1. Thích nói tiếng Anh và thoải mái khi nói Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã. 2. Xác định xem bạn thích hợp với cách học nào Nghiên cứu gần đây cho thấy rất nhiều người có cách học riêng mà mình yêu thích. Nếu bạn là người yêu thích hình ảnh, bạn có thể tạo ra một mối liên hệ giữa tiếng Anh và hình ảnh ví dụ bạn có thể xem phim có phụ đề tiếng Anh, cố gắng hình dung mình đang ở trong ngữ cảnh cần sử dụng tiếng Anh, liên tưởng các từ cần học với các hình ảnh. Nếu bạn là người có sở thích nghe, thì bạn hãy nghe càng nhiều bài hát tiếng Anh càng tốt và xem các phim tiếng Anh. Còn nếu bạn là người có đầu óc phân tích, hãy dành nhiều thời gian để học ngữ pháp và so sánh tiếng Việt với tiếng Anh. Dĩ nhiên, một người học tiếng Anh tốt sẽ dành thời gian cho tất cả những việc này. Đáng tiếc là trên thế giới, rất nhiều người vẫn bị dạy theo cách truyền thống là chỉ chú trọng vào ngữ pháp và nghe. 3. Học cách ghi nhớ Bạn có thể luyện trí nhớ của mình qua rất nhiều sách hướng dẫn. Hầu hết tất cả các học sinh giỏi tiếng Anh đều rất coi trọng việc này. 4. Tạo ra cho mình một môi trường tiếng Anh Một doanh nhân thành đạt người Tây Ban Nha đã học tiếng Anh bằng cách dán những mẩu giấy vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu dù là xuống bếp pha một tách cà phê, vào nhà tắm cạo râu hay dùng điều khiển ti-vi để đổi kênh, anh đều nhìn thấy những từ ghi trên đó. Khi anh đã thuộc những từ này rồi, anh thay bằng những từ mới. Bằng cách này, ngày nào anh cũng học được khoảng 10 từ, cả 7 ngày trong tuần. Bạn hãy tranh thủ đọc, nghe và nói tiếng Anh ở mọi nơi, mọi lúc. 5. Hãy nối mạng Một cô gái người ngoại thành Hà Nội. Cứ 3 lần một tuần, cô đi xe máy đến một nơi mà cô có thể nói tiếng Anh với những người bạn của mình tại Anh, Úc và Mỹ. Đó là một quán cà phê Internet có dịch vụ voice chat. Internet đã mang đến nhiều lợi ích cho người học ngoại ngữ. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều website hữu dụng để học ngữ pháp, từ vựng, phát âm và bây giờ, quan trọng hơn cả là: giao tiếp. 6. Học từ vựng một cách có hệ thống Xin bạn lưu ý rằng học tiếng Anh không chỉ đơn thuần là học ngữ pháp. Khi giao tiếp, bạn lựa chọn từ vựng, kết hợp chúng và tạo thành câu để biểu đạt ý kiến của mình. Khi học từ vựng, bạn hãy bố trí sổ ghi chép của mình sao cho hợp lý. Đừng liệt kê một dãy dài các từ, ngữ mới mà hãy chia sổ của bạn ra thành từng mục chẳng hạn: Chủ đề: shopping, holidays, money vv… Động từ và danh từ đi liền kề: do your homework, make a cake vv… Động từ kép: to grow up, to fell off, to look after vv... Ngữ cố định: on the other hand, in my opinion, by the way vv... Thành ngữ: once in a blue moon, to be over the moon, out of the blue vv… Ngữ có giới từ: at night, at the weekend, in March, in 2003 vv….. 7. Bạn hãy phấn khích lên Bạn hãy khởi động và làm ngay những việc bạn có thể làm ngày hôm nay, đừng để đến ngày mai. Hồi còn ở London, tôi có một cô bạn người Thái Lan theo học nghành thiết kế thời trang. Cô ấy nói tiếng Anh rất siêu. Từ khi cô 15 tuổi, cô đã tự xác định mục đích và ước mơ của mình là học ngành thời trang ở London. Cô đã tìm hiểu mức điểm IELTS cần thiết để có thể vào trường mà cô mơ ước rồi bắt tay vào học tiếng Anh ngay lập tức. Đến năm 19 tuổi, nghĩa là đã đủ tuổi để được nhận vào học, thì cô đã sẵn sàng mọi thứ. Sự khởi đầu sớm của cô quả là khôn ngoan vì một năm sau, khi khoá học kết thúc, cô trở về Thái Lan thì lúc đó bạn bè cô vẫn đang cần mẫn học tiếng Anh chờ thời điểm đi nước ngoài. Bây giờ thì cô ấy đã là một người nói tiếng Anh thành thạo, có trình độ và thành đạt.
1. Các nguyên tắc - Không gây áp lực: Mỗi trẻ em đều có một thiên hướng khác nhau. Có bé thích âm nhạc, có khả năng thẩm âm, tiết tấu nhanh. Nhưng cũng có bé đam mê các hình khối hoặc có trí tưởng tượng phong phú. Chính vì vậy, nếu trẻ không thể nhớ được một từ tiếng Anh mà bạn đã nhắc đi nhắc lại thì cũng đừng quá lo lắng. Có thể bé sẽ giỏi ở một môn học hay lĩnh vực khác. Các cha mẹ nên nhớ, gây áp lực phản tác dụng với trẻ trong trường hợp này. - Dạy trẻ thứ trẻ thích: Nếu bé chưa bao giờ tiếp xúc với tiếng Anh thì chẳng có lý do gì khiến bé ghét bỏ môn học này. Vì vậy, nếu có ý định dạy trẻ tiếng Anh, các cha mẹ hãy tạo sự tò mò và thích thú cho bé bằng các loại sách, truyên, bài hát thiếu nhi được xuất bản bằng tiếng Anh. Nên nhớ, khi trẻ đã thích thì không muốn bé học cũng không được. - Không so sánh: Bạn đừng đem trẻ ra so sánh với những bé cùng lứa tuổi, hàng xóm hay con của đồng nghiệp khác. Con bạn khác với những đứa trẻ khác. Vì vậy, hãy đánh giá trẻ với chính trẻ ngày hôm qua để xem bé đã tiến bộ hay chưa.
2. Phương pháp dạy trẻ tiếng Anh Dạy và học thông qua trò chơi, thơ ca, văn vần, bài hát, các bộ phim hoạt hình không lồng tiếng Việt. Bất kỳ điều gì cũng có thể biến thành trò chơi, đôi khi chẳng cần liên quan gì đến môn học. Các cha mẹ có thể tham khảo một số trò chơi ở đây.
Dạy trẻ thông qua các bài hát, các câu chuyện, trò chơi tiếng Anh.
- Không dạy trẻ kiểu “học dịch”. Ví dụ truy: “Con gà tiếng Anh là gì? Con mèo tiếng Anh là gì? Con dịch cho mẹ câu: Hôm nay trời mưa…v…v”. Với kiểu học như thế, bé có thể sẽ thuộc rất nhiều từ, nhưng vẫn chưa phải là “biết tiếng” vì thiếu tư duy kết nối và logic. - Khối lượng kiến thức tùy thuộc vào trẻ và độ tuổi của trẻ, trẻ càng bé lượng từ càng ít, nhưng có những trẻ có năng khiếu bạn có thể tăng số lượng hoặc độ phức tạp lên, theo một chủ đề nhất định, không lan man. 5 từ mới và cách dùng chúng nhuần nhuyễn có ích cho các em hơn là cả mấy chục từ mới mà học lớt phớt, nói trước quên sau. - “Thời lượng” một buổi học cũng tùy thuộc với từng độ tuổi và sự hứng thú của trẻ, trẻ càng nhỏ càng không nên ngồi lâu, trong một buổi học cần luân chuyển giữa ngồi một chỗ và vận động cho trẻ đỡ chán. Cha mẹ nên dừng trước khi trẻ muốn dừng để trẻ lúc nào cũng cảm thấy buổi học hôm nay chưa đủ. Như vậy, lần sau bé vẫn hứng thú học. - Dạy bé thông qua trò chuyện, qua các tình huống hàng ngày. Nếu cha mẹ thường xuyên sử dụng tiếng Anh khi giao tiếp với con trong công việc hàng ngày thì theo một cách tự nhiên, trẻ sẽ hiểu được việc người lớn muốn nói do liên hệ các từ, các câu với sự vật, sự việc hay hành động. Cách này thống nhất với nguyên tắc không học dịch đã kể trên.
Dạy trẻ từ "a ball" thì nên có quả bóng thật..
- Dạy trẻ bằng đồ dùng có hình ảnh trực quan, sinh động. Đồ dùng càng trung thực và trẻ có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, cầm nắm càng nhiều càng tốt. Như thế trẻ sẽ có khái niệm rõ hơn về sự vật, sự viêc và sẽ nhớ lâu hơn. Ví dụ, bé học tiếng Anh, cha mẹ có thể chỉ vào hình con thỏ và nói “Rabbit” bằng ngoại ngữ, nhưng tuyệt đối không nói to lên“rabbit là con thỏ”! Mục đích của việc này là bé nghe và nghĩ bằng tiếng Anh. Tức là khi nhìn thấy hình con thỏ là trong đầu bé hiện lên chữ rabbit chứ không phải chữ con thỏ! - Nếu có điều kiện, hãy cho bé tiếp xúc với người nước ngoài nói thứ tiếng bé đang học để tiếp thu cách phát âm. Việc luyện ngữ âm là cần thiết hàng đầu đối với trẻ. Luyện bằng cách nghe nhiều, nói nhiều, trẻ sẽ thấm thấm dần kiến thức chứ không nhất thiết phải ép buộc, bắt đọc đi đọc lại một vài bài đọc cũ kỹ, khiến trẻ chán học. Nếu cô giáo trên lớp hay người than trong gia đình có cách phát âm tiếng Anh không chuẩn, cha mẹ có thể cho bé nghe phát âm chuẩn từ các mẩu truyện cổ tích trên website nước ngoài, phim hoạt hình hay các bài hát, phần mềm dạy tiếng Anh. Trẻ sẽ điều chỉnh dần kỹ năng nghe nói. Có khi, lúc đó, chính cha mẹ cũng sẽ hoàn thiện khả năng phát âm tiếng Anh của mình. - Các phụ huynh có thể dạy con cùng một lúc 2 ngoại ngữ mà không sợ bé bị lẫn. Tuy nhiên, một trong hai ngôn ngữ phải được nhấn mạnh nhiều hơn, xác định rõ chính và phụ. Trước mỗi buổi học, nhắc đi nhắc lại với bé: “Hôm nay chúng mình nói tiếng Pháp (hoặc tiếng Anh) nhé!” để bé phân biệt rõ ràng hai thứ tiếng. Điều cuối cùng, cũng là quan trọng nhất, hãy biến tất cả những thứ cha mẹ muốn dạy con thành trò chơi. Đó là cách giúp trẻ học thành công và đem lại nhiều niềm vui cho cả cha mẹ và bé.
Nếu nói về cách giải của toán của học sinh thì em không rõ sẽ phải dùng thế nào cho phù hợp nhưng em sẽ giải theo cách hiểu của em, mẹ nó hiểu rồi giảng lại cho con cho phù hợp nhé.
1. Vì 1 tuần có 7 ngày nên nếu thứ 2 là ngày mùng 1 thì thứ 2 tuần sau là ngày mùng 8. vì thế nếu thứ 2 tuần này là ngày 21 thì các thứ 2 trước sẽ là ngày 14, 7 và 0(ngày cuối tháng trước). vì thế ngày mùng 1 tháng này sẽ là thứ 3 :D
2. lấy 990 chia cho 16 ta sẽ lấy kết quả là số tự nhiên gần nhất đó là 62 ngày.
đến ngày thứ 61, công ty sẽ bán được 16*61=976 máy, như vậy ngày 62 công ty sẽ còn lại 990-976= 14 máy. (thiếu 2 máy so với số máy bán trong 1 ngày) vì thế đến ngày 62 công ty phải có hàng mới về, vì vậy công ty phai đặt hàng vào ngày thứ 62-7=55. tháng 8 có 31 ngày, vì vậy sẽ là ngày 24/9 là ngày đặt hàng :D. Không biết em giải thế này có chuẩn không :D mong các mẹ đưa ra cao kiến :D
chào anh, theo em nghĩ thì là do bé không để ý thôi, anh thử nhắc con xem là hôm nay đi học con mang những gì, trươc khi về nhớ điểm danh lại hoặc cho bé dùng hộp bút, khi nào bé tan học bé phải để đúng dụng cụ trong hộp bút. Anh có thể tim hiểu thêm lý do bé hay mất đồ là do bé vứt linh tinh rồi rơi mất hay bé dùng đồ dùng để đùa với bạn bè hay bé lấy ra mà không nhớ nên mất :D mỗi trường hợp sẽ có nhưng cách giải quyết khác nhau để cải thiện việc này anh ạ.
Thực ra hầu như các bé đều có xu hướng thuận tay trai nhưng mà theo ý kiến của mình thì bạn cho bé dùng cả 2 tay xem, bé thuận tay nào hơn, nếu mà viết bằng tay phải được thì tốt vì như thế sẽ thuận với đa số mọi người nhưng nếu bé thuận trái hơn thì cũng không nên ép bé dùng tay phải làm gì. Và nếu tốt nhất thì để bé thuận cả 2 tay là tốt cho con nhất bạn ạ :D Cùng hóng ý kiến các mẹ khác thế nào :D
Theo mình thì bạn nên cắt game của con, mới có học lớp 3 mà đã mê game như thế là không ổn tí nào, sau này nhỡ lại bỏ học chơi game thì chết. Hơn nữa là, bé lại khó tập trung mà chơi game nhiều cũng ảnh hưởng tới vấn đề này nên mẹ nó lại càng phải cấm con game. Có chăng thì cho con 1 tuần đi chơi game 1 lần thôi, chứ còn lại là phải kiểm soát chặt chẽ không điện tử gì hết
ôi mẹ nó giỏi quá, bé nhà mẹ nó viết cũng đẹp nữa, nét thanh nét đậm, nhìn ở góc độ này có thể nói là đều lắm, mẹ con Linh Anh giỏi quá :X
Theo mình thì có thể là do bé thuộc dạng trẻ hiếu động, khó tập trung, vì thế khi tập viết, bé không chú tâm vào việc viết và viết chậm. Trường hợp thứ 2 là có thể do bé vẫn chưa quen với việc viết nên vừa viết vừa nghĩ xem là phải viết thế nào. Mẹ nó thử xem lại cách con viết bài xem, cầm bút đã đúng chưa, viết đã đúng cách chưa và bé tậptrung khi viết không hay đang viết lại ngồi nghịch 1 lát rồi lại viết để tìm ra nguyên nhân nhé :D
1. Thích nói tiếng Anh và thoải mái khi nói
Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã.
2. Xác định xem bạn thích hợp với cách học nào
Nghiên cứu gần đây cho thấy rất nhiều người có cách học riêng mà mình yêu thích. Nếu bạn là người yêu thích hình ảnh, bạn có thể tạo ra một mối liên hệ giữa tiếng Anh và hình ảnh ví dụ bạn có thể xem phim có phụ đề tiếng Anh, cố gắng hình dung mình đang ở trong ngữ cảnh cần sử dụng tiếng Anh, liên tưởng các từ cần học với các hình ảnh. Nếu bạn là người có sở thích nghe, thì bạn hãy nghe càng nhiều bài hát tiếng Anh càng tốt và xem các phim tiếng Anh. Còn nếu bạn là người có đầu óc phân tích, hãy dành nhiều thời gian để học ngữ pháp và so sánh tiếng Việt với tiếng Anh.
Dĩ nhiên, một người học tiếng Anh tốt sẽ dành thời gian cho tất cả những việc này. Đáng tiếc là trên thế giới, rất nhiều người vẫn bị dạy theo cách truyền thống là chỉ chú trọng vào ngữ pháp và nghe.
3. Học cách ghi nhớ
Bạn có thể luyện trí nhớ của mình qua rất nhiều sách hướng dẫn. Hầu hết tất cả các học sinh giỏi tiếng Anh đều rất coi trọng việc này.
4. Tạo ra cho mình một môi trường tiếng Anh
Một doanh nhân thành đạt người Tây Ban Nha đã học tiếng Anh bằng cách dán những mẩu giấy vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu dù là xuống bếp pha một tách cà phê, vào nhà tắm cạo râu hay dùng điều khiển ti-vi để đổi kênh, anh đều nhìn thấy những từ ghi trên đó. Khi anh đã thuộc những từ này rồi, anh thay bằng những từ mới. Bằng cách này, ngày nào anh cũng học được khoảng 10 từ, cả 7 ngày trong tuần. Bạn hãy tranh thủ đọc, nghe và nói tiếng Anh ở mọi nơi, mọi lúc.
5. Hãy nối mạng
Một cô gái người ngoại thành Hà Nội. Cứ 3 lần một tuần, cô đi xe máy đến một nơi mà cô có thể nói tiếng Anh với những người bạn của mình tại Anh, Úc và Mỹ. Đó là một quán cà phê Internet có dịch vụ voice chat.
Internet đã mang đến nhiều lợi ích cho người học ngoại ngữ. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều website hữu dụng để học ngữ pháp, từ vựng, phát âm và bây giờ, quan trọng hơn cả là: giao tiếp.
6. Học từ vựng một cách có hệ thống
Xin bạn lưu ý rằng học tiếng Anh không chỉ đơn thuần là học ngữ pháp. Khi giao tiếp, bạn lựa chọn từ vựng, kết hợp chúng và tạo thành câu để biểu đạt ý kiến của mình. Khi học từ vựng, bạn hãy bố trí sổ ghi chép của mình sao cho hợp lý. Đừng liệt kê một dãy dài các từ, ngữ mới mà hãy chia sổ của bạn ra thành từng mục chẳng hạn:
Chủ đề: shopping, holidays, money vv…
Động từ và danh từ đi liền kề: do your homework, make a cake vv…
Động từ kép: to grow up, to fell off, to look after vv...
Ngữ cố định: on the other hand, in my opinion, by the way vv...
Thành ngữ: once in a blue moon, to be over the moon, out of the blue vv…
Ngữ có giới từ: at night, at the weekend, in March, in 2003 vv…..
7. Bạn hãy phấn khích lên
Bạn hãy khởi động và làm ngay những việc bạn có thể làm ngày hôm nay, đừng để đến ngày mai. Hồi còn ở London, tôi có một cô bạn người Thái Lan theo học nghành thiết kế thời trang. Cô ấy nói tiếng Anh rất siêu. Từ khi cô 15 tuổi, cô đã tự xác định mục đích và ước mơ của mình là học ngành thời trang ở London. Cô đã tìm hiểu mức điểm IELTS cần thiết để có thể vào trường mà cô mơ ước rồi bắt tay vào học tiếng Anh ngay lập tức. Đến năm 19 tuổi, nghĩa là đã đủ tuổi để được nhận vào học, thì cô đã sẵn sàng mọi thứ. Sự khởi đầu sớm của cô quả là khôn ngoan vì một năm sau, khi khoá học kết thúc, cô trở về Thái Lan thì lúc đó bạn bè cô vẫn đang cần mẫn học tiếng Anh chờ thời điểm đi nước ngoài. Bây giờ thì cô ấy đã là một người nói tiếng Anh thành thạo, có trình độ và thành đạt.
Vì để hồi đáp lại những bức thư thỉnh nguyện thập phương, bà đã khái quát kinh nghiệm phong phú của bản thân – nó sẽ rất có ích cho những người muốn học tốt ngoại ngữ.
1- Kiên trì học tập từng ngày, chỉ giành ra 10 phút cũng được. Buổi sáng là thời gian tốt nhất.
Căn cứ vào đặc điểm trí nhớ của con người trong điều kiện tổng thời lượng tương đồng, hiệu quả học nhiều lần trong thời gian ngắn luôn tốt hơn học một lần trong thời gian dài. Nếu cách 3 ngày học 30 phút từ mới, không bằng mỗi ngày học và củng cố trong 10 phút.
Sáng sớm khi vừa ngủ dậy não chúng ta chưa bị những tin tức hỗn tạp xâm nhập, khi học không bị tác động của tin tức hỗn hợp, tương tự như vậy, trước khi ngủ mà hoc tập, do sau đó không bị tác đông của tin tức nên hiệu quả tương đối tốt.
2 - Khi học đã chán nên thay đổi phương pháp và hình thức học.
Thường xuyên sử dụng một phươn pháp rất dễ khiến cho chúng ta cảm thấy đơn điệu nhàm chán và mệt mỏi, những người có nghị lực cũng không ngoại lệ. Nếu thường xuyên thay đổi phương thức học chẳng hạn như chuyển đổi từ đọc qua nghe từ viết qua hội thoai, xem băng hình… như thế sẽ khiến cho người học có cảm nhận mới mẻ, dễ dàng tiếp thu tri thức.
3 - Không thoát ly ngữ cảnh.
Đối với thanh thiếu niên, trí nhớ mang tính máy móc tương đối cao, đối với người trưởng thành, trí nhớ mang tính lý giải cao. Chỉ có những vấn đề đã được hiểu mới có thể cảm thụ một cách sâu sắc, mới ghi nhớ được. Liên hệ với ngữ cảnh chính là nhấn mạnh phương pháp hiệu quả của sự ghi nhớ mang tính lý giải.
4 - Cố gắng dịch thầm những thứ bạn tiếp xúc, chẳng hạn như quảng cáo, câu chữ gặp ngẫu nhiên.
Dịch thầm những thứ bạn tiếp xúc, có lợi cho việc mở rộng tri thức nâng cao khả năng phản ứng nhanh, khiến cho bản thân có thể nhanh chóng lấy từ câu, cú pháp từ trung khu đại não, phát hiện thấy không đủ thì lập tức bổ sung.
5 - Chỉ có những cái đã được thầy giáo sửa chữa mới đáng ghi nhớ kỹ, nghĩa là cần phải ghi nhớ nhưng cái đã được khẳng định là đúng.
Học ngoại ngữ, không chỉ nắm bắt những kiến thức đúng trong giáo trìnhb mà còn phải thông qua giáo trình phản diện để học được cách tránh phạm lỗi. Cho nên ngoài việc học tập những kiến thức đã được thầy giáo hiệu chỉnh ra, còn phải xem thêm một số sách giảng giải về lỗi thường gặp.
6 - Học ngoại ngữ, cần phải phối hợp từ nhiều phương diện.
Đọc báo, tạp chí, sách tham khảo, nghe đài, xem băng, tham dự các buổi đàm thoại.
7 - Phải mạnh dạn tập nói, không sợ sai.
Cần phải nhờ người khác sửa lỗi, không sợ xấu hổ, không nhụt chí.
8 - Thường xuyên viết và học thuộc những mô hình câu thường dùng.
Học ngoại ngữ không nên "vơ đũa cả nắm", nên nắm những điểm cốt lõi. Nhìn từ kết cấu của ngoại ngữ, nắm được những cấu trúc câu thường dùng là rất quan trọng. Trong câu thường có từ, ngữ pháp cú pháp và tập quán.
9- Cần phải tự tin kiên định mục đích đã định, sự kiên nhẫn sẽ tạo ra nghị lực phi thường và tài năng học ngoại ngữ.
Một nhà tư tưởng Mỹ từng nói: "Tự tin là bí quyết quan trọng đầu tiên của sự thắng lợi" Nếu bạn không tin là bản thân sẽ học tốt ngoại ngữ, thì chắc chắn bạn không bao giờ học giỏi được, và tốt nhất là từ bỏ, khi bắt đầu học ngoại ngữ thì phải tin tưởng bản thân có nghị lực, tin rằng sẽ ghi nhớ được và nhất định sẽ thành công.
Một số đầu sách cho bạn tham khảo nhé...
1. Answers to All TOEFL Essay Questions
2. Barron’s How to Prepare for the TOEFL Essay 2nd Edition
3. Ielts Cambridge 1 - 8
4. 10 PRATICE TESTS FOR IELTS
5. 101 USEFUL EXERCISE
Trong cuốn 101 American English Proverbs, tác giả Harry Collis đã giải thích câu nói này có nghĩa là "act at the best possible time" (hành động vào lúc tốt nhất có thể được). Nếu như chọn một chủ đề để sắp xếp thì câu thành ngữ này sẽ thuộc mảng "Opportunity" tức "Cơ hội".
"Strike while the iron is hot" (cờ đến tay ai người ấy phất) xuất phát từ hình ảnh trong xưởng làm việc của bác thợ rèn (black smith). Bác thợ chỉ có thể tạo ra hình dáng cho những thanh sắt của mình bằng cách dùng búa nện thật mạnh vào thanh sắt ngay khi nó còn đang nóng đỏ ("striking the iron bar with his hammer when it is red hot").
Qua đó, người xưa muốn khuyên chúng ta hãy hành động ngay lập tức để có cơ hội thành công cao hơn. Tận dụng những tình huống có thể đem lại lợi ích cho bạn trước khi chúng kết thúc bỏ bạn mà ra đi. Có lẽ bạn sẽ khó mà có được cơ hội nào khác như thế này, nên hãy “phất khi cờ đến tay”.
Trong học tập, biết cách phất khi cờ đến tay có nghĩa là hãy học lấy bất cứ thứ gì có thể khi chúng tìm đến bạn. Cơ hội để bạn mở mang kiến thức đã ở ngay đó, bạn không còn phải chần chừ gì cả. Trong việc học ngoại ngữ nói riêng và tiếng Anh nói chung, việc vận dụng những câu nói này cũng không phải là ngoại lệ.
Trong kho tàng thành ngữ tục ngữ tiếng Anh còn có một nói nữa cũng mang nghĩa tương tự, đó là câu "Make hay while the sun shines", nghĩa đen có thế hiểu là hãy phơi cỏ khi trời đang còn nắng, còn nghĩa bóng nghĩa là hãy tận dụng cơ hội làm việc gì đó ("take an advantage of an opportunity to do something"). Điều này không khác nhiều so với hãy nện búa rèn sắt khi nó còn đang nóng đỏ phải không bạn? Cho nên hãy biết tận dụng thời cơ, đặc biệt là khi học tiếng Anh và ngoại ngữ bạn nhé "act at the best possible time". Chúc các bạn thành công!
(st)
1. Danh từ (Nouns): Là từ gọi tên người, đồ vật, sự việc hay nơi chốn.
Ex: teacher, desk, sweetness, city
2. Đại từ (Pronouns): Là từ dùng thay cho danh từ để không phải dùng lại danh từ ấy nhiều lần.
Ex: I, you, them, who, that, himself, someone.
3. Tính từ (Adjectives): Là từ cung cấp tính chất cho danh từ, làm cho danh từ rõ nghĩa hơn, chính xác và đầy đủ hơn.
Ex: a dirty hand, a new dress, the car is new.
4. Động từ (Verbs): Là từ diễn tả một hành động, một tình trạng hay một cảm xúc. Nó xác định chủ từ làm hay chịu đựng một điều gì.
Ex: The boy played football. He is hungry. The cake was cut.
5. Trạng từ (Adverbs): Là từ bổ sung ý nghĩa cho một động từ, một tính từ hay một trạng từ khác. Tương tự như tính từ, nó làm cho các từ mà nó bổ nghĩa rõ ràng, đầy đủ và chính xác hơn.
Ex: He ran quickly. I saw him yesterday. It is very large.
6. Giới từ (Prepositions): Là từ thường dùng với danh từ và đại từ hay chỉ mối tương quan giữa các từ này với những từ khác, thường là nhằm diễn tả mối tương quan về hoàn cảnh, thời gian hay vị trí.
Ex: It went by air mail. The desk was near the window.
7. Liên từ (Conjunctions): Là từ nối các từ (words), ngữ (phrases) hay câu (sentences) lại với nhau.
Ex: Peter and Bill are students. He worked hard because he wanted to succeed.
8. Thán từ (Interjections): Là từ diễn tả tình cảm hay cảm xúc đột ngột, không ngờ. Các từ loại này không can thiệp vào cú pháp của câu.
Ex: Hello! Oh! Ah!
Có một điều quan trọng mà người học tiếng Anh cần biết là cách xếp loại trên đây căn cứ vào chức năng ngữ pháp mà một từ đảm nhiệm trong câu. Vì thế, có rất nhiều từ đảm nhiệm nhiều loại chức năng khác nhau và do đó, có thể được xếp vào nhiều từ loại khác nhau.
Xét các câu dưới đây:
(1) He came by a very fast train.
Anh ta đến bằng một chuyến xe lửa cực nhanh.
(2) Bill ran very fast.
Bill chạy rất nhanh.
(3) They are going to fast for three days; during that time they won’t eat anything.
Họ sắp nhịn ăn trong ba ngày; trong thời gian ấy họ sẽ không ăn gì cả.
(4) At the end of his three-day fast he will have a very light meal.
Vào cuối đợt ăn chay dài ba ngày của anh ta, anh ta sẽ dùng một bữa ăn thật nhẹ.
Trong câu (1) fast là một tính từ (adjective).
Trong câu (2) fast là một trạng từ (adverb).
Trong câu (3) fast là một động từ (verb).
Trong câu (4) fast là một danh từ (noun).
Trước đây, người ta thường quan niệm, dạy trẻ học quá nhiều là cướp mất tuổi thơ của trẻ. Điều này sai hoàn toàn nếu cha mẹ biết việc học đối với trẻ nhỏ thực chất chính là vui chơi. Chơi với toán, chơi với văn học, chơi với chữ cái ... đều là cách dạy trẻ tự nhiên và gây nhiều hứng thú nhất. Và đặc biệt, chơi tiếng Anh - một trong những phương pháp dạy học hiệu quả và được các bậc cha mẹ tin tưởng nhất hiện nay.
1. Các nguyên tắc
- Không gây áp lực: Mỗi trẻ em đều có một thiên hướng khác nhau. Có bé thích âm nhạc, có khả năng thẩm âm, tiết tấu nhanh. Nhưng cũng có bé đam mê các hình khối hoặc có trí tưởng tượng phong phú. Chính vì vậy, nếu trẻ không thể nhớ được một từ tiếng Anh mà bạn đã nhắc đi nhắc lại thì cũng đừng quá lo lắng. Có thể bé sẽ giỏi ở một môn học hay lĩnh vực khác. Các cha mẹ nên nhớ, gây áp lực phản tác dụng với trẻ trong trường hợp này.
- Dạy trẻ thứ trẻ thích: Nếu bé chưa bao giờ tiếp xúc với tiếng Anh thì chẳng có lý do gì khiến bé ghét bỏ môn học này. Vì vậy, nếu có ý định dạy trẻ tiếng Anh, các cha mẹ hãy tạo sự tò mò và thích thú cho bé bằng các loại sách, truyên, bài hát thiếu nhi được xuất bản bằng tiếng Anh. Nên nhớ, khi trẻ đã thích thì không muốn bé học cũng không được.
- Không so sánh: Bạn đừng đem trẻ ra so sánh với những bé cùng lứa tuổi, hàng xóm hay con của đồng nghiệp khác. Con bạn khác với những đứa trẻ khác. Vì vậy, hãy đánh giá trẻ với chính trẻ ngày hôm qua để xem bé đã tiến bộ hay chưa.
2. Phương pháp dạy trẻ tiếng Anh
Dạy và học thông qua trò chơi, thơ ca, văn vần, bài hát, các bộ phim hoạt hình không lồng tiếng Việt. Bất kỳ điều gì cũng có thể biến thành trò chơi, đôi khi chẳng cần liên quan gì đến môn học. Các cha mẹ có thể tham khảo một số trò chơi ở đây.
Dạy trẻ thông qua các bài hát, các câu chuyện, trò chơi tiếng Anh.
- Không dạy trẻ kiểu “học dịch”. Ví dụ truy: “Con gà tiếng Anh là gì? Con mèo tiếng Anh là gì? Con dịch cho mẹ câu: Hôm nay trời mưa…v…v”. Với kiểu học như thế, bé có thể sẽ thuộc rất nhiều từ, nhưng vẫn chưa phải là “biết tiếng” vì thiếu tư duy kết nối và logic.
- Khối lượng kiến thức tùy thuộc vào trẻ và độ tuổi của trẻ, trẻ càng bé lượng từ càng ít, nhưng có những trẻ có năng khiếu bạn có thể tăng số lượng hoặc độ phức tạp lên, theo một chủ đề nhất định, không lan man. 5 từ mới và cách dùng chúng nhuần nhuyễn có ích cho các em hơn là cả mấy chục từ mới mà học lớt phớt, nói trước quên sau.
- “Thời lượng” một buổi học cũng tùy thuộc với từng độ tuổi và sự hứng thú của trẻ, trẻ càng nhỏ càng không nên ngồi lâu, trong một buổi học cần luân chuyển giữa ngồi một chỗ và vận động cho trẻ đỡ chán. Cha mẹ nên dừng trước khi trẻ muốn dừng để trẻ lúc nào cũng cảm thấy buổi học hôm nay chưa đủ. Như vậy, lần sau bé vẫn hứng thú học.
- Dạy bé thông qua trò chuyện, qua các tình huống hàng ngày. Nếu cha mẹ thường xuyên sử dụng tiếng Anh khi giao tiếp với con trong công việc hàng ngày thì theo một cách tự nhiên, trẻ sẽ hiểu được việc người lớn muốn nói do liên hệ các từ, các câu với sự vật, sự việc hay hành động. Cách này thống nhất với nguyên tắc không học dịch đã kể trên.
Dạy trẻ từ "a ball" thì nên có quả bóng thật..
- Dạy trẻ bằng đồ dùng có hình ảnh trực quan, sinh động. Đồ dùng càng trung thực và trẻ có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm, cầm nắm càng nhiều càng tốt. Như thế trẻ sẽ có khái niệm rõ hơn về sự vật, sự viêc và sẽ nhớ lâu hơn. Ví dụ, bé học tiếng Anh, cha mẹ có thể chỉ vào hình con thỏ và nói “Rabbit” bằng ngoại ngữ, nhưng tuyệt đối không nói to lên“rabbit là con thỏ”! Mục đích của việc này là bé nghe và nghĩ bằng tiếng Anh. Tức là khi nhìn thấy hình con thỏ là trong đầu bé hiện lên chữ rabbit chứ không phải chữ con thỏ!
- Nếu có điều kiện, hãy cho bé tiếp xúc với người nước ngoài nói thứ tiếng bé đang học để tiếp thu cách phát âm. Việc luyện ngữ âm là cần thiết hàng đầu đối với trẻ. Luyện bằng cách nghe nhiều, nói nhiều, trẻ sẽ thấm thấm dần kiến thức chứ không nhất thiết phải ép buộc, bắt đọc đi đọc lại một vài bài đọc cũ kỹ, khiến trẻ chán học. Nếu cô giáo trên lớp hay người than trong gia đình có cách phát âm tiếng Anh không chuẩn, cha mẹ có thể cho bé nghe phát âm chuẩn từ các mẩu truyện cổ tích trên website nước ngoài, phim hoạt hình hay các bài hát, phần mềm dạy tiếng Anh. Trẻ sẽ điều chỉnh dần kỹ năng nghe nói. Có khi, lúc đó, chính cha mẹ cũng sẽ hoàn thiện khả năng phát âm tiếng Anh của mình.
- Các phụ huynh có thể dạy con cùng một lúc 2 ngoại ngữ mà không sợ bé bị lẫn. Tuy nhiên, một trong hai ngôn ngữ phải được nhấn mạnh nhiều hơn, xác định rõ chính và phụ. Trước mỗi buổi học, nhắc đi nhắc lại với bé: “Hôm nay chúng mình nói tiếng Pháp (hoặc tiếng Anh) nhé!” để bé phân biệt rõ ràng hai thứ tiếng.
Điều cuối cùng, cũng là quan trọng nhất, hãy biến tất cả những thứ cha mẹ muốn dạy con thành trò chơi. Đó là cách giúp trẻ học thành công và đem lại nhiều niềm vui cho cả cha mẹ và bé.
1. (Nghe điện thoại) Hello. I’m Mary. May I speak to John, please?
Xin chào. Tôi là Mary. Xin cho tôi nói chuyện với John.
2. Could you hold a minute, please?
Xin vui lòng giữ máy trong giây lát.
3. One moment, please.
Vui lòng đợi một chút.
4. Hang on. I’ll get him.
Đợi môt chút. Tôi gọi anh ấy.
5. I’m sorry, but John is busy now. Would you leave a message/call back later?
Tôi xin lỗi. Bây giờ John đang bận. Bạn muốn để lại lời nhắn/chốc nữa gọi lại không?
6. How are you? – Couldn’t be better. Thank you. Yourself?
Bạn khỏe không? – Khỏe lắm. Cảm ơn nhé. Còn bạn?
(Có thể hỏi: “Are you ok?” và đáp lại bằng: (I’m) fine / not bad / great / very well / pretty bad / not fine / not good / awful)
7. Thank you. – You’re welcome.
Cảm ơn bạn. – Không có chi.
(Có thể đáp lại bằng: Never mind (Đừng bận tâm)/ Not at all (Không có chi)/ It’s my pleasure (Vinh hạnh của tôi)/ Don’t mention it (Đừng đề cập đến))
8. It’s getting late. I’ve got to go. Goodbye. See you soon. – Take care.
Trễ rồi. Tôi phải đi đây. Tạm biệt. Hẹn sớm gặp lại nhé. – Bảo trọng.
9. Excuse me, but could you please tell me where Dong Thap supermarket is?
Xin lỗi, xin ông vui lòng cho tôi biết siêu thị ĐT ở đâu?
10. Good luck! (Chúc may mắn!)
11. Congratulations! (Xin chúc mừng!)
12. My God! (Chúa ơi!)
13. Would you like something to drink? (Bạn muốn uống gì không?)
14. Let’s go fishing. - That’s sounds great.
Chúng ta hãy đi câu cá nhe. – Nghe hay đấy.
15. Why not go shopping? – I’d love to, but I’m busy now. Sorry.
Sao lại không đi mua sắm? – Tôi thích lắm nhưng tôi không khỏe. Xin lỗi.
16. I’m terribly sorry. (Tôi thành thật xin lỗi.)
17. No problem. (Không thành vấn đề.)
18. Don’t worry about it. (Đừng bận tâm về điều đó.)
19. How beautiful/handsome you are today! (Hôm nay bạn đẹp làm sao đấy!)
20. You’re exactly right. (Bạn hoàn toàn đúng.)
21. I couldn’t agree more! (Tôi hoàn toàn đồng ý.)
22. I’m tired to death. (Tôi mệt muốn chết.)
23. Give me a break. (Hãy để tôi yên.)
24. Can I take a break? (Em có thể giải lao?)
25. Keep your promise. (Hãy giữ lời nhé.)
26. Don’t break your promise. (Đừng nuốt lời nhé.)
27. I’m all ears. (Tôi đang chăm chú nghe.)
28. Don’t beat about the bush. (Đừng vòng vo tam quốc.)
29. Come back to earth. (Quay về thực tế đi.)
30. Take your pick. (Hãy chọn đi.)
31. It’s your turn. (Đến lượt bạn.)
32. It rains cats and dogs. (Trời mưa như trút nước.)
33. It’s on me. (Để tôi trả tiền.)
34. I’m broke. (Tôi bị cháy túi rồi.)
35. Poor you! (Tội nghiệp bạn quá!)
36. Don’t pull my leg. (Đừng trêu chọc tôi.)
37. That chance slips through my fingers. (Cơ hội vuột khỏi tầm tay tôi.)
38. Watch your language. (Hãy cẩn ngôn.)
39. Behave yourself. (Hãy cư xử cho đúng nhé.)
40. That’s a tempest in an teapot. (Chuyện bé xé ra to.)
41. I wouldn’t say no. (Tôi đâu có từ chối.)
42. They are no match for you. (Họ không phải là đối thủ của bạn.)
43. Travel broadens your minds. (Đi một ngày đàn học một sàn khôn.)
44. It’s like water off a duck’s back. (Như nước đổ đầu vịt.)
45. At first strange, now familiar. (Trước lạ sau quen.)
46. I read you like a book. (Tôi đi guốc trong bụng bạn.)
47. I slipped my tongue. (Tôi lỡ lời.)
48. The more, the merrier. (Càng đông càng vui.)
49. I’m over the moon. (Tôi rat sung sướng/hạnh phúc.)
50. He’s a pain in the neck. (Nó là cái gai trong mắt.)
51. Take it or leave it? (Lấy hay bỏ?)
52. It’s up to you. (Tùy bạn.)
53. I could eat a horse. (Tôi có thể ăn một con ngựa = Tôi rất đói bụng.)
54. I could drink an ocean. (Tôi có thể uống cả một đại dương = Tôi rất khát nước.)
55. First think, then speak. (Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.)
56. They talk behind my back. (Họ nói xấu sau lưng tôi.)
57. I’d like to join the green summer campaign. (Tôi muốn tham gia chiến dịch mùa hè xanh.)
58. Many men, many minds. (Chín người mười ý.)
59. Slow but sure. (Chậm mà chắc.)
60. Seeing is believing. (Trăm nghe không bằng một thấy.)
61. Love cannot be forced. (Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên.)
62. The more you get, the more you want. (Được voi đòi tiên.)
63. They change defeat into victory. (Họ chuyển bại thành thắng.)
64. The market is flat. (Chợ búa ế ẩm.)
65. Hands off. (Lấy tay ra.)
66. He’s dead drunk. (Hắn ta say bí tỉ.)
67. I freeload a meal/a breakfast/a lunch/a dinner. (Tôi ăn chực.)
68. I eat my fill. (Tôi ăn đã đời/no nê.)
69. Nothing doing. (Còn lâu, còn khuya.)
70. Don’t bully the weak. (Đừng bắt nạt kẻ yếu.)
71. Add fuel to the fire: Thêm dầu vào lửa.
72. After rain comes fair weather: Sau cơn mưa trời lại sáng.
73. As firm as rock: Vững như bàn thạch.
74. Behind the times: Lạc hậu
75. Better believe it: Cứ tin là vậy đi.
76. Better late than never: Thà muộn còn hơn không.
77. Bring home the bacon: Kiếm cơm nuôi gia đình.
78. Can’t top this/that: Không thể chê được.
79. Don’t poke your nose into my business: Đừng xía vào chuyện của tôi.
80. Don’t quit love with hate: Đừng lấy oán trả ơn.
81. Don’t scare him to death: Đừng làm nó sợ khiếp vía.
82. Every day is not Sunday: Sông có khúc người có lúc.
83. Give him the green light: Bật đèn xanh cho anh ta đi. (= Đồng ý cho anh ta)
84. Good finds good: Ở hiền gặp lành.
85. He lied at rest forever: Ông ta đã ra đi mãi mãi. (= He died/passed away.)
86. He/She is left on the shelf: Anh/Chị ta bị ế (vợ/chồng).
87. He/She is the man/woman of the world: Ông/Bà ta là người từng trải/già dặn.
88. I feel my age: Tôi nhận ra mình đã già.
89. I got a flat / a puncture on the way home: Tôi bị bể/thủng bánh xe trên đường về nhà.
90. I miss the point: Tôi không hiểu.
91. I’m a bit under the weather: I’m not quite well.
92. I’m on cloud nine / I’m in 7th heaven / I’m over the moon: Very happy
93. I’m out of job: Tôi mất việc rồi.
94. I’ve spent 15 years’ attachment to my company: Tôi đã gắng bó với công ty 15 năm.
95. It costs an arm and a leg: Very expensive
96. It looks yummy: Trông ngon lành quá (thức ăn).
97. It never rains but it pours: Họa vô đơn chí.
98. Kill two birds with one stone: Nhất cử lưỡng tiện.
99. Learn from experience: Rút kinh nghiệm.
100. Live and let live: Sống cho mình và sống cho người.
101. Makes haste slowly: Dục tốc bất đạt.
102. Misfortune has its uses: Trong cái rủi có cái may.
103. Money makes the mare go: Có tiền mua tiên cũng được.
104. My heart is in my mouth: Tôi sợ hết hồn.
105. Practice makes perfect: Có công mài sắt có ngày nên kim.
106. Speak by the book: Nói có sách mách có chứng.
107. Speak up: Nói to lên.
108. Speak your mind: Hãy nói những gì anh nghĩ.
109. That food makes my mouth water: Món ăn đó làm tôi thèm chảy nước dãi.
110. That’s a matter of life and death: Đó là vấn đề sống còn.
111. That’s only a floating part of an iceberg: Đó chỉ là phần nổi của tảng băng.
112. They are daring in thinking and doing: Họ dám nghĩ dám làm.
113. They fell flat to the ground: Họ bị đo đường (té xe).
114. This book sells like hot cakes: Quyển sách này bán đắt như tôm tươi.
115. Win a few, lose a few: Khi được, khi thua.
116. Without a doubt: Chắc chắn vậy/ Là cái chắc.
117. You and who else? Anh là cái thá gì vậy?
118. You got it: Đúng rồi.
119. You’ve made this mistake the zillionth time: Bạn mắc lỗi này không biết bao nhiêu lần.
120. You’ll be the death of me: Tôi khổ vì bạn quá.