Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Gửi cô bao nhiêu khi gửi con muộn
Em nhờ cô đưa bé về nhà trông, cô chỉ trông thôi chứ không cho ăn uống gì ạ. Nhà cô ở cạnh trường nên dẫn bé đi bộ về được. Ở trường thì cũng có dịch vụ trông bé muộn thì có 100k/tháng thôi ạ nhưng chỉ trông đến 6h thôi, em thì về muộn hơn nên ko gửi được ạ.
06:47 CH 28/02/2012
Ngày giờ sinh của các con và những điều phòng...
Chị cho em đăng ký số
2727

Con gái: 02/01/2008 AL, 08/02/2008 DL, 1h40' sáng (Mậu Tý)
Bố: 15/03/1983 AL - 27/04/1983 (Quý Hợi)
Mẹ: 05/10/1983 AL - 09/11/1983 DL (Quý Hợi)
Em cảm ơn chị nhiều ạ.
05:04 CH 25/10/2011
Bé bị tắc tuyến lệ
Các mẹ có kinh nghiệm có em xin ý kiến với. Bé nhà em 3 tuổi, bé có hiện tượng khi khóc xong mắt bên phải thì khô ngay còn mắt bên trái thì vấn bị ngấn nước. Bình thường (khi bé không khóc) thì hai mắt đều khô ráo và sạch sẽ. Em không biết như thế có phải bị tắc tuyến lệ không ạ. Em tìm hiểu thấy bảo tắc tuyến lệ là nước mắt cứ trào ra (kể cả không khóc).
08:36 SA 18/01/2011
Quí Hợi 1983 và hướng Đông Nam
Đặt hướng bếp chỉ hóa giả được 80%.
- Nếu hướng nhà bạn đo từ 162 - 170 thì nhà bạn thuộc hướng Nam (từ 157 đến 202) chứ không phải Đông Nam và cũng là một hướng xấu. Bếp nên đặt hướng Đông Bắc (từ 22 đến 62)
- Hướng Đông Nam có số đo là từ 112 đến 142. Khi đó bếp nên đặt hướng Tây Bắc (từ 292 đến 337)
09:07 SA 24/05/2010
Quí Hợi 1983 và hướng Đông Nam
Mình có hiểu biết chút không biết giúp gì cho bạn không.
mình không biết bạn là nam hay nữ, nếu bạn là nam thì cung của bạn là cung CẤN, nếu là nữ là cung ĐOÁI.
1. Đối với cung CẤN: hướng đông nam của bạn là TUYỆT MẠNG.
Bổn mạng phạm cung Tuyệt mạng có thể bị tuyệt tự, tổn hại con cái, không sống lâu, bịnh tật, thối tài, ruộng vườn súc vật bị hao mòn, bị người mưu hại (người hà bị mưu hại: thương nhơn khẩu). Ứng vào năm, tháng Tỵ, Dậu, Sửu.
2. Đối với cung ĐOÁI: hướng đông nam của bạn là LỤC SÁT
Nếu phương hướng nhà cửa phạm nhằm thì bị: mất của, cãi vã, hao mòn gia súc vườn ruộng, thương tổn người nhà. Ứng vào năm, tháng: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Nếu hướng nhà phạm vào hướng xấu, có thể dùng hướng bếp hóa giải (hướng bếp là hướng lưng người nấu) :
Nếu bạn là nam (hoặc nữ) nên xoay hướng bếp (lưng người nấu) về hướng đông bắc sẽ trừ được tà khí.
Chúc bạn thành công.
11:18 SA 21/05/2010
Ngõ Cụt
chị ơi, hãy vững tâm lên chị ạ, không thể sống tiếp với người chồng như thế được đâu, anh ta sẽ coi thường chị, biết là như thế sẽ thiệt thòi cho con nhưng em mong hai mẹ con sẽ tìm được một cuộc sống mới tốt đẹp, nhất định là như thế :Rose:
11:26 SA 14/07/2009
Sốt ở trẻ mọc răng hay sốt viêm màng não ? xin...
có Tũn nhà mình đây, 2 lần sốt mọc răng rồi ( hồi 6 tháng và 15 tháng) lần nào cũng 1 tuần liền. Hồi 6 tháng bé sốt lần đầu cả nhà lo quá cho vào viện, thử máu và khám thì bác sĩ bảo do mọc răng, lần thứ 2 cũng thế, mà sốt toàn 39 hoặc 40 độ, mình toàn nghe nói sốt mọc răng chỉ sốt nhẹ tầm 37 độ thôi, thế nên mới lo lắng. Mẹ nó nên xem lợi con xem có sưng, sờ có thấy cứng không. Nếu sốt viêm màng não thì trẻ có triệu chứng lơ mơ lúc đó phải cho đi viện ngay lập tức.
12:27 CH 25/06/2009
Thuốc tránh thai Exluton trong thời gian cho con...
Mẹ Bon dùng thử thuốc exluton xem, thuốc này dùng cho phụ nữ cho con bú, thuốc này ko cần có kinh trở lại mới uống đâu, mình có thể uống ngay vào thời điểm 6 tuần sau sinh (em đọc trong tờ hướng dẫn)
06:17 CH 08/05/2009
Sốt không rõ nguyên nhân
Bé nhà mình hồi 6 tháng cũng sốt đùng đùng có lúc lên hơn 40 độ cơ, vào viện bác sĩ khác họng, khám phổi, thử máu nhưng ko tìm ra nguyên nhân bé sốt vì sao. Bác sĩ chỉ cho bé nhà mình dùng viên nhét đít để hạ sốt thôi đồng thời lau người thường xuyên cho bé, sau mấy ngày thì tự nhiên khỏi.
Hiện tại bé nhà mình 12,5 tháng, đang sốt phát ban. Đầu tiên là sốt 5 ngày, sau đó hết sốt thì phát ban từ đầu xuống người rồi xuống chân, xuống đến chân thì ban cũng bay dần. Trong trường hợp này thì lúc sốt phải hạ sốt cho bé, lúc phát ban thì phải lau người thường xuyên cho bé để giữ da khỏi nhiễm trùng.
05:41 CH 26/02/2009
Phình đại tràng bẩm sinh
mẹ nó tham khảo link này các mẹ cũng đang bàn
http://www.webtretho.com/forum/showthread.php?t=6014
06:51 CH 19/02/2009
Download sách "Tâm lý trẻ con tuổi chập chững -...
To mẹ Micky_2008 và mẹ HoaLT: mình vừa lanh chanh gửi cho 2 mẹ 1 bản rồi đấy
11:23 SA 19/02/2009
bé bị còi xương!BS khuyên nên thuê y tá đến nhà...
mình cũng nghĩ là mẹ nó nên bổ sung vitamin D và 1 đợt canxi cho bé, chịu khó cho bé uống nhiều sữa và thức ăn giàu canxi 1 thời gian là ổn thôi. Lần đầu tiên mình nghe nói tới liệu pháp này đó nha.
11:37 SA 18/02/2009
Phình đại tràng bẩm sinh
các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng
1. X quang
- Chụp bụng không chuẩn bị tư thế đứng thẳng và nghiêng có thể cho các hình ảnh gợi ý nếu thấy đại tràng giãn và trực tràng không có hơi. Phim nghiêng có thể thấy rõ được trực tràng với vùng chuyển tiếp. Phim chụp bụng không chuẩn bị cũng có thể thấy hình ảnh mức nước hơi của tắc ruột hoặc hình ảnh bóng hơi thành ruột của biến chứng viêm ruột. Hình ảnh liềm hơi gặp trong các trường hợp có biến chứng thủng ruột. Trong các trường hợp này không được chụp đại tràng có bơm ba rít.
- Chụp đại tràng có cản quang tập trung vào vùng trực tràng và đại tràng xích ma với kỹ thuật tốt là phương pháp chẩn đoán có độ tin cậy cao. Không nên thụt tháo hoặc thǎm trực tràng trước vì có thể làm cho vùng chuyển tiếp bị thay đổi. Dùng một sonde mềm không có bóng luồn vào hậu môn đến ngang mức phía trên cơ thắt hậu môn. Bệnh nhân nằm nghiêng. Ba rít pha với huyết thanh ấm được bơm từ từ qua sonde, vừa bơm vừa quan sát dưới màn huỳnh quang. Trong trường hợp điển hình, thuốc đi từ trực tràng không giãn qua một đoạn chuyển tiếp hình phễu đến đoạn đại tràng phía trên giãn. Chụp một phim thẳng và một phim nghiêng. Phim nghiêng thường thấy rõ ba đoạn ruột có kích thước khác nhau: đoạn hẹp, đoạn chuyển tiếp và đoạn giãn.
Khi hình ảnh X quang không điển hình nên chụp lại phim bụng sau 24 giờ. Có thể nghĩ đến bệnh nếu sau 24 giờ thuốc còn đọng ở đại tràng. Cũng có thể cho bệnh nhân về nong hậu môn hàng ngày và chụp lại đại tràng có cản quang sau 2-3 tháng.
Khi bệnh có biến chứng viêm ruột, chụp đại tràng có cản quang thấy hình ảnh đại tràng co thắt, niêm mạc phù nề và loét, đoạn chuyển tiếp không rõ vì viêm làm cho chức nǎng của cơ bị thay đổi.
Độ chính xác của X quang trong chẩn đoán bệnh Hirschsprung từ 76%-92%, tùy theo báo cáo của từng tác giả.
2. Đo áp lực hậu môn trực tràng
Nếu ruột được chi phối thần kinh bình thường, khi bơm cǎng bóng đặt ở trực tràng, trực tràng đáp ứng tức thời bằng tǎng áp lực thoáng qua kéo dài từ 15-20 giây, cùng thời điểm ấy cơ tròn trong giãn ra làm cho áp lực của nó giảm xuống từ 15-20cm. Đây là phản xạ trực tràng-cơ thắt xảy ra ở người bình thường. Nǎm 1964, Callagan và Nixon thấy trong bệnh Hirschsprung, cơ tròn trong không giãn nở khi làm cǎng giãn trực tràng. Nhận xét này là cơ sở cho phương pháp chẩn đoán bệnh bằng đo áp lực hậu môn trực tràng.
ở trẻ lớn đo áp lực hậu môn trực tràng được coi là một phương pháp chẩn đoán bệnh chính xác nhưng đối với trẻ sơ sinh, còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau.
3. Sinh thiết trực tràng
Hình ảnh tổ chức học của một mảnh sinh thiết trực tràng được lấy đúng kỹ thuật không thấy có tế bào hạch thần kinh và có quá nhiều các sợi thần kinh không có myelin bao bọc là chẩn đoán quyết định bệnh Hirschsprung.
Swenson là người đầu tiên đề xuất kỹ thuật sinh thiết trực tràng để chẩn đoán bệnh. Kỹ thuật tiến hành như sau: Bệnh nhân đặt tư thế phụ khoa. Gây mê toàn thể. Nong hậu môn bằng hai van farabop nhỏ. Đặt một tampon có khâu một sợi chỉ dài vào trong lòng hậu môn. Đầu sợi chỉ để ngoài hậu môn. Khâu một số mũi vào niêm mạc hậu môn theo chiều dọc cho đến phía trên cơ tròn trong. Rạch niêm mạc theo chiều dọc giữa hai hàng chỉ khâu. Tách niêm mạc sang hai bên thành sau trực tràng khỏi lớp cơ. Bóc tách niêm mạc lên cao và đẩy ra phía trước. Lấy một mảnh thành trực tràng hình tam giác có đỉnh ở phía trên, dài khoảng 3-4cm, cách đường rǎng lược 1,5cm. Kiểm tra cầm máu và khâu lại niêm mạc bằng mũi rời.
Kỹ thuật được Lynn cải tiến như sau: Rạch niêm mạc khỏi da trên đường nối da-niêm mạc theo chiều ngang. Tách và đẩy niêm mạc ra trước. Bóc tách giải phóng thành sau trực tràng. Lấy một mảnh thành sau trực tràng. Cầm máu. Khâu lại niêm mạc với da rìa hậu môn. ở sơ sinh, mảnh sinh thiết phải lấy phía trên đường rǎng lược từ 1,5-2cm, ở trẻ lớn trên 4cm.
Sinh thiết trực tràng bằng phẫu thuật là kỹ thuật chẩn đoán chính xác nhưng là một thủ thuật gây sang chấn, đòi hỏi phải gây mê và có thể gây khó khǎn cho lần mổ triệt để vì dính, do vậy hiện nay đã bị thay thế bởi kỹ thuật hút sinh thiết trực tràng do Campbell và Noblett đề xuất nǎm 1969. Kỹ thuật được tiến hành với một dụng cụ đặc biệt do Noblett thiết kế gồm một ống có đầu tận cùng tù và kín với một lỗ bên có kích thước 3mm cách đầu tận cùng 1cm được nối với một bơm tiêm. Kỹ thuật tiến hành như sau: Bệnh nhân nằm tư thế phụ khoa hoặc nằm nghiêng, đùi gấp vào bụng. Đưa đầu của ống sinh thiết vào trực tràng sao cho lỗ bên của ống sinh thiết phải nằm cách rìa hậu môn 2,5cm ở sơ sinh và 3,5cm ở trẻ lớn để tránh sinh thiết phải vùng bình thường vẫn có ít tế bào hạch. Mảnh sinh thiết nên lấy từ thành bên hoặc thành sau trực tràng để tránh nguy cơ có thể làm thủng túi cùng trực tràng-âm đạo hoặc trực tràng-bàng quang.
Hút bơm tiêm với áp lực tối đa là 300mmHg. Sau 2-3 giây, bóp lưỡi dao cắt để cắt rời mảnh sinh thiết và rút ống sinh thiết ra ngoài. Mảnh sinh thiết phải bao gồm được lớp niêm mạc và dưới niêm mạc được nhẹ nhàng lấy khỏi ống sinh thiết sau đó được trải ra trên một miếng gạc bằng Teflon. Sau khi được cố định bằng focmalin, mảnh sinh thiết được xử lí bằng parafin và được cắt để soi như xử lí các tiêu bản thông thường. Kỹ thuật có ưu điểm là không cần phải gây mê và ít sang chấn nhưng đòi hỏi người đọc tiêu bản phải có kinh nghiệm.
4. Kỹ thuật chẩn đoán bệnh Hirschsprung bằng định lượng men acetylcholesnesterase là một tiến bộ đáng kể trong những nǎm gần đây. Nhiều công trình nghiên cứu đã thấy số lượng men acetylcholinesterase tǎng lên đáng kể trong các sợi thần kinh của lớp cơ niêm và lớp cân riêng của niêm mạc ở các bệnh nhân bị bệnh Hirschsrung. Ikawa thấy số lượng acetylcholin ở thành đại tràng bình thường là 8,51+3,15 nmol/g trong khi đó ở đại tràng vô hạch là 23,7+14,17 nmol/g.
Bensoussan so sánh các phương chẩn đoán bệnh Hirschsprung khác nhau đã cho thấy chụp X quang có độ chính xác 83%, sai lầm gặp trong các trường hợp vô hạch toàn bộ đại tràng và ở trẻ mới đẻ sau vài ngày. Đo áp lực trực tràng có độ tin cậy từ 85-95%, những trường hợp sai lầm gặp ở trẻ trước 15 ngày tuổi. Hút sinh thiết trực tràng được coi là phương pháp có mức độ chính xác cao với độ tin cậy đến 97%.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang vẫn là phương pháp chẩn đoán duy nhất. Chúng tôi cho rằng nếu chụp đại tràng với kỹ thuật tốt khi thấy rõ được 3 vùng khác nhau của đại tràng: vùng hẹp,vùng chuyển tiếp và vùng giãn, kết hợp với các triệu chứng lâm sàng đủ cho phép chỉ định mổ tuy nhiên cần sinh thiết trực tràng trong khi mổ để khẳng định chẩn đoán. Trong các trường hợp không thấy rõ ba vùng trên phim Xquang nên hướng dẫn cho gia đình bệnh nhân thụt tháo kết hợp với nong hậu môn hàng ngày và chụp lại đại tràng 3 tháng sau. Nếu sau khi chụp lần hai vẫn không thấy hình ảnh điển hình nhưng bệnh nhân vẫn có triệu chứng táo bón thì cần phải xem xét đến khả nǎng táo bón do các nguyên nhân khác. Chỉ nên sinh thiết trực tràng khi đã loại trừ được tất cả các nguyên nhân khác gây táo bón.
Hiện nay tại Viện Nhi, chúng tôi đã áp dụng kỹ thuật hút sinh thiết trực tràng để chẩn đoán bệnh Hirschsprung.
Các hình thái giải phẫu lâm sàng đặc biệt
Ngoài thể vô hạch trực tràng hoặc trực tràng với đại tràng xích ma có hoặc không kèm theo một phần đại tràng trái, các thể giải phẫu lâm sàng khác có thể gặp là:
- Thể vô hạch toàn bộ đường tiêu hóa. Đây là hình thái rất hiếm gặp. Nói chung các bệnh nhân đều chết.
- Vô hạch toàn bộ đại tràng hoặc toàn bộ đại tràng kèm theo một phần hồi tràng.
Về đại thể: đại tràng có đường kính bình thường hoặc hơi nhỏ hơn bình thường. Hồi tràng giãn to,thành dày. Khi vô hạch toàn bộ đại tràng kèm theo một phần hồi tràng, đoạn hồi tràng vô hạch cũng có đường kính bình thường.
Về triệu chứng: đa số trường hợp biểu hiện ngay ở sơ sinh bằng các triệu chứng của tắc ruột thấp: nôn dịch vàng, không ỉa phân su, bụng chướng có quai ruột nổi. Chụp bụng không chuẩn bị có nhiều mức nước và hơi. Các trường hợp đến muộn thường biểu hiện bằng tình trạng viêm ruột nặng.
Chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang thấy manh tràng nằm cao, đại tràng có đường kính đồng nhất, co ngắn,không có trương lực và có hình dáng như dấu chấm hỏi. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào đo áp lực trực tràng hoặc sinh thiết trực tràng. ở nước ta, đa số các trường hợp được chẩn đoán trong mổ trước bệnh cảnh của một tắc ruột non.
- Thể vô hạch cực ngắn hay phình to trực tràng bẩm sinh.
Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là táo bón nhẹ, kéo dài và són phân. Khám hậu môn thấy hậu môn ở vị trí bình thường, thǎm trực tràng thấy hậu môn và trực tràng bình thường.
Chụp trực tràng và đại tràng xích ma thấy bóng trực tràng giãn to, không thấy đoạn hẹp và đoạn chuyển tiếp. Phương tiện chẩn đoán chính xác là đo áp lực trực tràng không thấy có phản xạ trực tràng - cơ thắt
11:28 SA 18/02/2009
Phình đại tràng bẩm sinh
Bệnh Hirschsprung còn có tên gọi khác như bệnh vô hạch bẩm sinh "congenital aganglionois", phình đại tràng bẩm sinh "congenital megacolon", phình đại tràng do vô hạch "aganglionic megacolon". Bệnh khá phổ biến ở trẻ em với tỉ lệ khoảng 1/5000 trẻ. Bệnh gặp ở con trai nhiều hơn con gái với tỉ lệ 4/1. Thống kê tại Viện Bảo Vệ Sức Khoẻ Trẻ Em trong 10 nǎm (1981-1990) cho thấy đã có 1751 trường hợp bệnh Hirschsprung được phẫu thuật, chiếm hàng đầu trong các bệnh lí ngoại khoa.
Bệnh Hirschsprung là một dị tật đặc trưng bởi tắc ruột hoàn toàn hoặc không hoàn toàn do không có tế bào hạch thần kinh ở đoạn cuối ống tiêu hóa và lan rộng lên phía trên ở các mức độ khác nhau. Đoạn vô hạch thường ở trực tràng và đại tràng xích ma nhưng có thể lên đến hết đại tràng, một phần ruột non và thậm chí kéo dài từ trực tràng cho đến tá tràng.
Bệnh còn có tên gọi khác như bệnh vô hạch bẩm sinh "congenital aganglionois", phình đại tràng bẩm sinh "congenital megacolon", phình đại tràng do vô hạch "aganglionic megacolon". Thuật ngữ "phình đại tràng bẩm sinh" thường được dùng trong y vǎn tiếng Việt trước đây là một thuật ngữ không thật chính xác vì không chỉ rõ bản chất vô hạch của bệnh và không bao gồm được các trường hợp đoạn vô hạch chiếm hết đại tràng hoặc cao hơn nữa.
Mặc dù "vô hạch đường tiêu hóa bẩm sinh" là thuật ngữ chính xác nhất để chỉ bản chất của bệnh nhưng do thuật ngữ "bệnh Hirschsprung" đã được quen dùng, nhất là trong y vǎn tiếng Anh, vì vậy chúng tôi đề nghị sử dụng thuật ngữ này trong y vǎn tiếng Việt.
Bệnh Hirschsprung khá phổ biến ở trẻ em với tỉ lệ khoảng 1/5000 trẻ. Bệnh gặp ở con trai nhiều hơn con gái với tỉ lệ trai/gái = 4/1. Thống kê tại Viện Bảo Vệ Sức Khỏe Trẻ Em trong 10 nǎm (1981-1990) cho thấy đã có 1751 trường hợp bệnh Hirschsprung được phẫu thuật, chiếm hàng đầu trong các bệnh lí ngoại khoa.
lịch sử
Nǎm 1886, Hirschsprung - một thầy thuốc người Đan Mạch lần đầu tiên đã trình bày hình ảnh lâm sàng của bệnh tại Hội nghị Nhi khoa ở Berlin với báo cáo mang tiêu đề "Táo bón ở sơ sinh do giãn và phình đại tràng". Valle là người đầu tiên mô tả hình ảnh bất thường của bệnh với sự vắng mặt hoàn toàn của các tế bào hạch thần kinh ở đại tràng xích ma nǎm 1920. Nǎm 1940, Ehreinpres đã quan sát thấy rối loạn nhu động ruột xuất hiện ở 10 trẻ bị bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Cũng chính tác giả này nǎm 1946 đã xác định giãn đại tràng là một thương tổn thứ phát do rối loạn nhu động của đại tràng ở phía cuối thay vì là một tổn thương tiên phát.
Từ nǎm 1946 - 1948, ba nhóm nghiên cứu khác nhau đã xuất bản các báo cáo xác nhận sự vắng mặt của các tế bào hạch trong đám rối dưới niêm mạc và cơ ruột như là thương tổn đầu tiên của bệnh: Whitehouse và Kernohan đã báo cáo 11 trường hợp không có đám rối thần kinh ở đám rối cơ ruột; Bodian, Stephens và Ward xác định đoạn đại tràng hẹp là do không có tế bào hạch; Swenon và Bill lần đầu tiên đề nghị sinh thiết trực tràng để chẩn đoán.
Lịch sử điều trị bệnh bắt đầu từ nǎm 1948 khi Swenson và Bill đề xuất kỹ thuật mổ cắt bỏ đoạn đại tràng vô hạch và nối đại tràng lành phía trên với ống hậu môn. Kể từ đó đến nay, nhiều kỹ thuật mổ và nhiều cải tiến khác nhau đã được nghiên cứu và giới thiệu, trong đó kỹ thuật của Duhamel (1956), kỹ thuật Rehbein (1963), và kỹ thuật Soave (1963) là những đóng góp quan trọng.
sinh bệnh học
Nguyên nhân gây bệnh ngày nay đã được xác định là do các tế bào của mào thần kinh đã ngừng di chuyển xuống phía dưới đường tiêu hóa. Các tế bào hạch thần kinh của ruột xuất phát từ các tế bào mào thần kinh của dây X. ở thai người, các nguyên bào thần kinh có nguồn gốc từ mào thần kinh xuất hiện đầu tiên ở thực quản vào tuần thứ 5 và sau đó di chuyển xuống ống hậu môn theo chiều đầu-đuôi từ tuần lễ thứ 5 đến tuần lễ thứ 12. Các tế bào của mào thần kinh trước hết hình thành các đám rối cơ ruột ngay ở ngoài lớp cơ vòng. Lớp cơ dọc có nguồn gốc từ trung mô được hình thành vào khoảng tuần lễ thứ 12 làm cho đám rối thần kinh cơ ruột bị kẹp giữa hai lớp cơ.
Sau khi quá trình di chuyển từ đầu xuống phía đuôi kết thúc, đám rối dưới niêm mạc được hình thành do các nguyên bào thần kinh di chuyển từ đám rối cơ ruột qua lớp cơ vòng vào lớp dưới niêm mạc và niêm mạc. Quá trình này xảy ra từ tuần thứ 12-16.
Sự vắng mặt các tế bào hạch thần kinh trong bệnh Hirschsprung là do các tế bào của mào thần kinh đã không di chuyển hết. Hiện tượng này xảy ra càng sớm thì đoạn vô hạch càng dài.
Có ba đám rối thần kinh khác biệt nhau ở trong thành ruột. Đám rối Auerbach hoặc đám rối cơ ruột nằm giữa lớp cơ vòng và cơ dọc. Đám rối Healen (đám rối sâu dưới niêm mạc) nằm dưới niêm mạc, phía trong của lớp cơ vòng. Đám rối Meissner (đám rối nông dưới niêm mạc) nằm ngay dưới lớp cơ niêm.
Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu tại sao trong bệnh Hirschsprung các nguyên bào thần kinh lại ngừng di chuyển bất thường về phía cuối đường tiêu hóa. Một số nghiên cứu thấy rằng vô hạch đường tiêu hóa có thể là do những thay đổi về môi trường vi mô. Fujimoto và cộng sự thấy quá trình sinh thần kinh của ruột phụ thuộc vào các chất cơ bản ngoài tế bào. Fibronectin và acid hyaluronic cung cấp đường di chuyển cho các tế bào xuất phát từ mào thần kinh trong đường tiêu hóa đang phát triển, lamini và collagen típ IV làm tǎng trưởng và trưởng thành các sợi trục của các tế bào xuất phát từ mào thần kinh.
Các chất cơ bản ngoài tế bào bị hư biến trong giai đoạn sớm của thời kì bào thai có thể làm cho quá trình di chuyển của các tế bào xuất phát từ mào thần kinh đến vị trí cuối cùng bị ngừng trệ và gây nên bệnh Hirschsprung hoặc làm cho các hạch thần kinh ruột phát triển bất thường gây nên loạn sản thần kinh ruột.
Một số nghiên cứu khác cho thấy nguyên nhân gây bệnh có liên quan đến gene. Tỉ lệ các trường hợp bị bệnh có tính cách gia đình từ 3,6%- 7,8% theo các thống kê khác nhau. Tỉ lệ này lên đến 21% trong thể vô hạch toàn bộ đại tràng và 50% trong thể vô hạch toàn bộ đường tiêu hóa. Các nghiên cứu gần đây cho thấy nhiều trường hợp bị bệnh có các rối loạn của nhiễm sắc thể số X và XIII.
hình ảnh giải phẫu bệnh
1. Hình ảnh đạI thể
Hình ảnh đại thể của bệnh Hirschsprung là đoạn ruột phía trên giãn to, thành dày rồi nhỏ dần hoặc chuyển tiếp đột ngột đến đoạn ruột phía dưới có kích thước nhỏ hơn bình thường. Vùng chuyển tiếp có hình dáng đặc biệt giống như chiếc phễu. Thành ruột phía trên đoạn vô hạch dày do cơ phì đại, phù nề. Cả kích thước và chiều dài của ruột đều tǎng. Mức độ giãn của ruột và phì đại cơ thành ruột phụ thuộc vào tuổi của bệnh nhân khi đến khám. ở sơ sinh, ruột giãn ít, thành ruột dày không đáng kể nhưng ở trẻ lớn, ruột ở phía trên đoạn vô hạch giãn to, có trường hợp giãn đến 20cm, thành ruột rất dày hầu như không có nhu động. Phân có thể tích tụ thành khối rắn chắc trong lòng đại tràng bị giãn. Niêm mạc ruột có thể bị loét hoặc bị có các ổ áp xe nhỏ.
Đoạn ruột không có tế bào thần kinh phía dưới chỗ chuyển tiếp có kích thước nhỏ hơn bình thường, không có nhu động. ở sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, đoạn chuyển tiếp có thể không rõ ràng nên khó phân định được ranh giới giữa đoạn ruột có tế bào hạch thần kinh và đoạn vô hạch.
2. Vi thể
Thương tổn tổ chức học đặc trưng của bệnh là không có các tế bào hạch thần kinh ở dưới niêm mạc và ở giữa các lớp cơ cùng với sự có mặt của các thân thần kinh phì đại, không có myelin ở các vị trí bình thường là của các tế bào hạch.
Không có tế bào hạch thường khu trú ở trực tràng nhưng có thể lan rộng lên trên đến hết đại tràng, ruột non và thậm chí đến môn vị. 75% bệnh nhân có đoạn vô hạch khu trú ở trực tràng hoặc ở trực tràng và một phần đại tràng xích ma, 17% đoạn vô hạch có thể đến hết đại tràng xích ma, góc lách hoặc một phần đại tràng ngang, 8% vô hạch toàn bộ đại tràng và một phần ruột non. Vô hạch toàn bộ đường tiêu hóa từ trực tràng đến tá tràng rất hiếm gặp. Đoạn chuyển tiếp có ít tế bào hạch, đoạn vô hạch có thể lan đến vùng chóp của đoạn giãn.
Mặc dù đã có báo cáo về các trường hợp vô hạch trực tràng nhưng vẫn có tế bào hạch thần kinh ở đoạn cuối trực tràng, tuy nhiên đa số tác giả không thấy có hiện tượng này. Sieber cho rằng trong bệnh Hirschsprung, phân bố tế bào hạch thần kinh tuân theo quy luật "tất cả hoặc không", tức là các tế bào hạch thần kinh hoặc là vắng mặt hoặc là có mặt toàn bộ ở đoạn ruột từ hậu môn đến nơi ruột bình thường (có tế bào hạch). Điều này có nghĩa là không có các vùng đệm (không có đoạn ruột vô hạch nằm giữa hai đoạn lành và ngược lại), vì vậy, khi sinh thiết trực tràng thấy có các tế bào hạch thần kinh thì có thể loại trừ được bệnh.
ở đại tràng bình thường, khi nhuộm acetylcholenesterase thấy hạch thần kinh và các sợi thần kinh ở trong cả hai lớp cơ vòng và cơ dọc. Còn khi nhuộm đoạn ruột không có tế bào hạch thần kinh sẽ thấy số lượng các sợi thần kinh có kích thước tǎng lên trong lớp cơ niêm, trong lớp cân riêng của niêm mạc (lamina propria).
Nhiều nghiên cứu tổ chức học cho thấy men acetylcholenesterase tǎng lên trong đoạn đại tràng vô hạch, tǎng cao nhất ở đoạn cuối và dường như ít khi tǎng ở gần vùng có tế bào hạch thần kinh. Đây là cơ sở cho phương pháp chẩn đoán bệnh bằng sinh hóa tổ chức.
sinh bệnh lí
Nhu động của đại tràng bao gồm một động tác co thắt xảy ra sau một động tác giãn. Hoạt động cơ được điều hòa bởi chi phối thần kinh nội tạng của ruột bao gồm các sợi kích thích tiết acetylcholin và các sợi ức chế tiết adrenalin. Trong bệnh Hirschsprung, do không có hệ thống thần kinh cơ ruột chức nǎng ở đoạn ruột bị bệnh nên đoạn này bị co thắt thường xuyên và không còn nhu động. Kết quả này là do rối loạn của thần kinh tiết acetylcholin (tác dụng đẩy) cũng như thiếu ức chế thần kinh tiết adrenalin và không tiết adrenalin.
Do không có nhu động ở đoạn ruột cuối nên phân bị ứ đọng lại ở đoạn ruột trên làm cho đoạn ruột phía trên bị giãn dần. Thành ruột phía trên tǎng cường nhu động để cố gắng vượt qua cản trở ở phía dưới nên cơ thành ruột bị phì đại. Phân bị tích tụ ở phía trên lâu ngày làm cho trẻ bị "ngộ độc phân", suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất. Các biến chứng như vỡ đại tràng, viêm ruột có thể xảy ra do ứ đọng phân và ruột bị giãn nặng.
lâm sàng
80%-90% các trường hợp, bệnh nhân có các biểu hiện ngay ở thời kì sơ sinh. Chậm ỉa phân su là triệu chứng chủ yếu ở sơ sinh. Swenson trong một nghiên cứu gồm 501 bệnh nhân đã thấy 94% bệnh nhân có chậm ỉa phân su sau 24 giờ. Tác giả cho rằng cần phải nghĩ đến bệnh Hirschsprung nếu một trẻ sơ sinh khỏe mạnh sau 48 giờ vẫn không có phân su.
Biểu hiện của bệnh ở sơ sinh thường là biểu hiện của một tắc ruột thấp với không ỉa phân su, bụng chướng và nôn. Khi thǎm trực tràng bằng ngón tay út, phân su được tống ra ào ạt sau đó bụng bệnh nhân hết chướng.
Trong thực tế bệnh nhân có thể đến viện với một trong nǎm hình thái sau :
1. Tắc ruột hoàn toàn ở sơ sinh với các biểu hiện không ỉa phân su, nôn, bụng chướng. Chụp bụng không chuẩn bị có các biểu hiện của tắc ruột. Khi thǎm trực tràng bằng ngón tay út, phân su được tống ra ào ạt, các triệu chứng của tắc ruột hết. Các bệnh nhân này có thể có nhu động ruột bình thường trong vài ngày hoặc vài tuần sau nhưng sau đó các triệu chứng của tắc ruột lại xuất hiện. Một số trẻ có thể có các biến chứng nặng như thủng ruột hoặc viêm ruột nhiễm độc, nhiễm trùng máu và có thể tử vong. Các trẻ có đoạn vô hạch cao, khi thǎm trực tràng thấy có ít phân su và các biểu hiện tắc ruột không hết sau khi thǎm trực tràng.
2. Trẻ chậm ỉa phân su, tiếp theo các đợt tắc ruột tự hết hoặc hết sau khi thụt tháo. Trẻ ốm yếu với các đợt tắc ruột tái diễn.
3. Trẻ bị táo bón nhẹ trong vài tuần đầu hoặc vài tháng sau khi sinh, sau đó táo bón nặng hơn dẫn đến tắc ruột.
4. Táo bón nhẹ từ đầu nhưng đột nhiên có các đợt viêm ruột với các biểu hiện ỉa chảy, phân thối khắm, bụng chướng, sốt, mệt lả.
5. Táo bón nhẹ là dấu hiệu duy nhất.
Trong loạt nghiên cứu của Swenson, 94% bệnh nhân có chậm ỉa phân su sau 24 giờ, 3,4% có thủng ruột ở sơ sinh, 5% chỉ có táo bón, 44% có kết hợp táo bón với nôn và ỉa chảy, 17,3% có táo bón kết hợp với chướng bụng và 16,1% có kết hợp táo bón, nôn, ỉa chảy và chướng bụng.
11:27 SA 18/02/2009
Phình đại tràng bẩm sinh
Mình có link này, mẹ nó tham khảo xem nhé
http://hoasutrang.lifeme.net/forum-f18/topic-t76.htm
11:17 SA 18/02/2009
Mắt con tôi có nhiều ghèn/ nhử
Tắc tuyến lệ là hiện tượng mắt bị ứ nước, nhất là khi bé khóc nước mắt không tiêu được bị ứ trong mắt, tắc tuyến lệ lâu cũng gây nên có ghèn. Mẹ nó nên nhỏ nước muối sinh lý vào mắt cho bé sau đó day dây ở khoé mắt rồi vuốt xuống sống mũi (mục đích là làm tiêu cặn bẩn gây tắc tuyến lệ) kiên trì mẹ nó nhé, có bé day 1 mấy ngày là khỏi, có bé phải 2 tháng. Còn nếu bé có ghèn mà không có nước mắt úng trong mắt thì mình nghĩ là bé bị viêm, cái này chắc phải dùng thuốc nhỏ mắt.
10:19 SA 18/02/2009
Các loại tiêm phòng?
Mình cũng quan tâm vấn đề này
10:17 SA 11/02/2009
Mua Exluton ở đâu?
mình toàn mua ở chỗ ngã tư chỗ chợ Trung Hoà - đường Trần Duy Hưng, hình như hiệu thuốc đó ở 26 Trần Duy Hưng, nói chung là đối diện chợ Trung Hoà sang bên kia đường (chỗ ngã tư), giá là 12k/ 1 vỉ các mẹ ạ.
05:56 CH 06/02/2009
Cách tránh thai an toàn sau khi sinh bé
Có Exluton đấy. Nhưng mà cóc mua được, mua ở mấy cái hàng thuốc dốc PSHN cũng ko có nên vẫn cho chồng treo niêu :p

Cửa hàng thuốc hình như ở 26 Trần Duy Hưng có bán đấy mẹ nó à, hàng thuốc chỗ ngay ngã tư chợ Trung Hoà ý nhé (phía bên kia đường)
05:35 CH 06/02/2009
Viêm tai giữa
Các mẹ ơi, làm thế nào để biết trẻ bị viêm tai giữa, dấu hiệu như thế nào hả các mẹ, mách em với.

Mình không nhớ đọc ở đâu đó có nói cách để nhận biết trẻ có bị viêm tai giữa không: lấy ngón tay bịt lỗ tai trẻ sau đó búng vào vành tai, nếu trẻ bị VTG thì sẽ rất đau mà khóc thét.
11:04 SA 12/01/2009
t
Tũn còi
Bắt chuyện
719Điểm·1Bài viết
Báo cáo