đường bên cạnh nhà mỗi sáng” và “ thông tin cho những người khác về hoạt động giải trí truyền thống của địa phương”, phụ thuộc những nhu cầu bên trong và những trải nghiệm. Tuy nhiên mặc dù sự quan trọng của những khái niệm và quá trình này, tìm những thuật ngữ liên quan đến sự kết hợp với Halitosis, meaning of life or life worth living and PCF trên dữ liệu PubMed chỉ là số lượng những nghiên cứu rất ít ỏi.
Trong đề xuất hiện tại, những viễn cảnh để phòng ngừa ngăn chặn và cải thiện halitosis gây ra bởi stress, pseudo-halitosis và halitophobia được thảo luận với sự tập trung vào PCF và PIL.
2.Chức năng vỏ não trước trán :
PCF ở con người liên quan đến một giai đoạn hơn 10000 năm từ khi săn bắn và tập trung hợp tác với những người khác trong tự nhiên xung quanh. Những gen mà điều khiển chức năng tâm lý không thay đổi đáng kể qua lịch sử loài người. Chức năng của vỏ não trước trán, được kết nối với rất nhiều cấu trúc khác, gồm có sự tích hợp tâm lý với những kích thích, sự tạo ra những suy nghĩ mục tiêu hướng dẫn, đưa ra quyết định, tham vọng, và hợp tác với những người khác. Sự nhận thức và những cảm xúc như hài lòng, thoải mái, sợ hãi, và sự lo lắng liên quan đến sự giải phóng ra những dẫn truyền thần kinh và hormones, cũng như với những hoạt động của thần kinh tự chủ và hệ nội tiết, và sự đa dạng trong nhận thức và cảm xúc chỉ ra thành công hay thất bại trong sự thích ứng với những thay đổi môi trường. Những dẫn truyền thần kinh liên quan như serotonin, điều chỉnh những cảm xúc bằng cách điều hòa sự tiết của những chất dẫn truyền thần kinh; dopamine, góp phần vào trải nghiệm hài lòng và củng cố hành vi; oxytocin cung cấp những cảm nhận của sự thân mật tin tưởng nơi những người khác; b-endorphin, cung cấp những cảm nhận có thể hài lòng và giảm căng thẳng; và noradrenaline, tập trung chú ý với một kích thích. Thêm nữa, testosterone nội tiết điều hòa những hoạt động hạnh nhân-trước trán trong suốt hành vi cảm xúc xã hội. Do vậy, chức năng vỏ não trước trán làm việc trong sự kết hợp với hệ thần kinh tự chủ và hệ nội tiết để góp phần vào sự thành công con người.
3.Cơ chế của PIL/ Ikigai:
Thuật ngữ PIL được rút từ thuyết hiện sinh (existentialism) người châu Âu, trong khi thuật ngữ “ikigai” lần đầu xuất hiện thế kỷ 14 Nhật Bản. Cả hai thuật ngữ thuyết phục khái niệm “Mọi thứ đều thay đổi. Cuộc sống là một sự kiện duy nhất độc nhất . Do đó, mỗi cá nhân có một nhu cầu nội sinh để đạt được ý nghĩa cuộc sống”. Hiện tại, PIL/ikigai có thể được đo lường bởi nhiều công cụ tâm lý đa dạng. Nghiên cứu trước của chúng tôi thấy rằng PIL/ikigai tương quan nghịch với lo lắng và nhu cầu chấp nhận từ người khác. PIL/ikigai là một cơ chế cho sự giảm nhẹ, thậm chí trong những tình huống áp lực, sự lo lắng và xung đột liên quan với căng thẳng tâm lý từ quá khứ, hiện tại và tương lai. Hơn nữa, PIL/ikigai cung cấp những cá nhân với khả năng trì hoãn sự vừa lòng, đánh giá quan điểm của người khác, có niềm tin với một năng lực cao hơn, chấp nhận sự giới hạn bản thân, và tha thứ cho bản thân. Những cá nhân với PIL/ikigai dường như biểu lộ những thái độ liên quan với sự công bằng và độc lập hơn thông thường và hơn những người có nhu cầu quá mức sự chấp nhận từ người khác. PIL/ikigai, tương tự với PCF phát triển qua trải nghiệm tích cực từ thơ ấu đến trưởng thành, như dành thời gian bên thiên nhiên tươi đẹp, thành công tại những mục tiêu giá trị, và có được sự đồng cảm và ảnh hưởng từ người khác. Mặt khác, nhu cầu quá mức cho sự chấp nhận từ người khác gây ra sự lo lắng và xung đột trong những tình huống căng thẳng. Nhu cầu quá mức sự chấp nhận từ người khác phát triển khi trẻ em là chủ thể mà chịu sự mong đợi kỳ vọng không thực tế từ cha mẹ và giáo viên. PIL/ikigai và ý nghĩa sự kết hợp, đi cùng bởi những cảm xúc và nhận thức tích cực, có lẽ gây ra phản ứng hóa học liên quan đến thay đổi biểu sinh liên quan serotonin, ảnh hưởng di truyền dịch tễ học của sự lo lắng mà không có bất cứ sự thay đổi thực tế nào. Tóm lại, PIL/ikigai có lẽ là một chiến lược hiệu quả cho kiểm soát những sự kiện căng thẳng gây ra bởi nhu cầu cần sự chấp nhận từ người khác.
4.Đề xuất:
Chia sẻ PIL/ikigai của một người với người khác và tự củng cố động lực cá nhân cho PIL/ikigai. Những cá nhân nên nhận thức được rằng mọi người có khả năng thấy được PIL/ikigai của họ tại bất cứ thời điểm nào và bất cứ tình huống nào, bất chấp tình trạng.
5.Những giới hạn và nghiên cứu tương lai:
Hiệu quả của PIL/ikigai lên halitosis gây ra bởi stress, pseudo-halitosis, và halitophobia thì không kinh nghiệm. Không chỉ PIL/ikigai, mà còn bài tập aerobic trung bình và chế độ ăn cân bằng được công nhận chiến lược hiệu quả cho kiểm soát những sự kiện áp lực. Do vậy, những ảnh hưởng lên halitosis caused by stress, pseudo-halitosis and halitophobia cần được làm sáng tỏ. Những hiệu quả của suy nghĩ tích cực và chủ động, khái niệm mà xuất hiện tương tự PIL/ikigai lên halitosis cũng nên được làm sáng tỏ.
6.Kết luận:
Căng thẳng tâm thần bởi sự lo lắng. Bất chấp sự khác nhau của chúng, halitosis thật bởi stress, giả và ám ảnh halitosis có lẽ tất cả bởi sự lo lắng nguồn gốc từ nhu cầu quá mức chấp nhận từ người khác. PIL/ikigai trong mối liên quan với PCF, là cách hiệu quả để kiểm soát những sự kiện áp lực, và tương quan nghịch với nhu cầu quá mức chấp nhận từ người khác. PIL/ikigai, tương tự PCF, phát triển qua sự dành thời gian bên thiên nhiên tươi đẹp, đạt thành công trong những mục tiêu ý nghĩa, và giành sự đồng cảm từ người khác. Cannon 1939 xác định sự làm chủ bệnh tật và đau đớn có thể giải phóng những gánh nặng của suy nghĩ con người có thể chỉ đạt được qua sự hiểu biết am hiểu về cơ thể. Về kết luận, sự hiểu biết đặc điểm và những tình trạng phát triển của PIL/ikigai và PCF có thể cải thiện khả năng của những cá nhân để kiểm soát những tình huống căng thẳng, do đó tăng cường sự ngăn chặn của halitosis, pseudo-halitosis, halitophobia. Đề xuất hiện tại có thể đóng góp cho những nghiên cứu thực nghiệm tương lai.