Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Trào ngược dạ dày thực quản, giúp em với
bạn có thể tìm thấy thông tin mình cần ở đây
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=203&Itemid=32
05:56 CH 21/10/2009
Sỏi mật
Bạn có thể tìm thấy thông tin mình cần ở đây nè
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=219&Itemid=35
06:10 CH 18/10/2009
Viêm gan siêu vi B
Bạn vào đây xem nhé, có cả triệu chứng, điều trị lẫn cách dự phòng.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=250&Itemid=35
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=239&Itemid=35
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261
06:08 CH 18/10/2009
Men tiêu hoá Biolactovin của viện công nghệ sinh...
Nuôi con ai cũng muốn con khỏe, ngoan, ăn uống ngon lành. Khi thấy con biếng ăn thì rất sốt ruột tìm mọi cách để con tin được nhiều hơn, trong đó men tiêu hóa được dùng phổ biến. Men tiêu hóa là một hỗn hợp các enzym khác nhau có tác dụng chuyển hóa các thức ăn, chủ yếu là phân giải các chất protein, cacbohydrát và chất béo thành những phân từ nhỏ hơn, dễ hấp thu hơn. Ở trẻ khỏe mạnh bình thường ngay từ miệng với men Amylase và Ptyalin ít ống nước bọt, đến dạ dày có men Pepsin rồi tụy có nhìn Trypsin, mật được gan bài tiết. Tất cả tham gia vào hệ tiêu hóa để tiêu hóa thức ăn, làm cho cơ thể hấp thu tốt các chất dinh dưỡng. Khi trẻ biếng ăn thì ngoài việc tìm nguyên nhân để giải quyết còn cho trẻ dùng thêm men tiêu hóa được chế biến dưới dạng thuốc như Pepsin, Neopeptin... giúp trẻ tiêu hóa thức ăn tốt hơn vì thế trẻ ăn được nhiều hơn. Nhưng nếu lạm dụng men tiêu hóa kéo dài sẽ làm rất ống tiêu hóa giảm khả năng bài tiết các men tiêu hóa tự nhiên và có thể phải phụ thuộc vào thuốc suốt đời này là một điều không tốt cho cơ thể trẻ. Như vậy dùng men tiêu hóa kéo dài thì tuyến tiêu hóa bị ức chế, teo và giảm bài tiết.

05:25 CH 22/09/2009
Bé bú bao nhiêu sữa thì đủ?
Thời gian cho bé bú chỉ cần khoảng 10 phút, cho bé bú cả 2 bên vú là 10 phút.
Trong 2 phút đầu, bé có thể bú được 50% tổng lượng sữa. từ 2-3 phút sau có thể bú đến 30% - 40% tổng lượng sữa. Tóm lại trong 5 phút đầu tiên, bé có thể bú được 80% - 90% lượng sữa một bên vú.
Ta có thể thấy không phải thời gian cho bé bú càng dài thì sữa bú vào càng nhiều. Nhưng 5 phút về sau cũng không phải là thừa vì xét từ góc độ sinh vật học, nó có thể kích thích đầu vú nhiều hơn, xúc . tiến phóng thích hoặc môn thúc sữa, kích thích tiết sữa. Ngoài ra, người mẹ cho con bú còn tăng thêm tình cảm giữa mẹ và con. Nhưng thời gian cho con bú quá dài sẽ không có lợi cho sức khoẻ của bé. Vì cho bú lâu, bé có thể hít vào nhiều không khí dễ xảy ra nôn mửa. Từ phân tích thành phần trong sữa cho ta thấy, bé bú lần đầu tiên lượng sữa có nồng độ prôtêin tương đối cao, hàm lượng mỡ thấp. . . Nếu cho bé bú lâu theo đà kéo dài của thời gian đó, nồng độ mỡ trong sữa cao lên, hàm lượng prôtêin hạ thấp, vì vậy thời gian bú quá dài dễ gây cho bé tình trạng rối loạn tiêu hoá.
Đầu vú của mẹ bị bé ngậm quá lâu, da đầu vú dễ bị tổn thương hoặc loét, ảnh hưởng đến việc tiếp tục cho con bú và tạo điều kiện cho cơ hội cảm nhiễm vú.
www.benhhoctieuhoa.com
05:32 CH 15/09/2009
Bị nhức khi lấy tủy răng
Đó là hiện tượng chưa diệt hết tủy, nếu trám luôn vào càng gây đau nhức, bạn cần tái khám bác sỹ hoặc khám bác sỹ khác để được điều trị tủy triệt để trước khi hàn răng.
www.benhhoctieuhoa.com
06:44 CH 08/09/2009
Cấp cứu, Bệnh xương khớp.
bạn nên đưa vợ tới khám tại khoa xương khớp bệnh viện bạch mai
www.benhhoctieuhoa.com
06:40 CH 08/09/2009
Đi tiểu buốt, thường xuyên buồn tiểu, các chị...
Nhiều khả năng đó là viêm đường tiết niệu và cả viêm phần phụ, bạn cần điều trị sớm tránh để kéo dài dễ có các biến chứng xảy ra.
www.benhhoctieuhoa.com
06:02 CH 08/09/2009
Có Bố Mẹ nào biết bài thuốc trị Viêm Gan B kg?
Hiện tại có khá nhiều thuốc tốt có thể điều trị viêm gan virus b với các tín hiệu khả quan, bạn không nên cố tìm thuốc đông y mà không mang lại hiệu quả, có thể có nhầm lẫn hoặc có yếu tố gì đó làm cho bố bạn chưa đáp ứng với thuốc điều trị. bạn có thể tham khảo thêm thông tin tại đây, hy vọng sẽ giúp ích cho bạn
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=239&Itemid=35
www.benhhoctieuhoa.com
06:01 CH 08/09/2009
Trào ngược dạ dày thực quản, giúp em với
Các mục tiêu của việc điều trị một bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản là : (1) làm mất triệu chứng của bệnh nhân; (2) chữa lành tình trạng viêm thực quản nếu có; (3) ngăn ngừa trít hẹp, sước trợt niêm mạc và loét tái phát; (4) duy trì hiệu quả điều trị. Do đó cho đến nay có rất nhiều thuốc được đưa vào sử dụng để điều trị.
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một vấn đề lâm sàng rất thường gặp, đó là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên các chất từ dạ dày lên thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà cũng có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Triệu chứng của bệnh có một số biểu hiện như nóng rát, ợ chua, ợ khan, ợ hơi, đầy bụng, sôi bụng, ấm ách, ăn mau no…nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định chính xác song có một số yếu tố hay được nhắc đến đó là sự rối loạn trương lực cơ vòng thực quản, rối loạn trương lực co bóp dạ dày, ngoài ra còn một số yếu tố khác nữa như thiếu hụt dịch vị và enzym tiêu hoá làm thay đổi môi trường pH trong dạ dày đặc biệt là sự tăng tiết HCl.. bệnh được chẩn đoán dựa vào khám lâm sàng, nội soi và chụp xạ hình. Với mục tiêu điều trị như trên, hiện nay có một số nhóm thuốc sau được đưa vào sử dụng:
1. Nhóm thuốc điều hoà vận động
- Metoclopramid (biệt dược Primperan, Anausin) viên 10mg. Tác dụng trung ương vào vùng lẩy cò và có tác dụng lên các lớp cơ ống tiêu hoá. Nó làm gia tăng vận động, thúc đẩy mở môn vị. Dẫn đến làm vơi dạ dày từ đó làm giảm trào ngược dạ dày thực quản. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ và tăng trương lực ngoại tháp.
Liều dùng: 1 viên/ lần x 3 lần/ ngày, dùng trước các bữa ăn.
Trẻ em bằng nửa liều người lớn, có thể dùng đường hậu môn bằng các viên đạn với liều lượng 0,5 mg/ kg cho trẻ em trên 20 kg.
- Domperidon (biệt dược Motilium, Peridy):viên nén 10mg, dịch treo uống 1mg/ml, thuốc đạn 10 và 30mg. Đây là thuốc kháng Dopaminergic ngoại biên, nó cố định vào thụ thể D2 ngoại biên và không qua hàng rào máu não. Có tác dụng làm tăng áp lực cơ vòng đoạn dưới thực quản do đó làm tăng sự vơi dạ dày dẫn đến làm giảm trào ngược.
Liều lượng : 3 – 6 viên/ ngày, uống trước khi ăn, chia 3 lần trong ngày. Đối với trẻ em nên dùng loại nhũ dịch với liều 1,25 - 2,5mg/ kg/ ngày. Thuốc chống chỉ định với chảy máu dạ dày ruột, tắc ruột hoặc người có nguy cơ thủng ở ống tiêu hóa.
- Sulpirid ( biệt dược Dogmatil) viên 50mg, có tác dụng làm gia tăng trương lực đoạn dưới cơ vòng thực quản, nó cũng có tác dụng vàp hệ thần kinh trung ương như các thuốc ngủ, do đó có tác dụng phụ là buồn ngủ, gây hội chứng ngoại tháp, chảy sữa, bất lực, vú phụ. Liều thường dùng 100 - 300mg/ ngày bằng đường uống.
Metopimazin ( biệt dược Vogalen): viên bọcđường 2,5mg; thuốc giọt 0,1mg/giọt, thuốc đạn 5mg, thuốc tiêm 10mg/ml. Đây là thuốc chống nôn kháng tiết Dopamin có tác dụng chọn lọc trên khu vực lẩy cò hóa học của não thất IV. Thuốc có tác dụng làm thay đổi vận động ống tiêu hóa nhưng không làm tăng sự vơi dạ dày do đó nó không làm cản trở sự hấp thu tiêu hóa cao của các thuốc phối hợp.
Liều 5 – 15 mg/ ngày dùng đường uống, tiêm bắp hoặc đặt hậu môn.
Trẻ sơ sinh 1mg/ kg/ ngày uống trước khi ăn.
- Ngoài ra trong một số trường hợp đặc biệt, tuỳ theo tình trạng bệnh cảnh lâm sàng mà có thể dùng một số thuốc khác như Alizaprid (biệt dược Plitican, viên 50 mg), Anzemet (biệt dược Dolasetron, viên 200mg ống 100mg), Zelmac viên 6mg.
2.Nhóm thuốc làm giảm tác động có hại của trào ngược
- Các thuốc tạo màng ngăn dạ dày - thực quản :
+ Alginat (biệt dược Gaviscon, Topaal): acid Alginic khi tiếp xúc với HCl sẽ tạo thành một lớp bọt nổi lên trên dịch vị. Trong trường hợp trào ngược nhờ lớp gel này sẽ bảo vệ cho niêm mạc thực quản khỏi bị tác động của acid dạ dày. Liều sử dụng 2 thìa cà phê sau mỗi bữa ăn và trước lúc đi ngủ.
+ Dimeticol (gel polysilan) là một chất bảo vệ niêm mạc tương tự như trên
- Nhóm thuốc có tác dụng bảo vệ niêm mạc: Sucralfat gắn với protein tạo hàng rào bảo vệ niêm mạc dạ dày thực quản chống lại các tác nhân từ dạ dày. Thường chỉ định Sucralfat trong các trường hợp bệnh trào ngược vừa đến nặng. Sucralfat dạng viên nén 1g, uống ngày 4 viên trước bữa ăn và lúc đi ngủ, tránh dùng antacid hoặc kháng histamin H2 30 phút trước hoặc sau khi uống Sucralfat.
- Ngoài ra còn sử dụng các thuốc kháng acid (Maalox, Phosphalugel..), thuốc kháng thụ thể H2 ( như Cimetidin, Ranitidin, Nizatidin, Famotidin) hoặc thuốc ức chế bơm proton (như Omeprazol, Lansoprazol, Pantoprazol, Rabeprazol, Esomeprazol) tuỳ theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Hiện nay việc điều trị với thuốc ức chế bơm proton đạt thành công nhất, trong đó có khoảng nửa số bệnh nhân có thể duy trì sự thành công chỉ cần điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton cách ngày hoặc dùng một loại kháng thụ thể H2. Đặc biệt, bên cạnh việc dùng thuốc thì việc duy trì chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, mỗi bữa không nên ăn quá nhiều, nên ăn làm nhiều bữa, 4 – 5 bữa mỗi ngày, mỗi bữa ăn ít một; không nên ăn chất lỏng, nên ăn đặc, khô; sau khi ăn không nên nằm nhiều, ngồi ở tư thế cúi ra phía trước ... nằm ngủ ở tư thế đầu dốc cao; Bỏ hẳn một số thức ăn làm giảm trương lực cơ vòng : Socola, thuốc lá, cà phê, chất mỡ, nước khoáng có hơi; Ăn chậm, nhai nát kỹ, tránh nuốt hơi vào dạ dày; không được dùng một số thuốc làm giảm trương lực cơ vòng dưới thực quản như Estrogen, Progesteron, Anticholinergic, Barbituric, ức chế calci, Diazepam, Theophylin. Chỉ phẫu thuật khi điều trị nội khoa không khỏi và khi có biến chứng nặng nề.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=203&Itemid=32
www.benhhoctieuhoa.com
06:02 CH 05/09/2009
Men gan đã hạ, em có cần uống thuốc?
Trước hết xin nói với bạn rằng lamivudin là một trong các thuốc kháng virus chứ không phải kháng sinh.
Thứ hai, thời gian điều trị bằng lamivudin tối thiểu 12 tháng, nếu dừng thuốc đột ngột có thể làm viêm gan cấp
Thứ ba tỷ lệ kháng thuốc và tái phát sau dừng thuốc khi dùng lamivudin khá cao
thứ tư tất cả các loại thuốc đông y đ]ợc quảng cáo trên thị trường chỉ có tác dụng hỗ trợ hạ men gan không có tác dụng thực sự khi điều trị viêm gan B
Thứ 5: theo các khuyến cáo hiện nay, nêu viêm gan B mạn tính tiến triển càng cần phải dùng thuốc ức chế vi rus trong quá trình mang thai.
bạn có thể xem thêm thông tin tại
www.benhhoctieuhoa.com
05:39 CH 04/09/2009
Bé bị táo bón
Con gái tôi năm nay 3 tuổi, cháu vẫn ăn uống bình thường, tuy nhiên từ khoảng 1 tuổi đến nay cháu hay bị táo bón, nhiều khi tôi phải giúp cháu bằng cách bơm thuốc vào hậu môn. Tôi đã thử thay đổi sữa cho cháu nhưng không cải thiện được tình hình. Tôi xin hỏi có biện pháp nào để khắc phục tình trạng này không, tôi xin cảm ơn.
Trả lời
Ở nhiều người, táo bón chỉ đơn thuần có nghĩa là ít đi đại tiện. Tuy nhiên, đối với một số người khác táo bón có nghĩa là phân cứng, phân khô đi đại tiện phải gắng sức rặn, hay là cảm giác còn phân trong trong ruột sau khi đi đại tiện. Hiện nay, thống nhất định nghĩa táo bón theo tiêu chuẩn ROME II: Với trẻ em: đó là tình trạng phân cứng như đá cuội trong hầu hết các lần đi đại tiện trong tối thiểu hai tuần; và không có các bệnh về nội tiết, biến dưỡng, cấu trúc...
Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón như sau sốt cao, do dùng thuốc; do thói quen đi đại tiện không đều; do chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ,do căng thẳng thần kinh, do tổn thương trong ống tiêu hóa...tuy nhiên ở trẻ e thường táo bón do một vài nguyên nhân sau:
Chứng táo bón ở trẻ trong độ tuổi đi học thường do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh - giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn. Nứt hậu môn là một nguyên nhân phổ biến khác. Thường thì chứng táo bón xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe. Trong khi bị ốm, bé thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó di chuyển. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn và là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn.
Ở trẻ nhỏ, táo bón có thể xảy ra khi chuyển từ sữa mẹ sang dùng sữa bò, hoặc từ thức ăn cho trẻ nhỏ sang thức ăn đặc.
Stress cũng có thể dẫn tới táo bón. Trẻ có thể bị táo bón khi chúng lo lắng về điều gì đó, chẳng hạn như khi trẻ bắt đầu đi học ở trường mới hoặc khi trẻ gặp vấn đề gì đó ở nhà.
Trẻ lười đi vệ sinh, thậm chí ngay cả khi trẻ có “nhu cầu”. Tuy nhiên đây lại là một nguyên nhân ít được để ý đến.
Một số trẻ bị táo bón do mắc phải hội chứng ruột kích thích (IBS), có thể xảy ra khi trẻ bị stress hoặc khi trẻ ăn phải thức ăn nào đó, thường là thức ăn quá nhiều béo hoặc gia vị. Tuy nhiên cũng cần chú ý trong một số trường hợp, táo bón kéo dài có thể là dấu hiệu của một bệnh lý thực thể nào đó như dài đại tràng, trĩ…vì vậy cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám nếu táo bón kéo dài.
Để phòng bệnh táo bón cho trẻ cần:
Tập cho trẻ có thói quen đi đại tiện đúng giờ, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, cứ kiên trì, đúng giờ cho trẻ ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung khoảng vài tuần sau là có thể tạo thành thói quen phản xạ đi ngoài.
Tăng cường rau xanh trong bữa ăn của trẻ như rau cần, rau hẹ... kết hợp hoa quả như cam, bưởi, đặc biệt là chuối, cho trẻ ăn 1 – 2 quả chuối một ngày có thể đạt được hiệu quả của việc nhuận tràng, uống nước đun sôi để ấm. Ngoài ra có thể cho trẻ uống một chút nước mật ong vào sáng sớm, mỗi lần uống không ít hơn 60ml và pha bằng nước sôi.
Bên cạnh đó, khi trẻ bị táo bón, bạn có thể xoa bụng cho trẻ để giúp nhuận tràng: Cho trẻ nằm ngửa trên giường, người thao tác dùng phần gốc bàn tay phải của mình áp sát vào phần cơ bụng trẻ, từ bụng trên bên phải xoa sang bụng trên bên trái rồi xuống đến bụng dưới bên phải, cứ xoa xoay day đẩy như vậy. Sau lại tiến hành xoa xoay day đẩy theo chiều tuần tự ngược trở lại. Động tác xoa không nên làm nặng tay quá, mỗi lần xoa trong 10 phút, mỗi ngày xoa 2-3 lần, cho đến khi nào trẻ thông đại tiện được, cũng nên tiếp tục xoa như thế trong vòng 1 đến 2 tuần nữa để củng cố hiệu quả chữa trị.
Cuối cùng khi táo bón kéo dài, bạn nên cho trẻ đi khám bác sỹ để có chẩn đoán và điều trị hợp lý tránh các biến chứng có thể xảy ra cũng như tránh hiện tượng lạm dụng thuốc nhuận tràng.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=1
www.benhhoctieuhoa.com
05:36 CH 02/09/2009
Bị táo bón. Ai giúp mình với
Các thuốc chống táo bón tác động lên nhiều yếu tố khác như làm thay đổi tính chất của phân, làm tăng thêm khối lượng hoặc làm thay đổi độ đặc, tác động lên nhu động ruột, tác động lên phản xạ đi đại tiện... Thông thường người ta chia ra làm 5 loại chính đó là các chất xơ và nhày; thuốc nhuận tràng làm trơn và mềm phân; thuốc nhuận tràng thẩm thấu; thuốc nhuận tràng kích thích và thuốc nhuận tràng có tác dụng tại chỗ.
Trong đó các thuốc nhuận tràng kích thích nhu động là các acid ricinoleic, acid mật, dẫn xuất diphenylmethan, tác dụng qua nhiều cơ chế khác nhau như ức chế không cạnh tranh với các men ruột đặc biệt là natri, kali ATPase làm gia tăng AMP vòng, gia tăng tính thấm tế bào, giảm hấp thu nước và tăng tiết dịch trong lòng đại tràng. Cần lưu ý là các thuốc này không dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú.
Phenolphtalein: Liều 0,1g/ngày, gây đại tiện sau 6 - 8 giờ, làm rối loạn hấp thu nước ở tiểu tràng và đại tràng.
Bisacodyl gây ra chuyển động đại tràng và gây tiết dịch đại tràng bằng cách tác động trực tiếp lên niêm mạc đại tràng. Dung nạp tốt, có thể dùng từng đợt ngắn. Viên nén 5mg, 10mg; viên bọc đường 10mg; liều dùng 5 - 15mg trước khi đi ngủ hoặc nửa giờ trước bữa ăn sáng.
Nhóm anthraquinolic có các sản phẩm tự nhiên là các aglycol của các cây cascara, rhubarbe... những thuốc xổ thực vật này không hấp thu ở ruột non, chúng chỉ hoạt động khi đến đại tràng, gia tăng sự tống phân bằng cách kích thích tiết prostaglandin nội sinh, tuy nhiên thuốc bị phân hủy bởi các vi khuẩn ở đại tràng nên các thuốc này mất tác dụng khi dùng kháng sinh diệt vi khuẩn chí ở ruột. Các thuốc này có thể dùng đơn độc hay phối hợp, thuốc cascara sagrada viên nang 30mg dùng 1 - 2 viên/ngày trước khi đi ngủ.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=273&Itemid=1
www.benhhoctieuhoa.com
07:02 CH 01/09/2009
Help! Sỏi ở nhu mô gan!!!!!!!!
Bạn đọc những dòng bắt đầu từ câu: sỏi trong gan là bệnh lý thường gặp... đến hết là nói về sỏi trong gan đó.
www.benhhoctieuhoa.com
06:46 CH 31/08/2009
Bệnh trĩ
Bệnh trĩ là bệnh của vùng hậu môn trực tràng có tỷ lệ người mắc khá cao, nhất là những người lớn tuổi. Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua đồng thời vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại đi khám nhất là phụ nữ.
1. Tại sao chúng ta bị trĩ?
Thuyết cơ học cho rằng, đám rối tĩnh mạch nằm ở mặt phẳng sâu của lớp dưới niêm mạc, được giữ tại chỗ bởi các sợi cơ có tính đàn hồi. Ngoài 20 tuổi, sự thoái hoá keo bắt đầu xuất hiện, các dải cơ này bắt đầu chùng nhẽo dần. Cộng với nó, nếu có áp lực ổ bụng hoặc áp lực tĩnh mạch tăng thường xuyên (do táo bón kinh niên, rối loạn đại tiện hay xơ gan...) thì các bũi trĩ nội căng phồng to lên. Lúc đầu chúng còn nằm trong ống hậu môn, nhưng khi các sợi treo đứt hẳn thì chúng gần như thường xuyên nằm ngoài ống hậu môn.
Thuyết động học cho rằng trong lớp dưới niêm mạc của phần thấp trực tràng của ống hậu môn có rất nhiều khoang mạch, vách các khoang này có chỗ dày chỗ mỏng tạo nên tổ chức hang, ở đây có sự thông nối giữa động và tĩnh mạch tạo nên vị trí ngã tư đường của một mạng tuần hoàn rộng lớn. Khi một mạch máu bị tắc thì mạng mạch máu ở lớp dưới niêm mạc này đóng vai trò bù trừ, nhưng khi vượt quá khả năng bù trừ thì gây ra bệnh trĩ.
2. Nguyên nhân gây ra bệnh trĩ là gì ?
Cho đến nay, nguyên nhân chính xác của bệnh trĩ chưa được xác định, song có một số yếu tố thường xuyên được nhắc đến:
- Tư thế đứng: Trĩ gặp nhiều ở những người phải thường xuyên đứng lâu hay ngồi nhiều như thư nhân viên văn phòng, lái xe đường dài...
- Lị và táo bón: ở những người này mỗi khi đại tiện phải rặn nhiều, khi rặn áp lực trong ống hậu môn tăng lên khoảng 10 lần dễ gây ra bệnh trĩ.
- Tăng áp lực trong khoang ổ bụng: hay gặp ở những người lao động chân tay nặng nhọc, những người mắc bệnh viêm phế quản mạn tính...
- Ngoài ra trĩ còn xuất hiện trong một số bệnh lý khác như xơ gan, u vùng hậu môn trực tràng và tiểu khung...
3. Biểu hiện của bệnh như thế nào?
Bệnh xuất hiện không rõ ràng. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc thường không khẳng định được thời gian bắt đầu của bệnh
- Chảy máu hậu môn và đại tiện ra máu tươi: đây là triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất của bệnh trĩ. Lúc đầu máu chảy ít, kín đáo nên người bệnh không để ý, nếu dùng giấy vệ sinh sẽ thấy máu dính trên giấy, về sau máu ra nhiều hơn, thành giọt theo sau cục phân, muộn hơn thì cứ ngồi xổm đại tiện là máu chảy ra.
- Đau và ngứa, có cảm giác khó chịu ở hậu môn: nếu mới bị thì có thể không có triệu chứng này, tuy nhiên đau càng tăng khi có biến chứng sưng, viêm hoặc tắc mạch búi trĩ.
- Sưng nề vùng hậu môn khi có đợt cấp hoặc trĩ sa ra ngoài, có thể búi trĩ sưng khá to và ta có thể sờ thấy dễ dàng.
Trên đây là những triệu chứng điển hình của bệnh nhân trĩ. Muốn xác định chắc chắn bệnh trĩ, ngoài việc nhìn sờ nếu thấy búi trĩ xa ra ngoài cần phải thăm trực tràng bằng tay và soi trực tràng. Qua soi sẽ xác định được độ tổn thương của búi trĩ, số lượng kích thước và vị trí các búi trĩ.
4. Đánh giá mức độ bệnh dựa vào cái gì?
Vùng hậu môn trực tràng có hai đám rối tĩnh mạch, đám rối tĩnh mạch trĩ trên nằm trên vùng lược, tạo nên trĩ nội nằm trong lòng hậu môn trực tràng được phủ bởi niêm mạc nhưng khi quá to thì sa xuống nằm ngoài ống hậu môn; đám rối tĩnh mạch trĩ dưới tạo nên trĩ ngoại luôn luôn nằm ngoài ống hậu môn và được da che phủ. Cả trĩ nội và trĩ ngoaị thường có ba búi trĩ: búi phải trước, búi phải sau và búi trái; nếu bệnh nhân đến muộn có thể xuất hiện các búi trĩ phụ nằm xen kẽ giữa các búi chính. Khi tất cả các búi trĩ đó liên kết với nhau gọi là trĩ vòng. Khi có cả trĩ nội và trĩ ngoại, lúc đầu chúng được phân cách với nhau bằng vùng lược, về sau dây chằng Parks bị nhẽo trĩ nội thông với trĩ ngoại tạo thành trĩ hỗn hợp. Phần lớn bệnh nhân khi đến khám là trĩ vòng hoặc trĩ hỗn hợp. Vì vậy khi thăm khám phải xác định chính xác mức độ của trĩ để chọn phương pháp điều trị thích hợp.
- Trĩ nội độ 1: các tĩnh mạch giãn nhẹ, đội niêm mạc phồng lên vào trong lòng trực tràng
- Trĩ nội độ 2: các tĩnh mạch giãn nhiều hơn tạo thành các búi rõ rệt, khi rặn nhiều thì búi trĩ thập thò ở lỗ hậu môn, khi đại tiện xong thì búi trĩ lại tụt vào trong.
- Trĩ nội độ 3: cứ mỗi khi đi đại tiện hoặc đi lại nhiều, búi trĩ lại sa ra ngoài, mỗi lần sa ra ngoài phải dùng tay ấn nhẹ mới tụt vào trong.
- Trĩ nội độ 4: các búi trĩ khá to, thường liên kết với nhau tạo thành trĩ vòng. Bệnh nhân có cảm giác bũi trĩ thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
5. Biến chứng nào có thể xảy ra?
- Chảy máu: trĩ là do giãn mạch máu nên rất dễ rách, dễ vỡ gây chảy máu nhiều.
- Sa trĩ: lúc đầu trĩ sa ra ngoài và tự co hoặc nhét lên được, về sau luôn nằm ở ngoài hậu môn, khi đó trĩ sẽ sưng nề bầm tím, nghẹt rất khó chịu.
- Trĩ bị tắc nghẽn: do cục máu đông tụ lại, làm búi trĩ sưng to rất đau, căng bóng.
- Trĩ bị viêm nhiễm:
6. Điều trị và dự phòng như thế nào
Trước hết cần ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ bằng cách: Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà, các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu. Uống nước đầy đủ. Ăn nhiều chất xơ. Tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ. Điều trị các bệnh mạn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ..Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày. Khi phát hiện bị trĩ cần đi khám để có chẩn đoán và điều trị hợp lý, không nên tự ý sử dụng thuốc dễ gây ra nhiều biến chứng.
- Điều trị nội khoa: Vệ sinh tại chỗ bằng ngâm nước ấm 15 phút / lần x 2 – 3 lần/ngày. Có thể sử dụng thuốc uống có tác dụng trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid ( như Daflon 500) cùng với các thuốc đặt tại chỗ là các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ...Tuỳ theo mức độ tổn thương, vị trí và số lượng búi trĩ mà có thể sử dụng các biện pháp điều trị vật lý như tiêm xơ, thắt vòng cao su, quang đông hồng ngoại... khi trĩ đã có biến chứng thì phải điều trị bằng ngoại khoa mới có kết quả. Với trĩ ngoại, điều tị nội khoa đơn thuần trong trường hợp trĩ ngoại phù nề, điều trị thủ thuật với các trường hợp trĩ gây tắc mạch đau, điều trị phẫu thuật với các đám rối tĩnh mạch đã giãn nở lớn.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=201&Itemid=34
www.benhhoctieuhoa.com
04:23 CH 30/08/2009
Help! Sỏi ở nhu mô gan!!!!!!!!
Đường mật trong gan bắt đầu từ các vi quản mật có đường kính từ 1,5μm đến 1,8μm. Các vi quản mật tập trung vào các tiểu quản mật. Khi đến khoảng cửa chúng đổ vào các ống trong tiểu thuỳ, tiếp theo là các ống gian tiểu thuỳ. Các ống mật này nối với nhau tạo thành ống mật phân thuỳ rồi tạo thành ống gan phải và ống gan trái chạy ra rốn gan.
Đường mật ngoài gan gồm: ống gan chung, ống mật chủ, ống túi mật và túi mật. Trong đó ống gan chung và ống mật chủ gọi là đường dẫn mật chính, còn ống túi mật và túi mật là đường dẫn mật phụ.
Sỏi mật là sự hiện diện của sỏi trong hệ thống đường mật bao gồm đường mật trong gan, túi mật và đường mật ngoài gan tận bóng Vanter. Được gọi là sỏi đường mật trong gan khi sỏi nằm ở vi quản mật, tiểu quản mật hoặc ống gan phải hay ống gan trái. Ở các nước phương Tây, phần lớn là sỏi Cholesterol được thành lập trong túi mật, các nước nhiệt đới và châu Á phần lớn là sỏi sắc tố mật được hình thành trong ống gan và đường dẫn mật do giun và nhiễm trùng.
Sỏi mật là một trong các bệnh dễ gây nên các biến chứng nguy hiểm, nếu không can thiệp kịp thời sẽ đưa đến tình trạng nguy hiểm.
Sỏi trong gan là bệnh lý thường gặp và được xem là nặng trong các bệnh của hệ thống gan - mật. Nữ nhiều hơn nam với tỉ lệ 2/1, tập trung ở vùng biển với những người làm nghề đánh bắt cá biển, tuổi trung bình từ 40 - 50.
Biểu hiện lâm sàng của sỏi đường mật nói chung và sỏi đường mật trong gan nói riêng rất đa dạng, đau thường là do sự di chuyển của sỏi túi mật và sỏi đường mật trong gan.Thông thường có 3 triệu chứng rất điển hình (gọi là tam chứng Charco) tuần tự xuất hiện: đầu tiên là cơn đau quặn gan với biểu hiện như trên, sau đó xuất hiện sốt nóng và rét run.Cuối cùng là vàng da, vàng mắt, phân bạc màu, đi tiểu nước tiểu sẫm màu. Ngoài những biểu hiện lâm sàng thì các xét nghiệm cận lâm sàng đặc biệt siêu âm là xét nghiệm cơ bản không xâm nhập giúp phát hiện sỏi 70 – 80%, ngoài ra còn giúp phát hiện tổn thương đường mật, túi mật, tuỵ.
Hầu hết bệnh nhân có chỉ định điều trị ngoại khoa, nhưng những trường hợp sỏi gan đơn thuần hay phối hợp chưa có triệu chứng do sỏi nhỏ, đường kính dưới 5 mm sẽ được theo dõi vì sỏi có khả năng tự di chuyển xuống tá tràng. Nếu đường kính sỏi trên 5 mm sẽ được chỉ định mổ, trừ trường hợp sỏi gan đơn thuần nằm ở các vị trí khó lấy (đã mổ mà không lấy được hay tái phát sau mổ, bệnh nhân có bệnh mãn tính khác quá nặng đang điều trị nội khoa, nguy cơ phẫu thuật cao) sẽ được điều trị bảo tồn.
Sỏi gan một khi có triệu chứng viêm đường mật thì sẽ được can thiệp lấy sỏi sớm. Có nhiều phương pháp can thiệp phẫu thuật hoặc bằng nội soi nhưng mục tiêu cuối cùng là lấy hết sỏi và làm cho đường mật hoàn toàn thông suốt. Ngày nay có nhiều cải tiến, ít xâm lấn hơn như lấy sỏi, tán sỏi qua da với sóng điện từ, tia laser, nong đường mật hẹp, đặt nòng.
Lấy hết sỏi là điều khó, đặc biệt nếu có nhiều sỏi mà sỏi lại nằm sâu và rải rác trong gan kèm hẹp đường mật từng đoạn thì chưa có phương pháp nào có thể giải quyết tận gốc. Ngừa sỏi tái phát lại càng khó hơn mà lý do chính là đường mật trong gan bị teo hẹp từng đoạn. Nhiều trường hợp cấp cứu trong bệnh cảnh nhiễm trùng đường mật, có biểu hiện sốc nhiễm trùng.
http://www.benhhoctieuhoa.com/index.php?option=com_content&task=view&id=275&Itemid=1
www.benhhoctieuhoa.com
04:21 CH 30/08/2009
n
Nguyenbachvan
Bắt chuyện
652Điểm·4Bài viết
Báo cáo