Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Chủ xe khách được xe tải cứu: Anh Bắc nói không...
Báo với chí.
Mình thấy có báo Tuổi trẻ miêu tả như phim hành động và super man trong vai anh lái xe Bắc thôi. Còn các báo khác thì ko nói xe anh Bắc đi sau, vượt lên để cứu. Đọc thì đọc những bài đầu và tìm clip phóng viên báo Thanh niên phỏng vấn anh Bắc đi mọi người. Đừng để con chữ phong thần hay giáng quỷ một con người BÌNH THƯỜNG - TỬ TẾ.
Những bài đầu tiên khi mới ngửi hơi có tin hay, chỉ tóm tắt là thấy xe du lịch có dấu hiệu mất thắng, xe tải đã áp đuôi xe rồi dìu thế nào. Các vị phóng ra viên viết để kịp đăng nóng nên chưa ngâm ngợi, tưởng tượng và đặt chữ vào mồm người khác. Rồi đi tìm anh Bắc, ảnh trốn mất vì ngượng. Chủ xe thì bảo "nó hiền và nhát". Người như thế có khả năng hùng biện, đao to búa lớn ngay sau đó không hả giời.
Trong clip do phóng viên báo Thanh niên thực hiện, anh Bắc thuật lại: hai xe nhìn thấy nhau suốt vì đi đường trường. Khi xe Bắc vượt trước rồi, cách khoảng 20 met thì thấy xe sau lao kiểu mất lái nên nghĩ nhanh... Và ảnh nói đó là chuyện bình thường, mong trên đường, bản thân anh có gặp nạn thì anh em lái xe cũng giúp.
Đơn giản vậy thôi. Và cá nhân mình vẫn phục và cảm ơn Bắc. Không có em thì lại thêm một tin tai nạn khủng khiếp mà mình chỉ dám liếc tiêu đề, không dám vào đọc. Một lần nữa, cảm ơn Em!
comment by WTT mobile view
06:38 CH 10/09/2016
Chủ xe khách được xe tải cứu: Anh Bắc nói không...
Mod ơi xóa giúp mình mấy bài trên, chưa viết xong ấn nhầm, đăng lia lịa. Rất xin lỗi ạ.
comment by WTT mobile view
06:35 CH 10/09/2016
3 nữ nhà báo thuộc hàng 'đại mỹ nhân' showbiz Việt
Mình nghĩ là sẽ có bạn này, mà không thấy nhắc trong bài báo nhỉ.
Hoàng Nhật Mai
Tự sự của "Hoa hậu làng báo" Hoàng Nhật Mai
Tự nhận mình là người đàn bà đơn giản, thậm chí là nhạt, nhưng câu chuyện của cựu Hoa hậu biển năm nào vẫn khiến không ít người thích thú.

Hoàng Nhật Mai theo đuổi và gắn bó với nghề báo suốt 10 năm. Kết hôn khá sớm, ly hôn sau khi đã có hai cô con gái, cuộc sống của "hoa hậu làng báo" đã trải qua không ít thăng trầm. “Người ta bon chen, mưu sinh, toan tính suy cho cùng cũng chỉ vì muốn hướng đến một cuộc sống bình yên. Vì vậy, nếu có thể bình yên từ trong tâm thì sẽ gạt qua được nhiều sự bon chen khác. Tự mỗi phút giây hiện hữu đã có thể là sự bình yên nếu ta cho rằng nó đang như vậy, và không cần hoài bão về một thứ bình yên xa xăm nào khác”. Đó là quan điểm của Nhật Mai về cuộc sống. Và dường như cô đang rất bình yên.
Bước chuyển khác biệt
1) Điều gì đã khiến chị "dứt áo" khỏi Vietnamnet, nơi chị đã gắn bó 10 năm sang một lĩnh vực truyền hình nhiều áp lực và thử thách?
- Đôi khi, sự xáo trộn nhất thời là những cơ hội cho những bước chuyển mới. Tôi lợi dụng vài sự xáo trộn của cuộc sống riêng tư để quyết định luôn việc thay đổi những không gian mình có mặt trong trong công việc.
Thử sức ở một môi trường mới nhiều áp lực hơn cũng là cách làm mới bản thân mình. Và tôi chọn truyền hình có lẽ cũng là một quyết định liều lĩnh. Tôi còn “sống sót” đến giờ này có lẽ cũng là một may mắn lớn phải không nhỉ? (cười)
2) Rồi bằng cách nào chị có thể định hướng và phát triển một kênh truyền hình?
Tôi học và làm, bằng tất cả sự chân thành và trách nhiệm.
Tôi nghĩ mình không nên nói quá nhiều về những thứ đang làm và đang cố gắng hướng đến. Tôi và công việc của tôi đều ổn, thế là đủ, nhỉ J
3) Tới thời điểm này, nhìn lại sự lựa chọn của mình chị có bao giờ­ hối tiếc?
Tôi cho rằng nhìn lại và tiếc cái gì đó là việc làm phí thời gian.
Tất nhiên, không phải khi nào ta cũng quyết định đúng.
Nhưng quyết định rồi thì phải làm cho mọi thứ ổn thỏa. Việc đó thì tôi làm được, ít nhất là tới thời điểm này.
4) Bây giờ ở vị trí một người định hướng, chị cảm thấy báo chí bây giờ có khác nhiều so với thời chị mới bắt đầu làm nghề?
Cuộc sống ngày càng phát triển, mọi thứ đều có xu hướng phình to - phóng đại. Ngành truyền thông và những thứ liên quan đến nó đều thay đổi từng giây, mọi ngõ ngách trong cuộc sống đều thay đổi.
Mỗi thời một khác, tôi thấy mình may mắn và hình như ngày càng có nhiều người may mắn hơn tôi:). Hơn ở chỗ đất để các bạn trẻ sáng tạo, làm nghề, thể hiện tính cách ngày càng rộng lớn, và dễ dãi.
Trong vai trò một người đọc, tôi cảm nhận rằng số lượng nhà báo và các trang báo hiện nay không tỷ lệ thuận với các bài viết hay, sắc sảo và đáng đọc.
Và tôi nghĩ, nhiều bạn làm báo có lẽ sẽ không tự nhiên khi giới thiệu mình là phóng viên, biên tập viên mảng văn hóa – giải trí. Có lẽ thời thế đã nhào nặn ra một bức tranh đang ở thì tương đối nhiễu loạn, trong mảng đất “màu mỡ nhưng cằn cỗi” này.

5) Chị có bao giờ chạnh lòng vì điều đó?
Tôi không dám chạnh lòng về những chuyện vĩ mô. Ở góc độ cá nhân, tôi cố gắng không lạc vào những chuyện phù phiếm, bị ảnh hưởng và cuốn theo những giá trị ảo.
6) Nghề nào cũng có những bất cập, báo giới cũng là chốn thị phi, nhất là với những phụ nữ đẹp như chị. Trong 10 năm theo nghề, có bao giờ chị gặp những tình huống khiến chị chán nản và giảm đi nhiệt huyết của mình?
Bạn quá khen!
Khó khăn thì nghề nào cũng có, đặc thù của nghề báo khiến tôi hiểu thêm nhiều lĩnh vực và cũng gặp nhiều dạng áp lực. Nhưng chán nản hay mất nhiệt huyết thì không, nếu mình thấy không phù hợp thì vẫn có thể từ chối hoặc tự cho mình một sự lựa chọn khác cơ mà!
Chưa nghĩ đến việc tái hôn
7) Lựa chọn cuộc sống một mình với bộn bề công việc sau 6 năm kết hôn, liệu có phải chỉ vì ba chữ "không phù hợp"?
Tôi không bắt mình phải lựa chọn hay quyết định gì cả, mọi thứ thuận theo tự nhiên và duyên số. Có những thứ ta có thể lập trình, lên kế hoạch, thậm chí…hack nó, nhưng cuộc sống, tình cảm và sự rung động thì chớ.

8) Chị có bao giờ coi hôn nhân tan vỡ là một thất bại?
Thỉnh thoảng tôi bật cười và lại cho rằng nó là một thành công (cười). Tôi đùa đấy, tôi ít khi thất bại, không phải vì tôi làm được mọi thứ mà vì tôi cố gắng nhìn mọi thứ bằng tư duy lạc quan.
Thực ra tôi coi nó nó là gì à, có lẽ là coi giống y như ba từ bạn vừa đề cập ở trên thôi
Vả lại, nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho nó lãng mạn: Mỗi vết thương lành một nỗi vui !
9) "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm", nhưng tôi lại thấy dường như chị đang đào móng xây nhà nhiều hơn. Thời gian chị dành cho cuộc sống riêng và các con dường như không nhiều?
Thực ra nếu không có đàn ông xây thì đàn bà tự xây cũng ở tạm ấm chứ biết làm sao (cười). Tất nhiên, chỉ là tạm thôi. Tôi có ít thói quen hưởng thụ nên ngoài công việc cũng chỉ quanh quẩn nhà cửa, con cái. So với nhiều phụ nữ bận rộn khác, tôi thấy mình còn nhàn chán!

10) Dường như trong câu chuyện của chị còn thiếu vắng hình ảnh một người đàn ông? Chị có nghĩ mình sẽ tiếp tục kết hôn?
Tôi chẳng nghĩ gì cả, cái gì đến thì trước sau cũng đến, cái gì không đến thì kéo nó cũng chẳng về. Cho nên, muốn nhanh – cứ từ từ (cười)
07:28 CH 09/07/2013
“MasterChef - Vua Đầu Bếp Việt” chính thức lên...
fgfgfgfgfgfg
02:39 CH 11/05/2013
Giáo sư Cù Trọng Xoay bảnh bao trong lễ ăn hỏi
Chính xác là thầy Huy đấy bạn ạ! Cái ngày xưa mà có face book như bi h chắc có ngay hội "những người hâm mộ thầy Huy dạy sử" đấy các bạn nhỉ

Mình cũng nghĩ vậy. Mình học môn sử của thầy Huy năm lớp 10 và lớp 12. Thầy hiền lành, giản dị, nhỏ nhẹ. Nhưng trong giờ học của thầy mình nhớ là lớp mình không hề ồn. Ồn thì làm sao mà nghe được thầy nói gì. Nhớ lại hình ảnh của thầy mà cứ rưng rưng. Có cảm giác, thầy làm gì cũng sợ phía kia bị đau, nên rất rón rén, khẽ khàng. Một tuần tiết học đâu có nhiều và môn sử thì không phải là môn được lũ học sinh chú trọng, nhưng ngồi học thì không thấy chán, thậm chí còn thấy thích học. Và mỗi lần nhớ về trường cũ, bao giờ cũng có hình ảnh thầy Huy, rất rõ nét trong hình ảnh những thầy cô giáo mình yêu quý. Năm lớp mười, có lần thầy giao về cho mỗi tổ làm một bộ sưu tập tranh ảnh, ghi chép, sưu tầm về lịch sử (đề tài tự chọn, thống nhất và tự làm đề cương). Đứa nào cũng hứng thú, hẹn hò ở nhà đứa nào, phân công nhau làm việc gì..., vui lắm. (Chỉ có môn Tiếng Anh bọn mình mới hay làm ngoại khoá như thế vì là môn chính, và lúc đó, có thêm môn lịch sử). Cuối cùng, cả 4 tổ đều được 10, và điểm 10, tính hệ số 2 (ví dụ, điểm kiểm tra miệng, kiểm tra 15' thì tính hệ số 1).
Lúc nãy có bạn nhắc đến thầy Định. Mình cũng học sử thầy Định năm lớp 11. Dạo đó thầy Định và 1 cô giáo dạy Địa lý (mình không nhớ tên) của truờng Chu văn An sang trường mình dạy. Thầy Định dạy cũng hay, mà cũng hiền vô cùng. Nhưng thầy ít khi cho điểm 10 thì phải, chỉ cho 9. Đặc biệt, giờ của thầy, đứa nào nói chuyện riêng, làm việc riêng... thầy toàn gọi đứa bên cạnh đứng lên trả lời.
Tự nhiên ôn chuyện cũ, lòng cứ thấy rưng rưng.
06:45 CH 09/03/2013
Giáo sư Cù Trọng Xoay bảnh bao trong lễ ăn hỏi
@ Me yeu Na: Có phải thầy Huy không bạn?
03:57 CH 07/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ cuối: Tay trong tay tôi đã bên người/Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn

Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, một năm trước ngày tử nạn
Mặc những trăn trở, nghi ngại của ngay cả chính những người gần gũi thân thuộc nhất (hồi đó không chỉ mẹ tôi mà cả chị Đông Mai - chị ruột Xuân Quỳnh cũng phản đối tình yêu của họ), anh chị đã quyết tâm sống với nhau, tin tưởng vào tình yêu của mình.
Xuân Quỳnh là một người phụ nữ Á Đông điển hình với những quan niệm rất truyền thống. Chị thực sự là một người đàn bà suốt đời kiếm tìm vun trồng và gìn giữ. Gìn giữ cẩn trọng đến mức lúc nào cũng nơm nớp lo âu, khắc khoải.
Người thì bảo điều đó làm khổ chị. Người lại bảo trạng thái tình cảm đó mới tạo nên vẻ độc đáo và sức cuốn hút trong các bài thơ tình của chị. Bản thân Xuân Quỳnh chỉ giải thích một cách đơn giản đó là do “giời đày”.
Lưu Quang Vũ đón nhận tình yêu một cách quả quyết và nhẹ nhàng hơn. Anh không quá day dứt, lo lắng như Xuân Quỳnh.
Nhân sự kiện này, Lưu Quang Vũ viết thư báo tin cho em trai thứ hai, lúc đó đang học ở Liên Xô (cũ): “Anh đã quyết định lấy chị Xuân Quỳnh. Sau bao nhiêu sóng gió anh chị đã về sống với nhau. Chị Quỳnh là người tốt và hiểu anh. Mong và tin rằng sẽ đem lại hạnh phúc cho nhau và sẽ làm được nhiều việc có ích cho đời…”.
Quả đúng như vậy. Những năm chung sống, anh chị đã có ảnh hưởng rất lớn với nhau trong đời sống hàng ngày cũng như trong sáng tác. Hai người đã yêu nhau và nương tựa vào nhau để gây dựng tổ ấm và lao động cật lực. Cuộc sống của họ tuy ngắn ngủi, nhưng cả hai đều đã sống và làm việc hết mình, đã có những đóng góp không nhỏ cho đời sống văn học nước nhà.
Khối lượng kịch bản đồ sộ của Lưu Quang Vũ khiến nhiều người kinh ngạc. Bên cạnh đó còn là thơ, là truyện ngắn và hàng trăm bài báo lớn nhỏ khác.
Xuân Quỳnh cũng làm việc với năng suất không kém. Các tập thơ của chị nối nhau ra đời: Tự hát, Lời ru trên mặt đất, Sân ga chiều em đi, Hoa cỏ may… Và hàng loạt các tập thơ, truyện dành cho thiếu nhi: Bầu trời trong quả trứng, Bến tàu trong thành phố, Vẫn có ông trăng khác, Sự tích Vịnh Hạ Long…
Khi đến với Lưu Quang Vũ, dù đã là một nhà thơ nổi tiếng được bạn đọc yêu mến, Xuân Quỳnh vẫn sẵn sàng chấp nhận mọi sự hy sinh để vun đắp cho sự nghiệp của chồng: Anh thân yêu, người vĩ đại của em - Anh là mặt trời em chỉ là hạt muối - Một chút mặn giữa đại dương vời vợi.
Đây không hề là những lời đề cao, xưng tụng của người đàn bà đang yêu đắm đuối mà đó chính là những suy nghĩ rất thật của một con người nhạy cảm, đầy nữ tính.
Đành rằng phải có sắt tốt mới rèn được dao sắc. Nhưng ngay cả vàng mười ở trong tay kẻ nông cạn, hời hợt cũng trở thành vô dụng.
Bản thân Lưu Quang Vũ cũng đã từng nếm trải cảm giác cay đắng này trong đoạn đời trước đây. Còn với Xuân Quỳnh, chị đã nhận ra tài năng của anh không phải vào lúc chói sáng mà là lúc đang khó khăn nhất. Nhận ra vẻ đẹp của tâm hồn anh vào lúc đang có nhiều đổ vỡ nhất.
Chỉ có sự thông minh sắc sảo và một tình yêu rộng lớn mới có thể hiểu và làm được như thế.
Tôi chưa thấy một người phụ nữ nào lại hội đủ những yếu tố đáng quý như Xuân Quỳnh: xinh đẹp, tài năng, thông minh, giàu nữ tính, yêu đến quên cả bản thân mình.
Thời gian đầu chung sống, nếu như Lưu Quang Vũ phải làm đủ nghề để kiếm sống thì Xuân Quỳnh cũng phải tìm đủ mọi cách để duy trì sinh hoạt của gia đình.
Chị xoay sở kiếm được nhiều việc làm thêm. Từ đính kim sa vào trang phục biểu diễn cho các đoàn văn công, đan áo len, đóng sổ tay gia công đến việc bồi giấy, dán hộp mứt, làm lịch…
Mà đó chỉ là những việc làm thêm. Việc chính chị Quỳnh phải đảm đương ở cơ quan là công việc của một người biên tập. Ở báo Văn nghệ chị biên tập thơ. Khi chuyển về NXB Tác phẩm mới chị lại được phân công làm biên tập văn xuôi. Ngoài ra chị còn phải lo chu toàn việc gia đình, nuôi dạy ba cậu con trai.
Ngày mới về làm dâu, chị nói với tôi: Chị ở tập thể từ nhỏ nên việc nữ công gia chánh vụng về lắm. Đúng là về khoản nấu ăn chị không khéo, có những món anh Vũ làm ngon hơn chị nhiều.
Nhưng chị lại khéo tay trong việc đan lát, cắt may. Chị nhờ người quen mua len sợi bán cân ở nhà máy về tháo ra, nối lại, đan thành những chiếc áo dầy dặn, ấm áp cho chồng con, sửa chữa quần áo cũ của các anh thành bộ đồ tinh tươm cho em.
Chị biết làm rất nhiều thứ. Đi Liên Xô lần đầu tiên, chị mua một bộ tôngđơ về cắt tóc cho cả nhà. Thời gian đầu anh Vũ gọi việc cắt tóc của chị Quỳnh là “nỗi kinh hoàng của cả nhà”.
Lúc đầu chưa quen tay, chị biến cả nhà thành chỗ để thí nghiệm. Có lần cắt hỏng, đầu của mấy bố con trông như cái nồi đất úp lên, trời không rét mà ai cũng phải đội mũ sùm sụp.
Thế rồi tay nghề của chị ngày càng được nâng lên. Cả nhà không bao giờ phải ra cắt tóc ngoài hàng. Chị cười thích thú khoe với mọi người: Thợ cắt tóc nhìn thấy mình khóc rưng rức, làm lợi cho kinh tế gia đình được khối tiền. Chị còn mua một bộ kim tiêm, khi cần thiết là chị có thể tiêm cho mọi người trong gia đình. Tôi vốn nhát gan, nên rất phục chị về khoản này.
Đối với anh Vũ, chị săn sóc, chăm lo tận tuỵ vô điều kiện. Chị luôn dành cho anh tình cảm nồng nhiệt, say đắm như thuở ban đầu. Đã nhiều lần chị nói với tôi: Chị chỉ tìm thấy yên ổn thật sự khi bước chân về nhà mà nhìn thấy anh Vũ.
Tất cả bạn bè của anh chị và cả gia đình tôi đều thấy rõ vai trò của chị Quỳnh đối với sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ. Chính mẹ tôi đã khẳng định điều ấy khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Phụ nữ TP.HCM ngày 3-9-1988:
“Quỳnh thật sự là nàng dâu thảo, vợ hiền. Từ khi lấy Vũ, nó đã dốc toàn bộ tình cảm và sự chăm sóc cho chồng, cho con chung và cả con riêng của chồng. Quỳnh chăm sóc thương yêu cháu rất chu đáo, rất tận tình, không tạo cho cháu chút mặc cảm buồn phiền nào hết.
Đối với Vũ, phải nói là Quỳnh yêu thương, chiều chuộng hết mực. Ngay tôi đối với ông nhà tôi (nhà thơ Lưu Quang Thuận) cũng có khi không bằng thế...
Nhớ lại những đêm khuya, khi cả nhà đã ngủ yên, khi đã làm xong mọi việc nhà, Quỳnh mới ngồi vào bàn ghi những vần thơ mới, tôi thương con đứt cả ruột!”.
Hơn ai hết, Lưu Quang Vũ đã cảm nhận điều ấy một cách vô cùng thấm thía. Anh đã dành cho chị những câu thơ thật nồng nàn, da diết: Dù sao cuộc đời đã dành em lại cho anh - Điều mong ước đầu tiên, điều ở lại sau cùng - Chúng ta đã đi bên nhau trên mặt đất - Dẫu chỉ riêng điều đó là có thật - Đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời.
Cuộc sống chung với Xuân Quỳnh đã cho Lưu Quang Vũ một nguồn năng lượng mới. Anh vừa có trong tay một tình yêu lý tưởng, lại vừa có một hạnh phúc đời thường: Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài - Chỉ một người ở lại với anh thôi - Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi - Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới - Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương - Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi - Em là sớm mai là tuổi trẻ của anh - Khi những điều giả dối vây quanh - Bàn tay ấy chở che và gìn giữ - Biết ơn em, em từ miền gió cát - Về với anh bông cúc nhỏ hoa vàng.
Nhà thơ Nguyễn Duy đã khẳng định rằng những bài thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ viết tặng cho nhau đã làm thành một đối thoại tình yêu đẹp nhất của thế hệ các anh.
Mà đâu phải chỉ trong thơ. Trong đời sống thường nhật họ cũng đã dành cho nhau tình yêu thương sâu thẳm mà ngay cả những cặp uyên ương hạnh phúc nhất cũng khó lòng sánh kịp.
“Đối thoại tình yêu” của Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ được thể hiện qua các bức thư họ gửi cho nhau khi xa cách trong những năm tháng chung sống cũng thật đẹp, thật nồng nàn, thật sâu sắc, không kém gì những bài thơ tình nổi tiếng được nhiều người yêu thích của họ.
“9-6-78
Quỳnh nhớ thương
Em đi đã được một tuần. Nhớ em và buồn lắm. Mấy bố con ở nhà vẫn bình thường. Mẹ đi vắng. Mí cứ quấn bố, tối không chịu xuống bà. Hôm nào cũng bảo: bố với em đi đón mẹ đi. Mí ăn được, ngủ được, vẽ thêm nhiều tranh mới. Tuấn Anh xuống bác, bà Tuấn Anh vẫn ở đây, ngày nào Tuấn Anh cũng về đi bơi, xong ăn cơm chiều với bà hoặc với anh rồi lại xuống bác. Kít thì vẫn về luôn.
Anh đang viết gấp cho xong tập sách diễn viên, cũng mới viết được mấy bài thơ và định viết truyện ngắn về Campuchia. Nhuận bút tập thơ của em mẹ bảo có lẽ phải hàng tháng mới có tiền. Mấy bố con cũng túng, nhưng cũng “cầm cự” được vì có cá khô, tôm khô rồi.
Anh làm mọi việc nhà xong, ru con yên thì đã 11 giờ lúc đó mới làm việc. Mới biết em ở nhà làm việc nhà vất vả thật.
Những gì em dặn về nhà cửa, về con anh đều nhớ và lo chu toàn. Chỉ có nhớ em và mong ngày em về. Có lẽ cũng phải 1 tháng nữa em mới về nhỉ.
Em cũng chẳng nên mất thời giờ quá về những việc dự định sẽ mua sắm bên đó, để sức mà đi xem, đi chơi. Đời sống vợ chồng con cái mình rồi cũng đã ổn dần, miễn là mình viết được và in được.
Nhiều việc muốn làm quá, anh rất sốt ruột, sức khỏe thì có hạn. Anh cũng muốn làm xong mọi “com măng” để thư thả mà làm thơ. Anh muốn viết khác đi, hay hơn và chắc rằng sẽ viết được.
Mới đó mà đã giữa năm. Em về 2 vợ chồng sẽ đi đâu với nhau 1 chuyến. Em đi Liên Xô kỳ này, anh cũng rất mừng, sống với nhau, anh chỉ mong em sung sướng và làm việc được. Anh thì mãi mãi vẫn thế: vẫn là anh của em với tất cả những nhược điểm và ưu điểm mà anh có, nhưng sẽ mãi mãi yêu thương em, hơn cả những ngày qua cộng lại.
Mí ngoan và tội lắm, rất khôn. Hôm qua đang chơi cái gì đó, mắng Kít: “Chỉ chuyên phá hoại thôi!”. Mí bắt anh đọc bài “thẩm chừi” anh không thuộc, Mí khóc, bảo anh là: “Bố không thuộc mà lại để mẹ đi Liên Xô mất. Bố không thuộc thì bố đi Liên Xô để mẹ ở nhà đọc với em chứ!”.
Hôm qua Mí vẽ cái tranh gọi tên là: “Mí đứng dưới ba cửa sổ chờ mẹ!” anh gửi cho em đây.
Hôn em. Nhớ em nhiều. Em ở bên đó xứ sở đẹp đẽ, giàu có, có nhớ đến gian buồng và cái sạp của bố con tôi không?
Anh của em"
“8-6-78
Anh nhớ thương của riêng em
Suốt từ hôm đi, chưa lúc nào mở mắt ra được. Muốn viết cho anh ngay, viết nhiều, nhưng bận quá và căng thẳng quá. Hôm em đi, trời mưa chỉ kịp nhìn anh xuống xe đạp và khoác cái mảnh ni lông trắng.
Em thương nhớ anh muốn khóc nhưng đành phải cười nhạt nhảy lên xe. Em không còn nhớ được em đã nhìn thấy gì cuối cùng trên đất ta ngoài anh và con.
Khi máy bay bay lên, trời mù mịt không thể nhìn thấy ở dưới được. Khi bay gần tới Mạc Tư Khoa, nhìn xuống thì thấy như lúc mờ mờ sáng. Khi xuống ga rồi mới biết là lúc đó đang 11 giờ 30 đêm (giờ Mạc Tư Khoa).
Đoàn em đi về một khách sạn rất thường - em tìm không có 1 tờ giấy để viết thư cho anh đành tắm rửa xong thì đi nằm. Nhưng không sao nhắm mắt được. Em nhớ thương con, nhớ anh quá.
Giá như lúc này họ chỉ cho là “Liên Xô đấy” rồi lại lên máy bay quay về thì sung sướng quá…Chắc bố con ở nhà đang vật lộn với cái nóng. Không hiểu anh đã cắt tóc cho con chưa? Anh bận nhiều, vất vả.
Em nghĩ mà thương anh lắm. Không hiểu anh có nhớ em không, hay lại thấy là đang thoát khỏi sự khó tính bẳn gắt của em? Đừng giận em, em dù có những nhược điểm như vậy nhưng chủ yếu là em bao giờ cũng thương yêu anh lắm.
Cả đời em, em chỉ muốn cố gắng sao cho anh đỡ nhọc nhằn. Lắm lúc em thấy em không xứng đáng với anh không phải về tình yêu mà về trí tuệ.
Em cảm thấy em già rồi, già về thể chất đã đành nhưng lại còn già về sự yên phận của người đàn bà, về những sự nhỏ nhen tầm thường của đời sống. Em nhìn mặt em trong gương, em thấy em không xứng đáng với anh.
Tất cả trong anh là cái gì đó đang vươn lên, đang nổi dậy. Tất cả trong anh là sự bắt đầu mà con đường của anh thì còn xa tít tắp. Con người anh như cây đàn, vừa tiếp nhận những luồng gió của cuộc sống vừa trả lại cho cuộc sống biết bao nhiêu âm thanh.
Em, em cảm thấy em khô cằn và bất lực. Em buồn lắm. Em thành thật nói với anh điều đó. Em vẫn cảm thấy hết. Vậy cho nên lúc nào em cũng thấy tình yêu của chúng ta mong manh. Em buồn lắm.
Em không thể hình dung là nếu không có anh em sẽ sống như thế nào. Em rất muốn em trẻ đẹp lại cho tuổi tác và hình thức của mình. Có thể anh không cần như thế, nhưng em cần như thế. Vì chắc chắn rằng em trẻ hơn và đẹp hơn, anh sẽ yêu em hơn.
Anh đừng bảo là em nghĩ cho anh những điều tầm thường. Người ta, nhiều khi tưởng mình đã vượt qua những điều tầm thường rồi thế mà đôi khi vẫn quay lại, sự quay lại còn mạnh mẽ hơn lúc bắt đầu.
Ở người đàn bà, đôi khi chỉ cần nhan sắc thôi, nhan sắc là tài năng. Dẫu rằng có nghĩ về phía tinh thần thế nào đi nữa thì người thông minh tài năng cũng cần có nhan sắc, tài năng mới vẹn toàn.
Đôi khi em nghĩ quẩn là “có khi em phải bỏ anh đi để em khỏi phải mang nỗi tủi nhục là không xứng với anh”. Nhưng em không có can đảm. Em yêu anh và em đã nhập cuộc đời em vào cuộc đời anh, bây giờ đối với em đó chỉ là một cuộc đời thôi, cắt đi làm sao nổi”.
“10-1985
Anh nhớ thương
Có thể anh không mong thư của em, em vẫn viết cho anh. Vì trước tiên là nhu cầu của em, em muốn được trò chuyện với anh.
Anh mới đi có 2 ngày mà em buồn quá. Con và em lại ốm. Hôm nay con đã ăn được tý cơm, em đã đỡ ho. Trời nóng, nhọc mệt nhiều. Chỉ muốn ở bên anh cho đỡ khổ.
Cuộc sống ngắn ngủi, con người chỉ đi qua cuộc đời như một vệt sáng rồi biến mất, vĩnh viễn.
Sống với nhau 12 năm mà ngắn quá dù có vài chục năm nữa ở bên nhau cũng chẳng là dài. Em và anh ngày càng già đi, càng buồn nhiều khi trông thấy những người thân mình ra đi.
Em mong và sẽ cố gắng sao cho những năm sống của chúng ta vui và đỡ nhọc nhằn hơn. Em thương anh nhiều lắm. Anh vất vả chẳng có phút nghỉ ngơi. Làm sao mà đỡ đần sự nhọc nhằn được cho anh!
Nhớ giữ gìn sức khỏe và tình yêu của anh cho em và cho các con. Đừng ở lâu ở Sài Gòn. Em và các con mong anh lắm.
Em đây”
“7-11-87
Quỳnh thương yêu
…Nhà vẫn bình thường. Tuấn Anh đã đi làm từ ngày 1-11. Mí ngoan, khoẻ. Hôm nọ vừa đi lĩnh giải nhất cuộc thi viết về Liên Xô và hôm qua được Đại sứ quán mời đến liên hoan.
Anh vẫn bận bịu lắm. Vở Chết cho điều chưa có ở nhà hát Tuổi trẻ đã công diễn. Vở Trương ba hai mươi tháng này sẽ xong. Hôm qua chạy mộc trên sàn anh có mời anh Nguyễn Khải xem. Anh Khải thích lắm, bảo rằng là một vở kịch lớn. Anh mong em về xem, Trương ba sẽ là sự kiện văn hóa trong những ngày tới.
…Anh rất nhớ em. Chúng ta sống với nhau đã 14 năm, nhiều gian khổ nhưng cũng nhiều niềm vui. Anh đã làm được nhiều việc, 1 phần cũng nhờ em, và biết rằng dù ở trên đời còn có nhiều cô gái khác - những “yêu tinh” như em vẫn nói - nhưng chỉ có em là yêu thương và hiểu anh, hiểu cả những thói tật đến công việc và những nỗi đam mê.
Ở bên đó em đừng phải lo lắng gì về anh và các con, cũng đừng khổ trí quá về việc mua bán. Phải giữ gìn sức khỏe và tranh thủ đi chơi, đi xem, kẻo về nhà lại bận rộn nhiều việc không tên như bếp núc, chợ búa…
Mẹ khỏe, Thơ về giúp anh và mẹ nhiều việc nhà. Kít tích cực giúp bà. Tuấn Anh xuống chơi luôn. Anh đều để ý chăm sóc cả 3 đứa, em đừng lo.
Anh D.N. Đức và Cần nói rằng Tạp chí Sân khấu Liên Xô (số 10 – 87) có bài viết về anh. Em kiếm cho anh 1 số nhé.
Hôn em nhiều nhiều
Anh Vũ ”
Mối tình của Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ kéo dài được 15 năm. Có điều gì như là định mệnh khi chị viết trong một lá thư gửi cho anh vào năm cuối đời: “Chúng ta sống với nhau đã được 15 năm. 15 năm bằng thời gian lưu lạc của cuộc đời cô Kiều”. 15 năm đoạn trường của nàng Kiều đã nhập vào tâm thức người Việt.
Sau 15 năm gắn bó, anh chị lại tiếp tục bên nhau, vĩnh viễn bên nhau cùng tình yêu bất tử của mình. Nó vẫn còn được lưu truyền mãi cùng với những câu thơ bất hủ của Xuân Quỳnh: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em - Như máu thịt đời thường ai chả có - Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa - Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”.
Lưu Khánh Thơ
http://www.tienphong.vn/van-nghe/141322/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:56 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ VIII: Chỉ bạn bè em biết và thơ/ Em đã viết những điều em đã sống

Xuân Quỳnh và Lưu Quang Định (em trai nhà thơ Lưu Quang Vũ, hiện làTBT báo Nông thôn ngày nay), Matxcơva 1987
Bạn bè của Xuân Quỳnh hầu hết đều là những người làm thơ viết văn. Từ khi lấy Lưu Quang Vũ, chị lại có thêm những người bạn mới thuộc giới sân khấu và hội hoạ.
Thật khó phân biệt rạch ròi đâu là bạn của Xuân Quỳnh, đâu là bạn của Lưu Quang Vũ. Chị vẫn nói đùa với các con rằng: Bố mẹ chơi chung bạn với nhau.
Là người phụ nữ thông minh sắc sảo, giỏi đối đáp, lại mang tiếng là “đáo để”, nhưng vốn chu đáo, tận tâm với mọi người nên chị được bạn bè yêu quý, nể trọng. Tính chị thẳng thắn, yêu ghét đều quyết liệt, rõ ràng và thường bày tỏ tình cảm của mình một cách nồng nhiệt.
Chị hay kể chuyện về những người bạn trong giới văn nghệ cho tôi nghe. Trong số các nhà văn thế hệ trước, chị đặc biệt quý trọng nhà thơ Anh Thơ - người đã động viên khuyến khích chị trong thuở ban đầu đến với văn chương.
Mỗi lần gặp, tôi đều được nghe cô Anh Thơ kể những kỷ niệm về Xuân Quỳnh. Đặc biệt là khi cuốn hồi ký “Từ bến sông Thương” của bà vừa ra đời, Xuân Quỳnh đã gửi ngay thư vào Sài Gòn để bày tỏ những suy nghĩ của mình về cuốn sách.
Chị Quỳnh có ba chuyến đi nước ngoài do Hội Nhà văn cử đi và đều đi Liên Xô (cũ). Không biết do sự sắp xếp thế nào, mà chuyến đi Nga đầu tiên Xuân Quỳnh được bố trí đi cùng nhà văn Nguyễn Minh Châu, còn chuyến sau đi cùng nhà văn Nguyễn Khải.
Chị Quỳnh kể rằng anh Châu viết văn sắc sảo, “tinh tướng” là thế mà khi đi ra nước ngoài lại rất rụt rè khi phải tiếp xúc với đám đông. Thấy cái gì cũng ngạc nhiên, cũng lạ lẫm.
Trước chuyến đi, mọi người họp nhau lại và cử anh Châu làm Trưởng đoàn. Anh Châu từ chối nhưng rồi bị mọi người “ép” quá, trong đó, Xuân Quỳnh “to mồm” nhất nên anh đành phải nhận.
Sang đến nơi, việc gì anh cũng phân công cho Xuân Quỳnh - từ tặng quà lưu niệm, phát biểu ý kiến, giới thiệu đoàn, cảm ơn phía bạn đã tiếp đón…
Có lần đến tham quan trao đổi tại Hội Nhà văn Létxtôni, người phiên dịch đưa đoàn đi yêu cầu Trưởng đoàn phải có “diễn văn” mở đầu thật “hoành tráng”.
Chị Quỳnh cũng ngại đám đông nên lần này kiên quyết từ chối. Nhà văn Nguyễn Minh Châu bèn nghiêm giọng nói: “Tôi là Trưởng đoàn, tôi giao việc đồng chí phải thực hiện”.
Thấy “nghiêm trọng” quá nên Xuân Quỳnh không dám có ý kiến gì nữa, tuy trong bụng rất ấm ức. Một lúc sau, đang ngồi chuẩn bị bài phát biểu, Xuân Quỳnh nghe thấy tiếng gõ cửa phòng, rồi nghe tiếng anh Châu gọi: “Quỳnh ơi, mở cửa cho tôi, Châu đây mà”.
Anh bước vào phòng với nét mặt vô cùng khổ sở và nói: “Quỳnh cố gắng giúp mình nhé. Mình biết là Quỳnh cũng ngại đám đông nhưng mình còn ngại hơn, lại còn dát và hay lúng túng nữa”.
Kết thúc chuyến đi, có người nhận xét: Xuân Quỳnh cứ như là trưởng đoàn, anh Châu không thực hiện được vai trò của mình. Anh Châu bác lại ngay và cười rất thích thú: Không, tôi thực hiện xuất sắc vai trò của mình, đó là cử Xuân Quỳnh làm trưởng đoàn thay tôi.
Về Hà Nội, khi gặp Lưu Quang Vũ, anh Châu kể lại chuyến đi và nói rằng: “Cứ bảo phụ nữ là phái yếu nhưng họ mạnh mẽ hơn chúng ta nhiều, bà Quỳnh nhà ông sắc sảo và quyền biến lắm”. Nói xong câu đó, anh Châu lại cười hì hì và hạ giọng nói với anh Vũ: “Bà ấy còn chỉ đạo tôi việc mua quà nữa, về nhà tôi được khen lắm”.
Sau này anh mới nói là không có ý định “khoán trắng” cho Xuân Quỳnh như vậy, nhưng sau lần đầu tiên nghe Quỳnh nói đàng hoàng tự tin quá nên anh quyết định rút lui.
Đến chuyến đi với nhà văn Nguyễn Khải, chị Quỳnh nói đùa rằng phải tranh chức làm Trưởng đoàn để còn dễ bề sai khiến mọi người. Nhưng ngay từ đầu nhà văn Nguyễn Khải đã được giao trách nhiệm Trưởng đoàn nên hết cả bàn cãi.
Những ngày chị Quỳnh ở Mátxcơva, cậu em trai tôi đang học ở bên đó, nhưng ở thành phố khác, đã đến thăm chị. Chị Quỳnh mang cậu em sang gửi ở nhờ phòng Nguyễn Khải.
Sáng dậy anh Khải nói với chị Quỳnh: “Tuổi trẻ thích thật, đã lâu lắm rồi mình không có khái niệm nằm xuống là ngủ được ngay. Cậu em Quỳnh trèo lên giường, chúc tôi một câu xong là đi ngủ liền. Tôi cứ nhìn nó ngủ mà thèm”.
Năm 2001, tôi có dịp vào làm việc với nhà văn Nguyễn Khải ở TP.Hồ Chí Minh, ông cũng kể lại câu chuyện này và nói thêm rằng hồi đó ông cũng mừng cho Quỳnh vì thấy chị có cả một gia đình lớn mà trong đó mọi người rất quan tâm đến nhau.
Là tác giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết triết luận sâu sắc, nhưng trong quan hệ với bạn bè nhà văn Nguyễn Khải thường hay quan tâm đến chuyện gia đình và những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống. Ông viết cho Xuân Quỳnh những bức thư rất tình cảm, dặn dò chị về việc giữ gìn sức khỏe khi nghe tin chị bị ốm.
Trong số các cây bút nữ, Xuân Quỳnh thân với Phan Thị Thanh Nhàn từ khá sớm. Khi chị Nhàn gửi thơ đến báo Văn nghệ dự thi, chị Quỳnh đã ở trong ban sơ khảo. Năm đó chị Nhàn được giải nhì và người đầu tiên báo tin vui đó là Xuân Quỳnh.
Bắt đầu từ đó họ trở thành những người bạn thân thiết. Cuối năm 1969, trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, chị Quỳnh đi công tác ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và hầu như tuần nào cũng viết thư cho bạn, chia sẻ mọi buồn vui, lo lắng.
Thư ngày 4/10/69
“Nhàn thân yêu.
Tao đã viết một thư cho mày mà chưa nhận được thư của mày. Hôm nay tao cảm thấy buồn quá lại viết cho mày đấy.
Chả là khi tao xuống đây, tao về ngay hội sáng tác Quảng Bình. Khi đến thì họ cũng quý. Họ xúm xít đến chơi không còn làm gì được. Sau 1 ngày tao xuống xã Đồng Thành.
Sống thật là cực nhọc, 4 đêm liền không ngủ được vì rệp và muỗi như trấu. Nhà mới dựng rất nhỏ, ăn cơm thường là trộn cát. Ở trong nhà không ngủ được tao ra ngoài bãi biển ngủ trên 1 cái thuyền.
Đêm đó cũng không ngủ được, chợp mắt nghe tiếng sóng lại mơ là máy bay Mỹ oanh tạc dữ dội, phải bế con chạy khắp các hầm. Tỉnh dậy thì ra là tiếng sóng, vừa mừng vừa thương con toát cả mồ hôi...”.
“...Ngày chưa có chồng cứ thoáng nghĩ đến ai tao lại chợt lo: nếu như mình yêu họ, thì liệu sau một năm mình có còn thấy họ đáng yêu không? Và ý nghĩ ấy làm tiêu tan cả mọi dự định. Thế đấy.
Nhàn thường bảo mình có nghị lực nhưng mình biết chính mình là người yếu đuối nhất. Bởi vậy muốn có chút nghị lực như người ta thì mình phải tập, cũng như bây giờ đang tập đi xa.
Chẳng ai bắt cả, nhưng nhất định mình sẽ không về Hà Nội trước tháng 12 - 1969 đâu. Nhàn hiểu tao không? Phải dằn lại nỗi nhớ con, nhớ bạn bè, phải tập từng tý một”.
Nhà văn Nguyễn Thị Như Trang kể lại rằng chị không nhớ mình quen Xuân Quỳnh từ bao giờ. Chỉ biết rằng khi chị về công tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội thì đã gặp Xuân Quỳnh qua lại ở đó như người nhà.
Cả toà soạn ai cũng quý Xuân Quỳnh và thường đón tiếp nồng nhiệt mỗi khi chị ghé vào. Sau này hai người càng thân nhau hơn khi cùng học lớp ngoại ngữ tiếng Pháp ở báo Văn nghệ.
Mỗi khi tạp chí Văn nghệ quân đội được phân phối tiêu chuẩn lương khô, thịt cá, đường sữa… là chị Như Trang lại báo cho Xuân Quỳnh đến. Ai cũng vui vẻ, sẵn lòng san sẻ khẩu phần của mình cho chị.
Có lần Xuân Quỳnh ngại không đến, mọi người lại nhắc chị Như Trang phải lấy phần rồi mang đến cho Quỳnh. Xuân Quỳnh đã có một câu nói nổi tiếng vẫn hay được mọi người nhắc lại: “Tạp chí Văn nghệ quân đội là trụ sở Hội Nhà văn thứ hai của chúng tôi”.
Xuân Quỳnh còn thân thiết với Ý Nhi và Lê Minh Khuê. Không chỉ là những người bạn thơ văn, họ còn cùng làm việc với nhau ở NXB Tác phẩm mới (nay là NXB Hội Nhà văn).
Những năm tháng đó là thời kỳ khó khăn gian khổ của đất nước, cuộc sống riêng của mỗi người cũng đầy gian nan vất cả. Họ đã chia sẻ cùng nhau bao nỗi niềm trong cuộc sống cũng như trong công việc. Họ đã từng chia cho nhau những đồng tiền cuối cùng, sẻ cho nhau những gói mì chính to bằng bao diêm…
Đã từng cùng dắt díu nhau đi bán một mảnh vải, một chiếc quần lụa đen với sự ngượng ngùng, lúng túng sợ bị người quen bắt gặp, để có tiền đi chợ. Và nhiều hơn cả là những lời tâm sự không dứt về đủ các thứ chuyện trên trời dưới bể, về mọi nỗi trần ai mà một người đàn bà dính vào nghiệp văn chương phải gánh chịu.
Lúc Lê Minh Khuê chưa lập gia đình, Xuân Quỳnh thường giục giã: “Em phải lấy chồng, có con. Phụ nữ phải có con. Có con là niềm hạnh phúc lớn nhất”.
Khi chị Khuê có con nhỏ, bận bịu gia đình, xao nhãng việc sáng tác, chị Quỳnh lại nhắc nhở, động viên bạn làm việc. Khi tập truyện ngắn của chị Khuê được hoàn thành, chị Quỳnh vui lắm. Chị vội đến ngay nhà chị Khuê để chia sẻ niềm vui cùng bạn.
Mỗi buổi sáng, khi có tâm trạng u uất, buồn khổ, Lê Minh Khuê đạp xe đến cơ quan và chỉ mong gặp được Xuân Quỳnh. Gặp Xuân Quỳnh là tất cả mọi buồn bực đều tiêu tan.
Hiếm có người phụ nữ nào nói chuyện có duyên và hấp dẫn như chị. Có nhiều câu chuyện bình thường, qua lời kể của chị cũng trở nên lôi cuốn. Đến cơ quan chị kể chuyện ở nhà: Trong khu tập thể có hai vợ chồng cãi nhau triền miên. Thấy vậy, mình nói với họ là sống căng thẳng thế thì nên bỏ nhau cho đỡ khổ. Anh chồng bảo là không thể bỏ được, vì đây là mối tình đầu của tôi. Nói vậy nhưng đến buổi chiều đã thấy cầm chổi đập vào mặt “mối tình đầu”.
Có nhà khác lại mắng nhau bằng “hình tượng văn học”: “Anh đối xử không tốt với bố mẹ tôi. Anh không bằng con bồ nông có hiếu trong câu chuyện cùng tên của nhà văn Phong Thu”.
Về nhà chị lại kể chuyện cơ quan: Có anh đang tập làm thơ, kẻ chữ nắn nót trong một cuốn sổ dày: Một trăm bài thơ hai câu, sau đó lại mở ngoặc đề: mới viết được hai bài. Mấy tháng sau lại chữa thành: đã viết được ba bài.
Lại có anh khác đề ra tiêu chuẩn chọn vợ: tuổi dưới 25, xinh đẹp, có học thức. Khi đó anh ta 30 tuổi. Lúc 40 tuổi vẫn giữ nguyên tiêu chuẩn. Lúc 50 tuổi vẫn không thay đổi. Và khi về hưu vẫn giữ vững lập trường. Kết quả là đến cuối đời vẫn độc thân.
Chị cũng thường hay kể những câu chuyện cười nhạo mình khá hóm hỉnh: Ngày còn trẻ ở đoàn văn công, mình “mê” một anh to cao đẹp giai, nhiều tài lẻ. Khi anh ta được cử đi học nước ngoài mình khóc sưng cả mắt, ngày đêm mong nhớ.
Hôm nghe tin anh ta về nước mình hồi hộp chờ đón. Khi gặp nhau, sau vài lời xã giao, anh ta hỏi luôn: Quỳnh có mua quạt tai voi không, anh để rẻ cho một cái. Thế là tình yêu trong mình chết luôn.
Có lần mình đến cơ quan hơi muộn, thấy mọi người đã ngồi họp nghiêm chỉnh, mình vội vàng vào họp lại còn lấy sổ tay ra để ghi chép. Chẳng ai nói gì. Lúc đó “bà bô” đang mải viết, khi ngẩng lên thấy mình mới đến bảo nhỏ: Hôm nay họp chi bộ (mẹ tôi làm cùng cơ quan với chị Quỳnh).
Mình ngượng quá nhưng vẫn tươi cười đứng dậy chào: Các đồng chí ở lại họp nhé (chị Quỳnh chưa phải là đảng viên). Mẹ tôi nói rằng, ở cơ quan, cứ chỗ nào có những trận cười ré lên là biết ngay ở đó có Quỳnh.
Dẫu vậy Xuân Quỳnh có những nỗi khổ không bao giờ nói ra, có những nỗi buồn chỉ riêng mình gánh chịu và những giọt nước mắt được giấu kín. Ngay cả những người gần gũi nhất cũng chỉ mơ hồ cảm thấy mà khó lòng chia sẻ được.
Sau ngày chị Quỳnh mất ít lâu, chị Ý Nhi ở Sài Gòn viết thư cho tôi: “Bây giờ nghĩ đến chuyện xảy ra với Vũ Quỳnh mà vẫn không sao tin nổi. Cứ nghĩ đến việc mỗi khi ra Hà Nội không còn được gặp Quỳnh nữa là chị lại buồn chảy nước mắt. Quỳnh hay ăn nói táo tợn, hay cười đùa vui vẻ nhưng ít người biết Quỳnh còn có những nỗi đau không dễ nói, còn những tiếng thở dài phải nén lại.
Ở ngoài đó em nên bàn với anh Vương Trí Nhàn, chị Khuê… cố gắng làm một cuốn sách về Quỳnh Vũ. Chị có thể giúp được gì Thơ bảo chị nhé. Hôm qua chị nằm mơ thấy Quỳnh.
Quỳnh cứ nhìn chị không nói gì rồi bước vào sau một cánh cửa và biến mất. Chị thức dậy, làm bài thơ Chiêm bao gặp Xuân Quỳnh, gửi em đọc:
Cơn mưa ta ngóng đợi/Còn ở tận cuối trời/Đường dài ngày nắng xối/Bước chân trần Quỳnh ơi/Nào thấy đâu bến bờ/Sau gió Lào cát trắng/Thấy đâu mảnh vườn êm/Thấy đâu miền biển lặng/Ánh mắt nhìn thăm thẳm/Lệ trôi qua môi cười/Suốt một đời vội vã/Suốt đời không tới nơi/Kìa mây mùa thu trôi/Cúc đã vàng thắm lại/Thơ buồn trên mặt giấy/Bóng người về đơn côi”.
Và đâu phải chỉ có bạn gái mới hiểu Xuân Quỳnh. Tôi thấy có những người đồng nghiệp nam như nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng nhận xét khá chính xác về chị: “Quỳnh cách ngôn, lập ngôn còn hơn cả Vũ. Nói về ai đó, Quỳnh chỉ nói đúng một dòng là hiện ra đúng dáng vẻ và tâm tính của người đó. Bản năng nghệ thuật trong Xuân Quỳnh là hiện tượng khó giải thích.
Trong cả chồng bản thảo dày hàng gang tay, nếu cần chọn lấy vài bài hay nhất, Xuân Quỳnh đưa bàn tay vào một lúc là đưa ra đúng những bài cần tìm. Hỏi Quỳnh tại sao lại chọn bài ấy mà không chọn bài khác, thì Quỳnh lúng túng, giải thích rất khó khăn nhưng chắc chắn là Quỳnh đã tìm đúng.
Lại cũng giống Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh có gai, nhưng là gai của củ ấu như củ ấu mọc trên đầm Ao Châu thuở nhỏ Vũ đã đi tìm vớt. Cái lõi là hiền từ, nhân hậu. Xuân Quỳnh cứng cỏi bề ngoài thôi. Quỳnh vốn là người yếu đuối. Lại còn hay khóc nữa, nhưng chỉ với những người quen thân.
Bấy nhiêu tâm tình hàng ngày cũng là tâm tình trong thơ Xuân Quỳnh. Và bao nhiêu tình thương yêu đã hiện ra trong thơ Xuân Quỳnh, cũng là những nét bình thường trong cuộc sống thường ngày của chị” (Báo Quân đội nhân dân, 1-9-1988).
Xuân Quỳnh luôn đối xử với mọi người bằng sự nhiệt thành, bằng tấm lòng bao dung, rộng mở, và chị cũng đã nhận được ở bạn bè bao tình cảm thân thương quý giá. Đó cũng là niềm hạnh phúc nối dài thêm cuộc đời ngắn ngủi của chị.
08:51 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ VII: Tình mẫu tử dành cho “con anh, con tôi, con chúng ta”

Từ trái sang phải: Quỳnh Thơ, Tuấn Anh, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Minh Vũ
Xuân Quỳnh sáng tác chùm thơ này từ năm 1974, khi chị mới sống cùng Lưu Quang Vũ trong thời gian khoảng một năm. Nhân vật chính trong các bài thơ là ba cậu con trai: Tuấn Anh, Minh Vũ, Quỳnh Thơ. Khi đó Tuấn Anh lên 8 tuổi, Minh Vũ (Kít) 4 tuổi và Quỳnh Thơ (Mí) mới chuẩn bị ra đời.
Có thể nói Xuân Quỳnh là một người mẹ tuyệt vời. Chị không những đã lo lắng, nuôi dạy, hy sinh tất cả cho các con như bao người mẹ khác, mà điều đặc biệt hơn là trong hoàn cảnh riêng của mình, chị đã có cách cư xử và thể hiện tình cảm một cách khéo léo, khiến cho ba đứa trẻ rất thương yêu và quấn quýt với nhau. Mặc dù chúng đều là những đứa trẻ nhạy cảm, hiếu động và có cá tính riêng khá mạnh mẽ.
Chị Quỳnh sinh Tuấn Anh vào năm 1966, khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan rộng ra miền Bắc. Một quả bom hạng nặng đã rơi xuống phố Huế, làm sụp đổ hoàn toàn mấy ngôi nhà và để lại một hố bom sâu hoắm, chỉ cách ngôi nhà 96 phố Huế của chúng tôi có mấy trăm mét.
Mới được mấy tháng tuổi, Tuấn Anh đã được chị Quỳnh mang đi sơ tán cùng cơ quan báo Văn nghệ ở Bình Đà (Hà Sơn Bình).
Chị Quỳnh kể rằng hồi nhỏ Tuấn Anh rất thích chui xuống hầm. Mỗi khi có báo động phải vào hầm, trong khi có những đứa trẻ khác la khóc thì Tuấn Anh lại cười thích thú; và khi báo yên rồi, bế ra khỏi hầm lại không chịu.
Vốn thiếu vắng tình mẫu tử từ nhỏ, nên khi có Tuấn Anh, chị Quỳnh đã dành cho con tình thương yêu vô bờ bến. Chị bảo có con rồi mình trở thành người khác hẳn. Lúc nào cũng chỉ muốn lo lắng chăm chút cho con và cảm thấy thật hạnh phúc khi có “một con người bé nhỏ - vì mình mà buồn vui”.
Lần đầu tiên gửi con cho bà nội để đi thực tế, chị nhớ con đến ngơ ngẩn cả người. Dự định đi 10 ngày, nhưng đến ngày thứ 6 không chịu nổi, chị phải báo cáo với trưởng đoàn xin về trước.
Chị vô cùng cảm phục và rất thương chị Dương Thị Xuân Quý khi phải xa đứa con gái nhỏ mới gần 2 tuổi để vào chiến trường. Trước khi lên đường, chị Xuân Quý có tặng chị Quỳnh một tấm ảnh chụp hai mẹ con. Chị Quỳnh nói rằng cứ mỗi lần nhìn tấm ảnh là không thể cầm được nước mắt. Và chỉ riêng việc phải đứt ruột xa con như vậy cũng đáng là anh hùng.
Đối với Tuấn Anh, ngoài tình thương yêu, chăm sóc, chị luôn mang nỗi mặc cảm day dứt vì đã không dành được cho con một gia đình trọn vẹn. Khi Tuấn Anh học năm cuối cấp III, chị nói với tôi: “Tuấn Anh mà không vào được đại học thì chị có lỗi lớn với cháu. Chị không thể sống yên được”.
Mỗi khi Tuấn Anh có chuyện gì thiếu sót trong cách cư xử là chị lại tự trách là tại mình nên cháu mới như vậy. Năm Tuấn Anh thi đỗ vào khoa tiếng Anh - Đại học Ngoại ngữ, chị mừng lắm, chiêu đãi cả nhà liên miên.
Khi Tuấn Anh ra trường, chị lại đôn đáo lo xin việc cho con. Hiện nay, Tuấn Anh là Giám đốc một công ty thiết kế đồ họa - in ấn - quảng cáo ở Hà Nội.
Đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong những ngày đạn bom ác liệt, nhân vật chính trong bao nhiêu bài thơ nổi tiếng của mẹ Quỳnh ngày nào (Tuổi thơ của con, Lời ru trên mặt đất, Khi con ra đời, Con yêu mẹ) bây giờ đã là một người đàn ông có gia đình riêng yên ấm với cậu con trai Thái Anh 4 tuổi khôi ngô, xinh xắn…
Xuân Quỳnh là người nói năng sắc sảo và hoạt bát. Chị có tài biến mọi chuyện dù nặng nề, nhạy cảm thành chuyện bông đùa, hài hước. Chị vẫn nói với bạn bè rằng: ngày tôi và ông Vũ lấy nhau, mỗi người đem theo một đống của “hồi môn” ương bướng và nghịch ngợm như quỷ sứ. Đó là hai cậu con trai trứng gà trứng vịt.
Tuấn Anh thì có vẻ người lớn, tính tình kín đáo trầm lặng. Minh Vũ (Kít) còn nhỏ nên hiếu động, nghịch ngợm hơn. Khi bố mẹ chia tay nhau, Kít mới hơn 1 tuổi. Cậu chủ yếu sống với ông bà nội - đây cũng là nguyện vọng của mẹ tôi.
Bà nói rằng cả hai bố mẹ Kít đều còn trẻ tuổi, chắc chắn sẽ có gia đình mới. Để cháu ở với ông bà sẽ thuận lợi cho việc chăm sóc và nuôi dạy hơn.
Đầu những năm 70, Kít theo cơ quan bà nội đi sơ tán ở làng Mía, xã Đường Lâm, Sơn Tây. Bài thơ Nói với con cuối năm của Lưu Quang Vũ được ra đời trong bối cảnh của làng quê sơ tán khi đó. “Cha lên làng sơ tán thăm con/ Hoa mận nở trắng vườn/ hai cha con ngồi trên bờ đê cao/ sông chiều ngút khói / gió rạp mình cỏ dại/ sau lưng Hà Nội sương mờ”.
Thời gian đầu, khi anh chị Vũ Quỳnh mới sống chung cùng nhau, lúc thì Kít ở với ông bà nội, lúc thì ở với mẹ, lúc thì ở với bố. Nhưng một thời gian sau, khi đã bắt đầu đi học, Kít về ở hẳn với bố để tiện cho việc trông nom cháu.
Chị Quỳnh đã chăm nom, săn sóc Kít chẳng khác gì con đẻ. Có lẽ vì thế mà ngay từ khi mới 4,5 tuổi, không cần ai bảo, cháu đã rất tự nhiên gọi chị Quỳnh là Má.
Nhiều năm sau này, khi đã khôn lớn trưởng thành, Kít vẫn thường nói rằng thời gian cháu sống với má Quỳnh nhiều hơn với mẹ Uyên. Và điều quan trọng hơn là Kít đã chịu ảnh hưởng từ má Quỳnh rất nhiều trong tình cảm cũng như trong nhận thức cuộc sống.
Cũng giống như đối với Tuấn Anh, chị Quỳnh đã làm tất cả mọi điều để bù đắp cho Kít nỗi thiệt thòi vì cảnh bố mẹ ly hôn. Chị đã dành cho Kít những câu thơ thật cảm động: “Tuy con má chẳng sinh/ Con vẫn quen gọi má… Con làm bằng yêu thương/ Của cha và của mẹ/ Của bà và của ông/ Của má nữa - Biết không/ Con làm bằng tất cả”.
Mùa hè năm Kít học lớp 2, cháu bị viêm ruột, rồi lại bị tắc ruột. Trong vòng chưa đầy một tháng cháu phải mổ hai lần. Má Quỳnh và bố Vũ thay nhau chăm sóc Kít trong bệnh viện.
Sợ anh Vũ đàn ông vụng về làm đau con, tự tay chị Quỳnh lo từ tắm rửa cho đến việc đi tiêu đi tiểu của con. Khi Kít ra viện, về nhà, vết mổ chưa lành hẳn, hàng ngày má Quỳnh lại phải lau rửa, thay băng vết thương cho cháu. Ai nhìn thấy cũng phải nể phục.
Việc chị Quỳnh chăm lo cho Kít không chỉ đơn thuần là trách nhiệm mà còn bằng tình cảm thật sự từ đáy lòng. Chị có một kho chuyện vô tận về các trò nghịch ngợm, tinh quái và cũng hết sức ngộ nghĩnh của các cậu con trai.
Chị thường kể lại một cách rất có duyên với vẻ thích thú của một người mẹ đang hạnh phúc. Các anh chị cùng làm việc ở cơ quan với chị Quỳnh như Ý Nhi, Lê Minh Khuê, Xuân Tùng, Vương Trí Nhàn… thường cảm thấy rất thú vị khi nghe Xuân Quỳnh kể chuyện về các con mình.
Trong đó, những câu chuyện về Kít thường buồn cười hơn cả. Chị kể có lần đưa các con đi ăn cưới, Kít vốn háu đói nên ăn uống “tự nhiên” quá khiến má Quỳnh phải “nhắc nhở”.
Lúc ra về Kít dặn dò má một cách nghiêm chỉnh rằng: “Má ơi, khi nào cưới con má đừng mời ai, để con được ăn một mình cho thoải mái!”.
Những năm sau này, anh Vũ bận bịu nhiều với công việc sáng tác. Mọi việc học hành của các con chị Quỳnh phải đảm đương hết. Khi Kít thi vào khoa Quay phim - Đại học Sân khấu Điện ảnh, chị nhắc anh Vũ phải tìm một vài người bạn ở Xưởng phim để kèm cặp, phụ đạo chuyên môn cho con.
Anh chỉ đưa chị đi được 1-2 lần đầu. Còn sau đó một mình chị tự lo liệu mọi việc. Khi Kít thi đỗ thủ khoa vào trường, có triển vọng được đi học nước ngoài, chị mừng đến phát khóc.
Chị thường dậy sớm chuẩn bị bữa sáng cho Kít kịp đi học. Thấy chị vất vả, anh Vũ bảo chị để con tự lo ăn sáng ngoài hàng. Nhưng chị bảo không yên tâm, sợ Kít bỏ ăn sáng ảnh hưởng sức khoẻ. Hơn nữa thấy má chăm sóc như vậy, con sẽ có ý thức phấn đấu, chăm chỉ học hành hơn.
Ngày chị Quỳnh mang thai, cả nhà ai cũng mong con gái. Cha tôi đặt tên cháu là Quỳnh Thơ - với ý nghĩa là “bài thơ của Quỳnh”, cũng như trước đây ông đã đặt tên tôi là Khánh Thơ - tức là “bài thơ của Khánh” (mẹ tôi tên là Vũ Thị Khánh).
Khi cháu ra đời, tuy là con trai nhưng anh chị đều không muốn đổi tên khác, vẫn lấy tên là Quỳnh Thơ. Vì thích con gái, nên hồi Quỳnh Thơ (Mí) còn nhỏ, chị Quỳnh cho cháu để tóc dài, ăn mặc như con gái.
Mí cũng có vẻ xinh xắn, đáng yêu như con gái. Da trắng, mắt đen láy, miệng cười tươi và có lúm đồng tiền giống mẹ. Mí ra đời, tình yêu và hạnh phúc của anh chị được nhân lên gấp bội phần.
Ngay từ nhỏ, Mí đã sớm tỏ ra là một đứa trẻ thông minh, tài hoa, có năng khiếu nghệ thuật. Mới 3 tuổi cháu đã vẽ rất nhiều tranh. Có bức dự thi đạt giải thưởng trong cuộc thi vẽ Thiếu nhi quốc tế.
Năm 6 tuổi, cháu đã vẽ minh hoạ và vẽ bìa cho tập thơ Bầu trời trong quả trứng của mẹ Quỳnh. 7, 8 tuổi Mí đã làm thơ, viết truyện đăng báo và đọc trên đài.
Có lần phóng viên buổi phát thanh Măng non phỏng vấn, Mí đã trả lời ngay không phải nghĩ ngợi lâu la gì: “Khi chưa biết chữ thì em thích vẽ. Nhưng khi đã biết đọc thì em thấy viết nói được nhiều hơn vẽ”.
Đề tài của Mí là những điều gần gũi, quen thuộc như bà, bố mẹ, các đồ vật trong nhà. Các truyện ngắn của cháu như: Ngôi nhà bằng đất sét, Ấm trà Thạch Sanh, Cái đồng hồ gọi… thể hiện những suy nghĩ hồn nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh qua một ngôn ngữ linh hoạt, tứ truyện rõ ràng, giàu tình cảm.
Năm 1985, Mí đã được Đoàn kịch Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) mời đóng một vai kịch trong vở Nữ ký giả (Lưu Quang Vũ). Cả khu tập thể ai cũng yêu quý cháu.
Mí là niềm tự hào của cả nhà. Mỗi khi bố mẹ bận việc, bà nội đi họp phụ huynh cho cháu về, khoe đến mấy ngày cũng chưa hết chuyện. Môn nào Mí cũng đạt điểm 10, từ văn toán đến thể dục, vẽ, nhạc.
Tuy được cả nhà yêu chiều nhưng Mí rất ngoan và chăm làm việc nhà giúp đỡ mẹ, biết quan tâm tới bà, tới bố mẹ và các anh. Mỗi khi mua quần áo mới cho các con, chị Quỳnh thường chỉ mua cho hai anh, lấy lý do là các anh mặc chật, ngắn thì sẽ đến lượt em.
Những ngày khó khăn thì đã đành. Nhưng sau này khi anh Vũ sáng tác nhiều, nhuận bút khá hơn, chị vẫn giữ thói quen tiết kiệm đó. Có lần anh Vũ bảo chị nên mua quần áo mới cho Mí. Cháu vội nói ngay: “Mẹ đừng mua cho phí, con mặc quần áo cũ của các anh cho mát”…
Chị Quỳnh chăm chút từng bước phát triển của Mí và đặt nhiều hy vọng vào đứa con thông minh, tài hoa của mình. Những bài thơ về Mí của chị thật vui tươi, dí dỏm và tràn đầy tình thương yêu. Giá như “số phận” không bắt Mí đi theo bố mẹ, có thể chỉ một thời gian ngắn nữa, cháu sẽ nối nghiệp ông, nối nghề cha mẹ một cách xứng đáng.
Những bài thơ, những truyện ngắn dành cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh đầy ắp những hình ảnh, những bóng dáng thân yêu của ba cậu con trai. Chưa biết những sáng tác ấy có tác động tới xã hội ở mức nào, nhưng giá trị nhân văn trong các tác phẩm đó đã có tác động rất lớn trong gia đình nhỏ của chị.
Những đứa trẻ tuy không cùng cha mẹ sinh ra, nhưng đã vô cùng gắn bó thương yêu nhau. Dù đi xa đã 20 năm, nhưng mãi mãi mẹ Quỳnh của Tuấn Anh, má Quỳnh của Minh Vũ luôn là một hình mẫu cho các con về lòng nhân ái và các giá trị làm người.
http://www.tienphong.vn/van-nghe/139774/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:42 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ VI: Mẹ không ghét bỏ em đâu/Yêu anh em đã làm dâu trong nhà

Bà Vũ Thị Khanh, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và cháu Khánh Linh (con gái nhà văn Lưu Khánh Thơ) - năm 1987
Nhưng cuộc hôn nhân đã sớm đổ vỡ. Khi con trai đầu lòng Lưu Minh Vũ mới hơn 1 tuổi, hai người đã chính thức ly hôn. Thấy con trai đã từng không có hạnh phúc gia đình với một người vợ là diễn viên, nên khi biết Vũ - Quỳnh yêu nhau, mẹ tôi kịch liệt phản đối.
Tuy chỉ là một người làm công tác hành chính, nhưng mấy chục năm làm việc trong cơ quan văn nghệ, hơn ai hết bà đã chứng kiến bao đổ vỡ và những chuyện tình cảm nóng lạnh thất thường của giới văn nghệ sĩ.
Mẹ tôi (bà Vũ Thị Khanh) lo sợ khi nghĩ rằng con trai mình rồi sẽ lại bất hạnh khi có một người vợ là nhà thơ.
Bên cạnh đó lại còn bao nhiêu hệ luỵ khác, nào là sự chênh lệch tuổi tác (chị Quỳnh hơn anh Vũ 6 tuổi), nào là cảnh con anh con tôi, nào là hoàn cảnh trớ trêu (vì tuy đã ly hôn nhưng cả vợ cũ và chồng cũ của hai anh chị đều vẫn đang ở cùng trong khu tập thể), rồi lại còn bao nhiêu điều ong tiếng ve và những lời đàm tiếu của dư luận.
Mẹ tôi giận dỗi, khóc lóc khiến anh Vũ không dám ở nhà. Bà gặp cả chị Quỳnh để trách móc và nói rõ những suy nghĩ của mình. Anh Vũ biết chuyện này, buồn lòng lắm nhưng cũng không thể làm gì được.
Trong gia đình anh không biết chia sẻ cùng ai. Hai cậu em trai lớn, đứa thì đang đi học ở nước ngoài, đứa thì đang đi bộ đội ở chiến trường, còn hai cậu em sau thì nhỏ quá.
Khi ấy tôi cũng chỉ mới là một cô bé mới lớn, chưa biết gì về những chuyện phức tạp của cuộc đời. Nhưng có lẽ cũng chẳng còn ai, nên anh Vũ vẫn thường nói với tôi về mọi chuyện.
Tuy chưa hiểu rõ mọi điều, nhưng thấy anh khổ sở, buồn bã, tôi thương anh vô hạn. Có khi mấy ngày liền anh không về nhà. Tôi đi tìm thì được biết anh tá túc bên nhà người bạn thân là anh Lâm “râu” ở phố Triệu Việt Vương ngay sau lưng nhà tôi.
Trong gia đình chỉ có cha tôi là thông cảm và ủng hộ tình yêu của anh chị. Ông đã nhiều lần thuyết phục nhưng không dễ lay chuyển được mẹ tôi. Ông còn nhờ một số người bạn là hàng xóm hoặc cùng cơ quan nói thêm vào để mẹ tôi chấp nhận, như nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhà thơ Vĩnh Mai, nhà văn Bùi Hiển…
Tôi cũng ngấm ngầm ủng hộ anh chị bằng cách tích cực thông báo tin tức. Mỗi khi cha mẹ tôi nói chuyện với nhau hoặc có khách đến nhà nói đến chuyện Vũ - Quỳnh là tôi chú ý nghe ngóng, nhập tâm, rồi sau đó “báo cáo” lại hết với anh Vũ.
Biết mẹ tôi tuy giận nhưng vẫn thương anh lắm, nên tôi liên tục “tra tấn” bà bằng những thông tin kiểu như: “Hôm qua anh Vũ đi về khuya quá, không dám gọi cửa nhà anh Lâm nên suốt đêm phải ngồi ngoài vỉa hè”; “Tuần vừa rồi anh Vũ bị sốt cao gần 40 độ C phải đi cấp cứu bệnh viện”.
Cha tôi cũng tìm mọi cách để làm mềm lòng mẹ tôi. Ngày sinh nhật ông, mẹ tôi định làm một bữa ăn tươi nhưng ông gạt đi và bảo là trong lòng không thấy vui vẻ gì để mà tổ chức ăn uống.
Có lần trong bữa cơm gia đình ông nói với tôi: “Sáng nay bố có việc muốn nói với Vũ - Quỳnh, phải ra hàng cà phê ngồi nói chuyện”. Rồi ông đưa mắt nhìn mẹ tôi và nói tiếp: “Bố con anh như người Do Thái, bị xua đuổi ngay trên đất của mình”. Mẹ tôi im lặng, nước mắt vòng quanh.
Một thời gian sau, trước quyết tâm không ai lay chuyển nổi của anh chị, trước sự kiên trì của cha tôi, mẹ tôi đã đồng ý nhận chị Quỳnh là con dâu.
Trước đó anh chị đã đăng ký kết hôn và tổ chức tiệc cưới ở nhà hàng Mỹ Kinh, phố Hàng Buồm. Đám cưới hôm đó chỉ có 5 người: cô dâu chú rể, hai cha con tôi và một người bạn là anh Lâm “râu”. Anh chị còn mời thêm 2 người bạn nữa nhưng họ không đến.
Tôi nhớ mãi buổi sáng hôm đó, ngày 21/2/1974, cha tôi đi mua hoa và tự tay ông cắm hoa vào chiếc bình cổ - chỉ dùng khi trong nhà có việc trọng đại hoặc vào dịp Tết.
Từ tối hôm trước ông đã đưa cho tôi một khoản tiền và dặn là trưa mai mua một con gà để cả nhà liên hoan. Tôi cũng nghĩ là việc bình thường vì hôm đó chính là ngày sinh nhật của Lưu Quang Định - cậu em trai thứ năm của gia đình. Nhưng khi nhìn thấy cha tôi cắm hoa thì tôi hơi ngạc nhiên, vì đó là việc ông hiếm khi làm.
Khi tôi hỏi lý do thì ông cười và bảo là hôm nay nhà mình đón một thành viên mới. Tôi hiểu ngay sự việc và cảm thấy trong lòng rất vui. Từ nay không khí trong nhà sẽ trở lại vui vẻ, mẹ tôi cũng hết căng thẳng vì bà cũng chẳng sung sướng gì khi thấy các con mình khổ sở.
Trước bữa cơm trưa khoảng một tiếng, anh chị dắt nhau về nhà. Mọi người ngồi nói chuyện ở bàn làm việc của cha tôi. Và dưới sự điều khiển của cha tôi, bữa cơm sum họp gia đình diễn ra hết sức vui vẻ.
Chị Quỳnh tặng em Định một chiếc áo và tặng mẹ tôi một chiếc ví to đính hạt cườm trắng rất đẹp - một vật kỷ niệm đã theo chị trong nhiều đợt đi biểu diễn ở nước ngoài thuở còn trẻ tuổi.
Cách đây hơn ba chục năm, đó thực sự là một món quà sang trọng và lóng lánh nhất mà tôi được thấy. Mẹ tôi thích chiếc ví này lắm. Từ đó cho đến khi bà mất, bà luôn cất giữ ở bên mình và thường đựng ở trong đó những thứ quý giá nhất.
Kể từ ngày đó chị Quỳnh đã chính thức trở thành một người con trong đàn con đông đúc của cha mẹ tôi. Vốn thiếu thốn tình cảm gia đình từ nhỏ, nên chị Quỳnh đón nhận và rất biết giá trị những tình cảm của cha mẹ và anh em chúng tôi dành cho chị.
Cha tôi đặc biệt yêu quý chị. Ông thường nói với mẹ tôi: “Quỳnh là người có tài, thông minh, nhạy cảm nhưng trong cuộc sống riêng gặp nhiều trắc trở. Bây giờ đã là dâu con trong nhà, mình nên bù đắp tình cảm, đừng nên chấp trách để ý những chuyện nhỏ nhặt!”.
Ông càng thương Xuân Quỳnh hơn, khi sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, ông trực tiếp chứng kiến cuộc sống khổ sở nghèo túng của bố đẻ chị.
Trở về Hà Nội, nói chuyện lại với chúng tôi mà ông vẫn còn xót xa. Ông bảo: “Thật tội nghiệp Quỳnh, bố chưa thấy một người Bắc di cư nào ở Sài Gòn mà lại có hoàn cảnh sống tồi tệ như ông bố Quỳnh. Chắc rồi Quỳnh sẽ phải khổ tâm và lo lắng nhiều về ông cụ”.
Ngày đó có câu: “Miền Nam sung sướng nhận họ, miền Bắc phấn khởi nhận hàng”. Ai ở trong miền Nam ra cũng lỉnh kỉnh bao nhiêu quà cáp, hàng hóa được bà con biếu tặng. Riêng chị Quỳnh lại phải chắt bóp từng đồng gửi vào cho bố để đỡ đần về mặt vật chất, còn về hoàn cảnh sống tồi tệ thì chị đành chịu.
Thời gian đó chị Quỳnh lo buồn lắm. Mãi đến sau này, khi chị gái Đông Mai chuyển công tác vào Sài Gòn, chị mới yên tâm phần nào.
Không chỉ quan tâm, lo lắng đến chị Quỳnh như một đứa con trong gia đình mà ở khía cạnh là một đồng nghiệp, cha tôi cũng thường xuyên động viên, chú ý đến công việc sáng tác của chị.
Thấy chị bận rộn, vất vả với công việc gia đình, ông bảo: “Con phải thu xếp việc nội trợ, phân công việc nhà cho các cháu làm bớt, để còn có thời gian cho việc sáng tác”.
Mỗi khi chị Quỳnh có bài thơ hay được in báo hoặc có tập thơ mới ra đời, cha tôi vui lắm. Ông thường nghĩ ra một việc làm nào đó hoặc tìm một món quà để tuyên dương con dâu.
Năm 1979, đi công tác ở Hội An, vào thư viện, ông tình cờ đọc được một bài phê bình về tập thơ Lời ru trên mặt đất của Xuân Quỳnh. Lúc đó chưa có cửa hàng photocopy như bây giờ, ông đã ngồi chép lại cả bài và gửi về Hà Nội cho chị.
Trong thư cha tôi viết: “Bố thấy bài viết này hay và ngắn gọn, nhận xét chính xác về tập thơ của con, hơn những bài viết tràng giang đại hải khác. Có nhiều ý kiến giống như nhận xét bố đã nói với con”.
Trong một gia đình đông anh em, sau này lại có thêm các con dâu, con rể nữa, mỗi người một tính nết, tất nhiên cũng không tránh khỏi có những lúc trách móc giận hờn, nhưng tất cả anh chị em chúng tôi đã hết sức thương yêu đùm bọc nhau.
Đặc biệt đối với anh chị Vũ -Quỳnh, chúng tôi vừa yêu thương, vừa cảm phục, tự hào. Tuy là những người nổi tiếng ngoài xã hội, nhưng trong gia đình anh chị đã dành cho cha mẹ và các em tình yêu thương và sự chăm sóc rất cụ thể.
Chúng tôi vẫn cất giữ bức thư chị viết cho cậu em trai út, khi hai chị em gặp nhau ở Mátxcơva vào tháng 12/1987 - như một kỷ vật quý báu của gia đình. Thời gian đó chị sang dự lớp học 3 tháng ở Học viện Goócki trong đoàn nhà văn Việt Nam. Đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng của hai chị em:
“Bi rất yêu thương của chị.
Chị Quỳnh sang bên này gặp em, hiểu được em và rất thương em. Thấy em là người sống trong sạch, trung thực và học tốt chị mừng đến ứa nước mắt. Chị sẽ về kể lại mọi chuyện cho mẹ nghe chắc mẹ vui nhiều. Chị em gặp nhau có hơn một ngày thật là vội vàng, ngắn ngủi, nhưng dù sao ba chị em đã gặp nhau. Thương em nhiều lắm.
Tối nay Bi đi, chị rất buồn. Chắc chị em còn gặp nhau nhưng chị cứ viết vài chữ bỏ vào túi của em, khi về nhà em đọc cho vui.
Chị cho em 20 rúp và ít “chè cộng” để em uống. Thỉnh thoảng rỗi biên thư cho chị nhé.
Chị của em. Xuân Quỳnh”
Để thể hiện tình cảm với mẹ tôi, chị đã làm bài thơ Mẹ của anh. Khi đọc bài thơ này, mẹ tôi cảm động lắm. Nhất là khi những người bạn của mẹ tôi đã trải qua cảnh mẹ chồng nàng dâu, ai cũng khen bài thơ sâu sắc và tình cảm.
Mỗi khi ru các cháu ngủ, cùng với những bài ca dao quen thuộc, bao giờ mẹ tôi cũng ngâm bài thơ này với một niềm hạnh phúc khôn xiết. Có lần nhà thơ Phạm Tiến Duật nói với tôi rằng: “Đọc bài thơ Mẹ của anh mới hiểu được Quỳnh đã yêu Vũ đến mức nào, đồng thời mới thấy hết được lòng nhân hậu và sự ân tình của người đàn bà Việt Nam”.
“Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong…
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em”.
http://www.tienphong.vn/van-nghe/139020/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:39 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ V: Đường tít tắp không gian như bể/Anh chờ em cho em vịn bàn tay

Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ năm 1978
Chỉ có điều bây giờ chị thực tế và từng trải hơn, không còn nhìn cuộc đời, nhìn tình yêu qua lăng kính màu hồng nữa.
Giữa lúc Xuân Quỳnh đang chới với và hụt hẫng đau khổ thì đã có một người đàn ông đến với chị. Người đó chính là Lưu Quang Vũ.
Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ quen biết nhau đã từ lâu. Họ là những người bạn thơ cùng thế hệ, cùng ở trong một khu nhà dành cho văn nghệ sĩ. Cả hai đều cảm mến nhau vì tài thơ.
Trong sổ tay của họ đầy ắp những bài thơ tâm huyết mà họ đã chép tặng cho nhau. Nhưng tại sao lúc này họ mới đến với nhau? Khi cả hai người cùng có nỗi bất hạnh của gia đình đổ vỡ, cùng đã từng trải qua những cuộc tình không may mắn.
Tôi đã hơn một lần hỏi cả hai anh chị câu này. Và cũng đã nhận được một câu trả lời gần giống nhau: đó là do sự sắp đặt của số phận, của duyên trời.
Năm 1973, họ đến với nhau. Đó là thời điểm khó khăn, lận đận nhất của cả hai người. Họ rời gia đình cũ ra đi với hai bàn tay trắng. Cả hai đều mang trong lòng những nỗi đau, những cuộc khủng hoảng lớn trong tâm hồn.
Cũng có khi ở ngay Hà Nội nhưng chị tránh không gặp mặt anh. Chỉ có những bức thư nói hộ nỗi lòng đang da diết, cháy bỏng của chị:
“Tôi đã biết sống bao giờ đâu. Bây giờ nhận dần ra mọi điều thì tâm hồn tôi đã méo mó đi. Vũ yêu tôi, tôi biết, nhưng sao tôi chả tin ở cái gì, chả tin ở tình yêu nữa.
Bao nhiêu năm tôi khao khát, chờ mong người đi cùng đường với mình, tình yêu của mình. Khi tôi gặp được rồi thì tôi lại thấy tôi như người ngoài cuộc.
Trước tất cả những sự đằm thắm của Vũ. Tất cả những sự cảm thông của Vũ. Tôi cứ như người ngạc nhiên: “Có phải thế này không? Trên đời có thật là có những điều như thế này không? hay đó rồi cũng là một sự xa xỉ”. Và nếu mọi điều là thật, là còn tốt đẹp đến thế thì tôi chẳng xứng đáng gì với tình yêu của tôi.
Tôi chưa bao giờ được đối xử bình đẳng như một người yêu thật sự. Chỉ, hoặc là người ta bò dưới chân tôi hoặc là người ta tìm cách miệt thị tôi. Vậy thì sao Vũ lại đối xử với tôi bình đẳng thế được? Điều đó hầu như không có lý.
Vũ cứ để mặc tôi, sống với số phận của tôi. Tôi khổ thế này làm sao mà tôi sống được với Vũ. Khổ thế này hả trời! Tôi như con ốc ấy, suốt đời phải mang trên lưng cái vỏ của mình.”
...…
“Mặc dù tôi thấy ở Vũ có đầy đủ những điều khao khát của tôi, nhưng tôi đã trốn tránh Vũ và thỏa hiệp với mức độ khác mà cho rằng như thế là tạm được. Vũ đừng giận tôi. Nghĩ đến điều này tôi rất buồn. Ước gì ngược lại thời gian để tôi đến với Vũ bằng tấm lòng trọn vẹn chứ không phải rách nát như thế này.
Điều tôi buồn nữa là: Vũ ít tuổi hơn tôi, Vũ tài năng hơn tôi. Vũ đừng cho tôi là nói làm dáng. Tôi nói thật đấy. Có khi tôi bị ngợp đi trong Vũ. Điều đó cũng làm tôi sợ hãi. Tôi cứ muốn giãy giụa ra khỏi tình yêu này.
Hay là như Vũ nói ấy. Có lẽ chúng ta chỉ nên sống độc thân thôi. Hoặc sống riêng ra. Như vậy có thể giữ được mọi điều tốt đẹp lâu dài chăng. Vũ ơi, tôi buồn vô cùng. Tôi biết tôi phải học phải làm việc nhiều hơn nữa cho tôi và cho Vũ.
Hôm qua tôi nằm mơ thấy chúng ta tan ra thành toàn là chữ nghĩa. Nó cứ lộn xộn trên mặt giấy mà chẳng thể nào sắp xếp lại được. Đấy mơ mà cũng “cải lương” thế đấy Vũ cười tôi không Vũ?”
Sau bao nhiêu đắn đo e ngại, trước sự nồng nhiệt và quyết tâm của Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh đã đón nhận tình yêu của anh như đón nhận cái phao giữa dòng nước xoáy.
Và khi đã đón nhận tình yêu ấy, Xuân Quỳnh đã dành cho nó tất cả sức lực và tâm huyết của đời mình. Chị lại trở về với bản chất cố hữu, chăm chút hy sinh hết thảy cho người mình thương yêu.
Thời gian này Xuân Quỳnh đang làm việc ở báo Văn nghệ. Lưu Quang Vũ thuộc thành phần tự do, sống ngoài biên chế. Anh làm đủ nghề để sống: Kẻ vẽ panô khẩu hiệu, vẽ tranh “Bờ Hồ” thuê cho các cửa hiệu, in bưu thiếp.
Có lúc anh làm nhiệm vụ chấm công cho một đội làm đường, làm công việc tuyên truyền thi đua cho một phường ban thuộc Tổng cục Đường sắt.
Không chỉ động viên Lưu Quang Vũ sáng tác, Xuân Quỳnh còn đôn đáo, xoay xở, tìm mọi cách để xin cho Lưu Quang Vũ được vào làm việc ở một cơ quan văn nghệ nào đó. Có lúc chị rủ anh đi cùng. Có lúc lặng lẽ đi một mình. Chị rất kiên nhẫn. Nhiều lúc anh Vũ biết chuyện can ngăn nhưng chị không hề nản lòng.
Thấy chị vất vả, lo lắng vì chuyện công ăn việc làm của anh, chính cha tôi đã có lần nói với chị: “Thôi con cứ yên tâm để Vũ làm việc ở Đường sắt một thời gian, rồi người ta sẽ thu xếp để nhận Vũ vào làm việc chính thức trong biên chế. Bác Vạn Lịch đã hứa như vậy.” (Ông Vạn Lịch là một người bạn thân của cha tôi, lúc đó đang là Chánh văn phòng Tổng cục Đường sắt).
Chị trả lời ngay: “Vũ phải có một chỗ đứng, một việc làm trong cơ quan văn nghệ. Anh ấy có tài và có rất nhiều khả năng để làm việc. Con không muốn thấy Vũ phải làm những việc không thích hợp, vừa phí công sức lại vừa làm Vũ chán nản”.
Cha tôi là một người làm văn nghệ lâu năm. Ông quen biết nhiều người nắm giữ trọng trách trong các cơ quan văn nghệ (báo, đài, NXB,…), nhưng ông giàu lòng tự trọng và có “máu kẻ sĩ” rất cao. Ông không thích việc quỵ lụy, xin xỏ, nhất là đối với những người ông không coi trọng.
Có lần chị Quỳnh nhờ ông nói với người lãnh đạo một cơ quan văn nghệ để xin việc cho anh Vũ. Ông nói: “Tay đó không đáng để mình phải mang ơn mắc nợ”.
Mẹ tôi nghe chuyện đã phải kêu lên: “Trời ơi, đi xin việc mà bố con ông cứ cao đạo thế thì làm sao mà có kết quả”… Công việc của anh Vũ cứ long đong, lận đận mãi.
Sự khó khăn đó cũng có những lý do chủ quan lẫn khách quan. Tuy xuất hiện và nổi tiếng trên văn đàn từ khá sớm, khi mới 20 tuổi, tập Hương cây - Bếp lửa (in cùng Bằng Việt) ra đời đã gây xôn xao dư luận, nhưng trong thực tế Lưu Quang Vũ không có bằng cấp gì.
Chưa tốt nghiệp phổ thông anh đã đi bộ đội. “Ta kịp biết gì đâu - Vừa hết trẻ con đã là người lính”. Lại cộng thêm với những điều tiếng: tư tưởng “có vấn đề”, tự do vô kỷ luật, yêu đương phức tạp… cho nên anh càng gặp nhiều trở ngại khi đi kiếm công ăn việc làm trong một cơ quan nhà nước.
Những ngày ấy thật cơ cực, khổ sở, nghèo túng. Cả nước đều khổ, nhưng dường như tình cảnh của anh chị càng khó khăn, ngặt nghèo hơn. Có người nói đùa rằng trong giới văn nghệ sĩ cùng thế hệ, Vũ - Quỳnh là cặp vợ chồng có số con đông nhất (3 đứa), có diện tích nhà ở chật nhất (6m2). Nhưng tôi nghĩ rằng đó cũng là quãng thời gian hạnh phúc nhất của anh chị.
Hai người đã dành trọn cho nhau thời gian, công sức và tình cảm của mình. Cuộc sống vất vả, phải vật lộn từng ngày với mối lo cơm áo gạo tiền cũng không thể đè bẹp niềm lạc quan yêu đời và sự lãng mạn vốn có trong bản chất thi sĩ từ trong máu thịt của cả hai người.
Tôi đã bao lần chứng kiến chị Quỳnh chắt chiu từng đồng nhuận bút để lo chi tiêu cho sinh hoạt gia đình. Thế mà, trong căn phòng nhỏ của anh chị bao giờ cũng tràn ngập hoa tươi.
Vượt lên trên những lo toan chật hẹp đời thường, họ vẫn mơ mộng, vẫn sống đầy đam mê và cùng nhau làm việc không ngừng nghỉ. Tôi nhớ mãi hình ảnh rạng ngời hạnh phúc của Xuân Quỳnh trong một buổi chiều thu ngập nắng.
Chị ngồi sau chiếc xe đạp “cà khổ” của anh Vũ, trong tay ôm một bó cúc vàng thật lớn, đằng trước ghi đông treo lủng lẳng mấy chiếc lọ gốm. Họ vừa cùng nhau đi sang làng gốm Bát Tràng.
Nghe thấy tôi gọi, cả hai người xuống xe, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cười tít mắt và tíu tít kể chuyện như hai cô cậu mới lớn. Chị Quỳnh kể: “Cậu ấy mải nhìn gái xinh, không kịp tránh ổ gà, sa xuống hố nên ngã lăn cả hai”. Anh Vũ lại bảo: “Đồ ki bo, ngã đau điếng, mà lúc lồm cồm ngồi dậy chỉ thấy sung sướng vì không chiếc lọ nào bị vỡ”. Chị Quỳnh tổng kết: “May quá, tay chân tuy bị xây xát chút ít, nhưng quần áo không bị rách, mấy cái lọ không bị sứt mẻ gì”.
Những tháng ngày long đong, lận đận của Lưu Quang Vũ chấm dứt khi Tạp chí Sân khấu được thành lập năm 1978. Hôm đó, trong bữa cơm gia đình, chị Quỳnh phấn khởi nói với cha tôi: “Tạp chí Sân khấu sắp thành lập, anh Xuân Trình đang đi chiêu mộ quân lính, con giới thiệu Vũ và anh ấy đã nhận lời. Bố tìm hiểu và tác động thêm cho tụi con nhé!”.
Cha tôi cũng rất vui vì sự kiện này. Từ trước cách mạng, ông đã cùng một vài người bạn sáng lập tờ Tạp chí Sân khấu và nhà xuất bản Hoa Lư. Ông cũng là một trong những hội viên sáng lập Hội Nghệ sĩ sân khấu. Nay thấy Hội nghề nghiệp mà mình gắn bó suốt đời có cơ quan ngôn luận riêng, cha tôi mừng lắm.
Thời gian đầu anh Vũ mới vào làm việc ở Tạp chí Sân khấu, cha tôi đã giúp anh rất nhiều trong việc truyền lại những kinh nghiệm của nghề làm báo và những kiến thức sân khấu.
Trước đây, khi làm việc ở báo Văn nghệ, cha tôi cũng được phân công chuyên theo dõi về mảng sân khấu. Có thể nói, việc được vào làm ở Tạp chí Sân khấu là một cơ hội may mắn cho Lưu Quang Vũ. Anh có đất để dụng võ.
Những ngày đầu, tờ tạp chí chỉ có vài ba người. Anh làm đủ việc: từ viết bài, sửa morát, đi nhà in, vẽ minh họa, đặt họa sĩ vẽ bìa… Công việc bận rộn, vất vả nhưng Lưu Quang Vũ không nề hà.
Anh mau chóng trở thành cây bút chủ lực của tờ tạp chí. Mẹ tôi nói với cả nhà: “Anh Vũ vào làm việc ở Tạp chí Sân khấu, Vũ vui 1, bố vui 2, còn Quỳnh thì vui… 10”.
Anh Vũ có việc làm ổn định, tinh thần của cả hai anh chị thoải mái hơn. Chị Quỳnh yên tâm và rất vui khi thấy anh Vũ say mê, thích thú với công việc và được mọi người trong cơ quan tín nhiệm. Tuy vẫn còn khó khăn, vất vả nhưng cuộc sống trong gia đình anh chị rất hạnh phúc và đầm ấm.
Thời gian này, cả hai người đều sáng tác rất khoẻ - làm thơ, viết báo, viết truyện. Chị Quỳnh bắt đầu viết nhiều cho thiếu nhi. Các tập thơ, truyện của Xuân Quỳnh liên tiếp được xuất bản.
Chị nói với tôi là viết cho các em có nhiều điều thú vị. Mình như được hoà nhập vào thế giới vui tươi, ngộ nghĩnh của trẻ thơ; khi viết rất hứng thú, dễ được in ấn, nhuận bút có khi còn cao hơn viết cho người lớn. Chị coi những sáng tác của mình là “món quà của một bạn nhỏ ngày xưa tặng các bạn nhỏ bây giờ”.
Bạn bè trong giới văn nghệ thường nhận xét rằng Xuân Quỳnh là người sắc sảo, đáo để và có tài đối đáp rất nhanh. Chị còn là người nói chuyện rất có duyên. Ở cơ quan hôm nào Xuân Quỳnh vắng mặt là mọi người cảm thấy buồn hẳn.
Đối với gia đình, chị Quỳnh là một người phụ nữ đảm đang, tần tảo chi chút, hết lòng chăm lo cho tổ ấm của mình. Và không chỉ thế, chị còn là người hiểu được tài năng của Lưu Quang Vũ, là người biết cách khơi dậy và vun đắp cho tài năng ấy luôn tỏa sáng.
http://www.tienphong.vn/van-nghe/138211/Xuan-Quynh--Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
(Đọc phần này thì mình nghi ngờ cái ý kiến: Xuân Quỳnh giành giật Lưu Quang Vũ.)
08:30 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ IV: Lòng anh là đầm sen/Hay là nhành cỏ úa?

Xuân Quỳnh và nhà văn nổi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ Azit Nexin
Xuân Quỳnh cũng không nằm ngoài trường hợp đó. Chị đam mê thơ và tìm thấy ở đó bao điều kỳ diệu. Thơ ca giúp chị sống sâu sắc và có ý nghĩa hơn.
Năm 1982, Xuân Quỳnh đã viết trong bản tự thuật: “Những truyện của Nam Cao, Nguyên Hồng mỗi khi đọc tôi thấy sao mà giống cuộc sống chung quanh tôi thế. Tôi có cảm giác là tôi cũng có thể viết được như vậy một cách dễ dàng. Và tôi đã khao khát được viết.
Nhưng say mê hơn cả vẫn là thơ. Tôi đọc thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Huy Cận, Xuân Diệu rất say sưa. Đằng sau những bài thơ, bao giờ tôi cũng cảm thấy bao điều kỳ diệu.
Và tôi tin rằng các nhà thơ là những vị thánh. Cho mãi đến bây giờ tôi vẫn thấy thơ là một nghệ thuật kỳ diệu nhưng khó mà đi tới. Mặc dầu vậy vẫn không bao giờ bỏ được thơ…”
Đúng vậy, chị đã theo đuổi thơ ca cho đến tận những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình. Chỉ có điều, qua thời gian, bằng sự từng trải và kinh nghiệm sống, những hào quang phù phiếm, những thần tượng từng có lúc chị say mê, tôn thờ đã hoàn toàn sụp đổ.
Có thể nói Xuân Quỳnh là người thành đạt khá sớm, 13 tuổi vào văn công; 17,18 tuổi đã được đi biểu diễn ở hàng chục nước trên thế giới. Mới bước chân vào làng thơ đã được ghi nhận và được những người đi trước khuyến khích, cổ vũ…
Tuy vậy thời gian đầu, Xuân Quỳnh mới chỉ sáng tác bằng cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo, mang tính bản năng, ít có chiều sâu trí tuệ. Vốn có tài, lại có nhan sắc, nên chị được khá nhiều người theo đuổi.
Nhà văn Nguyễn Quang Thân, người học cùng lớp với Xuân Quỳnh ở lớp bồi dưỡng nhà văn trẻ khoá I đã kể lại rằng hồi đó “gần như cả lớp mê chị”. Bao lời thơ thổn thức viết về Xuân Quỳnh đã được ghi lại trong sổ tay của nhiều người trong lớp học. Có anh chàng còn đứng trồng cây si trước cửa phòng chị thâu đêm suốt sáng.
Cùng với việc sáng tác, lúc này Xuân Quỳnh đã có thêm những người bạn trong giới văn chương, các mối quan hệ ngày càng được mở rộng. Chị thích thú khi được tham dự vào những sinh hoạt văn chương thời đó, như các cuộc nói chuyện về thơ, giới thiệu một tập sách mới ra đời, bàn luận về một tác giả mới xuất hiện…
Và trong số những bạn thơ ngày ấy, Xuân Quỳnh đặc biệt có cảm tình với một người. Chị tưởng như đã tìm thấy ở đó tất cả những điều mà mình thiếu hụt. Những bài thơ với ngôn từ sang trọng, lấp lánh vẻ cao siêu trí tuệ đã có sức cuốn hút Xuân Quỳnh rất lớn.
Việc học hành và kiến thức sách vở có những hạn chế nhất định, do đó chị dễ bị choáng ngợp bởi những người thông minh, sắc sảo có sự học cao biết rộng.
Từ mối quan hệ đồng nghiệp và sự cảm mến thông thường, giữa hai người đã nảy sinh tình cảm sâu sắc hơn. Phải công bằng mà nói, trong thời gian ấy Xuân Quỳnh đã có những tháng ngày hạnh phúc. Chị đã tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn và trong công việc sáng tác.
Vốn là người đàn bà có tình cảm mãnh liệt và luôn sống hết mình, chị đã đặt vào đó biết bao tâm tình. Có những lúc chị đã nghĩ đến sự gắn bó với những quan niệm không hề mơ hồ về hạnh phúc: Anh có đi cùng em - Đến những mùa hái quả - Đến những ngày thương yêu - Qua nắng sớm mưa chiều - Qua chặng đường tàn phá - Qua rất nhiều nỗi khổ - Qua rất nhiều niềm vui…
Nhưng hình như ở đây một lần nữa bài học về sự nông nổi, nhẹ dạ, “tưởng nước giếng sâu em nối sợi dây dài - Ai ngờ nước giếng cạn em tiếc hoài sợi dây” đã xuất hiện thật trớ trêu.
Một bi kịch khác lại đến với chị. Tìm được người bạn thơ tâm đầu ý hợp, có tình cảm, có sự chia sẻ nhưng thiếu một tấm lòng thành và sự hết lòng hy sinh cho tình cảm đó.
Có thể người đó cũng yêu chị, nhưng anh không dám đánh đổi sự yên bình sẵn có lấy một thứ hạnh phúc nào ai biết rồi sẽ đi đến đâu? Bằng vào sự khác biệt trong tính cách như vậy, tôi nghĩ rằng, nếu như có tiến xa hơn thì mối quan hệ tình cảm ấy cũng khó mà lâu bền được.
Linh cảm của một người phụ nữ nhạy cảm và tinh tế đã khiến cho Xuân Quỳnh băn khoăn. Chị không giấu nổi sự lo ngại đó: “Đốt lòng em câu hỏi - Yêu em nhiều không anh?”.
Đây là câu hỏi để tự giãi bầy với lòng mình. Làm sao có thể đong đếm được tình yêu? “Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ? - Em thử ngào xem được mấy thưng?” (Nguyễn Bính).
Khi phải thốt ra câu hỏi ấy, là đã bao chứa sự lo âu ngờ vực rồi. Và trong tình cảnh ấy người con trai đã chọn một giải pháp khôn ngoan nhất là né tránh câu trả lời! Hoa ơi sao chẳng nói - Anh ơi sao lặng thinh. Tất nhiên sau này, nhân vật trong bài thơ có thể sẽ không “lặng thinh” mãi, nhưng nào còn có ích gì nữa, khi mọi việc đã đổ vỡ đến như vậy!
Câu chuyện này đã để lại trong lòng chị Xuân Quỳnh một vết thương quá lớn suốt một thời gian dài. Người đàn ông mình từng tin tưởng, ngưỡng mộ đã cư xử không giống như mình nghĩ.
Lúc này chị mới chua chát nhận ra rằng, bên trong vẻ hào nhoáng thi vị của tình yêu, các giá trị thật giả không dễ nhận biết một cách rạch ròi. Ngay cả một người đàn bà sắc sảo nhất cũng vẫn không tránh khỏi sự nhầm lẫn: “Vẫn con đường, vạt cỏ tuổi 15 - Mặt hồ rộng gió đùa qua kẽ lá - Lời tình tự trăm lần trên ghế đá - Biết lời nào giả dối với lời yêu…”.
Hạnh phúc gia đình tan vỡ, người đàn ông mình từng tin yêu và hy vọng đã quay lưng lại, có lúc Xuân Quỳnh đã rơi xuống hố thẳm của sự thất vọng. Chị “gia nhập” hàng ngũ độc thân của những người bạn làm việc trong khối văn nghệ. Ngày ngày đến ăn cơm tập thể tại bếp ăn của cơ quan, khi đó đặt tại 49 Trần Hưng Đạo.
Xuân Quỳnh đau khổ, hoang mang không chỉ vì tình cảm đổ vỡ, mà còn vì mất lòng tin vào sự thành thực, vào tình cảm của người khác giới. Chị tự trách móc và xỉ vả mình một cách thậm tệ.
Đã có lúc chị suy nghĩ và xử sự một cách rất cực đoan. Chị tránh tham dự tất cả các cuộc sinh hoạt, hội họp trong giới văn chương để không phải nhìn thấy người đó.
Những bài thơ của chị có liên quan đến anh ta chị đều chối bỏ, không muốn ai nhắc đến. Có lần chị đã kiên quyết yêu cầu một người bạn thơ làm biên tập ở một nhà xuất bản phải bỏ bài thơ của chị ra khỏi tập sách vì không muốn đứng tên chung với người ấy.
Nhà văn Trần Hoài Dương, khi đó cùng làm việc với Xuân Quỳnh ở báo Văn Nghệ, cũng như một số bạn trong giới văn chương khác, đã chứng kiến và hiểu được phần nào tâm trạng của chị trong thời gian đó.
Xuân Quỳnh đã gửi gắm tâm sự vào một truyện đồng thoại. Nhân một hôm chờ họp tòa soạn, chị đã kể cho anh Trần Hoài Dương nghe câu chuyện đó. Vừa kể mắt chị vừa hoe hoe đỏ:
“Ngày ngày, một anh chàng Bói cá có bộ lông cánh sặc sỡ vẫn đến đậu trên cành tre vươn ra hồ. Anh ta ngồi im lặng, không biết nghĩ ngợi những gì mà có vẻ đăm chiêu, tập trung tư tưởng đến cao độ.
Đôi mắt anh ta chăm chú nhìn xoáy xuống đáy hồ nơi đang vươn lên nàng Ngó Sen xinh xắn mới lớn. Qua làn nước trong vắt, Ngó Sen lặng lẽ chiêm ngưỡng chàng Bói cá.
Thấy chàng đau đáu hàng giờ, nàng nghĩ chắc là chàng đang ngắm mình. Chàng phải yêu mình lắm… Nếu không, sao chàng mê mẩn thế kia? Nàng Ngó Sen đang độ tuổi chớm yêu, bồi hồi, phấp phỏng tưởng tượng ra biết bao mộng đẹp…
Đang mơ màng trong lãng mạn, đột nhiên Ngó Sen giật bắn mình. Nước quanh nàng bắn tung toé. Vừa có một tiếng “tõm!” to khủng khiếp. Ngước nhìn lên, Ngó Sen thấy chàng Bói cá, người tình trong mơ ước của nàng, mỏ đang quắp một con cá loáng bạc bay vút lên. Nàng Ngó Sen khóc như mưa như gió. Thì ra, lâu nay Bói cá chỉ cần con cá chứ đâu chú ý đến tình yêu của nàng.”
Nàng “Ngó Sen” đã khóc như mưa như gió, nhưng Xuân Quỳnh thì không thể thế. Chị đã trải qua nhiều nỗi bất hạnh, đã bao lần nước mắt chảy ngược vào trong. Người ta bảo rằng nỗi đau câm nín thường hành hạ con người kinh khủng hơn.
Xuân Quỳnh đau khổ, nhưng chị cũng đã được nhiều người bạn cảm thông, chia sẻ, mặc dù không tránh khỏi việc có những kẻ đố kỵ, nhỏ nhen nhân dịp này bàn tán, đơm đặt làm khổ chị.
Xuân Quỳnh vốn là người có bản lĩnh. Chị mê trong đắm say nhưng tỉnh táo trong tiềm thức. Chị đã vượt qua tất cả những hệ lụy ở đời để sống, làm việc, yêu thương rồi lại hy vọng và chờ đợi!
http://www.tienphong.vn/van-nghe/137425/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:24 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ III: Ai biết đâu chữ “ghét”/ Là nhịp cầu nối duyên

Chị đã nghĩ bằng thơ, sống bằng thơ, dùng thơ để tự hiểu mình cũng giúp mọi người hiểu mình. Những dòng thơ như biết chia sẻ với chị cả những niềm vui sướng cực độ, lẫn những đau đớn đến xé ruột xé lòng. Thơ Xuân Quỳnh chính là đời sống của chị, là những tâm trạng thật của chị trong mỗi bước vui buồn của đời sống.
Là người thiếu thốn tình cảm từ nhỏ nên Xuân Quỳnh rất nâng niu chăm chút các mối quan hệ tình cảm trong cuộc sống. 13 tuổi, bước chân vào văn công, Xuân Quỳnh thuộc loại em út của Đoàn ca múa nhạc Trung ương. Chị sống vô tư trong tình cảm hồn nhiên, trong sáng của mình.
Xuân Quỳnh ở tập thể tại Khu văn công Cầu Giấy. Thỉnh thoảng được nghỉ vào dịp lễ tết, chị đến khu nội trú của trường ĐHSP Hà Nội nơi chị Đông Mai theo học ở Khoa Văn.
Thông minh, xinh đẹp, lại là diễn viên múa có triển vọng, nên Xuân Quỳnh được khá nhiều chàng trai để ý. Có người bạo dạn ngỏ lời. Có người chỉ âm thầm ôm mối tình đơn phương.
Thấy em gái sống trong “môi trường văn công” nên chị Mai rất lo lắng. Chị luôn dặn dò em phải thận trọng giữ gìn. Hai chị em thường nhắc nhủ nhau trong tình yêu cũng như trong cuộc sống phải làm sao cho mọi người thấy rằng tuy không có cha mẹ, không có người thân bên cạnh, nhưng mình vẫn là người nề nếp.
Bước vào tuổi thiếu nữ, chị đã có những rung động đầu đời với một thanh niên là bạn của một người ở cùng Đoàn. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, chị nhanh chóng nhận ra anh ta khác xa với những điều mình nghĩ, nên đã cương quyết rời xa, mặc dù trong lòng cũng rất buồn.
Giữa lúc đó thì anh Lưu Tuấn đến với Xuân Quỳnh. Anh Tuấn là một nhạc công viôlông ở cùng Đoàn. Hai người cùng làm việc với nhau và cũng đã có mối quan hệ đồng nghiệp từ trước.
Đã bao lần anh cùng đội nhạc đệm đàn cho các điệu múa có Xuân Quỳnh tham gia, rồi những chuyến đi lưu diễn ở xa. Anh Tuấn là người đứng đắn, hiền lành, tốt bụng, hay quan tâm giúp đỡ mọi người, đặc biệt là chăm sóc Xuân Quỳnh chu đáo.
Từ trước khi chính thức nhận lời yêu anh, Xuân Quỳnh cũng đã quý mến anh Tuấn, tuy tính tình hai người có vẻ trái ngược nhau. Từ trong sâu thẳm, Xuân Quỳnh cũng nhận thấy có những điều không hẳn đã hoà hợp, nhưng chị nghĩ rằng không nên lý tưởng hoá hình ảnh người chồng tương lai.
Cũng chẳng dễ dàng gì để có thể tìm thấy một người yêu hoàn hảo. Sau một thời gian đắn đo, suy nghĩ, chị quyết định yêu anh. Và sau khi tập thơ đầu tiên Chồi biếc ra đời, đám cưới của hai người đã được tổ chức, do hai cơ quan (Đoàn ca múa nhạc Trung ương và Hội Nhà văn) nhiệt tình giúp đỡ.
Nữ sĩ Anh Thơ là một trong những người động viên, khuyến khích Xuân Quỳnh rất nhiều trên chặng đường đầu tiên mới chập chững bước vào nghề văn.
Bà nhắc mãi một câu chuyện thú vị về Xuân Quỳnh, ngay trong lần đầu tiên gặp gỡ. Hôm đó Xuân Quỳnh đến nhà bà Anh Thơ cùng với bạn trai. Hai người trông rất đẹp đôi.
Chị được nhạc sĩ Chu Minh viết thư gửi gắm: “Như đã giới thiệu với chị, hôm nay Xuân Quỳnh đem thơ đến ra mắt chị. Mong chị sẽ hết sức giúp đỡ cây bút thơ non trẻ này. Rất cảm ơn”.
Nhà thơ Anh Thơ mừng lắm. Lúc đó bà đang làm biên tập thơ tại Nhà xuất bản Văn học. Ở cương vị của mình, bà nhận thấy trên văn đàn thật hiếm hoi các cây bút thơ nữ.
Bà đon đả hỏi Xuân Quỳnh có mang thơ đến không? Xuân Quỳnh rút ngay trong túi ra một tập thơ mỏng đưa cho bà. Anh Thơ vội xem ngay và bà hơi thất vọng vì tập thơ khô quá, có những bài như hô khẩu hiệu.
Bà nhẹ nhàng hỏi cô: “Chắc em còn những bài viết riêng cho mình. Đọc thêm cho chị nghe nào!” Anh bạn đi cùng vội đỡ lời: “Có đấy chị ạ. Xuân Quỳnh vừa viết tặng em một bài, có tên là Ghét. Nhưng chỉ ghét lúc đầu vì chưa hiểu nhau, sau thì lại yêu nhau thắm thiết”.
Xuân Quỳnh đỏ bừng mặt, lúng túng trả lời: “Bài thơ ấy là viết riêng cho mình, đọc ra chị cười chết, vì nó không gắn với cuộc sống xã hội chủ nghĩa một chút nào”.
Bác sĩ Dinh - chồng Anh Thơ, cùng ngồi tiếp chuyện đôi bạn trẻ, vội nói ngay: “Quỳnh đọc đi, tôi thích nghe những bài riêng tư này lắm”. Anh Thơ cũng nhiệt tình ủng hộ. Nhưng Xuân Quỳnh vẫn tỏ ra ngại ngần.
Anh bạn lại sốt sắng: “Vì bài này Quỳnh tặng em, nên em thuộc. Em xin đọc anh chị nghe nhé”. Trong khi anh bạn say sưa đọc, Xuân Quỳnh vừa sung sướng vừa e thẹn nhìn người đọc thơ mình:
Một tiếng cười khanh khách - Từ phòng múa vọng sang - Anh cau mặt ngừng đàn - Và quát to: “Trật tự! - Cười thì như chợ vỡ - Nhảy với múa suốt ngày - Tôi có con sau này - Sẽ cho làm nghề khác!” - Cô lườm sang phòng nhạc: - Rõ ghét cái anh chàng - Chẳng nghĩ lúc cưa đàn - Làm người ta mất ngủ - Lúc nào cũng nhăn nhó - Có mấy lúc cười đâu - Mình có con ngày sau - Sẽ không cho học nhạc - Hai người luôn xung khắc - Thường cố chấp lẫn nhau - Một cử chỉ không đâu - Cũng lọt vào con mắt - Một hôm, dưới dàn nhạc - Anh bỗng ngước nhìn lên - Đẹp sao! Anh thầm khen - Một dáng người con gái - Cả cuộc đời mở hội - Trên tà áo bay bay - Cả đất trời quay quay - Trong bước ai uyển chuyển - Tiếng đàn anh luyến luyến - Nghe đầm ấm ngọt ngào - Lòng cô bỗng xôn xao - Say mê theo nhịp múa - Và từ sau hôm đó - Họ sánh bước bên nhau - Anh cúi sát mái đầu - Cùng người yêu anh nói: - “Nếu anh có con gái - Nó sẽ múa như em” - Cô mỉm cười tiếp thêm: - “Trai, em cho học nhạc” - Niềm yêu lên khoé mắt - Vằng vặc ánh trăng đêm - Ai biết đâu chữ “ghét” - Là nhịp cầu nối duyên.
Bài thơ tươi trẻ, hồn nhiên. Cảm xúc rất thật và trong sáng. Anh Thơ khuyến khích Xuân Quỳnh cứ hướng này mà tiếp tục sáng tác. Người bạn đi cùng chị hôm đó chính là anh Lưu Tuấn. Có thể nói tình yêu đối với anh Tuấn là nguồn cảm hứng cho những bài thơ tình đầu tiên của Xuân Quỳnh.
Có gia đình riêng, Xuân Quỳnh được cơ quan Hội văn nghệ phân cho một căn phòng nhỏ tại khu tập thể dành cho văn nghệ sĩ tại 96A phố Huế. Năm 1966, Xuân Quỳnh sinh cháu Tuấn Anh.
Mồ côi mẹ từ nhỏ nên hơn ai hết, Xuân Quỳnh cảm nhận được ý nghĩa thiêng liêng của tình mẫu tử. Chị đã dành cho con trai đầu lòng tất cả tình yêu thương tha thiết nhất.
Đứa trẻ sinh ra trong những ngày bom đạn ấy là nơi gửi gắm tình yêu, khát vọng hoà bình của người mẹ trong một đất nước đang có chiến tranh. Có con nhỏ nhưng Xuân Quỳnh không ngừng phấn đấu vươn lên.
Chị tận dụng mọi cơ hội để học hỏi, để thực hiện những chuyến đi thực tế ở nhiều vùng đất. Thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất Xuân Quỳnh đã có mặt ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, Cửa Việt, đường 20…
Năm 2004, khi có dịp đến thăm địa đạo Vĩnh Mốc, tôi đã được xem bức ảnh chụp những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong địa đạo. Dưới bức ảnh có đề những câu thơ của chị: “Hầm sâu giờ quý hơn nhà - Súng là tình nghĩa đạn là lương tâm - Mẹ nuôi ngọn lửa trong hầm - Để khi khôn lớn con cầm lên tay”.
Những năm tháng sôi động của đất nước, cũng là những năm tháng không yên trong đời sống tình cảm của Xuân Quỳnh. Những rạn nứt đã bắt đầu xuất hiện.
Trước kia, trong môi trường văn công, chị thấy anh Tuấn hơn hẳn nhiều người khác. Hơn nữa lúc đó ít tuổi, tâm hồn và cảm xúc của chị còn đơn giản.
Bây giờ, trong môi trường mới, tâm hồn ngày càng mở rộng và sâu sắc hơn, lại được tiếp xúc với nhiều người trong giới viết văn, làm thơ, Xuân Quỳnh nhận thấy giữa hai người có nhiều sự chênh lệch, khác biệt quá. Anh Tuấn là người hiền lành, có tình cảm chân thật nhưng không thể chia sẻ với chị nhiều điều trong cuộc sống cũng như trong công việc sáng tác.
Rất thương con nên Xuân Quỳnh cứ dùng dằng mãi, nhưng rồi sự chia tay là điều không thể tránh khỏi. Xuân Quỳnh quyết định ly hôn. Chị không muốn giả dối với anh Tuấn và càng không muốn giả dối với chính mình.
Mặc dù chia tay, nhưng chưa bao giờ chị Quỳnh có ý nghĩ không tốt về anh Tuấn. Sau này, khi hai người ly hôn đã nhiều năm mà vẫn thấy anh sống một mình, chị Quỳnh băn khoăn lắm.
Rất nhiều lần chị nói với tôi là mong anh tìm được người tốt, phù hợp để cuộc sống đỡ hiu quạnh. Không chỉ quan tâm suông mà chị còn có những việc làm rất cụ thể.
Bạn tôi có một người chị là giáo viên có chồng là liệt sĩ. Nghe bọn tôi nói chuyện chị cứ giục làm mối cho anh Tuấn. Có lần tôi mời chị ấy đi xem kịch của anh Vũ.
Chị Quỳnh “tình cờ” ngồi bên cạnh nói chuyện. Sau đó chị bảo tôi là chị thấy hình thức và tính tình của cô này đều được. Nên giới thiệu cho anh Tuấn. Cô bạn tôi cũng nhất trí nhưng chúng tôi cứ loay hoay chưa biết làm cách nào. Vì cả hai đều là những người mực thước, điềm đạm, ít giao tiếp, khó tìm ra cơ hội để họ có thể tiếp xúc với nhau một cách tự nhiên.
Sau rồi chính chị Quỳnh đã tìm ra một cách rất hay. Người chị bạn tôi có một cô con gái nhỏ. Chị Quỳnh bảo bọn tôi nói với chị ấy cho cháu đến học đàn viôlông với anh Tuấn. Chị ấy thích quá, đồng ý luôn.
Thế là cháu bé đến học nhạc với bác Tuấn. Chúng tôi vui mừng, chờ đợi một kết quả tốt đẹp. Nhưng không hiểu sao, mọi việc chẳng đi đến đâu. Chị Quỳnh cứ tiếc, sau này thỉnh thoảng vẫn còn nhắc lại. Bọn tôi thì vô tâm, không để ý gì nữa.
Đối với bà nội của Tuấn Anh, chị Quỳnh cũng rất quý trọng. Chị thường nhắc Tuấn Anh: “Hồi nhỏ bà trông nom con vất vả lắm. Bây giờ bà già rồi, con phải luôn quan tâm săn sóc bà”.
Anh Tuấn cũng là người rất tốt. Anh giữ mối quan hệ tốt đẹp với cả gia đình tôi, đặc biệt anh yêu quý cháu Mí (Quỳnh Thơ) như con đẻ. Đi đâu về anh đều mua quà cho cháu, dạy cháu học nhạc lý, học đàn.
Có lần tôi về nhà ăn cơm với anh chị, chị bảo hôm nay Kít, Mí cắt cơm nhà, đi ăn cơm khách, bác Tuấn mời. Tôi lên nhà anh Tuấn, đứng bên cửa sổ nhìn vào, thấy anh ngồi giữa ba cậu con trai: Tuấn Anh, Kít, Mí, vừa ăn cơm vừa trò chuyện rôm rả.
Tôi xuống nhà kể chuyện lại, ai cũng thấy vui. Sau này khi tất cả gia đình tôi và bố con anh không ở ngôi nhà 96A phố Huế nữa, anh Tuấn vẫn thỉnh thoảng đến thăm mẹ tôi.
Có lần anh đến thăm mẹ tôi, lúc đó có cả mấy người bạn của mẹ tôi đang ở đó. Thấy anh nói chuyện đon đả, nhiệt tình, khi anh ra về, họ hỏi mẹ tôi: Ai đấy? Mẹ tôi hơi lúng túng một chút rồi trả lời: “Đấy là chồng cũ của con dâu tôi!”.
Mới đây, khi báo Thanh niên có đăng bài viết về việc in sai văn bản bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh trong sách giáo khoa, anh gọi điện thoại cho tôi ngay, bảo tôi phải có ý kiến chính thức với NXB Giáo dục về việc này.
Ngày vợ cháu Tuấn Anh sinh con trai đầu lòng, chúng tôi đến thăm, anh rất mừng. Khi tiễn chúng tôi về, anh khẽ nói “nếu còn sống đến hôm nay, Quỳnh sẽ vui lắm”.
Từ rất lâu rồi chị đã không thuộc về anh nữa, nhưng dường như trong anh tình yêu thương vẫn sống mãi. Chị Quỳnh ơi! Trong cuộc đời nhiều bất hạnh của chị, phải chăng đây cũng là một niềm an ủi lớn?
08:18 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Kỳ II - 'Ngọn gió lào cát trắng của đời tôi/Tôi của cát của gió lào khắc nghiệt'

Từ trái sang phải: Các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh
Đang ở trong môi trường thuận lợi, hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Đoàn ca múa với những người bạn, người chị thân thiết như trong một gia đình, với những chuyến đi biểu diễn thường xuyên ở nước ngoài. Biết bao người đã mơ ước có được một vị trí như chị.
Bản thân Xuân Quỳnh khi mới được tuyển về Đoàn văn công, được ra sống ở Thủ đô Hà Nội, đã cảm thấy như một sự đổi đời, không còn mong ước gì hơn thế. Không chỉ tập luyện và biểu diễn, Xuân Quỳnh còn say mê với công việc đi sưu tầm và khai thác những điệu múa lưu truyền trong dân gian.
Nhà thơ Hoàng Trung Thông kể lại rằng một lần ông cùng nhà văn Nguyễn Tuân, Tô Hoài và Trọng Hứa đi lên Lũng Cú, nơi cực bắc của Tổ quốc. Nhà văn Nguyễn Tuân đã hỏi cả đoàn: “Các anh có biết chúng ta lên đây hơi muộn rồi không, trong giới văn nghệ đã có người lên đây trước chúng ta rồi, biết ai không?” Mọi người lắc đầu, chịu không biết.
Sau khi tợp một ngụm rượu, Nguyễn Tuân chậm rãi kể: “Có một người con gái 17, 18 tuổi gì đó đã lên Lũng Cú trước chúng ta để cùng với đoàn đi tìm những điệu múa dân tộc, mà thời đó từ Hà Giang lên Đồng Văn chưa có đường ôtô chỉ toàn đi bằng ngựa hoặc đi bộ được thôi. Cô gái đó là Xuân Quỳnh, một diễn viên múa trước đây, bây giờ là nhà thơ trong Hội chúng ta rồi đấy.”
Nhà thơ Hoàng Trung Thông rất thích thú và ngạc nhiên. Khi về Hà Nội, ông tìm gặp Xuân Quỳnh để hỏi và đã được xác nhận là đúng như thế. Xuân Quỳnh kể rằng hồi đó Đoàn ca múa có chủ trương khai thác các lời ca, điệu múa cổ lưu truyền trong nhân dân. Đặc biệt là các điệu múa của bà con dân tộc miền núi phía Bắc.
Những năm ấy hầu như chả có phương tiện quay phim, chụp ảnh gì. Hơn nữa với việc sưu tầm các điệu múa thì việc chụp ảnh nhiều khi không hiệu quả. Có những điệu múa rất đẹp, nhưng khi xem ảnh chụp lại thấy vô hồn.
Chẳng có cách gì hơn là mình phải sống cùng với bà con, rồi trực tiếp học hỏi, tiếp thu từ họ. Mà đâu phải lúc nào mình muốn là họ làm theo ý mình ngay. Có những lúc phải ở nhà, vào rừng, lên nương... cùng họ hàng bao nhiêu ngày mới tiếp thu trọn vẹn được một điệu múa.
Trong những chuyến đi điền dã hầu như bao giờ Xuân Quỳnh cũng là người thu hoạch được nhiều kết quả nhất. Một phần vì chị xinh đẹp, dễ gần, phần nữa vì Xuân Quỳnh rất thích thú, say mê với công việc này.
Thế nhưng mọi việc không xuôi chèo mát mái được mãi. Năng khiếu và lòng yêu thơ ca trỗi dậy, khiến Xuân Quỳnh không thể yên lòng với cuộc sống của một cô văn công.
Suốt một thời gian dài Xuân Quỳnh cứ loay hoay với sự lựa chọn: Một bên là nghề diễn viên múa yên ổn chắc chắn, một bên là con đường thơ ca đầy quyến rũ nhưng cũng thật bấp bênh, không biết rồi ra sẽ thế nào, sẽ đi về đâu.
Xuân Quỳnh viết thư tâm sự với nhà thơ Vân Long - một người anh, người bạn khi đó cũng ở cùng Đoàn. “Tôi bây giờ như một kẻ đứng giữa ngã ba đường vắng mà trời thì tối, chẳng biết hỏi ai. Giá mà bây giờ có ai bảo hộ tôi một điều rằng: “Đi con đường này là đúng” thì dù biết có gục ngã giữa đường tôi vẫn cứ đi. Tôi chỉ sợ mình không biết phương hướng rồi sau này cũng chẳng ra trò trống gì, mà cứ lo nghĩ mãi thế này thì hết đời.”
Những bài hát, những điệu múa... đã từng cuốn hút Xuân Quỳnh hơn mọi thứ trên đời. Nó đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của chị. Từ một cô bé mồ côi mẹ, bơ vơ lạnh vắng trong cái làng nhỏ hiu quạnh chị bước lên sân khấu dưới ánh sáng lộng lẫy của đèn hoa và những tràng pháo tay hâm mộ.
Tuổi mười tám đôi mươi, Xuân Quỳnh có một nhan sắc khiến bao người thầm thương trộm nhớ. Khuôn mặt tròn với đôi mắt đen láy, trong sáng và miệng cười tươi tắn.
Những điều say mê đã từng là tất cả cuộc sống của Xuân Quỳnh giờ đây bỗng trở nên nhợt nhạt. Chị không còn thấy hứng thú như trước kia nữa. Và lúc này những câu thơ dường như đã hoàn toàn xâm chiếm đầu óc Xuân Quỳnh, khiến chị đi đến quyết định phải dành trọn vẹn cho nó.
Biết được ý định rời khỏi Đoàn Ca múa Trung ương của Xuân Quỳnh, nhiều người cho là điên rồ và hết lời khuyên can chị không nên viển vông và phiêu lưu như vậy. Nhưng Xuân Quỳnh đã quyết và không gì có thể lay chuyển nổi.
Nhiều năm sau này, khi gặp lại Xuân Quỳnh, ca sĩ Tân Nhân vốn là một người chị cùng Đoàn rất yêu quý Xuân Quỳnh vẫn còn nhắc chuyện ngăn cản mãi việc Xuân Quỳnh rời Đoàn ra đi mà không nổi. Sự chuyển hướng này là một việc lạ lùng, không sao giải thích được trong con mắt mọi người.
Thêm một lý do nữa khiến họ ngạc nhiên, bởi vì ngoài việc đã có nghề nghiệp ổn định, tương lai nhiều hứa hẹn, lúc này Xuân Quỳnh đã có chồng chưa cưới là anh T - một nhạc công đàn viôlông ở cùng Đoàn. Anh T là người hiền lành, tốt bụng, khéo tay, chăm sóc Xuân Quỳnh chu đáo.
Từ Đoàn Ca múa Trung ương, năm 1962 Xuân Quỳnh được tham gia lớp Bồi dưỡng lực lượng nhà văn trẻ do Hội nhà văn tổ chức, kéo dài hơn hai năm.
Khóa học đó có khoảng gần ba chục người, hầu hết sau này đều trở thành những cây bút tên tuổi, có vị trí xứng đáng trên văn đàn. Ít tuổi nhất khóa học là Xuân Quỳnh và Nguyễn Thị Ngọc Tú. Nhiều tuổi nhất là nhà văn Võ Huy Tâm. Ngoài ra còn có thể kể đến một số tên tuổi khác như Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Xuân Khánh, Xuân Cang, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Quang Thân, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Trọng Oánh, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc...
Lớp học đặt ở trại sáng tác Quảng Bá, một khu đất rộng và đẹp nằm kề bên Hồ Tây. Thời gian đầu, Xuân Quỳnh vẫn ở trong khu văn công Cầu Giấy, hằng ngày đạp xe đi học. Sau đó chị được bố trí một căn phòng nhỏ ngay tại Quảng Bá.
Tuy cùng là môi trường nghệ thuật, nhưng cách sống, cách làm việc và các mối quan hệ ở trại sáng tác Quảng Bá khác hẳn với Đoàn văn công. Trong thời gian hai năm học, thường lên lớp vào buổi sáng, còn buổi chiều tự do. Mọi người đọc sách, trao đổi trò chuyện cùng nhau, ai viết được gì thì viết. Những sáng tác mới có thể được đưa ra bàn bạc, góp ý kiến.
Vốn là người ham học hỏi, Xuân Quỳnh cảm thấy thật may mắn khi được theo học lớp viết văn đầu tiên này. Chị được học với những người thầy ở đỉnh cao kiến thức như Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Cao Huy Đỉnh, Nam Trân...
Và đương nhiên, lớp học còn được đón nhận nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi đến truyền đạt kinh nghiệm, dẫn dắt vào nghề sáng tác: Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Bùi Huy Phồn, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên...
Không chỉ được thu nhận về kiến thức, cảm hứng sáng tạo ngày càng được nảy nở và bồi đắp. Xuân Quỳnh háo hức bước vào một chặng đường mới của cuộc đời mình: Chuyên tâm và gắn bó hoàn toàn với công việc sáng tác thơ ca.
Con đường chị đã lựa chọn sau bao nhiêu đắn đo, cân nhắc, giờ đây đã tìm được câu trả lời xác thực nhất. Chị đã không nhầm lẫn chút nào khi đánh cược cả cuộc đời mình vào những câu thơ. Thơ ca đã đem đến cho cuộc sống của Xuân Quỳnh bao ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ hơn.
Trong tiểu sử văn học, trả lời đề mục nguyên nhân bắt đầu hoạt động văn học, Xuân Quỳnh nêu hai điểm: “Vì thích thú. Làm văn học cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Vì uất ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết. Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không được yêu, mà mình được yêu. Như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng.”
Say mê, háo hức và quả quyết khi dấn thân vào con đường văn học nhưng không phải lúc nào mọi việc cũng diễn ra suôn sẻ. Xuân Quỳnh không tránh khỏi sự hẹp hòi, đố kị, nghi ngại ở một vài người, ở chỗ này chỗ khác.
Nhưng vốn là một cô gái có bản lĩnh, sắc sảo, có cá tính và điều quan trọng là có tài năng, nên Xuân Quỳnh đã nhanh chóng vượt qua được những khó khăn trong công việc và cuộc sống.
Có một thời gian Xuân Quỳnh phải làm công việc giữ trẻ rồi làm thủ thư, giữ sách tại thư viện của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Hồi đó Xuân Quỳnh làm việc ở thư viện cùng với chị Trần Phúc Mộng Loan.
Chị Loan là người yêu của nhà văn Bùi Đức Ái (Anh Đức). Khi chị Loan xin đi vào Nam với nhà văn Anh Đức, thư viện được giao cho người khác trông coi. Chị Quỳnh cũng chuyển đi làm một vài việc khác rồi cuối cùng được nhận về báo Văn nghệ, lúc đó do nhà thơ Hoàng Trung Thông phụ trách.
Ban đầu Xuân Quỳnh cũng chỉ làm công việc nhận bài vở, ghi vào sổ sách rồi phân loại, chia về các tổ cho biên tập viên xử lý. Một thời gian sau, Xuân Quỳnh mới được phân về làm biên tập viên tổ thơ của báo Văn nghệ, tổ có nhà thơ Vĩnh Mai đã truyền đạt cho Xuân Quỳnh nhiều kinh nghiệm trong nghề biên tập.
Tập thơ Tơ tằm - Chồi biếc (in chung với Cẩm Lai) như một tấm giấy thông hành để Xuân Quỳnh chững chạc bước vào làng thơ. Tập thơ đầu tay này đã được các nhà văn, nhà thơ lớp trước như Vũ Tú Nam, Anh Thơ... viết bài động viên, khích lệ khiến Xuân Quỳnh rất vui và tự tin.
Trong thơ cũng như trong đời, Xuân Quỳnh luôn tỏ ra là một người quyết liệt, yêu ghét đều phải hết lòng. Trong tâm hồn nhạy cảm của Xuân Quỳnh không có một thứ tình cảm nào buông trôi nửa vời. Bao giờ chị cũng đẩy cảm xúc lên ở mức độ cao nhất. Chị luôn thể hiện, luôn nói đến tận cùng những tình cảm của mình.
Đặc điểm này đem sức nặng đến cho nhiều bài thơ của chị và nó cũng đem đến cho cuộc đời chị nhiều nỗi đắng cay. Xuân Quỳnh đã đem chính cuộc đời mình ra để đổi lấy những câu thơ.
Với chị, cây bút như là một cái “nghiệp”, như là số phận, không thể khác được. Bạn bè vẫn thường nhận xét rằng Xuân Quỳnh là người hay thái quá. Đó cũng là một nét đậm trong tính cách của chị.
Trong cuộc sống cũng như trong sáng tác, Xuân Quỳnh không chịu được những cái trung bình, mờ nhạt. Chị sống chân thành, sống hết mình với những buồn vui, yêu ghét trong cảm xúc của mình.
Xuân Quỳnh là người biết diễn đạt rất giỏi khả năng luôn luôn thay đổi đột ngột của xúc cảm. Nhà thơ Bằng Việt đã diễn tả thật chính xác trạng thái tình cảm đó của tác giả Gió lào cát trắng trong một bài thơ viết tặng bạn:
Lại con đường đỏ rực dưới cây xanh
Đi như lao, như lửa cháy trong mình
Nhịp thơ bạn bỗng bồi hồi mạch đập
Những sườn dốc; rồi những cua vòng gấp
Băng trong đời, như bạn đã từng quen
...
Vẫn đó - gió lào cát trắng trong thư
Những thượng nguồn sông, buồn vui bất chợt
Như lòng bạn, lũ trào dâng đột ngột
Cuốn mình đi, đắp những bãi bờ xa...
http://www.tienphong.vn/van-nghe/135859/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:13 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Báo Tiền phong mấy năm trước cũng có đăng loạt bài viết của Lưu Khánh Thơ - em gái Lưu Quang Vũ- về Xuân Quỳnh-Lưu Quang Vũ, cả nhà đọc tham khảo nhé.
Xuân Quỳnh - Những nghịch lý của tình yêu và số phận

20 năm, nỗi đau đã dần lắng lại, nhưng tình yêu và nỗi nhớ về những người thân theo thời gian cứ được nhân lên mãi. Anh Lưu Quang Vũ có vở kịch Người trong cõi nhớ. Vở diễn đạt Huy chương vàng Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985.
Kịch bản này có một lối kết cấu khá độc đáo. Các nhân vật xuất hiện đồng thời theo các bình diện không gian khác nhau. Những người đang sống và những người đã chết.
Đã chết như chỉ là mất đi cái phần thân xác, còn tinh thần, những khát vọng, ước mơ cao đẹp của họ vẫn sống. Sống trong sự nghiệp, trong nỗi nhớ thường ngày của người hôm nay.
Qua lời của một nhân vật kịch, Lưu Quang Vũ đã nói quan niệm của anh về sự sống chết: Con người tồn tại ở ba cõi. Đó là thế giới của những người đang sống và cõi lặng im. Cõi thứ ba: Cõi của những người đang sống TRONG TRÍ NHỚ CỦA NGƯỜI KHÁC, những người không bị lãng quên…
Quả đúng như vậy.
20 năm, quãng thời gian có thể đã làm nhoà mờ nhiều thứ. Nhưng tình cảm của mọi người đối với anh chị vẫn tươi nguyên như vừa mới hôm qua còn gặp gỡ.
Thời gian vừa qua, khi có dịp đi cùng êkíp thực hiện bộ phim tài liệu về Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh, tôi lại càng thấm thía hơn những tình cảm sâu nặng, ân nghĩa mà bạn bè đã dành cho hai người. Tôi vô cùng xúc động khi chứng kiến những lời kể nghẹn ngào khiến cả người nói lẫn người làm phim trào nước mắt.
Thời gian sau khi anh chị mất, với tư cách là đứa em trong gia đình gần gũi nhất với hai người, tôi đã thực hiện một số cuốn sách về Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ. Tôi nghĩ đó cũng là việc duy nhất mà mình còn có thể làm được cho anh chị mình.
Tôi đã từng viết về Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh không chỉ một lần. Và bây giờ, bạn đọc hãy vui lòng cùng tôi hành hương vào cõi thứ ba, cõi của những người đang sống trong trí nhớ của người khác, cùng tôi đi vào thế giới đời thường của chị dâu tôi – nhà thơ Xuân Quỳnh.
Kỳ I. “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/Như một cánh chim bơ vơ mất tổ”
Chị Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6/10/1942 tại làng La Khê thuộc Hà Đông (cũ). Vốn là một làng nông nghiệp nhưng La Khê lại nổi tiếng hơn cả bởi nghề dệt the lụa, canh cửi quanh năm.
Mồ côi mẹ từ nhỏ, cha lại sớm đi bước nữa và có một đàn con nheo nhóc. Tuổi thơ của Xuân Quỳnh trôi qua trong nghèo nàn, cơ cực, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm.
Thuở bé chị hầu như chỉ gắn bó và sống với tình cảm yêu thương đùm bọc của bà nội và chị gái Đông Mai. Chị rất yêu cái làng quê hiền hoà, nhỏ bé ven bờ sông Nhụê, nhưng hầu như rất ít khi về thăm. Có lẽ bởi ở đó không còn những mối liên hệ ruột thịt thân thiết và hơn nữa nó lại gắn với những kỷ niệm tuổi thơ đơn độc nhiều nước mắt.
“Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ - Hái rau dền rau rệu nấu canh - Tập vá may, tết tóc một mình- Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ”. Sự thiếu vắng tình mẫu tử từ sớm đã trở thành nỗi ám ảnh quá lớn trong cuộc đời Xuân Quỳnh. Chị coi đó là nỗi bất hạnh đầu tiên trong tuổi thơ của mình.
Hình ảnh người mẹ đối với Xuân Quỳnh thật xa xôi. Chị không còn nhớ rõ gương mặt mẹ. Bà mất sớm. Sau khi sinh Xuân Quỳnh được ít lâu, bà mắc bệnh lao, một bệnh truyền nhiễm mà thời đó bị coi là nan y, không thuốc nào chữa được.
Sợ lây bệnh cho con, bà tự nguyện cách ly con, sống lặng lẽ, âm thầm trong một căn phòng riêng. Hàng ngày chỉ dám nhìn con qua khe cửa. Ngày mẹ mất, chị Quỳnh còn quá nhỏ, chưa đội được khăn tang. Chị được người bà con bế ra đầu ngõ tiễn mẹ rồi lại phải quay vào nhà vì sợ đưa ra nghĩa trang sẽ bị ốm.
Tuy mất mẹ từ nhỏ, nhưng sau này, trên bước đường đời, những lúc vui buồn sướng khổ, Xuân Quỳnh luôn nghĩ và nhớ đến mẹ. Chị tin rằng bà rất thiêng và lúc nào cũng ở bên mình.
Sau khi vợ mất được khoảng nửa năm, bố chị tục huyền và ra sống ở Hà Nội, thỉnh thoảng mới về quê thăm mẹ và hai cô con gái nhỏ. Xuân Quỳnh vẫn nhớ những lần đứng nhìn theo bóng cha khuất sau bụi tre đầu làng.
Chị vừa mong lại vừa sợ ngày cha về thăm. Mừng vì được gặp cha, được sà vào lòng cha quấn quýt. Nhưng lại buồn đứt ruột, khi chiều xuống ông lại vội vã rảo bước cho kịp chuyến xe cuối ngày trở về thành phố.
Ông thương hai đứa con nhỏ sớm mồ côi mẹ. Nhưng hoàn cảnh của ông cũng rất ngặt nghèo. Bà vợ kế của ông mâu thuẫn nặng nề với mẹ chồng, lại không chấp nhận cảnh dì ghẻ con chồng, xa lánh, hắt hủi hai chị em Xuân Quỳnh.
Cuộc sống của ông bố cũng đầy bất hạnh. Hai vợ chồng xung khắc. Người vợ sau khác hẳn với người mẹ hiền thục, dịu dàng của Xuân Quỳnh. Ông bố chị Quỳnh rất khổ tâm nhưng cũng không biết làm thế nào. Ông cũng không thể bỏ được người vợ sau, vì ông đã có với bà bốn người con.
Năm 1950 ông cùng bà vợ kế và đàn con vào Sài Gòn làm ăn sinh sống. Và từ đó, cùng với nỗi đau mất mẹ, hai chị em Xuân Quỳnh lại phải chịu nỗi đau chia xa đằng đẵng với cha mình, vì hoàn cảnh chiến tranh chia cắt đất nước.
Mãi cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, sau vài tháng trời chờ đợi, chị Quỳnh mới được gặp lại cha mình. Dù chịu nhiều đau khổ, nhưng chưa bao giờ Xuân Quỳnh trách hận điều gì ở cha.
Mặc dù thời đó việc có một ông bố di cư vào Nam, hiện đang sống trong chế độ Mỹ Diệm ở Sài Gòn, lại không có tin tức gì, khiến người trong cuộc luôn cảm thấy day dứt. Phần vì một câu hỏi cứ lơ lửng trong lý lịch, phần vì nỗi nhớ thương đau đáu không phải lúc nào cũng tiện nói ra.
Chính vì thế, nên sau giải phóng, biết tin bố còn sống, Xuân Quỳnh mừng lắm. Nhưng niềm vui lại đến cùng với nỗi ngậm ngùi, đau xót, khi chị biết rằng cha mình sống rất khổ sở, nghèo túng, gần như đầy đọa trong một cuộc sống từ lâu đã như là địa ngục.
Rất nóng ruột, nhưng chưa thể vào Sài Gòn ngay, chị Quỳnh viết thư cho cha tôi đang ở trong đó, để nhờ cậy bố chồng đến thăm nom và giúp đỡ bố đẻ khi mình chưa đi được.
Cha tôi đã có mặt ở Sài Gòn rất sớm. Ngay tháng 5/1975 ông đã đi cùng với cơ quan là Nhà hát Chèo trung ương, mang một số trích đoạn và vở diễn vào phục vụ đồng bào miền Nam chưa bao giờ được xem chèo một cách thực sự.
Lúc đó chưa có tàu hỏa, đường bộ cũng khó khăn. Cha tôi cùng với Nhà hát Chèo phải đi ô tô xuống Hải Phòng, đi tiếp bằng tàu thủy, ròng rã đến gần chục ngày mới vào được Sài Gòn.
Thành phố Sài Gòn lúc đó mới giải phóng, bề bộn, phức tạp. Cha tôi rất bận rộn, công việc biểu diễn, rồi gặp gỡ bà con họ hàng mấy chục năm xa cách. Nhưng khi nhận được thư chị Quỳnh gửi vào, ông vội vã đi tìm gặp thông gia.
Bức của chị Quỳnh viết đầy lo lắng: “Bố ơi! Hôm qua con nhận được tin của bố con. Cả đêm không sao ngủ được. Bố con hiện sống rất nghèo túng, khổ sở, cuộc sống chẳng khác gì địa ngục. Con đau lòng quá. Chắc là thời gian tới con và anh Vũ chưa có cách gì đi được. Con nhờ cậy bố đến thăm bố con và đưa cho bố con 20 đồng.
Được gặp bố và nghe bố nói chuyện về tình hình chúng con chắc là bố con sẽ vui lắm. Bố ơi! Con biết là bố rất thương con nên con mới dám làm phiền bố như vậy. Địa chỉ của bố con là: Nguyễn Quang Lục, 41 Trần Quốc Toản (gần chợ Tân Định).”
Thời gian đó thư từ gửi giữa hai miền rất lâu. Chị Quỳnh nóng ruột như ngồi trên lửa. Chắc cũng đoán được tình cảm của chị Quỳnh nên ngay sau khi gặp thông gia về, cha tôi đã đánh điện tín báo tin ngay để cho chị Quỳnh yên tâm.
Sau khi cha di cư, hai chị em Xuân Quỳnh ở lại miền Bắc và sống ở quê với bà nội. Mấy bà cháu lần hồi nuôi nhau. Hai cô bé sống cuộc sống trẻ con nông dân, dựa vào mấy sào ruộng phải nhờ người cấy hái.
Hai chị em Xuân Quỳnh tuy còn nhỏ nhưng cũng phải giúp bà việc xay lúa, giã gạo. Bà nội thương cháu, nhưng cuộc sống ở làng quê khiến ai cũng phải vất vả, lam lũ.
Tình thương yêu của bà dù rộng lớn đến đâu cũng không thể bù đắp nổi nỗi mất mẹ vắng cha của hai chị em Xuân Quỳnh. Ngay từ nhỏ, Xuân Quỳnh đã không thể sống hồn nhiên, vô tư như những đứa trẻ xung quanh. Lúc nào chị cũng sợ bị bỏ rơi.
Chị kể rằng, hồi nhỏ chị sợ nhất là mỗi khi chị Đông Mai có việc phải đi đâu xa nhà. Có đêm chị nằm ôm con mèo, thao thức không sao ngủ được, chỉ mong trời sáng để chị Mai chóng về.
Kỷ niệm về những ngày ấy sau này đã được chị viết lại qua những câu thơ thấm đầy nước mắt: “Em trở thành bé bỏng - Trong cánh tay chị xưa - Muốn ngồi bên bếp lửa - Chị kể chuyện thay bà - Như ngày xưa tháng Ba - Những đêm dài chó sủa - Rồi ôm chị nức nở - “Chị ơi đừng đi đâu - Em nghe như đằng sau - Có tiếng người đang bước!” - Chị cười: “Quỳnh đừng khóc - Chị chẳng đi đâu mà…” - Bấy giờ là tháng Ba - Tu hú kêu ngoài bãi”.
Cuộc sống vất vả, tự lập từ nhỏ khiến Xuân Quỳnh sớm già dặn trước tuổi. 15 tuổi chị đã trở thành một cô thiếu nữ nhạy cảm, hát hay, múa giỏi. Khi có người về làng tuyển văn công, Xuân Quỳnh đã “liều mình” đi thi. Chị may mắn trúng tuyển ngay đợt đầu.
Bà nội buồn vì phải xa cháu nhưng cũng mừng vì cháu đã trở thành người của đoàn thể, có điều kiện học hành bay nhảy, lại đỡ phải nuôi cháu. Xuân Quỳnh được nhận vào đoàn Ca múa nhạc Trung ương, được đào tạo thành diễn viên múa chuyên nghiệp theo lối học truyền nghề ngay tại Đoàn.
Vốn có năng khiếu, lại thông minh và xinh đẹp, cô em út của Đoàn đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của mọi người và trở thành một diễn viên đầy triển vọng. Một trang đời mới đã mở ra trước mắt Xuân Quỳnh.
Cuộc đời mồ côi thiếu thốn trăm bề, càng khiến cho Xuân Quỳnh nhận rõ được may mắn và hạnh phúc mà cuộc sống đã dành cho mình. Chị không quản ngày đêm lao vào tập luyện.
Vừa học văn hoá, vừa học chuyên môn. Có những lần tập tóe máu đầu ngón chân, chị vẫn cắn răng chịu đựng. Chỉ mới về Đoàn được mấy năm, Xuân Quỳnh đã tiến bộ nhanh chóng.
16, 17 tuổi chị đã được cùng Đoàn đi biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới. Rồi được tham dự Đại hội liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ 8 tại Helsinki (Phần Lan).
Trong kỳ Đại hội đó, Xuân Quỳnh được các bạn quốc tế tặng nhiều hoa nhất trong cuộc thi chọn người đẹp của Liên hoan. Sống trong môi trường nghệ thuật, Xuân Quỳnh cảm thấy rất hạnh phúc, tự hào.
Và cũng chính vào thời gian đó, năng khiếu thơ ca của chị bắt đầu được bộc lộ. Xuân Quỳnh đã ghi chép lại những cảm xúc của mình lên trang giấy, những vần thơ mộc mạc thuở ban đầu đã báo hiệu “một chồi thơ xanh biếc”:
Ai biết đâu con bé mồ côi đó
Nay lớn khôn rồi - cô gái văn công
Mẹ ơi mẹ từ trong lòng đất
Có nghe chăng đời hát yêu thương?
http://www.tienphong.vn/van-nghe/135250/Xuan-Quynh---Nhung-nghich-ly-cua-tinh-yeu-va-so-phan.html
08:10 SA 01/03/2013
Chuyện tình Lưu Quang Vũ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Mình nhớ hồi còn nhỏ có đọc 1 cuốn tiểu thuyết mà khi đọc, mình liên tưởng ngay đến câu chuyện của nhà thơ Xuân Quỳnh và nhà thơ Lưu Quang Vũ. Đó là tác phẩm của 1 nhà văn nữ, trong truyện là bạn thân của nhân vật nữ chính (ngoài đời có lẽ cũng là 1 trong số bạn thân của nhà thơ XQ). Có những chi tiết y như trong cuộc đời của nhà thơ XQ, như ở trại viết văn, yêu say đắm 1 người đàn ông nhưng anh ta phụ bạc (giờ mới biết là nhà thơ Vũ Quần Phương), rồi chi tiết nằm trong bệnh viện và chồng thì hẹn hò với 1 cô áo đỏ (chi tiết này ám ảnh mình mãi). Không biết có bạn nào đã từng đọc tác phẩm đó chưa? Mình có ý tìm lại nhưng khổ không nhớ nổi tên tác phẩm. :D

"Chỉ còn anh và em" của Nguyễn Thị Ngọc Tú.
03:27 CH 28/02/2013
Đồng Hồ - Trang Sức - Phụ Kiện
Chúc mừng năm mới với màu đỏ chói chang cho may mắn nhé!
Dupont Ligne 2, mở ra kêu "ping" thánh thót:



Happy new year!
04:54 CH 10/02/2013
Đồng Hồ - Trang Sức - Phụ Kiện
Cô VP dạo này bận đi buôn cà phê ha, để nhà cửa trôi miên man về đâu này. Up lên nhá.
Đồng hồ có mỗi một cáí thì khoe rồi.
Trang sức mới sắm đới, bé xíu à, em nó của Tiffany & Co, yêu không?
Phụ kiện, cái belt chữ H dùng nhiều hơn, cái kia chỉ thắt váy cho điệu. Có một cái xích của hai chữ C móc vào nhau, mới biết thêm một cách dùng nữa là đeo như vòng cổ chứ không chỉ thắt hờ hững bên hông nhé.
Bao giờ về nốt một em bật lên nó kêu "ping", chị sẽ up cả video, hi vọng nó về Tết cho hên.
05:15 CH 03/01/2013
Tai họa bất ngờ và số phận bi đát của một cô giáo...
Tóm lại là hôm qua, 19/9/2012, nhà hoa hậu mới mang 120 tr sang phải không ạ, yên tâm họp báo rồi.
Thế này thì đồng quan điểm "Sắc đẹp cũng là một tài năng" với cựu hoa hậu Thu Thủy nè:
ông Phan Văn Thơm - quyền Hiệu trưởng Trường ĐH Tây Đô - khẳng định việc nhà trường “đặc cách” thi tốt nghiệp cho Thu Thảo là đúng. “Chúng tôi luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh, sinh viên tài năng của trường tham gia các cuộc thi lớn tầm quốc gia, quốc tế”.
Theo ông Thơm, bồi dưỡng thế hệ trẻ tài năng là chủ trương của Nhà nước nên việc làm của nhà trường đối với Thu Thảo không có gì sai. “Không chỉ riêng Thu Thảo mà những em khác nếu có tài chúng tôi cũng sẽ xem xét làm như thế để các em có điều kiện khẳng định mình”, ông Thơm nói.
11:30 SA 20/09/2012
Đồng Hồ - Trang Sức - Phụ Kiện
(Google ra thôi mẹ nó. Để tớ ôn tí tiếng Anh nhá.)
Đồng hồ của bạn là của hãng đồng hồ Rotary do Moise Dreyfuss thành lập vào năm 1895 tại La Chaux de Fonds (được coi là Watch Valley), Thụy sĩ. Tới thập niên 20 của thế kỷ trước, thành viên trong gia đình Dreyfuss là Georges và Sylvain đã cho sản phẩm của mình nhập khẩu vào Anh, nơi đây đã trở thành thị trường thành công nhất của hãng. Rotary hiện vẫn là công ty của gia đình, chủ tịch đương nhiệm là Robert Dreyfuss, cháu trưởng của cụ Moise Dreyfuss.
Năm 1940, Rotary trở thành nhà cung cấp đồng hồ chính thức cho Quân đội Liên hiệp Anh. Cũng đúng vào thời gian này là sự kiện Thế chiến thứ II với một số lượng khổng lồ những người tham gia quân dịch, đồng hồ của Rotary đến với mỗi nhà, mỗi người Anh, tạo nên dấu ấn không phai mờ về nhãn hiệu của mình ở Vương quốc Anh.Gần đây hơn, năm 2006, đồng hồ Rotary đã được chọn là một trong những nhãn hiệu cao cấp nhất ở Anh và vẫn giữ được vị trí đó trong nhiều năm. Logo của đồng hồ Rotary là bánh xe có cánh (hihi, mình nhìn đồng hồ của bạn thì thấy như con chim cách điệu) được giới thiệu vào năm 1925 và sau này có thay đổi nhưng không đáng kể. Thêm vào nhãn hàng truyền thống, công ty đã sản xuất các loại đồng hồ dưới tên riêng hơn :"Dreyfuss & Co".
Rotary cũng là một thành viên của hiệp hội công nghiệp đồng hồ Thụy Sĩ. Mặc dù tự hào về di sản của Thủy Sĩ, nhưng trụ sở chính của hãng lại ở Anh và Rotary phần nhiều đã là một công ty của Anh. Trên thị trường rất nhiều nhà sản xuất đồng hồ, Rotary bên cạnh việc sản xuất đồng hồ cao cấp ở Thụy sĩ, hãng còn cho sản xuất loại đồng hồ giá thấp hơn, lắp ráp ở nơi khác, như Nhật hoặc Trung Quốc. Loại đồng hồ này được lắp ở Trung Quốc hoặc Nhật trước khi tái nhập về Thụy Sĩ và đề là đồng hồ Thụy Sĩ.
Đồng hồ Rotary tiêu biểu là hai loại tự động và quazt, và đặc điểm mà Rotary muốn hướng tới là Tiêu chuẩn Dolphin (cá heo), (tương đương với ít nhất là ISO 2281) - có nghĩa là các đồng hồ này đều chịu nước, có thể sử dụng cả ngày khi bơi lội hoặc lặn. Loại đồng hồ duy nhất của riêng Rotary là "Revelation" (Khải huyền?), nó được thiết kế có hai mặt khác nhau và hoạt động khác nhau, cho phép người đeo nó có thể thay đổi style ngay tức thì hoặc dùng ở hai múi giờ khác nhau.
Tò mò về cái đồng hồ Revelation rùi, đã gúc ra hình ảnh nè:

Túm lại cả bài là đồng hồ của mẹ nó là của một hãng đồng hồ gia đình Thụy Sĩ đã được Anh hóa, một nhãn hiệu cao cấp ở Anh, sướng nhá.
08:01 SA 20/09/2012
b
beloved
Bắt chuyện
2.5kĐiểm·0Bài viết
Báo cáo