Là tù nhân của quá khứ, tâm lý lưu vong là một thứ tâm lý bảo thủ. Điều người lưu vong không thể cảm nhận nổi là ý niệm về sự vận động trên quê hương mình. Tôi hiểu lý do tại sao Từ Thức hay Lưu Thần, Nguyễn Triệu lại bàng hoàng khi từ thiên thai trở về quê cũ: chủ yếu là vì sự sai nhịp về thời gian. Sự sai nhịp ấy không xuất phát từ sự kiện ngày tháng ở cõi tiên dài hơn trong cõi tục mà xuất phát từ tâm lý khư khư ôm giữ những hình ảnh cũ của người xa xứ. Đối sánh với những hình ảnh hoá thạch ấy, thực tại nào cũng trở thành lạ lùng. Cũng gây kinh ngạc. Cũng khiến sững sờ. Mất ý niệm về sự vận động, sự ra đi nào cũng có nghĩa là một sự dừng lại. Hồi ở Pháp, gặp một số đồng hương gốc Quảng Nam đã ở Pháp hàng ba, bốn chục năm, và suốt ba, bốn chục năm ấy chủ yếu sử dụng tiếng Pháp, tôi kinh ngạc nhận thấy giọng Quảng Nam của họ thuần chất đến độ rất khó tìm thấy trên đất Quảng Nam sau này: trong khi suốt mấy chục năm vừa qua, người dân ở Quảng Nam có vô số cơ hội để tiếp xúc với những giọng nói khác, ngoài xã hội cũng như qua hệ thống truyền hình và truyền thanh, để tính chất địa phương trong giọng nói của họ càng ngày càng nhạt đi, những người đã đi du học từ lúc 17, 18 tuổi, hoàn toàn không có những tiếp xúc như thế, không hề chịu bất cứ ảnh hưởng nào từ bên ngoài. Giọng nói của họ là một thứ giọng địa phương nguyên chất. Trong lãnh vực văn học cũng có hiện tượng tương tự. Nhiều người, sống lâu năm ở nước ngoài, về phương diện xã hội, rất hiện đại và rất Tây phương, nhưng khi cầm bút, từ cảm xúc lẫn ngôn ngữ của họ đều thấp thoáng rất nhiều hơi hướm của Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn, những trào lưu thịnh hành hoặc còn nhiều vang bóng lúc họ chưa rời Việt Nam. Ngay cả ở những người tài hoa nhất trong họ, nếu may mắn thoát khỏi hiểm hoạ của cái sáo thì cũng có cái gì đó cổ kính, điều rất hiếm thấy ở những người cùng lứa tuổi và cùng tầm nhận thức đang sống trong nước. Từ kinh nghiệm này, chúng ta không nên khinh thường nhận xét đã được nhiều người phát biểu: văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước năm 1975. Nếu điều đó chưa phải là một hiện thực thì ít nhất nó vẫn là một nguy cơ. Nguy cơ rõ nhất và cụ thể nhất là việc tiếp nhận cái mới trở thành vô cùng khó khăn dù về phương diện khách quan, chúng ta có đầy đủ tất cả những điều kiện cần thiết khiến những người trong nước phải thèm thuồng. Ngoái về quá khứ, các cây bút lưu vong ít khi đóng được vai trò tiên phong. Nếu ví nền văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung với một trận bóng đá, thì đó là một trận bóng thường chỉ có các hậu vệ và thật nhiều thủ môn, ở đó chiến thắng được tính bằng những lần bắt bóng chứ không phải bằng những lần làm bàn. Một trận đấu kì dị. Quái gở. Và tuyệt vọng. Mối quan hệ với quê gốc như thế làm cho quan hệ giữa những người lưu vong với miền đất mới định cư trở thành vô cùng gian truân: chúng ta bị phân thân giữa quê cũ và vùng đất mới, giữa tình cảm và lý trí, giữa quá khứ và hiện tại, giữa hoài niệm và hoài bão. Chúng ta đầy mâu thuẫn: chúng ta vừa sùng bái Tây phương lại vừa sợ bị Âu hoá; chúng ta vừa hết lời ca ngợi truyền thống văn hoá dân tộc lại vừa không ngớt đay nghiến, bỉ thử nếp sống đậm màu sắc truyền thống của cộng đồng người Việt ở khu Bolsa bên Mỹ, khu Paris 13 bên Pháp hay khu Cabramatta và Footscray ở Úc; đối diện với người ngoại quốc, chúng ta khăng khăng muốn làm một người Việt Nam, nhưng khi đối diện với đồng bào của mình, chúng ta lại cứ muốn làm người... nước ngoài. Chúng ta thường nghi kỵ một cách quá đáng những nhà văn viết bằng tiếng Việt chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương dù đó là những tài năng lớn trong khi chúng ta lại vồ vập một cách quá đáng một số cây bút trẻ viết thẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, dù chưa có gì hứa hẹn đó sẽ là những tài năng thực sự. Hậu quả của sự phân thân ấy là những người lưu vong bị biến thành những người đứng bên lề. Với sinh hoạt văn học trong nước, chúng ta là những người đứng bên lề. Dù tài hoa đến mấy, vẫn là những người bên lề. Với sinh hoạt văn học ở quốc gia chúng ta đang sống, chúng ta cũng lại là những người đứng bên lề, một thứ nhà văn sắc tộc khiêm tốn và buồn thảm, đứng bên lề những sinh hoạt chính mạch của thiên hạ. Do đó, có thể nói, không có ai cô đơn cho bằng nhà văn lưu vong. Cách đây mấy năm, một số người cầm bút ở hải ngoại hô hào phá bỏ những ghetto trong sinh hoạt văn học. Ừ, thì phá bỏ. Nhưng chưa ai đặt câu hỏi: phá bỏ những ghetto-việt-nam ở hải ngoại rồi thì giới cầm bút sẽ đi đâu, sẽ nhập vào đâu? Nhập vào văn học thế giới ư? Ai mà chả muốn. Nhưng đó là một con đường hết sức cheo leo. Một là, để sử dụng một ngoại ngữ như một ngôn ngữ văn học (chứ không phải một ngôn ngữ giao tiếp) không phải là một điều dễ. Nhà thơ Joseph Brodsky, giải Nobel văn chương năm 1987, sau mấy chục năm ở Hoa Kỳ, khi viết tiểu luận thì viết bằng tiếng Anh nhưng khi làm thơ thì cũng vẫn tiếp tục làm bằng tiếng Nga rồi người khác dịch ra tiếng Anh. Hai là, sau hàng rào ngôn ngữ là hàng rào văn hoá. Bất cứ cộng đồng ngôn ngữ nào cũng hà tiện khả năng đồng cảm và bộ nhớ của nó đối với những người ngoại tộc, bởi vậy, ở đó, kiếm được độc giả đã khó, kiếm được những độc giả tri âm lại càng cực khó. Tôi có một số bạn bè người Úc đã đọc và rất thích Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài qua các bản dịch tiếng Anh, thế nhưng, có khi chỉ một vài tháng sau, trong những lúc tán gẫu, tình cờ tôi nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, họ có vẻ ngơ ngác, phải đợi giải thích thật chi tiết, họ mới nhớ ra đó là những tác giả họ từng ái mộ. Ngược lại, tôi cũng gặp không biết cơ man nào những người Việt Nam cứ hễ nhắc đến văn chương Việt Nam đương đại là nhắc đến Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, có khi để khen ngợi mà cũng có khi để đả kích, mặc dù, theo sự ước đoán của tôi, may lắm họ chỉ đọc loáng thoáng đâu đó một hai truyện ngắn của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp là cùng. Bởi vậy, tuy người Việt Nam nào cũng thèm thuồng khả năng viết tiếng Pháp của Nguyễn Tiến Lãng hay của Phạm Văn Ký nhưng thành thực mà nói, tôi tin là ngay cả một nhà văn Việt Nam trung bình cũng có nhiều tri âm hơn hai người ấy. Đi vào một sinh hoạt văn học không phải của dân tộc mình, người ta, nếu không phải là một đỉnh cao thì rất dễ có khả năng sẽ không là gì cả ngoài cái việc được đăng tải và được xuất bản. Mà đỉnh cao bao giờ cũng là những ngoại lệ. Số lượng những nhà văn sử dụng song ngữ thành công trên thế giới chỉ là hoạ hoằn, dù con số thử nghiệm có thể lên đến hàng chục ngàn, thậm chí, hàng trăm ngàn. Còn lại, tuyệt đại đa số, dù muốn hay không, cũng làm tù nhân chung thân của tiếng mẹ đẻ của mình, cũng chỉ quanh quẩn trong sân chơi nho nhỏ của cộng đồng mình, và đứng bên lề những hội hè, đình đám văn nghệ quốc tế. Dĩ nhiên, chẳng ai vui gì cái cảnh đứng bên lề. Bởi vậy, phần lớn những người cầm bút lưu vong hay bị day dứt cái mặc cảm tự ti, không những tự ti với dòng văn chương chính mạch ở quốc gia mình định cư mà còn tự ti với cả dòng văn học chính thống ở cố quốc. Chính từ những mặc cảm tự ti ấy, bao nhiêu thần tượng giả đã ra đời. Trong cách cảm thụ và cách đánh giá văn học của phần lớn người cầm bút hải ngoại, đặc biệt là đối với văn học nội địa, tôi thấy thấp thoáng cái mặc cảm của những chú lùn. Tội. Sống và viết lách bên lề, những cây bút lưu vong tìm vui trong cái cộng đồng nhỏ bé, càng ngày càng nhỏ bé của mình. Đã nhỏ bé, lại còn lạnh lẽo nữa. Trong sinh hoạt văn học hải ngoại, có lẽ trừ các chủ bút, không có người cầm bút nào có được sự tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên và cụ thể với độc giả. Và cũng không ai cần độc giả: sách, báo thường bán không được bao nhiêu; mà cho dù bán được khá thì cũng không đủ nuôi người cầm bút. Đáng lẽ sự kiện này có thể giúp nhà văn trở thành độc lập và dễ trở thành độc đáo. Sự thực ngược lại: phần lớn cứ đứng nem nép vào nhau. Điều đó khiến nền văn học lưu vong có nét gì hao hao nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: cả hai đều có tính tập thể rất cao. Sự kiện đứng bên lề và sự kiện xa cách tuyệt đối với độc giả khiến khái niệm ‘danh vọng’ trở thành hão huyền: ngay cả những người xuất sắc nhất trong chúng ta cũng chỉ ‘nổi tiếng’ trong một phạm vi thật nhỏ, chủ yếu với một nhúm bạn bè và những người quen biết. Theo tôi, đây là lý do chính giải thích hiện tượng tại sao có một số cây bút rõ ràng là có tài năng nhưng chỉ đến với văn chương một thời gian ngắn rồi chia tay không một chút luyến tiếc. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong bài "Triển vọng của văn học hải ngoại", đã từng ngạc nhiên trước hiện tượng này. Ông tự hỏi: "Vì sao thế?" Rồi ông nói thêm:
Tôi hỏi, vì biết cái ma lực của chữ viết, nhất là lúc đã thành chữ in và tới được tay bạn đọc. Chữ viết trên bản thảo định hình được những điều mông lung rối rắm chất chứa trong lòng tác giả, những điều tác giả tưởng đã biết rõ nhưng thực ra không biết nhiều, đến nỗi khi thành chữ, chính tác giả cũng kinh ngạc ngỡ ngàng. Từ chữ viết dập xoá trên bản thảo sang chữ in ngay ngắn trên trang sách, lại có sự biến ảo kỳ diệu khác. Tiếng vọng từ phía bạn đọc mang cho tác giả những dư âm đa dạng kỳ thú (hay kỳ dị), đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới. Những đợt sóng ấy tiếp nối, đợt sau đẩy đợt trước, người cầm bút miên man hết cuộc phiêu lưu này đến cuộc phiêu lưu kia, thấm thoắt theo nghiệp văn vài chục năm lúc nào không hay.
Trong câu hỏi của Nguyễn Mộng Giác đã có sẵn câu trả lời. Thời ông cầm bút ở Việt Nam, những tiếng vọng liên tục từ phía độc giả có khả năng tạo nên những "dư âm kỳ thú (hay kỳ dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới." Còn ở hải ngoại thì làm gì có những tiếng vọng như thế? Ở hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt. Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực. http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=205 _________________________
Cám ơn tất cả ACE đã xây dựng nên thớt này.Trăm nghe không bằng một thấy, hy vọng các bạn sẽ có dịp ngồi lại với nhau, càng mở rọng network bao nhiêu, thì bạn sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian bấy nhiêu sau khi nghe được được chuỵen người thực việc thực.Ngày 2.6 này, nghe nói có offline ở sài gòn, mong bạn Joseph đến góp vui.
Cái gì bạn nói cũng đúng hết. Chúc mừng bạn sớm toại nguyện.
Tuy nhiên, xác xuất thành công của hồ sơ không nằm ở những gì bạn đã biết, mà nó lại rơi vào những gì bạn không để ý tới, mà chỉ có cty dịch vụ di chú mới biết qua kinh nghiệm hàng thập niên qua.
Không phải cổ xúy cho bạn phải làm qua luật sư, nhưng bạn nên tham khảo nhiều cựu chiến binh như bác thaodien, sgnniceman, wantogo.
Con gái khi tỏ tình, đừng khi nào nói "mình thích bạn", mà hãy nói: "trông bạn giống ngừơi yêu cũ của mình". Đó là thông điệp nói rằng bạn thuộc loại type người mình thích, hơi kiêu một chút khi nhử mồi, chứ không nên nói toẹt ra mình yêu bạn hay em yêu anh.
Trước hết, trong quan hệ với đất nước, với người đang sống ở hải ngoại, quê hương chỉ còn là một nỗi nhớ mà nỗi nhớ nào thì cũng có khả năng biến mọi thứ thành quá khứ và mọi hình ảnh đều trở thành lấp lánh đẹp. Hơn nữa, nỗi nhớ nào, khi dẫn con người đi ngược chiều thời gian, cũng đều cắm neo vào một không gian nhất định: nhớ một thời, thực ra, bao giờ cũng là nhớ một nơi. Trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, chẳng hạn, không có nỗi nhớ nào lại không gắn liền với cảnh vật, với phong thổ, với các yếu tố địa lý. Trong tập Du côté de chez Swann của Marcel Proust, mặc dù nói là đi tìm thời gian đã mất (A la recherche du temps perdu), nhân vật chính chỉ loay hoay tìm kiếm mãi hình ảnh một cái làng, làng Combray. Bởi vậy, nghĩ cho cùng, văn học lưu vong nào cũng ít nhiều mang tính chất ‘miệt vườn’. Giũ bỏ tính chất ‘miệt vườn’ ấy bao giờ cũng là một thách đố lớn cần nhiều quyết tâm lớn và tài năng lớn.
Thoát ra khỏi ngục tù ở quê hương, tuyệt đại đa số người lưu vong, đặc biệt là giới cầm bút, thường rớt ngay vào nhà tù của trí nhớ. Nhà văn Mai Thảo, trong lá thư toà soạn nhân ngày kỷ niệm đệ nhị chu niên của tạp chí Văn tục bản tại Hoa Kỳ, năm 1984, đã viết, chân thành:
Là tù nhân của quá khứ, tâm lý lưu vong là một thứ tâm lý bảo thủ. Điều người lưu vong không thể cảm nhận nổi là ý niệm về sự vận động trên quê hương mình. Tôi hiểu lý do tại sao Từ Thức hay Lưu Thần, Nguyễn Triệu lại bàng hoàng khi từ thiên thai trở về quê cũ: chủ yếu là vì sự sai nhịp về thời gian. Sự sai nhịp ấy không xuất phát từ sự kiện ngày tháng ở cõi tiên dài hơn trong cõi tục mà xuất phát từ tâm lý khư khư ôm giữ những hình ảnh cũ của người xa xứ. Đối sánh với những hình ảnh hoá thạch ấy, thực tại nào cũng trở thành lạ lùng. Cũng gây kinh ngạc. Cũng khiến sững sờ.
Mất ý niệm về sự vận động, sự ra đi nào cũng có nghĩa là một sự dừng lại. Hồi ở Pháp, gặp một số đồng hương gốc Quảng Nam đã ở Pháp hàng ba, bốn chục năm, và suốt ba, bốn chục năm ấy chủ yếu sử dụng tiếng Pháp, tôi kinh ngạc nhận thấy giọng Quảng Nam của họ thuần chất đến độ rất khó tìm thấy trên đất Quảng Nam sau này: trong khi suốt mấy chục năm vừa qua, người dân ở Quảng Nam có vô số cơ hội để tiếp xúc với những giọng nói khác, ngoài xã hội cũng như qua hệ thống truyền hình và truyền thanh, để tính chất địa phương trong giọng nói của họ càng ngày càng nhạt đi, những người đã đi du học từ lúc 17, 18 tuổi, hoàn toàn không có những tiếp xúc như thế, không hề chịu bất cứ ảnh hưởng nào từ bên ngoài. Giọng nói của họ là một thứ giọng địa phương nguyên chất. Trong lãnh vực văn học cũng có hiện tượng tương tự. Nhiều người, sống lâu năm ở nước ngoài, về phương diện xã hội, rất hiện đại và rất Tây phương, nhưng khi cầm bút, từ cảm xúc lẫn ngôn ngữ của họ đều thấp thoáng rất nhiều hơi hướm của Thơ Mới và Tự Lực văn đoàn, những trào lưu thịnh hành hoặc còn nhiều vang bóng lúc họ chưa rời Việt Nam. Ngay cả ở những người tài hoa nhất trong họ, nếu may mắn thoát khỏi hiểm hoạ của cái sáo thì cũng có cái gì đó cổ kính, điều rất hiếm thấy ở những người cùng lứa tuổi và cùng tầm nhận thức đang sống trong nước. Từ kinh nghiệm này, chúng ta không nên khinh thường nhận xét đã được nhiều người phát biểu: văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước năm 1975. Nếu điều đó chưa phải là một hiện thực thì ít nhất nó vẫn là một nguy cơ.
Nguy cơ rõ nhất và cụ thể nhất là việc tiếp nhận cái mới trở thành vô cùng khó khăn dù về phương diện khách quan, chúng ta có đầy đủ tất cả những điều kiện cần thiết khiến những người trong nước phải thèm thuồng. Ngoái về quá khứ, các cây bút lưu vong ít khi đóng được vai trò tiên phong. Nếu ví nền văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung với một trận bóng đá, thì đó là một trận bóng thường chỉ có các hậu vệ và thật nhiều thủ môn, ở đó chiến thắng được tính bằng những lần bắt bóng chứ không phải bằng những lần làm bàn. Một trận đấu kì dị. Quái gở. Và tuyệt vọng.
Mối quan hệ với quê gốc như thế làm cho quan hệ giữa những người lưu vong với miền đất mới định cư trở thành vô cùng gian truân: chúng ta bị phân thân giữa quê cũ và vùng đất mới, giữa tình cảm và lý trí, giữa quá khứ và hiện tại, giữa hoài niệm và hoài bão. Chúng ta đầy mâu thuẫn: chúng ta vừa sùng bái Tây phương lại vừa sợ bị Âu hoá; chúng ta vừa hết lời ca ngợi truyền thống văn hoá dân tộc lại vừa không ngớt đay nghiến, bỉ thử nếp sống đậm màu sắc truyền thống của cộng đồng người Việt ở khu Bolsa bên Mỹ, khu Paris 13 bên Pháp hay khu Cabramatta và Footscray ở Úc; đối diện với người ngoại quốc, chúng ta khăng khăng muốn làm một người Việt Nam, nhưng khi đối diện với đồng bào của mình, chúng ta lại cứ muốn làm người... nước ngoài. Chúng ta thường nghi kỵ một cách quá đáng những nhà văn viết bằng tiếng Việt chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương dù đó là những tài năng lớn trong khi chúng ta lại vồ vập một cách quá đáng một số cây bút trẻ viết thẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, dù chưa có gì hứa hẹn đó sẽ là những tài năng thực sự.
Hậu quả của sự phân thân ấy là những người lưu vong bị biến thành những người đứng bên lề. Với sinh hoạt văn học trong nước, chúng ta là những người đứng bên lề. Dù tài hoa đến mấy, vẫn là những người bên lề. Với sinh hoạt văn học ở quốc gia chúng ta đang sống, chúng ta cũng lại là những người đứng bên lề, một thứ nhà văn sắc tộc khiêm tốn và buồn thảm, đứng bên lề những sinh hoạt chính mạch của thiên hạ. Do đó, có thể nói, không có ai cô đơn cho bằng nhà văn lưu vong. Cách đây mấy năm, một số người cầm bút ở hải ngoại hô hào phá bỏ những ghetto trong sinh hoạt văn học. Ừ, thì phá bỏ. Nhưng chưa ai đặt câu hỏi: phá bỏ những ghetto-việt-nam ở hải ngoại rồi thì giới cầm bút sẽ đi đâu, sẽ nhập vào đâu?
Nhập vào văn học thế giới ư? Ai mà chả muốn. Nhưng đó là một con đường hết sức cheo leo. Một là, để sử dụng một ngoại ngữ như một ngôn ngữ văn học (chứ không phải một ngôn ngữ giao tiếp) không phải là một điều dễ. Nhà thơ Joseph Brodsky, giải Nobel văn chương năm 1987, sau mấy chục năm ở Hoa Kỳ, khi viết tiểu luận thì viết bằng tiếng Anh nhưng khi làm thơ thì cũng vẫn tiếp tục làm bằng tiếng Nga rồi người khác dịch ra tiếng Anh. Hai là, sau hàng rào ngôn ngữ là hàng rào văn hoá. Bất cứ cộng đồng ngôn ngữ nào cũng hà tiện khả năng đồng cảm và bộ nhớ của nó đối với những người ngoại tộc, bởi vậy, ở đó, kiếm được độc giả đã khó, kiếm được những độc giả tri âm lại càng cực khó. Tôi có một số bạn bè người Úc đã đọc và rất thích Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài qua các bản dịch tiếng Anh, thế nhưng, có khi chỉ một vài tháng sau, trong những lúc tán gẫu, tình cờ tôi nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, họ có vẻ ngơ ngác, phải đợi giải thích thật chi tiết, họ mới nhớ ra đó là những tác giả họ từng ái mộ. Ngược lại, tôi cũng gặp không biết cơ man nào những người Việt Nam cứ hễ nhắc đến văn chương Việt Nam đương đại là nhắc đến Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, có khi để khen ngợi mà cũng có khi để đả kích, mặc dù, theo sự ước đoán của tôi, may lắm họ chỉ đọc loáng thoáng đâu đó một hai truyện ngắn của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp là cùng. Bởi vậy, tuy người Việt Nam nào cũng thèm thuồng khả năng viết tiếng Pháp của Nguyễn Tiến Lãng hay của Phạm Văn Ký nhưng thành thực mà nói, tôi tin là ngay cả một nhà văn Việt Nam trung bình cũng có nhiều tri âm hơn hai người ấy. Đi vào một sinh hoạt văn học không phải của dân tộc mình, người ta, nếu không phải là một đỉnh cao thì rất dễ có khả năng sẽ không là gì cả ngoài cái việc được đăng tải và được xuất bản.
Mà đỉnh cao bao giờ cũng là những ngoại lệ. Số lượng những nhà văn sử dụng song ngữ thành công trên thế giới chỉ là hoạ hoằn, dù con số thử nghiệm có thể lên đến hàng chục ngàn, thậm chí, hàng trăm ngàn. Còn lại, tuyệt đại đa số, dù muốn hay không, cũng làm tù nhân chung thân của tiếng mẹ đẻ của mình, cũng chỉ quanh quẩn trong sân chơi nho nhỏ của cộng đồng mình, và đứng bên lề những hội hè, đình đám văn nghệ quốc tế.
Dĩ nhiên, chẳng ai vui gì cái cảnh đứng bên lề. Bởi vậy, phần lớn những người cầm bút lưu vong hay bị day dứt cái mặc cảm tự ti, không những tự ti với dòng văn chương chính mạch ở quốc gia mình định cư mà còn tự ti với cả dòng văn học chính thống ở cố quốc. Chính từ những mặc cảm tự ti ấy, bao nhiêu thần tượng giả đã ra đời. Trong cách cảm thụ và cách đánh giá văn học của phần lớn người cầm bút hải ngoại, đặc biệt là đối với văn học nội địa, tôi thấy thấp thoáng cái mặc cảm của những chú lùn. Tội.
Sống và viết lách bên lề, những cây bút lưu vong tìm vui trong cái cộng đồng nhỏ bé, càng ngày càng nhỏ bé của mình. Đã nhỏ bé, lại còn lạnh lẽo nữa. Trong sinh hoạt văn học hải ngoại, có lẽ trừ các chủ bút, không có người cầm bút nào có được sự tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên và cụ thể với độc giả. Và cũng không ai cần độc giả: sách, báo thường bán không được bao nhiêu; mà cho dù bán được khá thì cũng không đủ nuôi người cầm bút. Đáng lẽ sự kiện này có thể giúp nhà văn trở thành độc lập và dễ trở thành độc đáo. Sự thực ngược lại: phần lớn cứ đứng nem nép vào nhau. Điều đó khiến nền văn học lưu vong có nét gì hao hao nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: cả hai đều có tính tập thể rất cao.
Sự kiện đứng bên lề và sự kiện xa cách tuyệt đối với độc giả khiến khái niệm ‘danh vọng’ trở thành hão huyền: ngay cả những người xuất sắc nhất trong chúng ta cũng chỉ ‘nổi tiếng’ trong một phạm vi thật nhỏ, chủ yếu với một nhúm bạn bè và những người quen biết. Theo tôi, đây là lý do chính giải thích hiện tượng tại sao có một số cây bút rõ ràng là có tài năng nhưng chỉ đến với văn chương một thời gian ngắn rồi chia tay không một chút luyến tiếc. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong bài "Triển vọng của văn học hải ngoại", đã từng ngạc nhiên trước hiện tượng này. Ông tự hỏi: "Vì sao thế?" Rồi ông nói thêm:
Trong câu hỏi của Nguyễn Mộng Giác đã có sẵn câu trả lời. Thời ông cầm bút ở Việt Nam, những tiếng vọng liên tục từ phía độc giả có khả năng tạo nên những "dư âm kỳ thú (hay kỳ dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới." Còn ở hải ngoại thì làm gì có những tiếng vọng như thế? Ở hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt.
Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực.
http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=205
_________________________
Tháp ngà ĐH Georgetown ở DC. Ảnh: HM
Tháp ngà ĐH Georgetown ở DC. Ảnh: HM
Mấy tuần rồi, có cô bạn tự nhiên thăm hỏi rối rít, dù mấy chục năm trước chẳng biết mình đi đâu.
Anh dạo này thế nào, có khỏe không, vợ đã bỏ chưa, con cái học hành ra sao. Tóc bạc nhiều không, hàm răng giả ngày xưa em tặng nay còn dùng.
Kinh nghiệm cho biết, nàng sẽ nhờ cái gì đó. Nhân bảo như thần bảo, sau khi vòng vo Tam quốc, cô hỏi, anh ơi, em cho con gái sang Mỹ học đại học, nên chuẩn bị gì. Em muốn đi theo để nấu cơm, giặt rũ cho cháu. Nhà em có 30.000 đô la đủ cho cháu học không?
Câu này nghe hàng trăm lần rồi, nhưng không có câu trả lời cụ thể. Mình nghĩ đây cũng là đề tài hay nên viết vài entry tặng bà con hang Cua, biết đâu có ngày cần cho con cháu thành công dân toàn cầu thì sao.
Cũng không phải chỉ đi Mỹ thôi đâu, đi nước khác cũng vậy, kể cả du học ở cố đô Hoa Lư cũng đúng luôn.
Nghĩ được gì viết nấy, chẳng có lớp lang, ý tứ gì, bà con thông cảm. Ai có kinh nghiệm đóng góp, cùng chia sẻ.
Kỹ năng sống độc lập – Bắt đầu là rửa bát, quét nhà
Nghe cô bạn hỏi dồn dập, mình trả lời đại, cứ cho cháu sang, thế nào cháu cũng lớn mỗi năm một tuổi và quay về thăm bố mẹ vài lần trước khi định cư tại Mỹ.
Chỉ nhớ một điều, nước Mỹ là nước Mỹ, nước mình là CHXHCN VN, hai quốc gia, hai dân tộc khác nhau hoàn toàn.
Trong khi chờ đợi cuộc cách mạng vô sản thành công tại Hoa Kỳ thì ta cứ phải theo pháp luật của tư bản. Những thói ở thiên đường bên nhà mang theo sang Mỹ đôi khi không hợp, thành xung đột văn hóa và có thể phạm luật.
Mấy năm trước, có thằng cu sinh viên Việt ở California, lấy dao dọa bạn, bị cảnh sát đến còng tay và đánh một trận nhớ đời. Dù có thắng kiện nhưng cu cậu hiểu ra một điều, Mỹ khác Việt Nam.
Nền giáo dục và gia đình Việt nuôi con theo kiểu gà chọi, phần đông cha mẹ cơm bưng nước rót, con chẳng phải làm gì, chỉ ăn, học và ngủ, suốt 12 năm liền.
Nếu thi vào đại học thành công coi như công ơn được đền đáp. Ra trường có công ăn việc làm, tiền của nhiều, nó sẽ phụng dưỡng mình khi về già. Nếu thất bại, bố mẹ nuôi báo cô.
Vì thế, khi con rời tổ ấm, ra đi một mình, ai mà chẳng lo.
Cô bạn than, con em chẳng biết luộc trứng, không biết nấu cơm, nhìn miếng thịt đông lạnh chẳng biết đập thế nào cho tan đá. Bây giờ mà sang Mỹ ăn uống thế nào. Nói rồi nàng khóc tu tu, dù con đã có trường nào nhận đâu.
Du học phải biết rửa bát. Ảnh: HM
Du học như anh Osin cũng phải biết rửa bát. Ảnh: HM
Lỗi tại bọn trẻ ư. Các cụ đẻ chúng ra mà không dạy nên người là do lỗi của…”nơi sinh”. Sorry. Dân trí kém, quan trí thấp là do dân, vì dân và từ dân mà ra cả.
Giáo dục Mỹ dạy trẻ học để ra đời học tiếp phần đời còn lại. Làm công nhân cũng ok, làm kỹ sư cũng được, nếu tiện, làm tổng thống cũng chẳng sao.
Vì thế, dù bọn trẻ Mỹ cũng gà mờ khi ra trường, nhưng khi cần, chúng tiếp cận cuộc sống mới nhanh hơn, bởi tất cả những kỹ năng đã được học và thực tập từ lúc còn bé do cha mẹ, nhà trường và xã hội hướng dẫn.
Tổng Cua chỉ khuyên đơn giản thế này. Trong lúc chờ đợi xin các trường thông báo nhận học, các bậc cha mẹ nên dạy các cháu biết rửa bát, quét nhà, biết tự giặt quần áo, biết nấu cơm, biết ăn bánh mỳ với bơ, học nấu súp, biết cách luộc trứng 3 phút, biết làm tan đá cho miếng thịt.
Nếu cần, để cháu nấu vài bữa cho cả nhà, chịu khó ăn mặn, nuốt nhạt chút. Học nấu ăn sẽ biết cách sống tự lập khi không còn cha mẹ bên cạnh. Quan trọng nhất là không chết đói. Người sống đống của, các cụ nói cấm sai.
Nhắc các cháu ăn uống không nhai tóp tép, không lấy tay ngoáy mũi như bác Hiệu Minh, không khạc nhổ như bác Hồ Thơm, không văng bậy chửi thề như bác Xang Hứng, không đá đểu như lão Cu Sờ (QX), làm thơ thì phải biết song ngữ như anh Tịt, không hiểu tiếng Anh phải hỏi lại, đừng nhe răng cười như người đẹp Kim Dung :lol:
Nói chuyện răng miệng cũng phải cẩn thận. Răng thì phải đến nha sỹ cạo cho sạch cao. Bên Mỹ đi thi vấn đáp hay tuyển việc với hàm răng nham nhở, thò ra thụt vào, dính cả phở lẫn hành thì…chắc trượt.
Từ chuyện nhỏ sẽ học được chuyện lớn. Các cô các cậu 17-18 tuổi không phải là đứa trẻ nữa, phải biết độc lập và tự mình bắt đầu kiếm sống, tự biết làm gì để không đói khát, không ốm đau, không bị lừa đảo khi cưỡi ngựa chung với cánh cao bồi.
Cái đó các cụ đi hoạt động cách mạng gọi là “bài học từ thực tiễn của cuộc sống”. Sách vở thế là đủ rồi, các cháu VN sang hầu hết là học giỏi, có kiến thức cơ bản vững. Nhưng học sống để tồn tại thì nhiều điều phải bàn.
Ngoại ngữ, IT và công dân toàn cầu
Tổng dân số thế giới vào tháng 6-2012 khoảng hơn 7 tỷ người. Năm 2000 có 360 triệu người dùng internet, vào cuối năm 2012 con số này lên tới 2,4 tỷ, tăng tới 566% so với năm 2000.
Trong hơn một thập kỷ qua, Internet phát triển mạnh nhất tại Trung Quốc với 538 triệu người, tăng 1400.
Việt Nam với dân số 91 triệu, năm 2000 có vẻn vẹn 200.000 biết mùi vị net, ba năm sau khi chính phủ cho phép mở internet từ năm 1997.
Tháng 6-2012, con số này đã là 31 triệu, chiếm 1/3 dân số, hầu hết là giới trẻ. Riêng facebook đã có hơn 10 triệu tài khoản đang hoạt động. Mức tăng của Việt Nam cũng chóng mặt, lên tới 1500%, vượt cả người hàng xóm khổng lồ.
Nói thế để biết, PC, iPhone, iPad, IT, internet, facebook, blog, twitter… là hành trang của tuổi trẻ bước vào đời.
Gõ máy tính bằng mười đầu ngón tay, tốc độ 60 từ 1 phút, đừng bắt chước cụ Hồ mổ cò trên máy chữ thời ở Pắc Bó.
Gà mờ mấy thứ đó là coi như trượt từ vòng gửi xe.
Sân thể thao của trường ĐH Georgetown. Ảnh: HM
Sân thể thao của trường ĐH Georgetown. Ảnh: HM
Trên thế giới ảo, tiếng Anh là thông dụng nhất, tiếp theo là tiếng Trung, Tây Ban Nha, Nhật, và Bồ Đào Nha.
Số người dùng tiếng Anh trên internet khoảng 536 triệu, vị trí tiếp sau là tiếng Trung chiếm tới 444 triệu. Cánh trẻ giao tiếp bằng internet là chính.
Dù tiếng Trung có đứng thứ 2, tiếng Nga thân thương của Lê Nin có thứ hạng, dù tiếng Việt mang đậm đà bản sắc dân tộc, nhưng không phải là thứ tiếng mà thế giới đang dùng nhiều.
Đối với người Việt, muốn hội nhập, ngoài chuyện trình độ phải có, chấp nhận văn hóa khác biệt, hiểu quan niệm đa chiều, phải thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, không còn cách nào khác.
Bao giờ nước mình mạnh như Hoa Kỳ, giỏi như Do Thái hay Nhật, mafia như Nga, thâm như Tầu, thế nào thế giới cũng học tiếng Việt như một ngoại ngữ.
Ngoại ngữ không biết và muốn kiên định chủ nghĩa Mác Lê, thì ở nhà làm lãnh đạo chủ chốt hay cán bộ nguồn, đừng du học cho mệt đầu.
Đi phỏng vấn phải cho đàng hoàng
Nếu được trường nào hứa xem xét, phải nghiên cứu kỹ về trường đó. Khi phỏng vấn visa hoặc nhà trường hỏi thêm thì cũng phải biết khuôn viên của trường to bé ra sao, thành lập từ năm nào, ở bang nào, đứng thứ mấy ở Mỹ.
Vào trang web của trường là ra tất, hoặc google cũng đủ thông tin. Trường nào không có trang web thì đừng xin cho con học. Đơn giản, loại nghèo và dốt đến nỗi không có nổi trang web thì ngang bằng gửi trứng cho ác, dù đó là nước Mỹ.
Người đẹp yêu ai là vì chàng đó hiểu nàng từ chân tơ kẽ tóc. Trường học cũng vậy thôi, có quan tâm thì mới đọc, không biết gì về trường đó xin vào học làm gì.
Không thể có chuyện nghe bạn bảo thế này, chị họ nói thế kia, mà phải có thông tin cụ thể, tự mình đọc, tự mình nhớ.
Kiểu nhờ chung chung, anh ơi xem bên Mỹ có trường nào học tốt, giới thiệu cho con em với, khó mà nên cơm cháo.
Cô bạn hỏi kỹ về việc xin visa có màn phỏng vấn. Mình hỏi, con gái em có xinh không. Ôi, cháu xinh lắm, chân dài, cổ cao, trông như người mẫu, từng dự thi hoa hậu phường. Mình bảo, dễ được lắm.
Ngày xưa (năm 2000), anh Triệu bên Cục Tần số (VNPT) nhờ mình giới thiệu cho con gái sang Mỹ học.
Hôm đến sứ quán, anh lo lắm, dẫn cả cháu đến 53 Trần Phú (VP cũ của WB) cho mình xem mặt và phỏng vấn thử trước.
Vừa nhìn đã choáng, cháu xinh và nhanh nhẹn, tiếng Anh như gió. Mình phán kiểu Cua, chắc chắn được.
Khuôn viên ĐH Georgetown. Ảnh: HM
Khuôn viên ĐH Georgetown. Ảnh: HM
Y như rằng, cô nhân viên sứ quán hỏi vài câu và cộp cái roẹt, mai ra lấy hộ chiếu. Bây giờ chẳng hiểu cháu ở phương trời nào.
Dân phỏng vấn khôn lắm, trông ai trẻ, xinh đẹp, thông minh, là xét nhanh, vì nếu trốn lại thì nước nhận cũng được một công dân…đẹp. Mặt mũi sáng sủa chẳng ai chịu nghèo cả. Cao bồi gọi là immigration (di dân) có chọn lọc :)
Nói vui thế thôi, đi phỏng vấn xin visa, hay qua video, dù chẳng yêu cầu ăn mặc comple cavat, diêm dúa như đi dạ hội, cũng phải sạch sẽ, gọn gàng, bắt mắt chút. Lôi thôi lếch thếch dễ bị trừ điểm.
Bên Mỹ ăn mặc đa dạng, từ cao cấp đến bụi đời, đang comple nhưng lại đi giầy thể thao, váy mốt đi với giày bệt vì đi bộ cho dễ, nhưng tới nơi làm việc lại nghiêm túc.
Nhưng mình chưa sang đó, cứ phải lịch sự chút đã. Khi nào thành công dân, có thẻ xanh, vào rừng cởi truồng cũng chẳng ai nói gì.
Tưởng tượng, một ngày, chị phỏng vấn quay mấy chục người, vài câu, nhắc đi nhắc lại. Cấp visa nhiều khi do cảm tính, mà cảm tính hay hướng tới cái đẹp, khổ thế.
Hàng ngày có hàng triệu người muốn xin vào nước Mỹ, họ rất sợ dân đến rồi ở lỳ, dù đất trống vẫn đủ cho cả 3 tỷ dân Ấn Độ và Trung Quốc vào ở thoải mái.
Ở lại không có công ăn việc làm, hay là tội phạm trốn, rửa tiền, tham nhũng trộm cắp ở nước nhà rồi trốn sang thì sao.
Nếu hỏi, học xong có về không. Nhất định em về, em còn bố mẹ, còn ông bà, anh em, ba bốn người yêu thương, làm sao ở lại xứ lạ được.
Mắt nhìn thẳng vào mắt người đối thoại và phải thật lòng. Kiểu vừa nói vừa cúi mặt xuống, tránh ánh mắt như dân Việt ta hay làm, dân Mỹ tưởng mình che giấu gì đó, mà họ thì chúa ghét nói dối. Cheating is not going to work.
Còn sau này em không về là do em tài hơn Ngô Bảo Châu, giỏi hơn Đàm Thanh Sơn, trường giữ lại làm giáo sư suốt đời. Chuyện này nằm ngoài kế hoạch và do phía Mỹ hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Rất có thể do thằng tây mũi lõ mắt xanh, nó quấn lấy em, nó đòi cưới, nó cho cả green card, rồi xin hộ chiếu, nó cho bừa vào, bây giờ em có con nửa Mỹ nửa Việt, đó không phải là lỗi của em.
Nói tóm lại, gửi con đi học thì đừng lo tiền nhiều hay ít mà nên giúp con có kiến thức cuộc sống và tự bươn chải.
Vĩ thanh 1
Nhớ hồi tháng 8-1970, cả nhà tiễn anh Cua 17 tuổi du học Ba Lan. Bà con trong xã, người cho 1 đồng, người năm hào, cũng được mấy chục, một gia tài lớn lúc đó của cậu học trò bước vào đời.
Riêng ông già chìa bàn tay cho Cua con và nói như có nước mắt “Chẳng có gì cho con, bố chỉ có bàn tay đầy chai sạn này. Con nhớ về thăm nhà là được rồi. Mà con không về nhưng nên người ở đâu đó bố cũng…mừng”.
Làng quê Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: HM
Làng quê Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: HM
Thằng cu Cua ấy ra đi biệt tích đã gần nửa thế kỷ. Thỉnh thoảng về nhà, nhưng y như khách qua đường.
Nếu gửi con đi học xa, hy vọng chúng thành đạt, bạn hãy như ông già nhà này. Thấy con không quay về là rất…may. Thế mới xứng là bậc sinh thành của công dân toàn cầu. Giang hồ nửa vời, nghe tiếng gà gáy đã nhớ quê, khó mà hội nhập.
Chuyện hôm nay đã dài, xin hẹn lần sau tiếp tục làm thế nào xuống sân bay, khai hải quan, thuê taxi, thuê nhà…cho tới khi nó bế đứa con mắt xanh mũi lõ, da đen hoặc người yêu cùng giới, mang về chào ông bà ngoại mới hết series này :) :roll:
HM. 11-7-2013
Bạn vui lònhg cho biết tổng chi phí hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu cho đến khi lấy đc PR, sau khi có Visa.
Có phải kinh doanh, PR có điều kiện gì không?
Yêu cầu ngôn ngữ gì, bằng cấp gì để thi Quốc tịch?
Cám ơn
Sau vụ nghi án Sestak, tình hình EB5, EB6 từ Vn đi có gì trở ngại không bạn?
Bạn rất thông minh, phải xây dựng network trước khi sang đó bạn ạ, nên làm quen với các nhóm offline ở các tp lớn, càng quen biết nhiều, càng tránh bị sốc khi landing bạn nhé.
Chúc bạn thành công.
Đúng vậy!
Chúc bạn thành công.
50$ for a CD :)
Chắc chị Country xin được GP vì chị ấy cho biết chuyên tư vấn về P/L.
Hổng biết cái khách sạn này có phải của chị Country không nhỉ, nhặt được trên mạng cho bạn SGniceman về VN chơi cho đỡ nhớ cái tên Canada: http://available.com.vn/home-Canadian-Vietnam-Pham-Ngu-Lao-HCM