Tự tham khảo cách chữa: Đại Cương Bệnh thường phát về mùa Đông, ở da đầu và mặt ngoài tứ chi, nặng thì có thể phát ra toàn thân, có thể kèm theo sưng đau các khớp tay chân. Còn gọi là Ngân Tiêu Bệnh, Tùng Bì Tiễn, Bạch Chuỷ, Chuỷ Phong, Bạch Xác Sang, Tùng Hoa Tiễn. Từ Bạch Chuỷ đầu tiên xuất hiện trong sách ‘Ngoại Khoa Đại Thành’. Sách ‘Phong Môn Toàn Thư’ viết: Vùng tổn thương lõm như đồng tiền lớn, bên trong mầu hồng bên ngoài mầu trắng, châm kim vào không chảy ra máu, chảy ra nước mầu trắng như mầu bạc. Lúc đầu phát ra ở cơ thể rồi sau đó phát ở mặt”. Triệu chứng Hồng ban giới hạn rõ rệt, có vẩy trắng như nến, có thể gây ra thành từng lớp như mica, có khi nổi dát đỏ như gọt nước, có khi to, tròn hoặc bầu dục, đường kính 2,5cm, có khi thành mảng rộng do nhiều dát kết hợp lại. Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷ tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn. Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán. Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thề dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng. Nhiều trường hợp vảy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn. 1. Thể đỏ da: do bệnh phát triển, da toàn thân đỏ, sưng, tróc vảy, kèm phát sốt, các khớp đau, lòng bàn chân sừng hoá, móng dày lên và rụng. 2. Thể khớp: thường vảy nến tăng lan đến các khớp lớn nhỏ như khớp ngón, khớp cổ tay, cổ chân, khớp gối, nhẹ là khớp sưng, nặng thì dịch bao khớp xương huỷ hoại, khớp dị dạng. 3. Thể mụn mủ: tế bào gai bị tổn thương rõ, trên tổn thương vảy nến mọc lên những mụn mủ không có vi khuẩn, gặp nhiều ở người lớn tuổi. Điều trị 1. Thể phong nhiệt: Triệu chứng: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Phù Sác. Điều trị: Thanh nhiệt, lương huyết. . Bài thuốc: Dùng bài Hoè hoa thang gia giảm (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu):
Hòe hoa 40 Sinh địa 40 Thổ phục linh 40 Thăng ma 12 Tử thảo 12 Địa phụ tử 12 Ké 12
Sắc uống. Bài thuốc: Tiêu phong tán gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Khổ sâm 6 Tri mẫu 6 Kinh giới 6 Phòng phong 6 Thuyền thoái 6 Sinh địa 6 Đan bì 6 Ngưu bàng 10 Hoàng cầm 10 Hồng hoa 4.5 Lăng tiêu hoa 4.5 Sắc uống. 2. Thể phong huyết táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Triệu chứng: Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sác. Điều trị: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong. Bài thuốc: Dùng bài Lương huyết (Viện Y Học Dân Tộc Việt Nam)
Huyền sâm
Ngân hoa
Sinh địa
Ké
Hà thủ ô
Hỏa ma nhân 12
Sắc uống. Thuốc rửa ngoài: Hoả tiêu, Phác tiêu, Khô phàn, Dã cúc hoa. Nấu lấy nước rửa ngày một lần. . Pháp trị: Tư âm nhuận táo, thanh nhiệt, khu phong. Bài thuốc: Dùng bài Dưỡng huyết nhuận phu ẩm gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Qui đầu 12 Đan sâm 12 Đan bì 12 Xích thược 10 Hà thủ ô 10 Sinh địa 10 Thục địa 12 Bắc đậu căn 12 Thiên môn 12 Thảo hà xa 15 Bạch tiễn bì 15 Tật lê 15
3. Thể phong hàn: Triệu chứng: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù Khẩn. Điều trị: Sơ phong, tán hàn, hoạt huyết, điều doanh. Bài thuốc: Dùng bài Tứ vật ma hoàng thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học)
Ma hoàng 15 Quế chi 15 Qui đầu 12 Bạch thược 12 Sinh địa 12 Sa sâm 12
Sắc uống. 4. Thể thấp nhiệt: Triệu chứng: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷ tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu, mạch Hoạt Sác. Điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết giải độc. Bài thuốc: Dùng bài Tiêu ngân nhị hiệu thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Long đởm thảo 6 Khổ sâm 6 Hoàng cầm 6 Xương truật 6 Phục linh 6 Trạch tả 10 Tỳ giải 10 Bắc đậu căn 10 Thảo hà sa 15 Thổ phục linh 15 Đan bì 12 Sắc uống. 5. Thể huyết nhiệt: Triệu chứng: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Huyền Hoạt hoặc Hoạt Sác. Điều trị: Lương huyết giải độc, hoạt huyết thoái ban. Bài thuốc: Dùng bài Ngân hoa hổ trượng thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Ngân hoa 15 Hổ trượng 15 Sinh địa 12 Qui vĩ 12 Xích thược 12 Hòe hoa 12 Đại thanh diệp 10 Đan bì 10 Tử thảo 10 Bắc đậu căn 10
6. Thể huyết ứ: Triệu chứng: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Sáp. Điều trị: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc tán kết. Bài thuốc: Dùng bài Hoàng kỳ đan sâm thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Đan sâm 15 Trạch lan 15 Tây thảo 15 Hoạt huyết đằng 15 Hoàng kỳ 10 Hương phụ 10 Thanh bì 10 Trần bì 10 Xích thược 6 Tam lăng 6 Nga truật 6 Lăng tiêu hoa 6 Thỏ ti tử 6 Ô xà 6
7. Thể huyết hư: Triệu chứng: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch, mạch Huyền Tế hoặc Trầm Tế. Điều trị: Dưỡng huyết, hoà doanh, ích khí khứ phong. Bài thuốc: Dùng bài Dưỡng huyết khứ phong thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Hoàng kỳ 12 Đẳng sâm 12 Qui đầu 12 Ma nhân 10 Huyền sâm 12 Bạch thược 12 Thục địa 12 Kê huyết đằng 12 Mạch môn 12 Bạch tiễn bì 15 Bạch chỉ 6 Tật lê 6
8. Mạch xung nhâm không điều hoà: Triệu chứng: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa,tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoạt Sác hoặc Trầm Tế. Điều trị: Điều nhiếp Xung Nhâm. Bài thuốc: Dùng bài Nhị tiên thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Tiên mao 6 Hoàng bá 6 Tri mẫu
Dâm hương hoắc 12 Thỏ ti tử 12 Sinh địa 12 Thục địa 12 Qui đầu 12 Nữ trinh tử 15 Hạn niên thảo 15
9. Nhiệt độc thương doanh: Triệu chứng: Phát bệnh nhanh, toàn thân đều nổi ban đỏ, đỏ tím, đỏ sẫm, nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch, mạch Huyền Sác hoặc Hoạt Sác. Điều trị: Dùng bài Linh Dương Hoá Ban Thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Linh dương giác 3 Sinh địa 30 Ngân hoa 15 Tử thảo 15 Bạch hoa xà 15 Đan bì 10 Xích thược 10 Huyền sâm 10 Sa sâm 10 Liên kiều 10 Hoàng cầm 10 Hoàng liên 6 Tri mẫu 6 Thạch cao 30
Điều trị tại chỗ: a - Giai đoạn phát triển: Bôi ngoài nhũ cao Lưu hoàng 5%, Hoàng bá sương, mỗi ngày 2-3 lần. b - Giai đoạn ổn định: Bôi ngoài cao mềm Lưu hoàng 10%, cao mềm Hùng hoàng, ngày 2-3 lần. c Thuốc ngâm rửa: Khô phàn 120g, Cúc hoa dại 240g, Xuyên tiêu 120g, Mang tiêu 500g, sắc nước tắm hoặc ngâm mỗi ngày hoặc cách nhật, dùng cho trường hợp bệnh tổn thương rộng.
Thế là một mua đông mới đang về, lại thêm những đợt gió lùa vào từng thớ da thớ thịt lạnh buốt:Angel:...lạnh quá, lạnh quá.:Laughing:
Bạn cần cân nhắc kỹ nha, mời bạn tham khảo bài viết này..trước khi lên bàn...phẫu thuật..híc híc
Sự thật quanh chuyện phẫu thuật thẩm mỹ
Sự thật quanh chuyện phẫu thuật thẩm mỹ
Đụng dao kéo trên cơ thể có đúng là liều thuốc tiên mà ai cũng có thể dùng? Hãy thử “mổ xẻ” một vài chuyện thẩm mỹ đang “hot” hiện nay xem sao.
Phẫu thuật nâng mũi – Cẩn thận với những quảng cáo “trên trời”
Dựa vào hình ảnh của những diễn viên Hàn Quốc với ngoại hình đẹp và trào lưu sính Hàn Quốc, một số mỹ viện đưa ra những lời quảng cáo kiểu như “nâng mũi Hàn Quốc”, chất liệu Hàn Quốc,... để nâng giá phẫu thuật lên trời.
Thật tiếc là chẳng hề có trường phái Hàn Quốc trong chuyên ngành phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ chính thống và phẫu thuật nâng mũi không phải là thế mạnh của các bác sĩ Hàn Quốc. Thực tế người Hàn Quốc vốn đã có sống mũi cao, gọn đẹp nên ít cần can thiệp. Còn chất liệu nâng sống mũi của Hàn Quốc thì cũng chẳng có gì đặc biệt.
Vấn đề đẹp hay không đẹp của phẫu thuật nâng sống mũi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một phần quan trọng là những gì bản thân người đi nâng mũi đang sở hữu. Ví dụ với một khuôn mặt có những đường nét cơ bản hài hòa, tỷ lệ độ dài sống mũi vừa phải, đầu mũi không quá to dày, chỉ có sống mũi bị gãy, thấp thì gần như hiệu quả sẽ rất cao khi nâng sống mũi, dù bác sĩ thẩm mỹ không phải dạng “cao tay” lắm.
Những trường hợp khó như mũi ngắn, hếch, đầu mũi quá to, dày thì mới thực sự cần đến những bác sĩ có kinh nghiệm, tay nghề vững. Những trường hợp này cần được tư vấn thật tốt, xác định rõ những gì có thể đạt được sau phẫu thuật, có thể chỉ là sự cải thiện chút ít so với những gì mình đang có.
Phẫu thuật tạo mí – Hãy nhìn bằng cả 2 mắt
Công bằng mà nói, đa phần mọi người đều công nhận mắt 2 mí trông dễ thương hơn mắt một mí. Phẫu thuật tạo mắt một mí thành 2 mí, hoặc cắt bớt da trùng, mỡ thừa để trả lại nếp mí to như hồi trẻ là một trong những phẫu thuật được tiến hành nhiều nhất tại các cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ.
Kỹ thuật khá đơn giản, kéo dài khoảng 20 – 40 phút chỉ cần gây tê tại chỗ. Tất nhiên cũng phải mất một thời gian thì mi mắt mới hết sưng nề và dần dần mới đẹp được. Khi phẫu thuật thực hiện đúng chỉ định, kỹ thuật tốt thì thực sự mang lại hiệu quả với đôi mắt đẹp tự nhiên như thật. Tạo mắt 2 mí thì đúng là có “trường phái”, hay đúng hơn là quan điểm về cái đẹp khác nhau.
Một số bác sĩ, nhất là những người có theo học các thầy Tây thường tạo nếp mí to như người châu Âu mà quên mất rằng mình đang phẫu thuật cho một khuôn mặt của người châu Á, chính vì thế mà mí mắt tạo ra lại cứ nửa Tây nửa ta kể ra thì với một số diễn viên, cần các đường nét thật rõ khi lên sân khấu, đỡ công trang điểm thì cũng tốt, nhưng khi nhìn cận cảnh đời thường thì chẳng tự nhiên chút nào.
Chính vì thế, chị em muốn có đôi mắt đẹp khi đến tư vấn phẫu thuật rất nên xác định rõ mong muốn của mình, vì thực sự tạo hình mí mắt không dễ dàng để sửa chữa, tránh cảnh “đan đi không tày dặm lại”.
Phẫu thuật nâng ngực – Những chuyện bực mình
Không thể phủ nhận hiệu quả của phẫu thuật nâng ngực, một trong những phẫu thuật thời thượng và được quan tâm nhiều nhất bây giờ. Nhưng sự thực, đã làm nghề phẫu thuật thì không thể khẳng định tuyệt đối không có rủi ro, không có những điều mà cả bác sĩ lẫn người bệnh đều không mong muốn.
Bộ ngực vừa phẫu thuật đẹp đẽ, mềm mại như vậy, nhưng không hiểu tại sao lại cứ cứng dần lại, nhìn thì tạm được nhưng sờ vào thì... ôi thôi, cứ như là 2 quả cam, thậm chí còn méo mó biến dạng khó chấp nhận. Hiện tượng này chuyên môn gọi là “co cứng bao túi”.
Cái khó là nguyên nhân của hiện tượng này lại không rõ ràng, có thể do kỹ thuật, do chất liệu hoặc do cơ địa của người được đặt túi. Cũng may là tỷ lệ của co cứng bao túi không nhiều, cách giải quyết thì cũng tùy mức độ, có thể massage, dùng thuốc hỗ trợ hoặc phẫu thuật bóc vỏ xơ, đặt lại túi, thay túi khác...
Một vấn đề khác cũng gây tình trạng dở khóc dở cười khi đặt túi ngực là sự di trượt của túi khi vận động cơ ngực. Hiện tượng này có thể gặp với những trường hợp đặt túi dưới cơ ngực.
Do lớp tuyến, lớp da quá mỏng nên để an toàn, bác sĩ phải đặt túi ở dưới cơ để tránh cảm giác lộ túi, tuy nhiên nếu phẫu thuật không tốt, túi nằm giữa lớp cơ nên khi bệnh nhân nằm hoặc vận động cơ ngực, lớp cơ sẽ ép làm cho túi trượt lên trên. Vậy là tự nhiên lại có đến 4 vú, mà chẳng cái nào ra cái nào. Hoặc bầu ngực cứ nhảy lên như lò xo khi người bệnh vận động cơ ngực – trông khá khôi hài. Cách xử lý là đặt lại túi thật sát thành ngực, giảm thiểu tối đa tác động của cơ ngực.
Những tình tiết khác nho nhỏ như sự biến dạng của đầu vú, quầng vú cũng có. Hai đầu vú cái thì vểnh lên khiêu khích, cái thì lại gục xuống cam chịu cũng làm chị em khá bối rối, không hiểu mình nên thế nào... May là bác sĩ cũng có thể điều chỉnh lại được, không đến nỗi phải sử dụng từng bên tùy theo trạng thái tình cảm...
Phẫu thuật tạo hình bụng - Có phải ai cũng vừa lòng?
Da bụng nhăn nheo, dày mỡ sau sinh con là điều mà chị em thường rất bức xúc, thấy mình đúng là thật thiệt thòi so với cánh mày râu. Sao lúc con gái thì cái eo của mình đẹp thế mà bây giờ thì... đến mình cũng chẳng muốn nhìn. Vậy là lao đến thẩm mỹ viện. Thôi thì đủ cách, nào là hút mỡ, nào là massage, nào là phẫu thuật... Cũng như đã nói ở trên, nếu được chỉ định đúng và kỹ thuật tốt thì chị em cũng được hài lòng.
Tuy nhiên nếu không may thì bụng chẳng hết nhăn, hết mỡ mà lại thêm mặt cũng nhăn theo vì những phiền toái do thẩm mỹ gây ra. Có trường hợp hút mỡ xong thấy bụng cứ lổn nhổn, chỗ lồi chỗ lõm như là thửa ruộng mới cày vỡ. Có trường hợp bị cắt quá nhiều da, vết mổ căng nên toác rộng, báo hại người bệnh hàng tháng liền ôm “vết thương lòng” và chắc chắn là một cái sẹo to đùng sẽ được “khuyến mại” thêm. Lại còn có trường hợp bị rụng cả rốn do bác sĩ khi phẫu thuật đã làm tổn thương nguồn nuôi của cái rốn cũ, dẫn đến tình trạng hoại tử rốn, cũng tốn khá nhiều công sức để xử lý...
Trên đây chỉ là một vài loại phẫu thuật thẩm mỹ thông thường, những tai biến kể trên tuy không phải thường xảy ra nhưng rõ ràng là những điều có thể gặp. Phẫu thuật thẩm mỹ đúng là con dao 2 lưỡi, nếu biết cách dùng, đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ thì có thể tạo ra những chuyện thần kỳ, mang lại những điều tốt đẹp cho mỗi người.
Ngược lại, nếu lạm dụng và không biết sử dụng hợp lý, có thể nó sẽ mang lại cơn ác mộng cả cho bác sĩ lẫn khách hàng. Chính vì vậy, hãy quyết định một cách sáng suốt, tư vấn kỹ càng trước khi sử dụng con dao 2 lưỡi này...
Theo Sức Khỏe và Đời Sống
Ngon quá ha :Battin ey:
Tự tham khảo cách chữa:
Đại Cương
Bệnh thường phát về mùa Đông, ở da đầu và mặt ngoài tứ chi, nặng thì có thể phát ra toàn thân, có thể kèm theo sưng đau các khớp tay chân.
Còn gọi là Ngân Tiêu Bệnh, Tùng Bì Tiễn, Bạch Chuỷ, Chuỷ Phong, Bạch Xác Sang, Tùng Hoa Tiễn.
Từ Bạch Chuỷ đầu tiên xuất hiện trong sách ‘Ngoại Khoa Đại Thành’.
Sách ‘Phong Môn Toàn Thư’ viết: Vùng tổn thương lõm như đồng tiền lớn, bên trong mầu hồng bên ngoài mầu trắng, châm kim vào không chảy ra máu, chảy ra nước mầu trắng như mầu bạc. Lúc đầu phát ra ở cơ thể rồi sau đó phát ở mặt”.
Triệu chứng
Hồng ban giới hạn rõ rệt, có vẩy trắng như nến, có thể gây ra thành từng lớp như mica, có khi nổi dát đỏ như gọt nước, có khi to, tròn hoặc bầu dục, đường kính 2,5cm, có khi thành mảng rộng do nhiều dát kết hợp lại.
Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷ tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn.
Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán.
Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thề dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng. Nhiều trường hợp vảy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn.
1. Thể đỏ da: do bệnh phát triển, da toàn thân đỏ, sưng, tróc vảy, kèm phát sốt, các khớp đau, lòng bàn chân sừng hoá, móng dày lên và rụng.
2. Thể khớp: thường vảy nến tăng lan đến các khớp lớn nhỏ như khớp ngón, khớp cổ tay, cổ chân, khớp gối, nhẹ là khớp sưng, nặng thì dịch bao khớp xương huỷ hoại, khớp dị dạng.
3. Thể mụn mủ: tế bào gai bị tổn thương rõ, trên tổn thương vảy nến mọc lên những mụn mủ không có vi khuẩn, gặp nhiều ở người lớn tuổi.
Điều trị
1. Thể phong nhiệt:
Triệu chứng: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Phù Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, lương huyết.
. Bài thuốc: Dùng bài Hoè hoa thang gia giảm (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu):
Hòe hoa
40
Sinh địa
40
Thổ phục linh
40
Thăng ma
12
Tử thảo
12
Địa phụ tử
12
Ké
12
Sắc uống.
Bài thuốc: Tiêu phong tán gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Khổ sâm
6
Tri mẫu
6
Kinh giới
6
Phòng phong
6
Thuyền thoái
6
Sinh địa
6
Đan bì
6
Ngưu bàng
10
Hoàng cầm
10
Hồng hoa
4.5
Lăng tiêu hoa
4.5
Sắc uống.
2. Thể phong huyết táo (gặp ở thể bệnh kéo dài):
Triệu chứng: Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô, mạch Huyền Tế hoặc Tế Sác.
Điều trị: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong.
Bài thuốc: Dùng bài Lương huyết (Viện Y Học Dân Tộc Việt Nam)
Huyền sâm
Ngân hoa
Sinh địa
Ké
Hà thủ ô
Hỏa ma nhân
12
Sắc uống.
Thuốc rửa ngoài: Hoả tiêu, Phác tiêu, Khô phàn, Dã cúc hoa. Nấu lấy nước rửa ngày một lần.
. Pháp trị: Tư âm nhuận táo, thanh nhiệt, khu phong.
Bài thuốc: Dùng bài Dưỡng huyết nhuận phu ẩm gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Qui đầu
12
Đan sâm
12
Đan bì
12
Xích thược
10
Hà thủ ô
10
Sinh địa
10
Thục địa
12
Bắc đậu căn
12
Thiên môn
12
Thảo hà xa
15
Bạch tiễn bì
15
Tật lê
15
3. Thể phong hàn:
Triệu chứng: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù Khẩn.
Điều trị: Sơ phong, tán hàn, hoạt huyết, điều doanh.
Bài thuốc: Dùng bài Tứ vật ma hoàng thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học)
Ma hoàng
15
Quế chi
15
Qui đầu
12
Bạch thược
12
Sinh địa
12
Sa sâm
12
Sắc uống.
4. Thể thấp nhiệt:
Triệu chứng: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷ tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu, mạch Hoạt Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết giải độc.
Bài thuốc: Dùng bài Tiêu ngân nhị hiệu thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Long đởm thảo
6
Khổ sâm
6
Hoàng cầm
6
Xương truật
6
Phục linh
6
Trạch tả
10
Tỳ giải
10
Bắc đậu căn
10
Thảo hà sa
15
Thổ phục linh
15
Đan bì
12
Sắc uống.
5. Thể huyết nhiệt:
Triệu chứng: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng, mạch Huyền Hoạt hoặc Hoạt Sác.
Điều trị: Lương huyết giải độc, hoạt huyết thoái ban.
Bài thuốc: Dùng bài Ngân hoa hổ trượng thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Ngân hoa
15
Hổ trượng
15
Sinh địa
12
Qui vĩ
12
Xích thược
12
Hòe hoa
12
Đại thanh diệp
10
Đan bì
10
Tử thảo
10
Bắc đậu căn
10
6. Thể huyết ứ:
Triệu chứng: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Sáp.
Điều trị: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc tán kết.
Bài thuốc: Dùng bài Hoàng kỳ đan sâm thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Đan sâm
15
Trạch lan
15
Tây thảo
15
Hoạt huyết đằng
15
Hoàng kỳ
10
Hương phụ
10
Thanh bì
10
Trần bì
10
Xích thược
6
Tam lăng
6
Nga truật
6
Lăng tiêu hoa
6
Thỏ ti tử
6
Ô xà
6
7. Thể huyết hư:
Triệu chứng: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch, mạch Huyền Tế hoặc Trầm Tế.
Điều trị: Dưỡng huyết, hoà doanh, ích khí khứ phong.
Bài thuốc: Dùng bài Dưỡng huyết khứ phong thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Hoàng kỳ
12
Đẳng sâm
12
Qui đầu
12
Ma nhân
10
Huyền sâm
12
Bạch thược
12
Thục địa
12
Kê huyết đằng
12
Mạch môn
12
Bạch tiễn bì
15
Bạch chỉ
6
Tật lê
6
8. Mạch xung nhâm không điều hoà:
Triệu chứng: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa,tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Hoạt Sác hoặc Trầm Tế.
Điều trị: Điều nhiếp Xung Nhâm.
Bài thuốc: Dùng bài Nhị tiên thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Tiên mao
6
Hoàng bá
6
Tri mẫu
Dâm hương hoắc
12
Thỏ ti tử
12
Sinh địa
12
Thục địa
12
Qui đầu
12
Nữ trinh tử
15
Hạn niên thảo
15
9. Nhiệt độc thương doanh:
Triệu chứng: Phát bệnh nhanh, toàn thân đều nổi ban đỏ, đỏ tím, đỏ sẫm, nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch, mạch Huyền Sác hoặc Hoạt Sác.
Điều trị: Dùng bài Linh Dương Hoá Ban Thang gia giảm (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học):
Linh dương giác
3
Sinh địa
30
Ngân hoa
15
Tử thảo
15
Bạch hoa xà
15
Đan bì
10
Xích thược
10
Huyền sâm
10
Sa sâm
10
Liên kiều
10
Hoàng cầm
10
Hoàng liên
6
Tri mẫu
6
Thạch cao
30
Điều trị tại chỗ:
a - Giai đoạn phát triển: Bôi ngoài nhũ cao Lưu hoàng 5%, Hoàng bá sương, mỗi ngày 2-3 lần.
b - Giai đoạn ổn định: Bôi ngoài cao mềm Lưu hoàng 10%, cao mềm Hùng hoàng, ngày 2-3 lần.
c Thuốc ngâm rửa: Khô phàn 120g, Cúc hoa dại 240g, Xuyên tiêu 120g, Mang tiêu 500g, sắc nước tắm hoặc ngâm mỗi ngày hoặc cách nhật, dùng cho trường hợp bệnh tổn thương rộng.
mình nghĩ buổi sáng là..thích hợp hơn cả!
em nhớ Nha Trang quá, sóng vỗ nhẹ...biển im lìm trong buổi sớm mai...những tia nắng đầu tiên của một ngày rọi xuống trần gian..tất cả..chỉ còn là ký ức:Sad: