Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Chữa CO THẮT ÂM ĐẠO ỏ đâu?
Mình 27t, đã có con 3 tháng tuổi.Ngay từ khi mới cưới, mỗi lần làm "chuyện ấy" với chồng mình cảm thấy rất đau.Lúc đầu nghĩ là do "em bé" ko ướt đc, nhưng sau này tìm hiểu thì biết mình bị co thắt âm đạo ( mình thấy mình có các triệu chứng của bệnh mà các báo, tạp chí đã nêu), ví dụ như : co dúm mỗi lần khám phụ khoa, đặt 1 viên thuốc vào cũng đau, dùng tăm bông lấy dịch ở ngay ngoài cũng co dúm lại,mỗi lần chồng mình dùng tay yêu “em bé” mình cũng thấy đau, và mỗi lần khi thật sự “vào cuộc” thì mình ko thể làm gì đc, lần nào cũng phải yêu cầu chồng dừng lại.
Chồng mình hơn mình có 1 tuổi thôi. Lại cao to, khỏe mạnh. Mình biết nếu mình mãi ko chữa đc bệnh thì chồng mình cũng buồn, cũng suy nghĩ này kia và biết đâu …..
Nghe nói đi khám phụ khoa để điều trị bệnh. Nhưng mình đi khám ở 56Hai Bà Trưng thì mấy bác sỹ đều nói rằng do hơi viêm nên thế.
Cũng nói thêm với các bạn rằng: tâm lý mình hơi nặng nề vì hơi buồn và ức chế vì chồng, từ lâu rồi, thỉnh thoảng có giai đoạn thấy có dấu hiệu trầm cảm.
Giờ mình muốn hỏi địa chỉ bác sỹ hay trung tâm nào điều trị đc bệnh cho mình.Các bạn ai biết thì làm ơn giúp mình nhé.
Đàn ông dù có yêu vợ đến đâu mà cả năm ko có “chuyện ấy” thì chịu làm sao nổi.
Giúp mình đi. Mình cảm ơn nhiều…

Hehe. cuối cùng thì mình đã thấy một câu hỏi thú vị.
Vấn đề này nhiều người quan tâm nhưng có lẽ quá tế nhị nên ít người đề cập
Rất nhiều người gặp tình huống này nhưng khi đi đặt vấn đề này với các bác sĩ, các bạn sẽ nhận được câu trả lời chung chung là: bạn nên đi khám phụ khoa xem có viêm nhiễm không, nên tập thể dục, tránh căng thẳng...vv. Sai hết
Kem bôi trơn trong trường hợp này cũng kg giải quyết vấn đề gì.Mình lấy ví dụ này nhé, không được hay lắm nhưng là sự thật: bạn đã chứng kiến khi 2 Dogs quan hệ với nhau mà bị co thắt chưa? lúc ấy thì có bôi dầu nhờn Castrol vào cũng bó tay. hihi
Như vậy vấn đề ở đây là do co thắt cơ của âm đạo.
Quay lại vấn đề điều trị. Bạn đã nghe nói về chất Botulinum toxin chưa, với biệt dược là Botox, Dysport. đây là sản phẩm của vi khuẩn độc thịt, có tác dụng làm liệt cơ tạm thời. Mình đã dùng nó nhiều năm nay ở Hà Nội để xóa các nếp nhăn vùng mặt, các khách hàng của mình rất hài lòng, chỉ có một điều không được hài lòng là ...thuốc đắt quá.
Thời gian mình qua Thailand đến chỗ BV Siriraj, mấy đồng nghiệp mình là các bs da liễu thỉnh thoảng vẫn mời chị em lên bàn và tặng mấy mũi Botox vào chỗ ấy (hihi...bọn Thái thông minh thật, trong chỉ định của Botox không đưa cái này ra đâu nhé). Mình cũng đã thử, kết quả rất OK.
Tuy nhiên tiêm Botox là một nghệ thuật, không phải cứ tiêm đại vào là được đâu nhé. Vị trí tiêm ở đâu và liều lượng rất quan trong. tiêm ít thì kg hiệu quả, tiêm nhiều quá nó giãn ra lại đến bắt đền bs thì...hehe.
Topic này hơi khó nói. nhưng đây là một bệnh lý hay gặp và chưa thấy nơi nào chữa nên mình là post lên đây để mọi người biết. không phải là quảng cáo. nếu cần giúp đỡ hãy vào trang bacsituan.com để liên lạc và biết thêm chi tiết.
(Pleasea do not hesitate to contact me if you need a help or further infomation.)
05:21 CH 10/09/2010
Cùng nhau vạch mặt những kẻ lừa đảo, cơ hội và...
Rau sạch là giề nhỉ? thế hóa ra rau ăn hàng ngày là rau bẩn à?:Thinking:
04:26 CH 02/09/2010
Cô đơn quá muốn tìm vợ mới
Haiz, mình lại có 1 mớ bạn gái học cùng đại học chưa chồng , cô đơn cũng có tâm trạng khát khao một mái ấm gia đình y chang vầy nè. Ước chi mình có phép như ông tơ bà nguyệt biết ai đang dư, đang thiếu nhau để mà chắp đôi thì hay biết mấy.

Đọc thấy hấp dẫn quá.:Thinking:
04:05 CH 02/09/2010
Cô đơn quá muốn tìm vợ mới
Hay là mình tập trung vào cua tập thể đi các bố ơi. Đến khi đổ rồi thì... chia nhau???

Ý kiến hay đấy:Laughing:
04:01 CH 02/09/2010
Trước hôm cưới anh… em thuộc về người khác
03:17 CH 10/06/2010
Viêm da cơ địa ở trẻ.
Chào các bà mẹ.
Chủ đề Viêm da cơ địa (atopic dermatitis) là một vấn đề lớn. bệnh liên quan đến yếu tố cơ địa (di truyền) và môi trường. như vậy ở thời điểm hiện nay để nói là ai đó có thể chữa khỏi là điều không thể, tuy nhiên có đến 80% các cháu khi lớn lên bệnh sẽ mất đi (cải thiện cơ địa).
với các cháu đang bị, việc điều trị cần lưu ý mấy điểm:
- Tránh các chất kích thích da: xà phòng, nước ấm..
- Ăn uống: sữa bò, trứng...
- Bôi Corticoids kéo dài: gây teo da, giãn mạch, và nhiều tác dụng phụ toàn thân nguy hiểm.
Điều trị Viêm da cơ địa quan trọng nhất là giữ ẩm cho da: các sản phẩm làm ẩm như cetaphil... có tác dụng tốt.
Hiện nay trên thị trường có một thuốc ức chế miễn dịch mới thay thế corticoid đó là Protopic (Tacrolimus), ít tác dụng phụ, không có hiện tượng dừng thuốc bênh nặng hơn (rebound) tuy nhiên cũng chỉ điều trị được triệu chứng.thuốc mỡ có hai hàm lượng: 0,1% và 0,03%(dành cho trẻ em). Nhược điểm: đắt tiền, 630-650 K/tube.
thời gian ít quá, hy vọng giúp được các cháu một chút. (trẻ em là tất cả)
02:24 CH 07/06/2010
Mách giúp mình bác sĩ Viện Nhi nhận đến khám tại...
Các mẹ ở HN ơi, ai biết có bác sĩ nhi nào giỏi, làm ở Nhi Thụy Điển nhận khám tại nhà, mách mình với nhé
BÉ MỌT

Chả có bác sĩ nhi nào mà đến khám tại nhà đâu bạn ạ.đừng nói là bác sĩ giỏi.theo mình được biết các bác sĩ nhi đi khám tại nhà đều là y tá hết. bạn cần sức khỏe cho con bạn hay bạn cần sự nhàn hạ?
05:17 CH 31/05/2010
Bệnh sùi mào gà
Ôi trời ơi các chị thấy ai đau xót như em không?yêu đương dại dột với người yêu rồi mới phát hiện ra mình bị SMG.Em sốc quá không ngờ có ngày em bị mắc bệnh này.Em hận thằng nguơi yêu cũ quá nó hại một đời em rồi!Đau xót là trc khi lấy chồng em đi khám tổng thể một lượt thì phát hiện ra có biểu hiện của SMG.Bác sỹ chưa kết luận nhưng phần nhiều nghi ngờ các vết sần ở gần âm đạo.Em đau quá các chị ơi tìm hiểu thêm thấy bệnh k nguy hiểm nhưng đã dính thì bị một đời.Em biết ăn nói với chồng em thế nào?Chắc anh ý không thể tha thứ cho em mất các chị ơi!Rồi em sợ em sẽ lây bệnh cho cả chồng em nữa.
em chán không muốn sống nưa rồi!
.
Chiện vặt mây cái vụ này đơn giản lắm. không phải lo lắng quá mức như vậy đâu
Tôi đang bận quá, it hôm nữa có thời gian viết bài này tư vấn cho các bạn cách điều trị.
05:30 CH 03/05/2010
Bệnh Vẩy nến toàn thân - (phần 3)
Chào các bạn.
Tôi xin đóng góp một số kiến chung, ngắn gọn nhưng rất quan trọng đối với các bạn mắc bệnh vẩy nến.
- Thứ nhất: hiện nay thế giới và Việt Nam chưa có phương pháp hay thuốc nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh vẩy nến. nếu có thì chắc chắn người đó đã nhận được giải Nobel Y học rồi vì bệnh vẩy nến là một vấn đề nổi cộm nhất của ngành da liễu thế giới chưa giải quyết triệt để được (2-3% dân số thế giới mắc bệnh này). Bản thân tôi là bác sĩ Da liễu, đã nhiều năm học tập làm việc tại các bệnh viện da liễu hàng đầu tại Thailand, Nhật Bản. đã tiếp xúc với rất nhiều Giáo sư đầu ngành Da liễu của thế giới nhưng chưa nghe nói tới một trường hợp vẩy nến nào khỏi cả. cũng có thể có trường hợp nào đó khỏi tôi chưa biết nhưng có lẽ điều đó cực hiếm và không phải do một phương pháp y học nào can thiệp vào. Nói như vậy mục đich để các bạn tránh thời gian và tiền của vô ích để đi tìm một phương thuốc để chữa khỏi triệt để bệnh vẩy nến. tuy nhiên với trình độ phát triển của y học thế giới hiện nay chúng ta có thể hy vong trong tương lai sẽ có một phương pháp hay loại thuốc nào đó có thể làm được điều đó.
- Thứ hai: mục tiêu điều trị bệnh vẩy nến là làm giảm hoặc hết các triệu chứng của bệnh và kéo dài thời gian ổn định lâu dài (vẩy, cộm, đỏ) bằng các thuốc bôi, thuốc uống toàn thân hay các phương pháp điều trị vật lý như UVA, UVB do các bác sĩ chuyên khoa chỉ định. Bệnh vẩy nến sau một thời gian điều trị bằng một loại thuốc thường dẫn đến nhờn, phải luân chuyển sang thuốc khác theo kiểu xoay vòng, sau một thời gian quay lại sẽ có hiệu quả như cũ.
- Thứ ba: là điều quan trọng nhất tôi muốn nói ở đây, không được dùng các thuốc corticoids đường toàn thân (uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch như Kcort, Kenacort – màu trắng đục, các “bác sĩ” tiêm thường dấu diếm) hay các thuốc đông y không rõ nguồn gốc (một số người vì lợi nhuận đã trộn corticoids vào thuốc đông y). khi dùng các thuốc này ban đầu bệnh tiến triển có vẻ rất tốt, các tổn thương da hết nhanh nhưng sau đó bệnh tái phát nặng hơn, tổn thương lan ra toàn thân, vẩy nến mụn mủ (có thể tử vong), vẩy nến đỏ da toàn thân và rất nhiều tác dụng phụ kể ra không hết. Điều đáng buồn là chúng tôi đã gặp rất nhiều bệnh nhân đến với chúng tôi do sự thiếu hiểu biết của các bác sĩ này nên để lại các hậu quả đáng tiếc mà đáng ra không mắc phải. Cũng nói thêm rằng corticoids không được dùng toàn thân nhưng có thể dùng để bôi tại chỗ và tiêm tại chỗ trong da đối với các thể vẩy nến cố thủ cho kết quả tốt với liều thích hợp nhưng phải do bác sĩ chuyên khoa da chỉ định.
Trên đây là một vài ý nhỏ với mục đích chính nhằm cảnh báo các bạn trong quá trình điều trị tránh những sai lầm đáng tiếc (cũng thông cảm: có bệnh thì vái tứ phương, mà có phải phương nào cũng tốt đâu). để có thêm thông tin về bệnh vẩy nến các bạn có thể vào trang Web này để tìm hiểu thêm:
http://bacsituan.com/NewsDetail.aspx?k=14&cate=44&tuto=38
Chúc các bạn mạnh khỏe, vượt qua được mặc cảm tự ty của bệnh tật để có chất lượng cuộc sống tốt hơn
07:52 CH 30/04/2010
Bệnh hệ thống-Lupus ban đỏ
chào em.
kết quả xét nghiệm tại khoa Miễn dịch dị ứng lâm sàng Bạch Mai và Viện Da Liễu đều do cùng một nơi làm cả. tuy nhiên hai kết quả khác nhau là do bệnh của em tiến triển. mỗi một thời điểm khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau chứ không phải do bác sĩ làm sai.
Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống liên quan đến hocmon sinh dục nữ, trước kia hầu như không thể có thai (vì làm cho bệnh nặng lên). tuy nhiên ngày nay có thể có con nhưng cần được sự theo dõi và chăm sóc sức khỏe đặc biệt.
Về khái quát, SLE là một bệnh nặng, căn nguyên còn chưa rõ, điều trị hiện nay đã có nhiều tiên bộ nhưng chưa khỏi hẳn được. em có thể vào trang Web của tôi để tìm hiểu một số vấn đề chung về bệnh này.
http://bacsituan.com/NewsDetail.aspx?k=14&cate=44&tuto=73
05:46 CH 22/04/2010
Bệnh da vảy cá!
bệnh vảy cá là một bệnh có tính chất di truyền trội và lặn tuỳ từng thể bệnh. thể thông thường (Ichthyosis vulgaris ) hay gặp nhất.bệnh có thể xuất hiện sau khi mới sinh ra cũng như ở lứa tuổi trưởng thành hay về già.có tỷ lệ cao kết hợp với bệnh viêm da cơ địa (Atopic Dermatitis). biểu hiện lâm sàng của bệnh vảy cá là các vảy da màu trắng xám, nhỏ mịn dính chặt vào da, đan hình mạng lưới giống như vảy cá hoặc da rắn. tổn thương chủ yếu ở mặt duỗ của chân tay, bụng, lưng. Trán, quanh miệng, tóc có nhiều gầu. Lòng bàn tay, chân các vân tay nổi rõ, dày sừng nhẹ.bệnh nặng lên về mùa đông, giảm về mùa hè.Tăng dần theo tuổi tác. bệnh nhân không có cảm giác gì ngoại trừ cảm giác da khô và ảnh hưởng tới chức năng thẩm mỹ. Ở những bệnh nhân có kết hợp với viêm da cơ địa thường ngứa nhiều, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.
về điều trị hiện chưa có phương pháp nào chữa khỏi. chủ yếu là điều trị triệu chứng. tại chỗ có thể bôi các thuốc bạt sừng nhẹ như salicylic 2%. kem giữ ẩm, mềm da: Urê 5%. một chế phẩm có chứa Axit Lactic( tên biệt dược:Lacticare) rất có hiệu quả trong giữ ẩm và giảm các triệu chứng của bệnh vảy cá.
Các thuốc sử dung đường toàn thân như: Retinoid, corticoid dùng cho các trường hợp vảy cá nặng nhất thiết phải có chỉ định của Bác sĩ chuyên khoa da liễu.
03:46 CH 22/04/2010
Em bị rụng tóc các mẹ ơi!!!
Rụng tóc do hocmon (Androgenic Alopecia) thì khó lắm bạn ạ. Zidan và Putin có thiếu tiền đâu mà hói hết cả đầu. tuy nhiên rụng tóc từng mảng (Alopecia Areata - Pelade) thì là chuyện nhỏ, gần như khỏi tuyệt đối nếu được điều trị đúng cách. bạn có thể vào đây tham khảo
http://bacsituan.com/NewsDetail.aspx?k=14&cate=44&tuto=59
chúc các bạn nhanh khỏi bệnh.
07:24 CH 10/04/2010
Bệnh Vẩy nến toàn thân, cả nhà chúng ta mong tìm...
Chào các bạn.
Tôi xin đóng góp một số kiến chung ngắn gọn nhưng rất quan trọng đối với các bạn mắc bệnh vẩy nến. để tăng tính thuyết phục tôi xin giới thiệu ngắn gọn về mình: (tốt nghiệp Diploma da liễu tại Thailand 2003, tốt nghiệp tiến sĩ da liễu tại Nhật Bản 2009)
- Thứ nhất: hiện nay thế giới và Việt Nam chưa có phương pháp hay thuốc nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh vẩy nến. nếu có thì chắc chắn người đó đã nhận được giải Nobel Y học rồi vì bệnh vẩy nến là một vấn đề nổi cộm nhất của ngành da liễu thế giới, 2-3% dân số thế giới mắc bệnh này.Nói như vậy để các bạn tránh thời gian và tiền của vô ích để đi tìm một phương thuốc để chữa khỏi triệt để bệnh vẩy nến. tuy nhiên với trình độ phát triển của y học thế giới hiện nay chúng ta có thể hy vong trong tương lai sẽ có một phương pháp hay loại thuốc nào đó có thể làm được điều đó.
- Thứ hai: mục tiêu điều trị bệnh vẩy nến là làm giảm hoặc hết các triệu chứng của bệnh vẩy lâu dài (vẩy, cộm, đỏ) bằng các thuốc bôi, thuốc uống toàn thân hay các phương pháp điều trị vật lý như UVA, UVB do các bác sĩ chuyên khoa chỉ định. Bệnh vẩy nến sau một thời gian điều trị bằng một loại thuốc thường dẫn đến nhờn, phải luân chuyển sang thuốc khác theo kiểu xoay vòng.
- Thứ ba: là điều quan trọng nhất, không được dùng các thuốc corticoids đường toàn thân (uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch như Kcort, Kenacort – màu trắng đục, các “bác sĩ” tiêm thường dấu diếm) hay các thuốc đông y không rõ nguồn gốc (một số người vì lợi nhuận đã trộn corticoids vào thuốc đông y). khi dùng các thuốc này ban đầu bệnh tiến triển có vẻ rất tốt, các tổn thương da hết nhanh nhưng sau đó bệnh tái phát nặng hơn, tổn thương lan ra toàn thân, vẩy nến mụn mủ (có thể tử vong), vẩy nến đỏ da toàn thân và rất nhiều tác dụng phụ kể ra không hết. Điều đáng buồn là chúng tôi đã gặp rất nhiều bệnh nhân đến với chúng tôi do sự thiếu hiểu biết của các bác sĩ này nên để lại các hậu quả đáng tiếc mà đáng ra không mắc phải. Cũng nói thêm rằng corticoids không được dùng toàn thân nhưng có thể dùng để bôi tại chỗ và tiêm tại chỗ trong da đối với các thể vẩy nến cố thủ cho kết quả tốt với liều thích hợp nhưng phải do bác sĩ chuyên khoa da chỉ định.
Trên đây là một vài ý nhỏ với mục đích chính nhằm cảnh báo các bạn trong quá trình điều trị tránh những sai lầm đáng tiếc (cũng thông cảm: có bệnh thì vái tứ phương, mà có phải phương nào cũng tốt đâu). để có thêm thông tin về bệnh vẩy nến các bạn có thể vào trang Web của tôi để tìm hiểu thêm:
http://bacsituan.com/NewsDetail.aspx?k=14&cate=44&tuto=38
Chúc các bạn mạnh khỏe, vượt qua được mặc cảm tự ty của bệnh tật để có chất lượng cuộc sống tốt hơn
07:10 CH 10/04/2010
Ở đâu chữa bệnh bạch biến nhỉ, ai giúp mình với?
Một bài thuốc đơn giản cho Vitiligo – Bệnh Bạch Biến.
Trước hết, xin chào tất cả mọi người. Tôi là Nguyễn Trí Tín, sinh viên vừa tốt nghiệp trường ĐH Quốc Gia Singapore, khoa Công Nghệ Thông Tin.
Hai năm trước, tôi thấy trên cổ của mình có những đốm trắng bất thường, tôi đi khám bệnh thì được hai ông Tiến Sĩ/Bác Sĩ của trường ĐH Quốc Gia Singapore chuẩn đoán là Vitiligo (tức là bệnh Bạch Biến – tiếng Việt). Hai ông này nói với tôi đây là bệnh rất khó trị, cần kiên nhẫn và chuẩn bị tâm lý.
Tôi hoang mang vô cùng, nếu các đốm trắng lan lên mặt thì thật là khổ, tôi hiểu tình cảnh đó.
Tôi theo bác sĩ điều trị nhưng không có kết quả, vết trắng cứ thế lan ra dần. Tôi biết rằng Singapore được xem là một trong những nước phát triển nhất Châu Á về mặt y học, ở đây trị không được thì thật là khó. Mặt khác, tôi là dân Công Nghệ Thông Tin, tôi sử dụng Google thuần thục để tìm kiếm thông tin. Qua rất nhờ tờ báo, diễn đàn, tôi gần như vô vọng.
May mắn thay, sau đó tôi tìm được một phương thuốc đơn giản nhưng hiệu quả một cách rất tình cờ. Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Một trong những người em của bà Nội tôi, ông Bảy sống cuộc đời ẩn dật quanh đồng ruộng và thường lên núi đi hái thuốc giúp đỡ mọi người. Trong một lần hiếm hoi về nhà chơi, ông thấy vết trắng ở cổ tôi, và cho tôi một hũ thuốc Nam để điều trị.
Tôi là một người thích chứng minh hơn là kinh nghiệm. Trong trường đại học, tôi được dạy rất kỹ về Khoa Học Thực Nghiệm, cái gì thấy được và chứng minh được thì mới tin. Cầm hũ thuốc trên tay, tôi không hy vọng nhiều là mình sẽ trị được, nhưng vì tôi không còn hy vọng nào khác, tôi bắt đầu dùng. Song song với việc dùng thuốc của bác sĩ, tui dùng thuốc của ông tôi trên một vùng da nhỏ. Thật bất ngờ là sau hai tháng, vùng da tôi dùng thuốc Nam trở nên nhạt dần, tôi khỏi bệnh trên vùng da đó. Kết quả bất ngờ, tôi dùng thuốc cho các phần da còn lại và đạt kết quả như ý.
Tôi muốn cám ơn cuộc sống đã cho tôi tìm đuợc phương thuốc cần thiết để có được cuộc sống bình thường, tôi muốn chia sẽ phương thuốc này với tất cả mọi người.
Một phương thuốc đơn giản trị Bệnh Bạch Biến.
Thành phần: Hóa Cố Chỉ 1 lạng, 250ml Rượu hoặc Cồn 50o
Cách pha chế: trộn Hóa Cố Chỉ vào Rượu/Cồn cho một cái chai/hũ/lọ, đậy nắp lại và ngâm trong vòng 5-7 ngày là có thể bắt đầu dùng.
Cách dùng: xức vào vùng trắng 3 lần/ngày. (tôi dùng cây ráy tay bằng bông gòn để thấm thuốc và xức).
Chú ý: Hóa Cố Chỉ có thể mua được dễ dàng ở các nhà thuốc Đông Y, không cần cử kiêng gì cả.
Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh tôi thuộc Khoa Học Thực Nghiệm, hiện giờ tôi chỉ thấy nhà tôi gồm 3 người: ông tôi, dượng và tôi. Cả ba dùng thuốc và đều có kết quả tốt đẹp. Tôi đề nghị mọi người dùng thử như tôi ban đầu, trên một vùng da nhỏ, sau đó, nếu có kết quả tốt thì sử dụng thuốc diện rộng và xin thông báo và chia sẽ để mọi người cùng có lợi.
Chúc mọi người may mắn. Có câu hỏi gì xin liên lạc với tôi ở
giacatho@gmail.com
Nguyễn Trí Tín
giacatho@gmail.com

Chào các bạn.
loại thuốc đông y này tên Trung quốc là "phá cố chỉ" tên thông thường là Hạt Đậu Miêu, trong thành phần của nó có chất Psoralen, một chất tăng cảm ứng ánh sáng mặt trời (UVB, UVA) giúp cho quá trình điều trị các bệnh lý như Bạch biến, Vẩy nến, rụng tóc... có hiệu quả.tuy nhiên bạn không nên tự pha vì nồng độ cao sẽ tăng hấp thu ánh nắng và làm bỏng da. vị thuốc này đã được Giáo sư Nguyễn Xuân Hiền nguyên chủ nhiệm khoa Da liễu bệnh viện trung ương Quân đội 108 pha chế và áp dụng vào điều trị tại khoa cách đây...20 năm với tên gọi: cồn HDM (Hạt đậu miêu). hiện nay chúng tôi vẫn áp dụng vị thuốc này điêu trị tại khoa với nhiều bệnh cho hiệu quả cao.các bạn có thể liên hệ để dùng
01:14 CH 10/04/2010
Ở đâu chữa bệnh bạch biến nhỉ, ai giúp mình với?
Mình đã xem xét lại rồi, tên chính thức của thuốc này là "Phá Cố Chỉ" chứ không phải là "Hóa Cố Chỉ". Bạn có thể tra trên Google dễ dàng, chắc do tiếng địa phương mình khác.

Chào các bạn.
loại thuốc đông y này tên Trung quốc là "phá cố chỉ" tên thông thường là Hạt Đậu Miêu, trong thành phần của nó có chất Psoralen, một chất tăng cảm ứng ánh sáng mặt trời (UVB, UVA) giúp cho quá trình điều trị các bệnh lý như Bạch biến, Vẩy nến, rụng tóc... có hiệu quả.tuy nhiên bạn không nên tự pha vì nồng độ cao sẽ tăng hấp thu ánh nắng và làm bỏng da. vị thuốc này đã được Giáo sư Nguyễn Xuân Hiền nguyên chủ nhiệm khoa Da liễu bệnh viện trung ương Quân đội pha chế và áp dụng vào điều trị tại khoa cách đây...20 năm với tên gọi: cồn HDM (Hạt đậu miêu). hiện nay chúng tôi vẫn áp dụng vị thuốc này điêu trị tại khoa với nhiều bệnh cho hiệu quả cao.các bạn có thể liên hệ để dùng
01:11 CH 10/04/2010
Bệnh hệ thống-Lupus ban đỏ
Chào cả nhà.
Mình viết past bài viết của mình lên đây để các bạn tham khảo, bài viết hơi dài.Trong tương lai mình sẽ cập nhật các kiến thức mới về bệnh lý da liễu lên trang Web của mình. hy vọng có ích cho mọi người.
MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG (SYSTEMIC LUPUS ERYTHEMATOSUS )
Tiến sĩ: Lê Anh Tuấn
I. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Lupus ban đỏ hệ thống (systemic lupus erythematosus: SLE ) là một bệnh nằm trong nhóm bệnh chất tạo keo ( colagenose).Tổn thương hệ thống của các cơ quan trong SLE gây nên bởi sự lắng đọng của phức hợp miễn dịch: kháng nguyên - tự kháng thể tại các mạch máu, tổ chức liên kết. biểu hiện lâm sàng đa dạng, đặc trưng bởi các đợt vượng bệnh và lui bệnh. Căn nguyên chưa rõ ràng. Tỷ lệ lưu hành từ 15-50 ca trên 100.000 dân.
Không ai biết chính xác tại sao bệnh lại được đặt tên là Lupus. Y văn ghi lại rằng lupus là họ của một gia đình La mã cổ đại, và vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên có một vị giám mục ở xứ Gaul mắc một căn bệnh được gọi là Lupus. Từ lupus trong tiếng la tinh cổ có nghĩa là chó sói, nó liên tưởng tới tổn thương của bệnh giống như vết thương do sói cắn.
Năm 1851 Cazanave lần đầu tiên mô tả chi tiết triệu chứng ngoài da của một bệnh nhân : ban đỏ, dày sừng, teo da và đưa ra thuật ngữ: Lupus đỏ (lupus erythemateaux: LE). ông và tác giả Kaposi nhấn mạnh sự khác biệt giữa LE và lupus vulgaris ( một thể của lao da).
Kaposi (1872) mô tả 11 trường hợp bệnh nhân lupus và là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ ‘discoid Lupus’’: lupus dạng đĩa. Trong 11 trường hợp trên ông nhận thấy có 4 bệnh nhân có viêm phổi, đau khớp, sưng hạch và đưa ra nhận xét tổn thương của LE có thể chia làm 2 thể: thể có tổn thương da đơn thuần, khu trú, tiến triển lành tính và thể có tổn thương da lan tỏa, kèm theo tổn thương phối hợp nhiều cơ quan : tim, phổi, cơ quan tạo máu, thần kinh...
Cũng trong năm 1872, Wiliam osler mô tả một trường hợp điển hình của lupus đỏ hệ thống nhưng ông đặt tên là : ban đỏ đa dạng tiết dịch ( erythema exudativum multiform ).
1908 Kraus và Bohac đưa ra khái niệm lupus đỏ cấp tính và lupus đỏ mãn tính để nói lên sự khác biệt giữa thể hệ thống và thể dạng đĩa.
1952 Harvey và cộng sự đưa ra thuật ngữ: Lupus ban đỏ hệ thống ( SLE) mà ngày nay nó được chấp nhận và sử dụng rộng rãi.
Với sự phát triển của cận lâm sàng, miễn dịch học, theo thời gian đã có nhiều tiến bộ đạt được trong nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị SLE.
1948 Hargraves phát hiện ra tế bào Lupus ( ‘LE cell’’) trong máu bệnh nhân SLE. Sau đó 1 năm (1949) Haserick tìm ra yếu tố Haserick trong huyết thanh mà bản chất là kháng thể kháng nhân (anti nuclear antibody-ANA).
1957 Seligman chứng minh trong huyết thanh bệnh nhân có yếu tố phản ứng đặc hiệu với DNA. Tan và cộng sự (1966) đã xác định đó là kháng thể kháng DNA.
Các phát hiện khác: kháng thể kháng histon có ý nghĩa trong việc định hướng chẩn đoán lupus do thuốc, xét nghiêm miễn dịch huỳh quang - Lupus band test, giúp chẩn đoán phân biệt SLE và DLE...
Mối liên quan giữa SLE và DLE hiện vẫn còn đang tranh cãi. Hai bệnh là biến thể của nhau hay là hai thể bệnh riêng biệt? Câu trả lời còn để ngỏ! Dubois theo dõi 520 trường hợp SLE thấy có 10,8% tổn thương ban đầu là dạng DLE. Ngược lại Beck và Rowell (1966) theo dõi 120 ca DLE trong 5 năm không thấy trường hợp nào chuyển sang thể SLE!
Về phân loại, hiện nay theo các tác giả Mỹ(Dubois) tạm chia làm hai thể: lupus đỏ hệ thống (SLE). lupus đỏ dạng đĩa (DLE) và 4 dưới nhóm: Hội chứng kháng thể phospholipid, lupus đỏ da bán cấp, lupus đỏ trẻ sơ sinh, lupus đỏ sâu dưới da.
Trong phạm vi bài này chúng tôi đề cập một số kiến thức sơ lược về lupus đỏ hệ thống, một bệnh đứng đầu về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong cao trong nhóm bệnh tự miễn thường gặp trong chuyên nghành Da liễu.
II CĂN NGUYÊN VÀ SINH BỆNH HOC CỦA SLE.
Căn nguyên và sinh bệnh học của lupus đỏ hệ thống rất phức tạp và còn nhiều điều chưa rõ. Tuy nhiên có 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự rối loạn điều hoà miễn dịch đó là: yếu tố di truyền, yếu tố môi trường và hocmôn giới tính.
- Yếu tố di truyền: đáp ứng bất thường về miễn dịch trong SLE có lẽ là hậu quả của sự tương tác giữa các gen nhạy cảm với môi trường. Bằng chứng về di truyền là: tỷ lệ cùng mắc SLE trong các ca sinh đôi cùng trứng từ 24 - 58%, trong khi đó đối với các khác trứng tỷ lệ chỉ có từ 0 - 6%. Có khoảng từ 10 - 15% tần suất xuất hiện có tính chất gia đình. Các nghiên cứu về gen trên hệ HLA cho thấy người có HLA-DR2, HLA-DR3 tăng nguy cơ mắc SLE gấp 3 lần. các gen như FcRIIA, FcRIIIA cũng là những gen nhạy cảm với SLE.
- Yếu tố môi trường: 70% bệnh nhân SLE nhạy cảm với tia cực tím có trong ánh nắng măt trời ( chủ yếu là UVB-đôi khi UVA). Vai trò của virus HTLV1, Retrovirus, epstein-Barr virus đang được nghiên cứu.
Nhiều loại thuốc và hoá chất: Hydralazine, procainamid, isoniazid, bụi silic có thể gây nên bệnh cảnh lâm sàng giống Lupus.
- Yếu tố Hocmôn sinh dục: nghiên cứu dịch tễ cho thấy rằng tỷ lệ nam/nữ ỏ tuổi trưởng thành là 9/1. Trong khi đó tỷ lệ trên trước tuổi dậy thì và sau tuổi mãn kinh là 3/1.Phụ nữ mắc SLE khi có thai làm trầm trọng bệnh thêm . Những điều trên cho thấy rằng chuyển hoá của hocmôn sinh dục đóng một vai trò quan trọng trong căn nguyên bệnh sinh của SLE.
Đặc điểm rối loạn miễn dịch ở bệnh nhân SLE đó là sự tăng hoạt hoá mà cơ thể không kiểm soát được của các tế bào Lymphô B, T. hậu quả là sản sinh tự phát ra các tự kháng thể. Các kháng thể này phản ứng với hàng loạt các kháng nguyên khác nhau.Các kháng nguyên này là các thành phần cấu trúc của tế bào. Các tự kháng thể có thể gắn trực tiếp vào tổ chức hoặc vào màng tế bào ( hồng cầu, tiểu cầu) làm phá huỷ các tế bào, tổ chức này.Các kháng thể như Anti DNA, Anti RNP có thể đi vào trong tế bào, tạo thành phức hợp miễn dịch: kháng nguyên-kháng thể và biến đổi chức năng của tế bào.
Có thể khái quát sơ lược về cơ chế bệnh sinh của SLE là: bệnh lý của nhiều gen, được kích hoạt bởi các yếu tố môi trường và hocmôn giới tính. Hậu quả sản sinh tự phát các tự kháng thể. Hình thành Phức hợp miễn dịch KN-KT, lắng đọng ở các cơ quan tổ chức liên kết, mạch máu trong cơ thể gây nên bệnh cảnh lâm sàng có tính chất hệ thống, đa dạng.
III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Giai đoạn khởi phát: bệnh có thể khởi phát từ từ, ban đầu tổn thương chỉ ở một cơ quan duy nhất, tuy nhiên cũng có trường hợp bênh khởi phát rầm rộ, tổn thương nhiều cơ quan ngay từ đầu.
Các triệu chứng chung thường gặp là: sốt, mệt mỏi, khó chịu, chán ăn, sụt cân...
Giai đoạn toàn phát: bệnh biểu hiện có tính chất hệ thống. Tuỳ vào mức độ tổn thương của các cơ quan mà bệnh cảnh lâm sàng ở đó thể hiện nổi trội hơn
1.Triệu chứng cơ-xương khớp.
- Thường là đau cơ, đau khớp, các khớp viêm có tính chất đối xứng: hay gặp các khớp đốt bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp gối. Khớp viêm không có tính chất liên tục, không phá huỷ, hiếm khi có biến dạng khớp . Vói những bệnh nhân điều trị lâu dài bằng corticoid có thể có thiếu máu hoại tử xương ở các khớp, biểu hiện thường là đau khớp háng, khớp gối, khớp vai.
2. Triệu chứng ngoài da:
- Ban đỏ vùng má hình cánh bướm, đối xứng qua mũi, bề mặt phẳng hoặc gờ cao hơn mặt da, trên đó có các mao mạch giãn. thường khi ra nắng ban đỏ rõ hơn
- Tóc khô, xơ rụng thưa thớt. Tóc có thể phục hồi, mọc lại ở giai đoạn bệnh ổn định
- 20% bệnh nhân SLE có tổn thương dạng đĩa, tổn thương có hình ảnh đặc trưng: Sẩn sừng nang lông, giãn mao mạch, sẹo teo ở trung tâm. vị trí thường là da đầu, mặt, tai, các vùng hở tiếp xúc với ánh nắng tay, ngực, lưng.
- Viêm mạch máu da gây nên hội chứng Raynaud, xuất huyết dưới da, loét các đầu ngón tay, chân. móng khô dòn, dễ gãy. Trợt loét niêm mạc miệng, mũi.
- Các triệu chứng ít gặp hơn bao gồm: mày đay, bọng nước, ban đỏ đa dạng, viêm tổ chức dưới da, tổn thương dạng li ken phẳng.
- Giải phẫu bệnh: hình ảnh thoái hoá các tể bào lớp đáy. mất cầu nối giữa các thượng bì và trung bì. thâm nhiễm bạch cầu đa nhân quanh các mạch máu. lắng đọng Ig ở màng đáy có thể gặp từ 80-100% ở vùng da tổn thương và 50% ở vùng da lành. Tuy nhiên lắng đọng Ig không phải là hình ảnh đặc hiêu của SLE.
Trên tổn thương DLE: Tăng sừng, sẩn sừng nang lông, thoái hoá các nang lông, tuyến bã.
3. Tổn thương thận
- Hầu hết bệnh nhân SLE đều có sự lắng đọng Ig tại các cầu thận, nhưng chỉ có 50% có biểu hiện viêm thận. đặc trưng bởi Protein, hồng cầu, bạch cầu, trụ niệu. Giai đoạn đầu thường không có triệu chứng, về sau xuất hiện phù, hội chứng thận hư.
- Trên những bệnh nhân có nồng độ kháng thể Anti Ds DNA cao và giảm bổ thể. Tổn thương thận thường nặng nề, tiến triển nhanh chóng đến suy thận nếu không điều trị kịp thời.
- Tổn thương thận có nhiều mức độ khác nhau. Sinh thiết thận giúp cho việc tiên lương bệnh. Với thể viêm cầu thận tăng sinh lan toả, cần được điều trị bằng corticoid liều cao kết hợp thuốc ức chế miễn dịch để phòng ngừa suy thận.
4. Tổn thương thần kinh
- Triệu chứng thường gặp nhất là: rối loạn nhận thức, đau đầu, động kinh.
- Các triệu chứng ít gặp hơn: loạn thần, rối loạn vận động, viêm màng não vô khuẩn.
- Cận lâm sàng: 70% bệnh nhân tổn thương thần kinh có biểu hiện bất thường trên sóng điện não. Nồng độ Protein trong dịch não tuỷ tăng cao. Chụp cắt lớp vi tính, chụp động mạch não có thể phát hiện các trường hợp xuất huyết, viêm mạch máu.
Bệnh nhân có tổn thương thần kinh TW thường đáp ứng tốt với các thuốc ức chế miễn dịch.
5. Tổn thương cơ quan tạo máu
- Triệu chứng chung là thiếu máu. có thể gặp giảm cả 3 dòng: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu hoặc chỉ giảm 1 dòng. Giảm bạch cầu, chủ yếu là bạch cầu Lympho.
Thiếu máu do tan máu hay gặp trên những bệnh nhân có phản ứng Coombs trực tiếp dương tính.
Với những bệnh nhân giảm tiểu cầu nặng có thể gây chảy máu, xuất huyết. Những bệnh nhân này cần thiết phải điều trị với corticoid liều cao, thuốc ức chế miễn dịch, gama globulin tĩnh mạch.
6. Tổn thương tim mạch- hô hấp
- Triệu chứng hay gặp nhất là viêm tim, màng phổi dẫn đến tràn dịch màng phổi, màng ngoài tim.
Viêm cơ tim đưa đến loạn nhịp, truỵ tim mạch, đột tử.
Nhồi máu cơ tim thường là hậu quả của viêm mạch vành .
- Ngoài triệu chứng hay gặp là tràn dịch màng phổi.Các tổn thương khác như: Viêm phổi lupus kết hợp với nhiễm khuẩn, biểu hiện lâm sàng: sốt, ho, khó thở. Viêm phổi kẽ lâu dài đưa đến xơ hoá phổi, cao áp động mạch phổi.
7. Tổn thương cơ quan tiêu hoá
- Các triệu chứng chung là: buồn nôn, đi lỏng. đôi khi có viêm mao mạch ruột non, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng đau bụng dữ dội , nôn, đi lỏng. Có thể thủng ruột, cần phải phẫu thuật cấp cứu.
- Viêm tuỵ cấp tthường là hậu quả của giai đoạn hoạt động SLE hoặc do dùng corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài.
- Các xét nghiêm men gan GPT, GOT tăng cao ở giai đoạn hoạt động, trở về bình thường khi bệnh được khống chế.
8. Tổn thương mắt
- Viêm các mao mạch võng mạc dẫn đến mù loà nhanh chóng trong vài ngày, đòi hỏi phải điều trị khẩn cấp bằng corticoid liều cao. Các tổn thương khác như : viêm kết mạc, viêm thần kinh võng mạc, khô mắt...
9. Nhiễm khuẩn trong SLE
- Nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong. Bệnh nhân SLE nhảy cảm với các nhiễm trùng cơ hội đặc biệt là bệnh nhân điều trị lâu dài bằng corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch.
Các vi khuẩn thường gặp là: tụ cầu, E coli, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lao, virus, nấm candida, ký sinh trùng...
Vị trí hay gặp là phổi và đương tiết niệu.
- Dấu hiệu nhiễm trùng nhiều khi bị che lấp bởi các triệu chứng SLE giai đoạn hoạt động. đòi hỏi thăm khám kỹ càng.
10. Lupus do thuốc
- Rất nhiều thuốc gây ra hội chứng giống với SLE: Hydralazyn, Procainamid, issoniazid, Methyldopa, Quinidine, interferon, thuốc tránh thai…
- Triệu chứng thường gặp nhất là đau cơ khớp, tràn dich màng phổi, màng tim. Tổn thương thận, thân kinh TW hiếm khi gặp. Hầu hết tất cả các bệnh nhân đều có kháng thể kháng nhân ANA và kháng thể kháng Histon dương tính. Kháng thể kháng chuỗi kép DsDNA ít khi dương tính giúp cho chẩn đoán phân biêt với SLE tự phát.
- Các triệu chứng khác như: thiếu máu, giảm Bc, Tc, yếu tố thấp, phản ứng Coombs(+) đều có thể xảy ra.
IV. CẬN LÂM SÀNG:
- Các xét nghiệm về huyết học: giảm cả 3 dòng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu hoặc chỉ 1 dòng. Giảm bạch cầu chủ yếu là bạch cầu Lympho. Tỷ lệ máu lắng tăng cao và tương quan với giai đoạn hoạt động của bệnh.
- Các xét nghiệm nước tiểu: protein, HC, BC, trụ tế bào.
- Kháng thể kháng nhân (ANA)là xét nghiệm có độ nhạy cao. 95% bệnh nhân SLE có ANA(+). Tuy nhiên ANA không đặc hiệu với SLE. Một số bênh tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, viêm bì cơ, xơ cứng bì cũng có ANA(+). Một số it người bình thường cũng có ANA(+) với hiệu giá kháng thể thấp. Các thuốc như Hydralazyn, Procainamid gây nên ANA(+) và hội chứng lupus do thuốc. Vì vậy xét nghiệm rât có ích cho chẩn đoán, tuy nhiên ANA(-) không có nghĩa là không phảI là SLE.
- Kháng thể kháng chuỗi kép DNA ( DsDNA) có độ đặc hiệu hơn so với ANA , tuy nhiên độ nhạy không cao bằng (30 – 70%). Hiệu giá kháng thể cao của Anti DsDNA, ANA cộng với giảm bổ thể cho phép nghĩ dến giai đoan hoạt động của bệnh. đặc biệt là tổn thương thận.
- Các xét nghiệm khác bổ sung cho chẩn đoán như kháng thể kháng Histon, kháng thể Sm, kháng thể kháng RNP
V. CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Dựa trên bảng lâm sàng SLE. Năm 1971 hội thấp khớp Hoa kỳđưa ra 14 tiêu chuẩn chẩn đoán SLE. đến năm 1982 rút gọn lai còn 11 tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn này được bổ sung và cập nhât năm 1997 như sau:
- Ban đỏ hình cánh bướm
- Ban đỏ dạng đĩa
- Nhạy cảm ánh sáng
- Loét niêm mạc miệng,hầu,
- Viêm khớp
- Viêm, tràn dịch đa màng
- Tổn thương thần kinh TW: loạn thần, động kinh không do nguyên nhân khác
- Tổn thương thận: Protein niệu>0,5g/24h hoặc>(+++)
Trụ tế bào
- Tổn thương huyết học: Thiếu máu hoặc giảm Bc, Tc
(Bc- Rối loạn miễn dịch: AntiDsDNS(+), hoặc Anti Sm(+), hoặc Anti phospholipid(+), hoặc xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính giả.
- Kháng thể kháng nhân ANA(+)
Chẩn đoán là SLE khicó 4 tiêu chuẩn trở lên với độ đặc hiệu đến 97%.
Tuy nhiên ở giai đoạn đầu của bệnh chẩn đoán thường khó do chưa bộc lộ đầy đủ các triệu chứng. đôi khi phảI mất nhiều năm bệnh mới hội đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán.
Chẩn đoán phân biệt với các bệnh tự miễn khác như: viêm khớp dạng thấp, viêm bì cơ, xơ cứng bì, bệnh mô liên kết hỗn hợp…
VI. TIÊN LƯỢNG
Tiên lượng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan:
- Chủng tộc: các nghiên cứu về dịch tễ thấy rằng tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân da màu cao gấp 3 lần bn da trắng. Tuy nhiên ở đây còn xem xét tới khía cạnh tình trạng Kinh tế- xã hội của các chủng tộc khác nhau.chắc chăn tỷ lệ tử vong sẽ cao hơn ở cac nước có điều kiện KT-XH kém phát triển như châu Phi.
- Giới: sự liên quan giữa giới và bệnh còn được tranh cãi. Một số tác giả (Kaslov) cho rằng tỷ lệ tử vong ở nữ cao hơn nam. Wallace chứng minh ngược lại: tiến triển ở nữ tốt hơn nam. Wang và cộng sự kết luận rằng tiên lượng bênh của nam va nữ là ngang nhau.
- Tuổi khởi phát: các nghiên cứu cho thấy rằng tuổi khởi phát của bệnh có ý nghĩa đáng kể trong tiên lượng bệnh. Bệnh khởi phát ở lứa tuổi thiếu niên thường đi kèm với tiên lượng xấu. Với các bệnh nhân khởi phát sau tuổi 50, vấn đề này còn được tranh cãi. Một số tác giả thấy bệnh thường nhẹ hơn (Wallace-1980) trong khi đó Reveillce và cộng sự lại thấy tiên lượng xấu hơn nhóm khác.
- Tình trạng kinh tế – xã hội: điều kiện KT-XH càng thấp, tỷ lệ tử vong càng cao.
- Điều kiện chăm sóc Y tế
- Chẩn đoán kịp thời, điều trị sớm đúng phác đồ.
- Tôn thương các cơ quan:
Nhiễm trùng, tổn thương thần kinh, suy thận là những nguyên nhân tử vong hàng đầu trong thập kỷ đầu của bệnh.
- Mức độ hoạt động của bệnh:
Để đánh giá mức độ hoạt động của bệnh, nhiêu tác giả, trường phái đã đưa ra các bảng đánh giá chỉ số hoạt động của bênh như: SLEDAI, SLAM, BILAG, LAI, ECLAM.
Các tác giả Hoa kỳ ( ACR) đưa ra bảng đánh giá mức độ tổn thương tổng quan : SLICC/ACR có giá trị trong việc tiên lượng lâu dài.
Trên một bệnh nhân cụ thể, các yếu tố sau đây thường đi kèm với tiên lương xấu: cao huyêt áp, tổn thương thần kinh TW, hội chứng thân hư :Protein niệu> 2,6g/l , nông độ creatinin máu cao > 124 mol, thiếu máu Hemoglobin< 124g/l, Protein toàn phần máu giảm. giảm tiểu cầu, kháng thể kháng phospholipid(+).
VI. ĐIỀU TRỊ
Hiện nay chưa có phương pháp nào để điều trị khỏi SLE. để đạt được ổn đinh hoàn toàn là rất hiếm, do vậy bệnh nhân cần được biết cách phòng ngừa các các yếu tố tác động làm bệnh năng lên. phối hợp với thầy thuốc để đề ra một chiến thuật điều trị, quản lý, khống chế bệnh ở mức độ chấp nhận được.
- Xấp xỉ 25% bệnh nhân SLE chỉ có các triệu chứng nhẹ như mệt mỏi, đau khớp. Với các triệu chứng này không cần thiết phải điêu trị bằng corticoid.
- Thuốc giảm đau chống viêm không steroid được chỉ định cho các trường hợp đau cơ, viêm khớp, sôt, tràn dịch mức độ nhẹ.
- Thuốc chống sốt rét tổng hợp chỉ đinh cho các trương hợp có tổn thương da, mệt mỏi, viêm khớp.
Tác dụng phụ: tổn thương thần kinh ngoại biên, tổn thương đáy mắt. bệnh nhân điều trị lâu dài với thuốc sốt rét cần được kiểm tra định kỳ thường xuyên đáy mắt.
- Kem chống nắng, các biện pháp che chắn nắng, corticoid bôi tại chỗ cho các tổn thương da.
- Các tổn thương nội tạng phải được điều trị bằng corticoid liều cao 1-2kg/kg/ngày chia làm 2-3 lần trong ngày. khi bệnh đã được khống chế, liều corticoid được giảm dần tới liều tối thiểu uống vào buổi sáng để hạn chế tác dụng phụ cua thuốc.
Với những bệnh nhân SLE nặng, cấp tính, có tổn thương thận tăng sinh lan toả có thể dùng liệu pháp ‘Pulses’: 1000mg Methylprednisolon truyền tĩnh mạch 3-5 ngày sau đó duy trì bằng đương uống.
Tác dụng phụ của corticoid bao gồm: hội chứng Cushing, cao huyết áp, tăng cân, phù, nhiễm khuẩn, trứng cá, rạn da, rậm lông,loãng xương, hoại tử thiếu máu xương, đục nhân mắt, tăng nhãn áp, đái đường, teo cơ, hạ Kali máu, rối loạn kinh nguyệt, mất ngủ, loạn thần.
Liều prednisolon< 15mg/ngày dung vào buổi sáng không có tác dụng lên trục dưới đồi – tuến yên.
Để ngăn ngừa loang xương: canxi, vitamin D, canxitonin.
Thuốc tránh thai nên hạn chế dùng bởi vì trong một số trường hợp làm bênh nặng thêm.
Với các tổn thương nội tạng, phải phối hợp corticoid vơi các thuốc ức chế miễn dịch. đặc biệt trong các trường hợp có tổn thương thận , tổn thương thân kinh trung ương:
- Cyclophosphamide (endoxan): là thuốc ưu tiên hàng đầu khi có tổn thương thận, liều dùng 1,5-2,5mg/kg hàng ngày. Hoặc có thể dùng liều ‘Pulses’ 10-15mg/kg. Truyền tĩnh mạch hàng tháng.
Độc tính: ức chế tuỷ xương, nhiễm khuẩn, rụng tóc, ung thư, hoại tử bàng quang cấp.
- Azathioprin (Imuran) tác dụng phụ và độc tính ít hơn, phối hợp với corticoid làm giảm liều corticoid. Liều dùng: 2-3mg/kg/ngày.
- Methotrexathe: 5-20mg/tuần có hiệu quả trên một số trương hợp
- Mycophenolate mofetil (cellcept): là thuốc có nhiều hứa hẹn, chỉ đinh thay thế khi bệnh nhân không đáp ứng với các thuôc trên, tác dụng phụ ít hơn. liều dùng: 1-2,5g/ngày.
Các thuốc ức chế miễn dịch có đặc điểm thời gian phát huy tác dụng lâu, từ 3 tuần đến 3 tháng. Do vậy nếu có chỉ định nên dùng sớm ngay từ đầu. Sau vài tháng khi bệnh đã được không chế, giảm liều từ từ sau đó cắt hẳn. thuốc có nhiều tác dụng phụ do đó cần thận trọng.
- Một số tổn thương thận không đáp ứng vơi liệu pháp ức chế miễn dịch, có thể phải ghép thận
- Các phương pháp khác đang được nhiên cứu như: lọc huyết tương, truyền tuỷ, Immunoglobulin tĩnh mạch, các kháng thể đơn dòng (monoclone antibody): Anti CD40, Anti CD20 (Rituximab)...
03:16 CH 09/04/2010
xét nghiệm nốt ruồi trước khi phá ở đâu?
Rất đơn giản: bạn có thể đến phòng khám Da và phẫu thuật Laser SAKURA - Phòng khám đa khoa Việt Nam - Korea, số 9 - Ngô Thì Nhậm - Hai Bà Trưng - Hà Nội (Đt: 0439928670 - làm việc ngoài giờ)
04:57 CH 21/10/2009
Hôi nách, giúp em với
Ngượng lắm ý:Sad: , con gái nhưng em bị chứng này...
Mùa hè khó chịu quá, mát giời thì không sao, nhưng mà nóng quá, oi quá thì mồ hôi ra ướt cả áo,:Sad:
Em phải dùng lăn nách liên tục, ngày nào cũng tắm rửa sạch sẽ, dùng lăn khử mùi, nên không ai phát hiện ra mùi, nhưng mà...ngại mỗi cái nếu nóng oi quá thì mình thấy khó chịu.
Em cũng từng dùng phèn chua, rồi gừng, ...nhưng mà chỉ được vài hôm, vì sau đó thấy đau nhức vùn da dưới nách (cứ như nó sưng lên ý)...
Ngại nhất là áo hay bị vàng chỗ nách áo, híc, nên toàn mặc áo màu, ít khi dám mặc áo trắng hay sáng...:Sad:
Có chị nào giúp em với, em chưa lập gd nên thấy hơi lo sợ, hic, người ta ghê và ngại thì chết :Sad:
Có cách nào chữa vĩnh viễn khỏi không ạ?

Vấn đề em hỏi có lẽ là điều băn khoăn khó nói của nhiều bạn trẻ. Nhiều khi nó làm cho bạn mất tự tin khi giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp thậm chí cả người thân. Đôi khi nó còn làm khó chịu cho những người xung quanh, do đó điều trị, giải quyết vấn đề đó là một yêu cầu chính đáng.
Trong các thành phần phụ của da có hai loại tuyến mồ hôi. Tuyến mồ hôi thông thường (Eccrine glands) và tuyến mồ hôi dầu (Endocrine glands). Tuyến mồ hôi thông thường nằm rải rác khắp nơi trên da, nhiều nhất ở lòng bàn tay, bàn chân. Tuyến mồ hôi dầu chỉ có ở nách, vùng sinh dục, bắt đầu tăng tiết từ tuổi dậy thì, hoạt động mạnh trong độ tuổi sinh đẻ, giảm tiết khi về già.
Tuyến mồ hôi thông thường có chức năng làm mát cơ thể, khi bạn nóng bức mồ hôi sẽ được tiết ra và bay hơi làm hạ nhiệt độ cơ thể. Trong thành phần của nó có nước, và các chất điện giải …do đó khi ra mồ hôi nhiều cần bổ sung thêm muối ăn.
Chức năng của tuyến mồ hôi dầu ở người chưa rõ ràng. ở động vật có vú nó có hai chức năng: thứ nhất một số động vật tiết ra mùi để xua đuổi các loài khác như con bọ xít, thứ hai tiết ra các mùi đặc biệt để hấp dẫn bạn tình,ví dụ: con cầy hương. trường hợp ở con người có lẽ thiên về lý do thứ hai này.
Trong thành phần mồ hôi dầu của người có các hợp chất amoniac, acid béo chưa no... bản thân các chất này khi vừa mới ra khỏi ống tuyến chưa có mùi hôi.Các vi khuẩn hoạt động trên bề mặt da phân huỷ các acid béo tạo ra mùi rất khó ngửi và được gọi là hôi nách.
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại mỹ phẩm khử mùi hôi nách với các tên thương mại Rexona, Deodorant… ở dạng phun hơi, sáp hay bi lăn… thành phần của loại này gồm có chất diệt vi khuẩn, chất làm giảm tiết mồ hôi và các hoạt chất khử mùi hôi. Tuy nhiên, với phương pháp này bạn chỉ có thể giảm được hôi nách mà không chữa đựơc vĩnh viễn.
Việc điều trị hôi nách tại trung tâm Laser và chăm sóc da - Sakura được áp dụng bởi 2 công nghệ tiên tiến hiện nay đang phổ biến và rất có hiệu quả trên thế giới:
- Tiêm Botox, Dysport: hiện nay đang thịnh hành để xoá các nếp nhăn vùng mặt. Các Bác sĩ cũng thấy rằng khi tiêm vào nách và bàn tay, chân. thuốc có tác dụng làm giảm tiết mồ hôi đáng kể, đồng nghĩa với giảm các mùi hôi. Kỹ thuật tiến hành đơn giản, nhanh, hiệu quả cao và hợp với các ban sợ phải đụng “dao kéo”. Điểm bất lợi của phương pháp này là thuốc chỉ có tác dụng từ 6-9 tháng, hết thời gian đó bạn phải đến tiêm lại và chi phí khá cao do thuốc Botox đắt.
- Phương pháp phẫu thuật LASER: Bác sĩ sẽ chiếu tia Laser chọn lọc vào các tuyến mồ hôi ở nách của bạn, dưới cơ chế tác động quang – cơ, tia Laser sẽ làm tổn thương không hồi phục các nang tuyến. Bạn không có cảm giác đau và an toàn tuyệt đối. Sau chiếu tia bạn có thể về nhà và sinh hoạt bình thường. Tại chỗ không để lại sẹo. chỉ cần điều trị một lần duy nhất bạn đã có thể loại bỏ vĩnh viễn mùi hôi nách.Ngoài ra bạn còn loại bỏ được các sơi lông nách đáng gét nữa.Thời gian phẫu thuật khoảng 20 phút cho cả hai bên nách.Chi phí phẫu thuật khoảng 5 triệu đồng.
06:49 CH 29/08/2009
b
bacsilaser
Bắt chuyện
653Điểm·0Bài viết
Báo cáo