Chừng năm, sáu tuổi tôi không còn thấy Rạp hát Ái Liên hay Hãng Việtfilm nữa, cả Đoàn văn công Liên khu 4 cũng đi đâu mất. Lúc này nhà 38 được sử dụng làm sân khấu múa rối. Người ta đã nâng lớp sàn gỗ lên để phù hợp cho phần biểu diễn của bộ môn nghệ thuật này. Tôi vẫn được xem múa rối hằng đêm. Thế giới những con rối là thế giới kỳ lạ đầu tiên tôi được biết. Gầm sân khấu múa rối cũng là nơi chúng tôi chơi trốn tìm. Những đêm đoàn múa rối nghỉ diễn, anh em chúng tôi cùng đám bạn ngoài phố về đây chơi trốn tìm, cãi nhau chí chóe, rất vui. Khu nhà 38 rộng, có đến 600 mét vuông, xung quanh sân khấu múa rối vẫn thừa nhiều đất. Để cải thiện bữa ăn, ba má tôi nuôi lợn, nuôi ngỗng, thỏ, gà và trồng một giàn nho xanh mướt, cây lá che kín khắp cả miếng sân trước nhà. Chiều chiều, mấy anh em tôi mang thùng sang Đoàn Cải lương Nam bộ số 23 Ngô Thì Nhiệm xin nước gạo về để nấu cám cho lợn ăn. Nhớ mãi khi còi Nhà hát lớn rúc lên cũng là lúc đàn gia súc nhà tôi lên tiếng. Lợn kêu đòi bữa. Ngỗng nghe lợn kêu cũng quang quác kêu theo. Và con gà mái nhảy ổ cục tác váng nhà. Vui quá là vui! Bỗng đâu nhà 38 bị biến thành bếp ăn tập thể của Bộ Văn hóa. Mảnh sân nhà, nơi chất đầy kỷ niệm êm đềm thuở ấu thơ của chúng tôi, giờ chật ních mấy chục chiếc xe đạp của nhân viên Bộ Văn hóa tới ăn bếp ăn tập thể. Vậy là bao nhiêu lợn, gà, ngỗng, thỏ và cả giàn nho xanh um mướt mát đều bị phá bỏ và lên mâm.
Hai chị em Ái Vân (trái) và Ái Xuân thời nhỏ.
Tôi yêu quý những chú thỏ vô cùng, con vật xinh đẹp đáng yêu là thế cũng bị cho vào nồi, nên tôi nhất quyết không ăn. Anh Thành cũng vậy. Khi con lợn mà anh Thành hàng ngày chăm sóc bị giết mổ, anh đã khóc hu hu, rồi trốn khỏi nhà một mạch từ sáng tới đêm mới quay trở về. Ngày ngôi nhà 38 bị trưng dụng thành nhà ăn tập thể là ngày tang tóc của bọn trẻ chúng tôi. Chị Mai, anh Thành khóc thương con lợn bị giết. Tôi khóc thương đàn thỏ bị làm thịt. Ái Xuân khóc thương đàn ngỗng “xinh ơi là xinh” của nó. Anh em chúng tôi khóc lóc kiên quyết không ăn thịt các con vật mà chúng tôi đã nuôi và chăm sóc, nhưng rồi cuối cùng đói quá cũng phải ăn. Cái thời đến mỡ cũng không có mà ăn nói gì đến thịt. Khi anh Thành chị Mai đành phải quyết định ăn thịt lợn thì vừa thút thít khóc vừa ăn. Tôi vẫn kiên quyết không ăn thịt thỏ dù bà ngoại dỗ dành thế nào. Nhưng khi cả nhà ngủ hết, đói quá, tôi đành lò dò xuống bếp mò ăn thịt thỏ quay, ăn xong lại ngồi khóc tu tu. Riêng hai chú ngỗng sau khi “bị” hóa kiếp thì được bà ngoại tôi lấy mỡ ngỗng rán lên, bỏ vào cặp lồng. Bếp ăn tập thể bữa nào nấu cơm có cháy, bà xin về, lấy mỡ ngỗng rưới lên trên cơm cháy rồi cho lũ cháu chúng tôi ăn. Trong ký ức của mấy anh em tôi, mỡ ngỗng ăn với cơm cháy đã trở thành món ăn kỷ niệm ngon nhất trong những ngày mùa đông giá rét ở Hà Nội. Lúc này chẳng những nhà 38 bị chiếm dụng mà một phần gác trên của nhà 36 cũng bị Bộ văn hóa “bố trí” cho ba gia đình của Bộ tới ở. Cuối năm 1967 Bộ Văn hóa rút luôn nhà ăn tập thể, dần dà cấp đất cấp nhà cho các gia đình của Bộ về đây ở mà không thèm hỏi ba má tôi một câu nào. Lúc này chẳng những nhà 38 bị chiếm dụng mà phần lớn gác trên của nhà 36-38 cũng bị “bố trí” cho các gia đình của Bộ. Ba má tôi phản đối, đơn từ khiếu kiện rất nhiều nhưng chẳng ăn thua, đành thủ phận sống chung với lũ. Gia đình chung sống rất hòa thuận với khu tập thể của Bộ Văn hóa, bản thân các gia đình này không có lỗi, họ cũng làm theo sự cấp phát nhà đất của Bộ Văn hóa mà thôi. Kể từ khi biến thành khu tập thể, nhà 36-38 phát sinh nhiều khó khăn mới trước đây chưa từng có, đặc biệt là nước và vệ sinh. Cái vòi nước ngày xưa chỉ là chỗ rửa chân cho chúng tôi mỗi khi đi chơi về, nay là vòi nước chung của cả xóm. Suốt ngày đêm luôn luôn có một dãy xô chậu xếp hàng lấy nước. Rồi nước thành phố cấp cũng yếu dần, lắm lúc chỉ nhỏ giọt hứng cả giờ không đầy xô. Bí thế phải đào giếng. Thế rồi cái giếng nước trở thành nơi sinh hoạt của xóm. Lâu ngày nó giống như một hãng thông tấn. Ai muốn biết thông tin thời sự cứ ra đấy ngồi hóng chuyện, biết hết. Cái nhà vệ sinh cũng trở thành hãng thông tấn. Sáng nào cũng vậy, cả mấy chục người sắp hàng dài trước nhà vệ sinh, mỗi người một tờ báo đọc và chuyện trò đợi đến lượt mình. Đàn bà con gái ớn nhất mấy vụ này nhưng chẳng biết sao, đành “ngồi trên hố xí đợi ngày mai”. Lâu ngày cũng chai mặt, cũng sắp hàng chuyện trò ỏm tỏi, hứng lên còn hát nữa. Rồi chiến tranh, hết sơ tán tới đào hầm. Xóm nhà 36-38 chúng tôi đào hầm ngay nền nhà ăn tập thể, tức là sân khấu rạp hát xưa kia. Chiếc hầm chiếm trọn chiều ngang gian nhà, được trát xi măng rất kiên cố. Hầm rộng, có thể chứa được khoảng 20 người. Những lần có báo động, người lớn trẻ con hốt hoảng xuống hầm. Về sau, khi đã quen, việc chạy xuống hầm đã thành bình thường, thậm chí nhiều người còn mang cơm xuống ăn uống và chuyện trò rôm rả. Cái hầm lại trở thành một hãng thông tấn. Muốn biết thông tin từ thượng vàng đến hạ cám cứ chui xuống hầm. Người lớn đàn ông cũng già chuyện như ai. Lúc đầu thấy kỳ kỳ, dần dần cũng thấy chuyện đó là bình thường. Buồn cười nhất là thằng Quân con anh Hồng điếc và chị Sơn, mỗi lần báo động chạy xuống hầm đều cầm theo lọ đường, hỏi tại sao thì nó bảo: mẹ cháu bảo ngộ nhỡ bị bom vùi thì có đường ăn là không lo chết đói. Có những thứ cực khổ vô cùng khi qua rồi lại nhớ, đôi khi ước được sống lại với kỷ niệm ngày ấy dù chỉ một lần...
Ông Hà Quang Định (phải, cha của danh ca Ái Vân) đến thăm nghệ sĩ Phùng Há.
Ở nhà 36 ba tôi cũng đào một chiếc hầm ngay dưới gầm giường để phòng khi báo động vào ban đêm. Hầm đào trúng phải mạch nước ngầm nhỏ, lúc nào nước cũng lấp xấp nền hầm. Lũ nhỏ chúng tôi phải thay nhau múc nước đổ đi. Bà ngoại đã để sẵn vài chiếc ghế đẩu nhỏ cho các cháu khỏi ướt chân. Khi có báo động, trẻ con được xuống hầm, người lớn thì chui xuống nằm dưới gầm giường, còn ba tôi ở bên trên phủ vội chiếc chăn bông và những chiếc gối, đề phòng có bom bi. Ngồi ở dưới hầm là cả một cực hình. Căn hầm ẩm ướt, muỗi bay vù vù cắn sưng người. Chúng tôi phải ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu, chân mỏi nhừ. Một lần đang ngủ trưa trên võng, chợt loa truyền thanh vang vang: “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội 50 km! Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu! Mọi người cần nhanh chóng vào hầm trú ẩn và nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của Ủy ban Phòng không nhân dân Thành phố…”. Bình thường khi nào máy bay cách Hà Nội 30 km thì mới phải xuống hầm, nhưng chắc hôm ấy máy bay bay… quá nhanh hay sao đó mà mới cách 50 km thì còi báo động của Nhà hát Lớn đã vang lên. Cả nhà thi nhau nhảy đại xuống hầm. Tôi đang nằm ngủ trên võng, nhào vội xuống. Vừa cuống vừa ngái ngủ tôi ríu hết cả chân không chạy được, khóc toáng lên: “Má ơi cứu con!” Má tôi vội chạy tới, nửa cõng, nửa kéo lê tôi cố chạy về phía căn hầm tập thể. Má cũng cuống lên chẳng nhích được là bao. Từ trong nhà ba thấy cảnh dở khóc dở cười bèn la lên: “Má con làm gì thế? Buông nhau ra chạy đi!” Má nhìn con, con nhìn má, tự nhiên hai má con bỗng bật cười rũ rượi. Vậy là hết quýnh quáng. Lại chạy được thoăn thoắt xuống hầm. Ba chạy xuống theo. Ông cười nói: “Bây giờ mới hiểu thần hồn nát thần tính là thế nào”. Tìm được người đàn ông yêu và say vợ như ba yêu má thật hiếm. Chuyện gì ba cũng bắt đầu từ hai tiếng Ái Liên. Ái Liên nói thế này, Ái Liên nói thế kia, hôm qua Ái Liên thế này, bữa trước Ái Liên thế kia. Thời chiến di tản liên tục, để tránh đồ đạc thất lạc, mất mát thứ gì ba đánh dấu tên má bằng hai chữ viết tắt: A.L. Xoong nồi A.L, công tắc điện A.L, xô chậu A.L, thìa muỗng A.L, chén bát A.L… Thậm chí đến cả bức tường của nhà vệ sinh công cộng, ông cũng khắc lên đó hai chữ A.L. Tháng 8/2011, khi quay trở về Việt Nam, tôi có tới thăm căn nhà phố Huế của mình, vẫn nhìn thấy cái công tắc có chữ A.L được khắc trên đó mà không khỏi phì cười. Cười xong rồi lại nhớ ra khu nhà này không còn nữa, nó đã mất từ lâu rồi. Lại khóc.
Nói hay không nói nỗi đau mất mát này trong cuốn sách nhỏ của tôi? Tôi đã trăn trở rất nhiều điều này. Dù sao đây cũng là cuốn tự truyện ghi dấu những kỷ niệm của tôi, của gia đình và bạn bè. Chuyện mất nhà của gia đình có vẻ không thích hợp cho cuốn sách thuần túy văn chương này. Nghĩ đi là vậy, nghĩ lại thì thấy nếu bỏ qua việc mất nhà, chính xác là bị cướp mất nhà, chính là bỏ qua một mất mát to lớn, một nỗi đau dai dẳng của gia đình tôi. Khu nhà 36-38 Phố Huế rất rộng, thực tế gia đình tôi chỉ sống ở nhà số 36 với diện tích 136 mét vuông, còn nhà số 38 với diện tích 600 mét vuông chỉ dùng làm sân chơi. Sau năm 1945 ba tôi cho làm sàn nhảy Paramount rất nổi tiếng, hằng đêm thanh niên Hà Nội tụ tập về đây rất đông. Mãi đến năm 1952, Gánh hát Ái Liên sau nhiều năm lưu diễn khắp Đông Dương về “định cư” ở Hà Nội, ba dùng mảnh đất 600 mét vuông của nhà 38 xây Rạp Ái Liên. Giấy phép và họa đồ số 580 cho xây rạp Ái Liên được Sở Công chính Hà Nội cấp ngày 26/5/1952 vẫn còn đấy.
Cha mẹ của Ái Vân - Nghệ sĩ Nhân dân Ái Liên và ông Hà Quang Định - bên chiếc xe hơi riêng thời gia đình vẫn còn sung túc năm 1949, ở Hà Nội.
Gánh hát Ái Liên tan rã vào cuối năm 1953. Ba tôi chuyển sang làm phim, ông sử dụng Rạp Ái Liên làm trụ sở Hãng Vietfilm. Sau Giải phóng Thủ đô năm 1954 Hãng Vietfilm cũng tan rã nốt. Ngay sau đó Đoàn Ca kịch liên khu 4 từ Thanh Hóa trở về Thủ đô, mượn ngôi nhà này làm nơi tập luyện và biểu diễn. Cái tên Đoàn ca kịch liên khu 4 thoạt nghe dễ nhầm đó là đoàn văn công địa phương, thực chất nó là đoàn văn công chủ chốt của cách mạng, giống như Đoàn văn công Giải phóng vậy. Đó là đoàn ca kịch Trung Ương, cốt lõi của cách mạng, “dùng nghệ thuật để làm công tác tuyên truyền cách mạng”. Khi Đoàn Ca kịch liên khu 4 hỏi mượn ngôi nhà 38 làm trụ sở và rạp hát, ba má tôi rất phấn khởi. Còn bao nhiêu vốn liếng ba tôi bỏ ra tu sửa rạp, mua thêm ghế ngồi, lắp quạt trần, trang bị âm thanh cho rạp hát. Má tôi và chị Ái Loan cũng đầu quân vào Đoàn Ca kịch liên khu 4, coi đây như gánh hát của gia đình rất gần gũi thân thiết. Một thời gian sau Vụ Nghệ thuật - Bộ Văn hóa đề nghị cho Vụ thuê, tiền thuê nhà mỗi tháng là 24 đồng. Số tiền chẳng đáng là bao nhưng ba má chấp thuận vì đây là nơi diễn của hai má con Ái Liên, Ái Loan. Nhờ có rạp hát bà ngoại cũng có việc làm. Bà ngoại bán các thứ lặt vặt trong rạp: kẹo, bánh, ô mai, mía, trái cây… cho khách đến xem cũng có đồng vào đồng ra. Ngày 3 tháng 5 năm 1959, ông Mai Vy vụ phó Vụ Nghệ thuật viết cho ba má một tờ giấy là văn phòng Bộ định sửa chữa nhà 38 phố Huế, muốn “mượn” giấy tờ ngôi nhà. Ba má tôi vui vẻ đưa liền không nghĩ ngợi gì. Từ đó giấy tờ nhà không trả lại, đòi thế nào cũng không trả lại. Rồi Vụ Nghệ thuật ra thông báo không thuê nhà 38 nữa mà “chuyển lên Bộ quản lý”. Tưởng “Chuyển lên Bộ quản lý” thế nào, té ra Bộ tiếp tục đưa Đoàn múa rối đến diễn ở đây. Đoàn múa rối bỏ đi thì Bộ nhanh chóng biến nơi đây thành nhà ăn tập thể, rồi dần dà cho các gia đình cán bộ, công nhân viên của Bộ Văn hóa tới ở. Biến nơi đây thành một khu tập thể nho nhỏ của Bộ Văn hóa. Nhà 38 phố Huế của tôi mất trắng từ đó. Liên tục trong những năm 1970-1980-1990, ba tôi đã có nhiều đơn khiếu nại gửi Bộ Văn hóa để đòi lại toàn bộ diện tích 600 mét vuông mà Bộ Văn hóa chiếm giữ và sử dụng trái phép, nhưng không ai giải quyết. Buồn cười nhất là ngày 24-1-1989 gia đình nhận được “Giấy chứng nhận diện tích nhà được để lại sau cải tạo nhà cửa” số 55/ QLCS của UBND TP Hà Nội với nội dung gia đình tôi chỉ được sử dụng 130 mét vuông trong tổng diện tích 756 mét vuông vốn thuộc quyền thừa kế hợp pháp của ông Hà Quang Định. Tại sao chúng tôi chỉ được sử dụng 130 mét vuông? Còn diện tích 626 mét vuông cũng là đất thừa kế của ba tôi lại không được sử dụng?...
Ái Vân và cha - ông Hà Quang Định - trong một lần đi biểu diễn ở Pleiku.
Năm 2000 anh Hà Quang Văn, anh trai thứ tư của tôi, được thông báo cho mua ngôi nhà số 68 Trúc Đường, khu phố 3, phường Thảo Điền, quận 2, TP Hồ Chí Minh với giá một tỷ đồng (Nhà của Bộ Văn hóa bán phân phối cho cán bộ trong ngành. Anh Văn là hiệu trưởng Trường sân khấu điện ảnh Thành phố HCM nên có tiêu chuẩn được Bộ phân phối cho mua nhà này). Nhưng khi nhận được đơn khiếu nại của ba tôi (ông Hà Quang Định) về căn nhà 36-38 phố Huế, Bộ Văn hóa thông tin đã có văn bản trả lời rằng căn nhà 68 Trúc Đường cấp cho ông Hà Quang Văn là “để bù vào một phần diện tích tại 36-38 phố Huế mà gia đình ông đã hiến cho Nhà nước”... Năm 1998-1999 ba tôi đã có đơn khiếu nại trực tiếp gửi ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Văn Kiệt. Ông Phạm Văn Đồng đã có trao đổi với Bộ Văn hóa trên tinh thần ủng hộ “về phương diện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng trên mặt trận văn hóa nói chung và tình cảm nói riêng". Bộ Văn hóa có cho gia đình biết rằng Bộ đang có khó khăn về nhà đất nên Bộ chưa giải quyết được. Sau đó Bộ lại thông báo có thể giải quyết đền bù bằng tiền mặt. Từ đó đến nay là năm 2015 vẫn hoàn toàn không có một động thái nào từ phía Bộ Văn hóa. Lời hứa vẫn chỉ là hứa suông. Ngôi nhà của chúng tôi đã mất, vì sự nhẹ dạ cả tin của ba má tôi mà nó đã biến mất trước sự ngơ ngác đắng cay của các thành viên trong gia đình tôi. Ba tôi không là kẻ khờ khạo, trái lại ông rất thông minh, láu lỉnh. Ba bán ô tô cho Hãng Renault, bán xe đạp cho Hãng Dura Mercier, làm ông bầu cho Gánh hát Ái Liên, làm ông chủ Hãng Vietfilms, nhờ lắm “mẹo vặt” mà ba thoát được nhiều khó khăn bất thường. Nhưng với ngôi nhà này... ba tôi trở thành người khờ dại và ngây thơ. Bao nhiêu “mẹo vặt” của ba cũng không thể giữ được ngôi nhà. Năm 2007 ba tôi chuẩn bị về trời, ông cho gọi con cháu về đầy đủ. Ba lần lượt cầm tay các con, nói: “Ba má không có gì để lại cho các con hết, chỉ có khu nhà 36- 38 phố Huế nhưng đã bị người ta lừa lấy gần hết. Tại ba nhẹ dạ cả tin…". Ba nghẹn lại không nói thêm được lời nào nữa, nước mắt lưng tròng. Ít lâu sau ông đi.
Hehe, tôi đọc và cũng ấn tượng với số tiền chi ra để xây dựng tượng của Mao, tầm khoảng hơn chục tỷ, chắc ở VN chỉ làm được bộ râu của ông râu dài thôi, đúng là trình xây tượng của VN bá đạo thật.
Thằng Luyện giết 3 mạng người ở bắc giang, thằng Hai giết 4 mạng người ở nghệ an, cả hai đều giết nhiều người, giết cả trẻ em cũng được nhận xét là hiền đấy bạn ạ.
Đúng là chủ quan, xe thì xe mới, mà có lẽ tay lái cũng mới nên mới vậy.
Ông này toàn làm những cái vượt thẩm quyền hoặc vượt qua cả luật pháp. Ông ấy mà lên tt thì có khi dẹp hết các loại luật, cứ xin ý kiến tt thông qua là ok hết
Tự truyện Ái Vân (phần 5): Cuộc ly hôn lặng lẽ / Tự truyện Ái Vân (phần 4): Hư thai con đầu lòng vì chạy show trả nợ
Khu nhà 38 rộng, có đến 600 mét vuông, xung quanh sân khấu múa rối vẫn thừa nhiều đất. Để cải thiện bữa ăn, ba má tôi nuôi lợn, nuôi ngỗng, thỏ, gà và trồng một giàn nho xanh mướt, cây lá che kín khắp cả miếng sân trước nhà. Chiều chiều, mấy anh em tôi mang thùng sang Đoàn Cải lương Nam bộ số 23 Ngô Thì Nhiệm xin nước gạo về để nấu cám cho lợn ăn. Nhớ mãi khi còi Nhà hát lớn rúc lên cũng là lúc đàn gia súc nhà tôi lên tiếng. Lợn kêu đòi bữa. Ngỗng nghe lợn kêu cũng quang quác kêu theo. Và con gà mái nhảy ổ cục tác váng nhà. Vui quá là vui!
Bỗng đâu nhà 38 bị biến thành bếp ăn tập thể của Bộ Văn hóa. Mảnh sân nhà, nơi chất đầy kỷ niệm êm đềm thuở ấu thơ của chúng tôi, giờ chật ních mấy chục chiếc xe đạp của nhân viên Bộ Văn hóa tới ăn bếp ăn tập thể. Vậy là bao nhiêu lợn, gà, ngỗng, thỏ và cả giàn nho xanh um mướt mát đều bị phá bỏ và lên mâm.
Tôi yêu quý những chú thỏ vô cùng, con vật xinh đẹp đáng yêu là thế cũng bị cho vào nồi, nên tôi nhất quyết không ăn. Anh Thành cũng vậy. Khi con lợn mà anh Thành hàng ngày chăm sóc bị giết mổ, anh đã khóc hu hu, rồi trốn khỏi nhà một mạch từ sáng tới đêm mới quay trở về.
Ngày ngôi nhà 38 bị trưng dụng thành nhà ăn tập thể là ngày tang tóc của bọn trẻ chúng tôi. Chị Mai, anh Thành khóc thương con lợn bị giết. Tôi khóc thương đàn thỏ bị làm thịt. Ái Xuân khóc thương đàn ngỗng “xinh ơi là xinh” của nó.
Anh em chúng tôi khóc lóc kiên quyết không ăn thịt các con vật mà chúng tôi đã nuôi và chăm sóc, nhưng rồi cuối cùng đói quá cũng phải ăn. Cái thời đến mỡ cũng không có mà ăn nói gì đến thịt. Khi anh Thành chị Mai đành phải quyết định ăn thịt lợn thì vừa thút thít khóc vừa ăn. Tôi vẫn kiên quyết không ăn thịt thỏ dù bà ngoại dỗ dành thế nào. Nhưng khi cả nhà ngủ hết, đói quá, tôi đành lò dò xuống bếp mò ăn thịt thỏ quay, ăn xong lại ngồi khóc tu tu.
Riêng hai chú ngỗng sau khi “bị” hóa kiếp thì được bà ngoại tôi lấy mỡ ngỗng rán lên, bỏ vào cặp lồng. Bếp ăn tập thể bữa nào nấu cơm có cháy, bà xin về, lấy mỡ ngỗng rưới lên trên cơm cháy rồi cho lũ cháu chúng tôi ăn. Trong ký ức của mấy anh em tôi, mỡ ngỗng ăn với cơm cháy đã trở thành món ăn kỷ niệm ngon nhất trong những ngày mùa đông giá rét ở Hà Nội.
Lúc này chẳng những nhà 38 bị chiếm dụng mà một phần gác trên của nhà 36 cũng bị Bộ văn hóa “bố trí” cho ba gia đình của Bộ tới ở. Cuối năm 1967 Bộ Văn hóa rút luôn nhà ăn tập thể, dần dà cấp đất cấp nhà cho các gia đình của Bộ về đây ở mà không thèm hỏi ba má tôi một câu nào. Lúc này chẳng những nhà 38 bị chiếm dụng mà phần lớn gác trên của nhà 36-38 cũng bị “bố trí” cho các gia đình của Bộ. Ba má tôi phản đối, đơn từ khiếu kiện rất nhiều nhưng chẳng ăn thua, đành thủ phận sống chung với lũ. Gia đình chung sống rất hòa thuận với khu tập thể của Bộ Văn hóa, bản thân các gia đình này không có lỗi, họ cũng làm theo sự cấp phát nhà đất của Bộ Văn hóa mà thôi.
Kể từ khi biến thành khu tập thể, nhà 36-38 phát sinh nhiều khó khăn mới trước đây chưa từng có, đặc biệt là nước và vệ sinh.
Cái vòi nước ngày xưa chỉ là chỗ rửa chân cho chúng tôi mỗi khi đi chơi về, nay là vòi nước chung của cả xóm. Suốt ngày đêm luôn luôn có một dãy xô chậu xếp hàng lấy nước. Rồi nước thành phố cấp cũng yếu dần, lắm lúc chỉ nhỏ giọt hứng cả giờ không đầy xô. Bí thế phải đào giếng. Thế rồi cái giếng nước trở thành nơi sinh hoạt của xóm. Lâu ngày nó giống như một hãng thông tấn. Ai muốn biết thông tin thời sự cứ ra đấy ngồi hóng chuyện, biết hết. Cái nhà vệ sinh cũng trở thành hãng thông tấn. Sáng nào cũng vậy, cả mấy chục người sắp hàng dài trước nhà vệ sinh, mỗi người một tờ báo đọc và chuyện trò đợi đến lượt mình. Đàn bà con gái ớn nhất mấy vụ này nhưng chẳng biết sao, đành “ngồi trên hố xí đợi ngày mai”. Lâu ngày cũng chai mặt, cũng sắp hàng chuyện trò ỏm tỏi, hứng lên còn hát nữa.
Rồi chiến tranh, hết sơ tán tới đào hầm. Xóm nhà 36-38 chúng tôi đào hầm ngay nền nhà ăn tập thể, tức là sân khấu rạp hát xưa kia. Chiếc hầm chiếm trọn chiều ngang gian nhà, được trát xi măng rất kiên cố. Hầm rộng, có thể chứa được khoảng 20 người. Những lần có báo động, người lớn trẻ con hốt hoảng xuống hầm. Về sau, khi đã quen, việc chạy xuống hầm đã thành bình thường, thậm chí nhiều người còn mang cơm xuống ăn uống và chuyện trò rôm rả. Cái hầm lại trở thành một hãng thông tấn. Muốn biết thông tin từ thượng vàng đến hạ cám cứ chui xuống hầm. Người lớn đàn ông cũng già chuyện như ai. Lúc đầu thấy kỳ kỳ, dần dần cũng thấy chuyện đó là bình thường. Buồn cười nhất là thằng Quân con anh Hồng điếc và chị Sơn, mỗi lần báo động chạy xuống hầm đều cầm theo lọ đường, hỏi tại sao thì nó bảo: mẹ cháu bảo ngộ nhỡ bị bom vùi thì có đường ăn là không lo chết đói.
Có những thứ cực khổ vô cùng khi qua rồi lại nhớ, đôi khi ước được sống lại với kỷ niệm ngày ấy dù chỉ một lần...
Ở nhà 36 ba tôi cũng đào một chiếc hầm ngay dưới gầm giường để phòng khi báo động vào ban đêm. Hầm đào trúng phải mạch nước ngầm nhỏ, lúc nào nước cũng lấp xấp nền hầm. Lũ nhỏ chúng tôi phải thay nhau múc nước đổ đi. Bà ngoại đã để sẵn vài chiếc ghế đẩu nhỏ cho các cháu khỏi ướt chân. Khi có báo động, trẻ con được xuống hầm, người lớn thì chui xuống nằm dưới gầm giường, còn ba tôi ở bên trên phủ vội chiếc chăn bông và những chiếc gối, đề phòng có bom bi.
Ngồi ở dưới hầm là cả một cực hình. Căn hầm ẩm ướt, muỗi bay vù vù cắn sưng người. Chúng tôi phải ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu, chân mỏi nhừ. Một lần đang ngủ trưa trên võng, chợt loa truyền thanh vang vang: “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội 50 km! Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu! Mọi người cần nhanh chóng vào hầm trú ẩn và nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của Ủy ban Phòng không nhân dân Thành phố…”. Bình thường khi nào máy bay cách Hà Nội 30 km thì mới phải xuống hầm, nhưng chắc hôm ấy máy bay bay… quá nhanh hay sao đó mà mới cách 50 km thì còi báo động của Nhà hát Lớn đã vang lên.
Cả nhà thi nhau nhảy đại xuống hầm. Tôi đang nằm ngủ trên võng, nhào vội xuống. Vừa cuống vừa ngái ngủ tôi ríu hết cả chân không chạy được, khóc toáng lên: “Má ơi cứu con!” Má tôi vội chạy tới, nửa cõng, nửa kéo lê tôi cố chạy về phía căn hầm tập thể. Má cũng cuống lên chẳng nhích được là bao. Từ trong nhà ba thấy cảnh dở khóc dở cười bèn la lên: “Má con làm gì thế? Buông nhau ra chạy đi!” Má nhìn con, con nhìn má, tự nhiên hai má con bỗng bật cười rũ rượi. Vậy là hết quýnh quáng. Lại chạy được thoăn thoắt xuống hầm. Ba chạy xuống theo. Ông cười nói: “Bây giờ mới hiểu thần hồn nát thần tính là thế nào”.
Tìm được người đàn ông yêu và say vợ như ba yêu má thật hiếm. Chuyện gì ba cũng bắt đầu từ hai tiếng Ái Liên. Ái Liên nói thế này, Ái Liên nói thế kia, hôm qua Ái Liên thế này, bữa trước Ái Liên thế kia. Thời chiến di tản liên tục, để tránh đồ đạc thất lạc, mất mát thứ gì ba đánh dấu tên má bằng hai chữ viết tắt: A.L. Xoong nồi A.L, công tắc điện A.L, xô chậu A.L, thìa muỗng A.L, chén bát A.L… Thậm chí đến cả bức tường của nhà vệ sinh công cộng, ông cũng khắc lên đó hai chữ A.L.
Tháng 8/2011, khi quay trở về Việt Nam, tôi có tới thăm căn nhà phố Huế của mình, vẫn nhìn thấy cái công tắc có chữ A.L được khắc trên đó mà không khỏi phì cười. Cười xong rồi lại nhớ ra khu nhà này không còn nữa, nó đã mất từ lâu rồi. Lại khóc.
Tự truyện Ái Vân (phần 5): Cuộc ly hôn lặng lẽ / Tự truyện Ái Vân (phần 4): Hư thai con đầu lòng vì chạy show trả nợ
Khu nhà 36-38 Phố Huế rất rộng, thực tế gia đình tôi chỉ sống ở nhà số 36 với diện tích 136 mét vuông, còn nhà số 38 với diện tích 600 mét vuông chỉ dùng làm sân chơi. Sau năm 1945 ba tôi cho làm sàn nhảy Paramount rất nổi tiếng, hằng đêm thanh niên Hà Nội tụ tập về đây rất đông. Mãi đến năm 1952, Gánh hát Ái Liên sau nhiều năm lưu diễn khắp Đông Dương về “định cư” ở Hà Nội, ba dùng mảnh đất 600 mét vuông của nhà 38 xây Rạp Ái Liên. Giấy phép và họa đồ số 580 cho xây rạp Ái Liên được Sở Công chính Hà Nội cấp ngày 26/5/1952 vẫn còn đấy.
Gánh hát Ái Liên tan rã vào cuối năm 1953. Ba tôi chuyển sang làm phim, ông sử dụng Rạp Ái Liên làm trụ sở Hãng Vietfilm. Sau Giải phóng Thủ đô năm 1954 Hãng Vietfilm cũng tan rã nốt. Ngay sau đó Đoàn Ca kịch liên khu 4 từ Thanh Hóa trở về Thủ đô, mượn ngôi nhà này làm nơi tập luyện và biểu diễn. Cái tên Đoàn ca kịch liên khu 4 thoạt nghe dễ nhầm đó là đoàn văn công địa phương, thực chất nó là đoàn văn công chủ chốt của cách mạng, giống như Đoàn văn công Giải phóng vậy. Đó là đoàn ca kịch Trung Ương, cốt lõi của cách mạng, “dùng nghệ thuật để làm công tác tuyên truyền cách mạng”.
Khi Đoàn Ca kịch liên khu 4 hỏi mượn ngôi nhà 38 làm trụ sở và rạp hát, ba má tôi rất phấn khởi. Còn bao nhiêu vốn liếng ba tôi bỏ ra tu sửa rạp, mua thêm ghế ngồi, lắp quạt trần, trang bị âm thanh cho rạp hát. Má tôi và chị Ái Loan cũng đầu quân vào Đoàn Ca kịch liên khu 4, coi đây như gánh hát của gia đình rất gần gũi thân thiết.
Một thời gian sau Vụ Nghệ thuật - Bộ Văn hóa đề nghị cho Vụ thuê, tiền thuê nhà mỗi tháng là 24 đồng. Số tiền chẳng đáng là bao nhưng ba má chấp thuận vì đây là nơi diễn của hai má con Ái Liên, Ái Loan. Nhờ có rạp hát bà ngoại cũng có việc làm. Bà ngoại bán các thứ lặt vặt trong rạp: kẹo, bánh, ô mai, mía, trái cây… cho khách đến xem cũng có đồng vào đồng ra.
Ngày 3 tháng 5 năm 1959, ông Mai Vy vụ phó Vụ Nghệ thuật viết cho ba má một tờ giấy là văn phòng Bộ định sửa chữa nhà 38 phố Huế, muốn “mượn” giấy tờ ngôi nhà. Ba má tôi vui vẻ đưa liền không nghĩ ngợi gì. Từ đó giấy tờ nhà không trả lại, đòi thế nào cũng không trả lại. Rồi Vụ Nghệ thuật ra thông báo không thuê nhà 38 nữa mà “chuyển lên Bộ quản lý”. Tưởng “Chuyển lên Bộ quản lý” thế nào, té ra Bộ tiếp tục đưa Đoàn múa rối đến diễn ở đây. Đoàn múa rối bỏ đi thì Bộ nhanh chóng biến nơi đây thành nhà ăn tập thể, rồi dần dà cho các gia đình cán bộ, công nhân viên của Bộ Văn hóa tới ở. Biến nơi đây thành một khu tập thể nho nhỏ của Bộ Văn hóa. Nhà 38 phố Huế của tôi mất trắng từ đó.
Liên tục trong những năm 1970-1980-1990, ba tôi đã có nhiều đơn khiếu nại gửi Bộ Văn hóa để đòi lại toàn bộ diện tích 600 mét vuông mà Bộ Văn hóa chiếm giữ và sử dụng trái phép, nhưng không ai giải quyết. Buồn cười nhất là ngày 24-1-1989 gia đình nhận được “Giấy chứng nhận diện tích nhà được để lại sau cải tạo nhà cửa” số 55/ QLCS của UBND TP Hà Nội với nội dung gia đình tôi chỉ được sử dụng 130 mét vuông trong tổng diện tích 756 mét vuông vốn thuộc quyền thừa kế hợp pháp của ông Hà Quang Định. Tại sao chúng tôi chỉ được sử dụng 130 mét vuông? Còn diện tích 626 mét vuông cũng là đất thừa kế của ba tôi lại không được sử dụng?...
Năm 2000 anh Hà Quang Văn, anh trai thứ tư của tôi, được thông báo cho mua ngôi nhà số 68 Trúc Đường, khu phố 3, phường Thảo Điền, quận 2, TP Hồ Chí Minh với giá một tỷ đồng (Nhà của Bộ Văn hóa bán phân phối cho cán bộ trong ngành. Anh Văn là hiệu trưởng Trường sân khấu điện ảnh Thành phố HCM nên có tiêu chuẩn được Bộ phân phối cho mua nhà này). Nhưng khi nhận được đơn khiếu nại của ba tôi (ông Hà Quang Định) về căn nhà 36-38 phố Huế, Bộ Văn hóa thông tin đã có văn bản trả lời rằng căn nhà 68 Trúc Đường cấp cho ông Hà Quang Văn là “để bù vào một phần diện tích tại 36-38 phố Huế mà gia đình ông đã hiến cho Nhà nước”...
Năm 1998-1999 ba tôi đã có đơn khiếu nại trực tiếp gửi ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Văn Kiệt. Ông Phạm Văn Đồng đã có trao đổi với Bộ Văn hóa trên tinh thần ủng hộ “về phương diện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng trên mặt trận văn hóa nói chung và tình cảm nói riêng". Bộ Văn hóa có cho gia đình biết rằng Bộ đang có khó khăn về nhà đất nên Bộ chưa giải quyết được. Sau đó Bộ lại thông báo có thể giải quyết đền bù bằng tiền mặt. Từ đó đến nay là năm 2015 vẫn hoàn toàn không có một động thái nào từ phía Bộ Văn hóa. Lời hứa vẫn chỉ là hứa suông.
Ngôi nhà của chúng tôi đã mất, vì sự nhẹ dạ cả tin của ba má tôi mà nó đã biến mất trước sự ngơ ngác đắng cay của các thành viên trong gia đình tôi. Ba tôi không là kẻ khờ khạo, trái lại ông rất thông minh, láu lỉnh. Ba bán ô tô cho Hãng Renault, bán xe đạp cho Hãng Dura Mercier, làm ông bầu cho Gánh hát Ái Liên, làm ông chủ Hãng Vietfilms, nhờ lắm “mẹo vặt” mà ba thoát được nhiều khó khăn bất thường. Nhưng với ngôi nhà này... ba tôi trở thành người khờ dại và ngây thơ. Bao nhiêu “mẹo vặt” của ba cũng không thể giữ được ngôi nhà.
Năm 2007 ba tôi chuẩn bị về trời, ông cho gọi con cháu về đầy đủ. Ba lần lượt cầm tay các con, nói: “Ba má không có gì để lại cho các con hết, chỉ có khu nhà 36- 38 phố Huế nhưng đã bị người ta lừa lấy gần hết. Tại ba nhẹ dạ cả tin…". Ba nghẹn lại không nói thêm được lời nào nữa, nước mắt lưng tròng. Ít lâu sau ông đi.
Bố mình nói khi cô sang Đức biểu diễn và được giải thưởng lớn, khi cô bước ra là cả hội trường đã đứng lên vỗ tay rần rần rồi ấy, mấy ông người Đức bảo trông cô như búp bê.
Chồng đầu của cô là nghệ sỹ kịch câm và bị bắt do buôn lậu hay gì đó, cô ấy mới li dị và lấy ô chồng sau này. Khi cô ấy đi biểu diễn và trốn ở lại thì mình có nghe người lớn nói là ô chồng sau của cô ghen khủng khiếp. Cô ấy đẹp, nhiều fan hâm mộ, lão kia ghen, đánh cô ấy như két, nhưng khôn chừa cái mặt ra. Cô ấy xinh đẹp, ra ngoài bao người ngưỡng mộ mà phải chịu một cuộc sống kinh khủng như vậy thì thật là đau khổ. Thấy bảo lão ta ko cho li dị nhé, dọa là nếu li dị thì sẽ rạch nát mặt ra ấy. Thế nên cô ko có lựa chọn nào khác đành phải trốn ở lại nhân một lần được ra nước ngoài biểu diễn.
Nhiều trường hợp vượt biên bị đàm tiếu, phê phán, Nhưng riêng trường hợp của Lê Vân thì ko, kể cả chính thống lẫn dư luận vì nhiều người hiểu và thông cảm cho cô ấy.