images
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Vai trò của gan & Các dấu hiệu sớm biểu hiện của...
Thanh lọc, giải độc gan bằng rau quả quanh nhà

Khi cơ thể hấp thụ một lượng thức ăn không đảm bảo sẽ dẫn đến việc gan bị ảnh hưởng và thậm chí phải làm việc quá sức. Việc lọc các chất độc và chất béo có hại diễn ra không hiệu quả - đó là nguyên nhân dẫn đến một loạt những bệnh như gan nhiễm mỡ, xơ gan, viêm gan, ung thư gan… Các bạn có thể thanh lọc và bảo vệ gan một cách đơn giản bằng cách kết hợp các loại rau củ quả rất có lợi cho gan vào bữa ăn hàng ngày sau:

1. Bưởi

Bưởi là 1 loại quả rất tốt dành cho những người mắc bệnh gan, đặc biệt là gan nhiễm mỡ. Thành phần của bưởi chứa nhiều vitamin C, chất chống oxy hóa, giúp cho quá trình làm sạch tự nhiên của gan diễn ra thuận lợi. Ngoài ra, trong thành phần của vỏ bưởi có các chất như flavonoid neohesperidin, poncirun, isosakuranetin… có tác dụng trong việc bảo vệ tế bào gan, nhuận gan, chữa gan nhiễm mỡ. Một ly nhỏ nước ép bưởi mỗi ngày sẽ giúp đẩy mạnh sản xuất các enzym giải độc gan, triệt tiêu các chất gây ung thư và các chất độc khác.

2. Củ cải và cà rốt
Cả hai loại củ này đều chứa nhiều beta-caroten và flavonoid, ăn nhiều cả rốt và củ cải sẽ giúp gan chống lại các chứng bệnh như xơ gan, gan nhiễm mỡ đồng thời loại bỏ các gốc tự do ở gan, giúp cải thiện chức năng tổng thể của gan. Đặc biệt, sau khi uống rượu bia, bạn có thể ăn thêm cà rốt và củ cải, bởi trong thành phần của chúng có chứa một lượng lớn chất pectin sẽ giúp giảm nồng độ các chất có hại trong rượu bia, bảo vệ gan, kích thích sự lưu thông máu, tăng khả năng kháng bệnh.

3. Trà xanh
Chất oxy hóa trong trà xanh là một thành phần không thể thiếu trong việc loại bỏ các cholesterol có hại trong gan cũng như trong cơ thể. Hơn nữa, trà xanh còn chứa hợp chất flavonoid có tác dụng ngăn ngừa không cho virus viêm gan C thâm nhập vào gan.

4. Quả bơ
Trong trái bơ có chứa vitamin E, vitamin C, chất xơ, kali, omega-9, axit folic, lutein, kẽm… Không chỉ có tác dụng trong việc giữ gìn nhan sắc của chị em, trái bơ còn giúp cơ thể sản xuất glutathione, một chất cần thiết giúp gan loại bỏ các chất độc hại.

5. Quả táo
Trong táo chứa rất nhiều pectin (chất xơ) giúp cơ thể làm sạch và giải phóng các độc tố từ đường tiêu hóa. Pectin được phân hủy trong ruột bởi các vi khuẩn tốt, tạo thành một lớp niêm mạc bảo vệ dạ dày, giúp xoa dịu và ngăn ngừa các chất gây kích thích ruột. Điều này đã triệt tiêu đáng kể các chất độc hại trong cơ thể, khiến gan khỏe mạnh, giải tỏa áp lực hoạt động.

6. Dầu oliu

Tinh dầu oliu thuộc nhóm tinh dầu có lợi cho sức khỏe, đặc biệt là gan và tim. Dầu oliu có chứa chất béo omega 3, lipid có lợi. Chúng giúp loại bỏ các chất độc hại ra khỏi gan và cơ thể, hạn chế nguy cơ “ thẩm thấu” các chất độc hại đó vào máu. Sử dụng dầu oliu thường xuyên sẽ loại bỏ các triệu chứng gây ra sạn gan, xơ gan… cải thiện sức khỏe cho người mắc các bệnh liên quan đến gan.

7. Ngũ cốc

Các loại ngũ cốc như gạo lứt, ngô, lúa mì, các loại hạt họ đậu… đều rất tốt cho cơ thể, đặc biệt là gan. Vitamin B, carbohydrate, các axit béo, protein … giúp cơ thể thực hiện tốt chức năng gan. Các chất xơ thực vật rất có lợi trong việc thải trừ các chất thải độc hại như amoniac trong gan.

8. Rau
Trong rau xanh có chưa rất nhiều chất xơ, vitamin, khoáng chất … làm tăng số lượng glucosinolate trong hệ thống tiêu hóa, thúc đẩy gan sản xuất enzyme để loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể. Ăn nhiều rau xanh sẽ làm giảm đáng kể các nguy cơ dẫn đến xơ gan, ung thư gan…

9. Trái cây họ nhà chanh
Những trái cây thuộc họ này có chứa một lượng vitamin C, axit xitric, canxi, magiê, flavonoid sinh học, pectin, limonin, các chất hỗ trợ miễn dịch, kháng khuẩn và diệt virus khá cao. Việc uống rượu bia là vô cùng có hại cho men gan, tuy nhiên, bạn chỉ cần bổ sung một ly chanh tươi vào cơ thể là đã cải thiện được tình trạng nguy kịch này. Mỗi ngày bạn hãy uống một cốc nước chanh, điều đó sẽ kích thích gan làm việc hiệu quả cho cả ngày.

10. Quả óc chó



Chứa lượng axit amin arginine rất cao, quả óc chó giúp loại bỏ ammoniac trong gan một cách hiệu quả. Ngoài ra, quả óc chó cũng chứa lượng glutathione và axit béo omega-3 vô cùng dồi dào để hỗ trợ việc làm sạch các độc tố khác có trong gan.

11. Nghệ
Nghệ là gia vị rất có lợi cho cơ thể, đặc biệt là gan. Chất oxi hóa có trong nghệ có thể ngăn chặn và ức chế những hợp chất có hại gây ra ung thư gan. Ngoài ra, nghệ còn giúp hồi phục lại cơ thế hoạt động của hệ miễn dịch, giúp loại thải và thay thế các tế bào ung thư có trong gan.
05:10 CH 13/07/2013
Vai trò của gan & Các dấu hiệu sớm biểu hiện của...
Chú ý dinh dưỡng cho người bị viêm gan

Thông thường, khi cơ thể chúng ta còn khỏe mạnh, chưa bệnh tật, ăn uống bừa bãi cẩu thả cũng chỉ gây ra một số hậu quả không tốt cho sức khoẻ nếu chúng ta tiếp tục ngày này qua tháng nọ. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng trở nên vô cùng quan trọng khi gan của chúng ta bị viêm, không còn tốt như trước nữa
Dinh dưỡng cho người bệnh viêm gan được phân biệt tùy theo bệnh trạng của mỗi cá nhân:

1. Viêm gan cấp tính (acute hepatitis)

Vì người bị viêm gan cấp tính thường có các biểu hiện mệt mỏi, đau nhức cơ khớp, có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như ậm ạch, đầy hơi, khó chịu, chậm tiêu, buồn nôn và nôn... Các triệu chứng này kéo dài vài ngày đến vài tuần.

Giai đoạn này bệnh nhân nên ăn uống nhẹ, ăn làm nhiều bữa và sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu. Cần lưu ý, các biểu hiện trên thường dễ chịu hơn vào buổi sáng, vì vậy bệnh nhân nên ăn vào buổi sáng nhiều hơn. Tránh ăn các thức ăn nhiều gia vị, dầu, mỡ. Cần ăn nhiều các loại protein được nấu nhừ, bên cạnh đó cũng cần ăn các chất có sơ như cam, cà rốt, chuối, gạo lứt, đậu đỏ, các loại rau xanh...

Trong giai đoạn này bệnh nhân cũng nên uống nhiều nước, đặc biệt nước cam, nước chanh vừa tăng lượng sinh tố, vừa tăng lượng nước của cơ thể. Tuyệt đối không được sử dụng rượu bia trong giai đoạn này dưới mọi hình thức vì chúng là các chất rất có hại cho tế bào gan. Nếu phải dùng thuốc, nên dùng càng ít càng tốt.

Trong trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng, bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện để có được chế độ điều trị và chăm sóc hợp lý.

2. Viêm gan mạn tính hay kinh niên (chronic hepatitis)

Thực phẩm sử dụng cần hết sức đa dạng trong các nhóm như rau, củ, quả, ngũ cốc, sữa và chế phẩm từ sữa, thịt cá hay trứng. Thức ăn cần cung cấp đủ năng lượng cho bệnh nhân, phù hợp với trọng lượng chiều cao và hoạt động của cơ thể. Cần cung cấp đủ lượng protein cần thiết để tấn công bệnh tật, tái tạo gan và không thất thoát các chất cơ. Các thức ăn cần có nhiều vitamin A (như gan gà, gan lợn...) và vitamin C (cam, quýt, rau sống...)

Rau củ và trái cây cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Mỗi ngày nên ăn ít nhất một loại rau có màu xanh đậm và một loại rau có màu cam (cà rốt, cà chua, bí đỏ...). Nên dùng dầu thực vật, dầu đậu nành, dầu mè.

Hàm lượng dinh dưỡng cụ thể:

- Mỗi ngày dùng khoảng 500ml sữa để có đủ vitamin D (có thể sử dụng chế phẩm của sữa như sữa chua, pho- mát).
- Mỗi ngày dùng 75g thịt hay cá, trứng. Nên ăn cá béo giàu omega – 3. Thịt cung cấp các chất như protid, lipid và các chất khoáng như sắt, kẽm, magiê… Nên dùng thịt tươi, không nên dùng thịt hộp, thịt nguội.
- Nên uống thêm thuốc bổ, nhưng nên tránh thuốc có chứa nhiều chất sắt:
· Vitamin A: 10,000 đến 25,000 IU mỗi ngày
· Vitamin D: 5,000 đến 8,000 IU mỗi ngày
· Vitamin E: 50 đến 400 IU mỗi ngày
· Vitamin C: 100 mg mỗi ngày
· Các chất khoáng: một viên multivitamin loại ngày một viên
· Calcium 1,000 đến 2,000 mg mỗi ngày

Chú ý:
- Tuyệt đối bỏ rượu để bảo vệ tế bào gan và giúp gan chóng bình phục và giảm thiếu tối đa các chất quá béo quá ngọt.
- Cần siêu âm gan đề, kiểm tra chức năng gan định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và điều trị các biến chứng
(BS Cristopher Bùi Xuân Dương)
05:32 CH 10/07/2013
Vai trò của gan & Các dấu hiệu sớm biểu hiện của...
Các loại bệnh viêm gan

Bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn (viral hepatitis) gây ra, bệnh rất nguy hiểm vì nó âm thầm lặng lẽ phá hoại gan mà bệnh nhân không có hoặc rất ít có triệu chứng rõ rệt cho đến khi bệnh phát nặng.
Có năm loại viêm gan do siêu vi khuẩn. Đó là các viêm gan A,B,C,D và E:

1. Viêm gan A

Con đường truyền nhiễm: Siêu vi khuẩn viêm gan A được tìm thấy trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu, nhưng nhiều nhất vẫn là ở phân của người có bệnh. Siêu vi khuẩn viêm gan A theo thức ăn, nước uống nhiễm khuẩn xâm nhập vào cơ thể của chúng ta.
Triệu chứng: Bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào, và nếu có, không cần chữa tự nhiên cũng hết. Siêu vi khuẩn viêm gan A chỉ gây sưng gan cấp tính (acute inflammation) chứ không tạo nên những biến chứng lâu dài, như sơ gan (fibrosis), chai gan (cirrhosis), hoặc ung thư gan (cancer)
Phòng ngừa và điều trị: Bệnh có thể chích ngừa được. Thuốc rất an toàn và công hiệu. Nếu chưa chích ngừa hoặc trong người chưa có kháng thể chống siêu vi khuẩn viêm gan A, thì các bạn phải giữ vệ sinh (rửa tay bằng xà bông trước và sau khi dùng nhà cẩu, rửa tay cẫn thận trườc và sau khi ăn hay làm bếp, rửa sạch các bát đĩa của người bệnh) và tránh quan hệ tình dục với người đang ở thời kỳ ủ bệnh.
2. Viêm gan B

Con đường truyền nhiễm: Bệnh viêm gan B là bệnh truyền nhiễm, nên tất cả chúng ta ai ai cũng có thể bị, không kể tuổi tác. Siêu vi khuẩn viêm gan B được tìm thấy trong máu, mồ hôi, nước bọt, nước mắt cũng như nước tiểu và tinh dịch của bệnh nhân. Bệnh thường lây trực tiếp từ người này qua người kia . dễ dàng nhất là qua máu (như lây từ mẹ khi mới sinh, tiếp máu, dùng kim chích và dụng cụ y khoa thiếu vệ sinh, hoặc bị nhiễm qua vết trầy xước hay côn trùng cắn) và qua đường sinh lý (tinh dịch). Chung đụng trong đời sống hằng ngày ,như đụng vào mồ hôi nước mắt của người bệnh, cũng có thể bị lây. Tuy trong nước bọt của bệnh nhân viêm gan B cũng thấy có một số ít vi khuẩn nhưng cho tới nay chưa ai bị lây bệnh viêm gan B khi ăn uống chung với người có bệnh.
Triệu chứng: Siêu vi khuẩn viêm gan B có thể gây ra những triệu chứng cấp tính. Những triệu chứng này thay đổi nhiều, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân khi bị lây bệnh. Bệnh có thể từ rất nhẹ và mơ hồ như những cơn cảm cúm thông thường không đáng kể đến rất nặng phải nhập viện để điều trị.
Viêm gan B là một trong những nguyên nhân chính gây ra viêm gan cấp tính (acute hepatitis), viêm gan kinh niên (chronic active hepatitis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer). Rượu, bia và một số thuốc men trong đó có dược thảo có thể làm gan bị chai lẹ hơn.
Phòng ngừa và điều trị: Phương pháp duy nhất để định bệnh viêm gan B là thử máu. Các phép thử nghiệm khác như siêu âm, chụp scan chỉ cho biết thể chất hình thù và kích thước của gan, còn sinh thiết gan chỉ giúp bác sĩ biết về sự tiến triển và trang thái bệnh tật của gan.
Bệnh có thể được chữa trị bằng thuốc uống (lamivudine, adefovir , zadaxin thymosin alpha 1) hoặc thuốc chích dưới da (interferon). Tuy cách thức chữa bệnh đã được cải tiến rất nhiều nhưng c ũng chỉ có khả năng giảm thiểu sự tàn phá của siêu vị khuẩn viêm gan B chứ không hoàn toàn loại bỏ siêu vi khuẩn này ra khỏi cơ thể. Vì thế hơn lúc nào hết, phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Thuốc chủng ngừa rất hiệu nghiệm nếu được chích ngừa đúng cách (chích 3 mũi). Ngoài ra các kim chích và dụng cụ y khoa phải được khử trùng đề tiêu diệt siêu vi khuẩn viêm gan B bẳng cách đun sôi ở 100 độ C trong vòng 1 đến 5 phút, hoặc sát trùng bằng glutaraldehyde, chloroform hoặc formalin (tia cực tím , ether cũng như alcohol không đủ mạnh).
3. Viêm gan C

Con đường truyền nhiễm: Bệnh viêm gan C là bệnh truyền nhiễm nên chúng ta ai ai cũng có thể bị. Bệnh có thể lây qua máu như từ mẹ khi mới sanh, tiếp máu, dùng các vật dung thiếu vệ sinh như đồ cạo râu,bàn chải đánh răng, kim châm cứu, xâm mình, cạo gió và các dụng cụ mổ xẻ . Bệnh cũng có thể lây qua đường sinh lý, nhưng trường hợp này hiếm. Đôi khi người ta có thể vô tình bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan C trong lúc té ngã, trầy xước hoặc đứt tay chân. Tuy một số siêu vi khuẩn viêm gan C được tìm thấy trong mồ hôi và nước bọt nhưng , ăn uống chung hoặc va chạm thể xác hàng ngày với bệnh nhân viêm gan C không có gì nguy hiểm.
Triệu chứng: Siêu vi khuẩn viêm gan C có thể gây ra những triệu chứng cấp tính thông thường 7 hay 8 tuần sau khi lây bệnh. Khoảng 30% bênh nhân bỗng dưng cảm thấy hơi khó chịu như bị cúm nhẹ. Một số bệnh nhân khác có thể bị nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức khớp xương và bắp thịt. Nhiều khi họ cũng cảm thấy buồn nôn, khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, ăn kém ngon, xuống cân và đôi khi bị sốt hoặc nổi ngứa. Khoảng 30% bệnh nhân viêm gan C có da và mắt trở nên vàng . Các triệu chứng nêu trên thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần và từ từ thuyên giảm, rồi hoàn toàn biến mất sau một thời gian ngắn. Bấy giờ, bệnh chuyển qua giai đoạn hoặc im lìm tức không hoạt động (dormant) hoặc mạn tính tức tiếp tục tăng trưởng(chronic). Trong thời kỳ sơ khởi của giai đoạn mạn tính vẫn chỉ có những triệu chứng mơ hồ không đáng kể như là mệt mỏi thường vào xế chiều , mất dần khả năng tập trung tư tưởng , đau lâm râm hoặc đau nhói phần bụng trên dưới xương sườn bên phải hoặc buồn nôn, khó chịu, da nổi ngứa, đau khớp xương và bắp thịt. Nếu không được khám phá và chữa trị kịp thời, bệnh mỗi ngày một nặng hơn đưa đến sơ gan, rồi chai gan sau một thời gian trung bình là 20 năm. Thời gian chai gan có thể ngắn hơn nếu bệnh nhân đã bị lây do tiếp máu nhiễm khuẩn, uống nhiều rượu bia, uống một số thuốc khác nhau hoặc bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau.
Phòng ngừa và điều trị: Thử máu định kỳ hằng năm là phương pháp thường xuyên nhất trong việc tìm kiếm bệnh viêm gan C. Phép siêu âm gan không cho biết gan bị viêm hay không nhưng giúp bác sĩ có một khái niệm về hình thù và kích thước của gan (gan bị chai có thể nhỏ hơn bình thường) và nhận diện được một số bệnh khác như bướu gan (tumor), sạn trong túi mật (gallstone), gan đóng mỡ (fatty liver) hoặc cổ trướng (ascites). Ngoài ra sinh thiết gan có thể mang lại cho bác sĩ nhiều dữ kiện quan trọng trong việc định bệnh và chữa bệnh viêm gan.
Viêm gan C có thể đươc chữa trị bẳng thuốc uống (ribavarin) và thuốc chích dưới da (peginterferon, zadaxin (thymosin alpha 1)). Hai thuốc ribavarin và interferon gây nhiều phản ứng phụ, con thuốc mới zadaxin (thymosin alpha 1) đươc xem là an toàn, gây ít phản ứng phụ. Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa chống viêm gan C
4. Viêm gan D

Con đường truyền nhiễm: Viêm gan D là một bệnh truyền nhiễm "có điều kiện" , nói một cách khác chỉ nguy hiểm cho những người đang hoặc sẽ bị bệnh viêm gan B mà thôi. Vì vậy những người được miễn nhiễm bệnh viêm gan B sẽ không sợ bị lây bệnh viêm gan D. Viêm gan D thường lây qua đường máu và đường sinh lý. Tuy nhiên, bệnh chỉ lây qua những người đang bị viêm gan B với kháng nguyên HBsAg mà thôi. Trong những năm gần đây, chích thuốc phiện đã trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh viêm gan D, nhất là khi những người nghiện thuốc này dùng chung kim với nhau.
Triệu chứng của viêm gan D lệ thuộc vào tình trạng nhiễm vi khuẩn viêm gan B của lá gan. Nếu vi khuẩn viêm gan B đang tàn phá lá gan, siêu vi khuẩn viêm gan D cũng "đánh ké". Nếu vi khuẩn viêm gan B bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân thì vi khuẩn viêm gan D cũng sẽ "chết theo".
Triệu chứng:
· Bệnh nhân có thể cùng một lúc lây cả hai bệnh viêm gan B và D (đồng nhiễm-coinfection). Vì viêm gan D thường gây ra những triệu chứng tương tự như bệnh viêm gan B nên khi cơ thể bị tấn công một lúc bởi hai loại siêu vi khuẩn viêm B và D các triệu chứng có thể trầm trọng hơn, và bệnh có thể kéo dài hơn. Bệnh nhân bị nhiễm cùng một lúc viêm gan B và D sẽ có một số triệu chứng điển hình của bệnh viêm gan B trước, rồi sau đó, khi bệnh có vẻ như đang thuyên giảm thì các triệu chứng như vàng da, nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt… bắt đầu trở lại do đợt tấn công thứ hai; lần này do siêu vi khuẩn viêm gan D. Tùy theo tuổi tác khi bị lây bệnh, những triệu chứng kể trên có thể rất rõ rệt hoặc mơ hồ.
· Bệnh nhân đang bị viêm gan B bị lây thêm bệnh viêm gan D (Bội nhiễm- superinfection): Ðây là trường hợp rất nguy hiểm Với sự bành trướng của siêu vi khuẩn viêm gan D trong một cơ thể đang bị nhiễm trùng bởi siêu vi khuẩn viêm gan B, bệnh sẽ trở nên rất trầm trọng với những hậu quả vô cùng tai hại trong một thời gian rất ngắn. Ngay cả trong trường hợp siêu vi khuẩn B đang "ngủ yên", (dormant) siêu vi khuẩn D có thể đánh thức và cả hai sẽ hợp lực tàn phá lá gan, nhanh chóng (từ 3 đến 5 năm).

Phòng ngừa và điều trị: Cũng như các bệnh viêm gan siêu vi khuẩn khác, thử máu là phương pháp độc nhất và chính xác nhất trong việc định bệnh viêm gan D. Phép siêu âm cũng hữu ích.
Vì viêm gan D cấp tính dễ trở thành ác tính, bệnh nhân cần được theo dõi một cách kỹ lưỡng. Khi bệnh trở nên ác tính, bệnh nhân bắt đầu có những triệu chứng của loạn trí như mất dần tự chủ, chóng quên, ăn nói "lung tung" hoặc nặng hơn nữa, sẽ bị hôn mê, bất tỉnh… Khi máu trở nên quá loãng, họ có thể bị chảy máu cam, ói ra máu, đi cầu phân đen như mực, da dễ bị bầm tím. Trong trường hợp này, bệnh nhân phải được đưa vào cấp cứu vì gan có thể bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và nếu không được ghép gan, bệnh nhân có thể chết. Khác với bệnh viêm gan B bệnh viêm gan D có khuynh hướng trở thành kinh niên nếu không chữa trị , để rồi tiếp tục tàn phá lá gan. Vi khuẩn viêm gan D được xem là một trong những vi khuẩn viêm gan dữ tợn và nguy hiểm nhất.
Cho tới nay, chỉ có một thứ thuốc duy nhất được chấp thuận bởi FDA trong việc chữa trị bệnh viêm gan D: Ðó là Interferon alpha. Thuốc được dùng cho cả hai trường hợp: viêm gan D mạn tính và cấp tính Viêm gan D chỉ lây qua những ai chưa có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan B. Vì thế, chủng ngừa viêm gan B là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh viêm gan D. Tuy nhiên hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan D cho những người đang bị bệnh viêm gan B.
5. Viêm gan E

Con đường truyền nhiễm: Vì viêm gan E là bệnh truyền nhiễm nên chúng ta ai cũng có thể bị. Tương tự như bệnh viêm gan A, bệnh lây từ người này qua người kia qua thức ăn và nước uống nhiễm vi khuẩn E, bệnh dễ lây nhất qua phân. So với bệnh viêm gan A, bệnh viêm gan E khó lây hơn, bệnh đôi khi lây qua máu và rất hiếm khi qua đường sinh lý.
Triệu chứng: Thông thường triệu chứng của bệnh viêm gan E chỉ rất nhẹ và nhất thời, kéo dài từ vài ngày đến vài tuần lễ. Bệnh không gây ra những hậu quả lâu dài như trong trường hợp của bệnh viêm gan B, D và C. Tuy nhiên bệnh có thể trở nên ác tính và nguy hiểm, nhất là khi bệnh nhân đang mang thai. Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 15 đến 60 ngày sau khi nhiễm siêu vi khuẩn. Thông thường bệnh nhân bắt đầu bị hâm hấp sốt, mệt mỏi, đau nhức toàn thân như cảm cúm. Sau đó, da và mắt trở nên vàng, nước tiểu trở nên đậm màu, phân có màu nhạt như đất sét, bụng đau lâm râm, khó chịu, buồn nôn và ói mửa. Một số ít bệnh nhân bị tiêu chảy, nổi mề đay và đau khớp xương. Cũng như bệnh viêm gan A, đa số bệnh nhân không cần chữa, bệnh tự nhiên từ từ giảm dần và biến mất. Chỉ trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, gan bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và bệnh nhân có thể chết nếu không được ghép gan.
Phòng ngừa và điều trị: Thử máu là phương pháp độc nhất để định bệnh viêm gan E.
Thông thường bệnh chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn, và bệnh không cần chữa tự nhiên cũng hết. Các triệu chứng của bệnh có thể được chữa trị tùy theo tình trạng của mỗi bệnh nhân Tuy nhiên nếu bệnh trở nên ác tính, ghép gan là phương pháp độc nhất để có thể cứu được mạng sống của bệnh nhân. Cho tới nay, người ta vẫn chưa khám phá ra thuốc chích ngừa bệnh viêm gan E. Vì thế, giữ vệ sinh là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn sự bành trướng của căn bệnh đáng ngại này.
(BS Cristopher Bùi Xuân Dương)
05:17 CH 10/07/2013
Các bài tham khảo về dinh dưỡng
Mình cũng đóng góp một ít:

Kiến thức về hàm lượng kẽm trong thực phẩm

Khoáng chất kẽm có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, nó giúp trẻ hấp thu, tiêu hóa tốt. Nếu thiếu kẽm trẻ sẽ có hiện tượng biếng ăn, còi xương, chậm lớn.

Sau đây là một số kiến thức về lượng kẽm phù hợp với độ tuổi và hàm lượng kẽm trong thực phẩm để bổ sung kẽm đúng cách cho trẻ:



1. Lượng kẽm phù hợp theo độ tuổi :

- Giai đoạn 1-3 tuổi: 3-5 mg kẽm/ngày.

- Giai đoạn 4-8 tuổi: 5-10 mg kẽm/ngày.

2. Thực phẩm giàu kẽm:

Kẽm được tìm thấy trong nhiều loại thức ăn. Dưới đây là một số nguồn thức ăn giàu kẽm:


- ¼ bát súp cà chua thịt lợn và đậu đỗ: 3.3mg kẽm.

- 30g thịt bò hầm: 3mg kẽm.

- 30g thịt lợn nướng: 2.6mg kẽm.

- ½ cốc sữa chua hoa quả: 0.8mg kẽm;

- ½ cốc sữa: 0.4mg kẽm.

- ¼ cốc phômai: 0.8mg kẽm.

- ¼ bát bí ngô nấu chín: 0.8mg kẽm.

- 30g đùi gà: 0.6mg kẽm;


- ¼ bát ức gà rút xương: 0.4mg kẽm.

- 30g đậu phụ: 0.5mg kẽm.

- 1 thìa bột mì: 0.3mg kẽm.

Hàm lượng kẽm trong thức ăn, thực phẩm thường đa dạng và khác nhau, bạn có thể cho bé ăn các món có chứa hàm lượng kẽm tùy thuộc độ tuổi và nhu cầu riêng sao cho phù hợp.
04:11 CH 15/06/2013
Chồng lười chuyện trên giường, vợ tủi thân vô...
Chắc bạn phải bảo ban ông chồng giảm béo, và động viên siêng tập thể dục nữa. Thử thủ thỉ tâm tình xem thế nào, biết đâu ông ý mắc chứng " xuất sớm " thì sao, biết để còn điều trị.
09:53 SA 13/06/2013
Bé bị suy dinh dương phải. Làm sao đây các mẹ ,...
Phải học tập thực đơn của mẹ nó mới được :D
11:27 SA 06/05/2013
Các mẹ giúp kinh nghiệm với !!!
Mẹ nó nên nêu lên vấn đề cụ thể ví dụ như: dinh dưỡng cho bé, mặc cho bé, chăm sóc bé khi thời tiết thay đổi, khi bé biếng ăn nên làm thế nào...vv... chứ mẹ nó hỏi chung chung quá, cả nhà cũng không biết tư vấn thế nào, hì
06:50 CH 15/03/2013
t
TrangLy13
Hóng
439Điểm·5Bài viết
Báo cáo