Thịnh hành
Cộng đồng
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Đăng nhập
Tạo tài khoản
Đăng nhập qua Facebook
Đăng nhập qua Google
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Góc Hà Nội xưa và nay
Giai điệu thu Hà Nội
Thu Hà Nội không biết tự bao giờ đã trở thành biểu tượng của mùa đẹp, mùa thiêng của người Việt Nam ta. Ai đã từng tận hưởng một mùa thu Hà Nội, hẳn không thể quên những chiều thu da trời xanh một màu xanh tận đáy từ năm mặt hồ lung linh huyền thoại, một màu cốm thơm non tơ trong lá sen tơ hái từ sương khói Tây Hồ, một mùi hoa sữa quyến rũ mê mẩn tỏa ra từ những chùm lá rì rào gần gụi xa xăm... và những con đường lá chín rắc vàng sau rùng mình cơn gió đầm đậm phù sa từ sông Hồng thổi lại...
Thu Hà Nội mang về cho ta bao màu áo thanh tân mỗi thời mỗi đẹp. Và thu Hà Nội cũng mang lại cho ta bao xao xuyến mơn man của thánh thiện đắm say...
Giai điệu thu Hà Nội như không bao giờ dứt, luôn ngân vang ngay cả khi mùa thu chưa kịp trở về
Nhưng Hà Nội không chỉ có thu thiên nhiên dấu đầy hương sắc. Thu Hà Nội còn là thu của con người đã làm nên mùa thu ấy, mùa thu – Tháng Tám! Và chính sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên tuyệt hảo mà thu Hà Nội đã cất lên biết bao giai điệu mê đắm hồn người trường tồn cùng lịch sử.
Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao/ Tôi về đây trong nắng nhớ thu nào...
Những giai điệu vừa xao xuyến vừa hào hùng trong bài trữ tình hùng tráng ca Ba Đình nắng của Bùi Công Kỳ (thơ Vũ Hoàng Địch) đã mang đến cho Hà Nội một mùa thu khác, mùa thu độc lập mà hơn nửa thế kỷ qua vẫn còn lay động lòng người.
Xa hơn nữa, thu Hà Nội “mấy nghìn năm chói chang rực rỡ” với những “Hàng cây xanh bao mùa lá đỏ/ Gió sông Hồng rì rào sóng vỗ/ Mùa thu đi qua từng ngõ nhỏ/ Ôi Hồ Gươm như một bài thơ”. Với lời ca ấy, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã thổi vào một giai điệu lộng lẫy, khiến thu Hà Nội tràn ngập tình yêu và lòng tự hào về Hà Nội trái tim hồng. Trần Tiến cũng nhớ mùa thu gió sông Hồng, nhưng là gió thu của tình yêu đưa người qua sông da diết khôn cùng:
Hồng Hà mùa thu, Hà Nội mùa thu/ Một ngày mùa thu đầy gió/ Con sáo sang sông bạt gió/ Con sít thương ai lội sông đi tìm ai...
Ngẫu hứng sông Hồng vì thế cũng là một ngẫu hứng thu Hà Nội.
Hầu như thu Hà Nội luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ khi viết về Hà Nội. Những trời, những hồ, những hoa, những con đường đều trở thành ký ức không phai mờ trong biết bao giai điệu của thủ đô yêu dấu. “Nhớ phố Quang Trung, đường Nguyễn Du/ Những đêm hoa sữa thơm nồng” (Hoàng Hiệp)... Nhưng phải đến Trịnh Công Sơn thì nỗi Nhớ mùa thu Hà Nội mới thật sự lung linh, huyền ảo và sang trọng. Ông đã ghi lại những ấn tượng về Hà Nội vô cùng tinh tế, từ “mái ngói thâm nâu” đến “bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời”; từ “thơm bàn tay nhỏ” đến “thơm bước chân qua”. Nhờ sự quan sát tinh tế đó mà giai điệu Hà Nội của Trịnh len lỏi vào những “lối nhỏ” thẳm sâu của hồn người:
Hà Nội mùa thu/ cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ/ nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu/ Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội/ Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió/ Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ/ Cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua/ Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi/ Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.
Nếu như Trịnh Công Sơn là một người Huế viết lên giai điệu Hà Nội với những tình cảm của thu thoáng gặp đã kết thành duyên nợ, thì Đoàn Chuẩn lại chính là một hồn thu Hà Nội ngập tràn kỷ niệm ái ân. Dù lời hát của ông không nói cụ thể về Hà Nội, thì khi giai điệu cất lên ta vẫn như thấy một chàng trai Hà Nội đang hiển hiện trước mắt ta với tâm hồn lãng mạn, hào hoa:
Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm muôn màu về hoa/ Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư/ Về đây với thu trần gian/ Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi phím tơ đồng tìm duyên/ Gửi thêm lá thư màu xanh ái ân/ Về đôi mắt như hồ thu...
(Gửi gió cho mây ngàn bay)
Ngôn ngữ thật mượt mà bóng bẩy. Âm nhạc luôn réo rắt du dương. Đoàn Chuẩn tả thu Hà Nội như vẽ lên một bức tranh lụa nuột nà tình ái:
Mây bay về đây cuối trời/ Mưa rơi làm rụng lá vàng/ Duyên ta từ đây lỡ làng/ Còn đâu những chiều/ Dệt cung đàn yêu/ Thu nay vì đâu tiếc nhiều/ Thu nay vì đâu nhớ nhiều/ Đêm đêm nhìn cây trút lá/ Lòng thấy rộn ràng/ Ngỡ bóng ai về.
(Thu quyến rũ)
Và có lúc mùa thu của Đoàn Chuẩn như một tiếng thở dài tê tái:
Thu đi cho lá vàng bay/ Lá rơi cho đám cưới về...
Để rồi cất lên tiếng kêu đứt ruột về duyên phận chia lìa:
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa/ phải chăng là những cánh đời em/ Đêm đêm lìa xuống trần tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh/ Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời/ Làm lòng anh nhớ mãi người ơi/ Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt/ Đành tìm trong nét bút xa xôi/ Nhưng mỗi mùa thu chiếc lá vàng bay về cuối trời/ Thuyền tình không bến đỗ người ơi/ Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát/ Đời vắng em rồi vui với ai.
(Lá đổ muôn chiều)
Giữa trời thu Hà Nội, ta đang nghe mùa thu Hà Nội trong thật nhiều cung bậc, hân hoan, xán lạn, sầu thương và hào hùng khôn tả. Giai điệu thu Hà Nội như không bao giờ dứt, nó luôn ngân vang ngay cả khi mùa thu chưa kịp trở về. Nó luôn se lòng gửi về muôn xưa nỗi niềm của thu nay:
Tây Hồ, Tây Hồ/ kìa mặt gương xanh soi bóng trời Thăng Long xưa/ Còn mãi tiếng vọng ru đưa/ Tây Hồ, Tây Hồ/ tình này xin đem bóng mặt gương trong xanh/ theo gió bay về xa xưa...
(Một thoáng Tây Hồ - Phó Đức Phương). Hà Nội, cuối thu 2007
Theo NLĐ
09:24 SA 20/08/2009
Góc Hà Nội xưa và nay
Hương sấu (st)
Chiều. Nắng đổ xiên trên phố vắng. Gió ùa qua để lại trên hè, trên đường một thảm lá vàng óng lấp loá trong chiều chạng vạng. Sấu đang trong mùa thay áo. Thấp thoáng trong đám lá non mơn mởn là những chùm hoa li ti màu trắng ngà. Ly cà phê đắng ngắt đánh thức cả một vùng tuổi thơ. Đâu đó trong miệng còn phảng phất vị chua chua ngòn ngọt của những chiếc lá sấu non.
Sấu. Không hiểu ai đặt tên cho loài cây này, phải chăng nó bắt nguồn từ lớp vỏ sần sùi, xấu xí hay vì một lẽ nào khác. Nhưng ngược với cái tên không đẹp ấy nó lại là một thứ gia vị quen thuộc trong mùa hè oi ả của người miền Bắc. Tuỳ theo quả xấu non, vừa, hay chín mà chế biến các món ăn khác nhau, để lại những hương vị khác nhau. Mỗi mùa sấu về chị tôi thường chọn mua những quả sấu non cỡ ngón tay cái con trẻ, quả sấu mà cái hạt của nó vẫn còn chưa kịp cứng về ngâm. Bữa cơm ngày hè có bát nước rau muống luộc đánh sấu, vài bìa đậu mơ rán rôn rốt, làm cho bát nước mắm không còn gắt, ngay cả quả sấu quắt queo kia cũng đủ khiến ai nếm thử một lần còn nhớ mãi. Lâu rồi từ khi chị chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống không ai làm cho lít nước mắm ngon nhưng rồi công việc cứ ào ào cuốn ta theo vòng xoáy để khi nhớ ra cũng là lúc một mùa sấu đã đi qua. Bỗng lại thấy thương mẹ, thương chị cũng đang vắt dần sức lực cho gia đình giữa bốn bề khó nhọc của cuộc đời. Cái màu vàng của lá giữa chiều hè nhức nhối quá, có bao điều mình đã bỏ phí, có bao điều muốn làm không biết có làm được không đây...
Căn phòng làm việc nhìn ra phố Hai Bà Trưng lúc nào cũng ồn ào tiếng nhạc, tiếng xe bên cạnh những hàng sấu già mốc meo thân thuộc quá. Một ngày không đi làm cũng thấy nhớ, nhớ cả những cành cây khô trắng trơ trọi giữa đám lá xanh. Thành phố vẫn lớn lên từng ngày, những ngôi nhà cổ cứ thu hẹp dần, cây cối cũng trở lên nhỏ nhoi giữa các toà cao ốc. Tất cả sẽ ra sao nếu một ngày kia hàng sấu kia biến mất. Nhiều chiều mưa đứng ngắm hàng cây vặn mình trong gió lại nhớ cái thuở trèo me, trèo sấu bị bắt vừa mếu máo xin tha vừa tìm cách giấu chứ không chịu để bị thu hết. Có những chiều trốn học đi chơi, gặp mưa sấu rụng thế là chiếc áo may ô mới cũng thành chiếc túi đựng. Bị bố đánh, rơi túi làm sấu ộc cả ra đường lăn lông lốc như bi ve, xe đi qua cán lên kêu rôm rốp... vừa tiếc lại vừa sợ.
Cứ trước mỗi mùa mưa bão thành phố lại tỉa cành cho cây. Nhiều khi cả những cành to bằng bắp đùi cũng bị ngả xuống không thương tiếc mặc cho nhựa ròng ròng chảy. Thôi thì vì cái này phải hy sinh cái khác cũng đành nhưng nhiều khi gặp những thân bị xé làm đôi mà chẳng biết vì sao để lại trong một khoảng trống nhức nhối trong lòng bao người. Lại nhớ mẹ bảo cây cối cũng giống như con người, nó cũng biết đau, đối xử ác với nó cũng có ngày nó sẽ trả thù đấy. Chợt thấy buồn khi chỉ vì hai ba mét vuông đất mà người ta tước vỏ , chôn vôi vào gốc tìm mọi cách cho cây chết. Nghe nói người ta có một dự án mở đường và như thế sẽ có không ít hàng cây cổ thụ quý sẽ mất đi, chẳng hiểu nên buồn hay nên vui nữa.....
Mùa hè mẹ tôi thường nấu chè sấu. Vẫn đường, vẫn gừng, vẫn sấu mà cốc chè đậm khác hẳn ở các hàng. Mỗi buổi trưa ngủ dậy, trước khi đi làm ngồi ăn một ly chè sấu mẹ để phần sẵn trong tủ lạnh chợt thấy tỉnh táo hơn, dường như cái vị chua, cay, ngọt ấy xộc vào từng mạch máu li ti làm bừng dậy cả những tế bào nhỏ nhất. Mùa sấu này mẹ đang ở bệnh viện, ai nấu chè đây? Có thời gian nhâm nhi ly chè sấu mà nghiền ngẫm mọi chuyện qua các vị của chè mới thấy thú. Nó đâu chỉ là một món giải khát thông thường mà trong đó còn có cả bao thăng trầm, cách đôí nhân xử thế của đời người và cái vị chè của mỗi người nấu khác nhau ấy cũng chính là do những gì họ trải qua và chắt lọc lên.
Nhớ những lần cùng đám trẻ hàng xóm hì hụi trèo lên mái nhà bằng đường ống nước nhặt những quả sấu chín vàng rơi rìa máng nước để rồi ngồi cắn chung với nhau cùng ngắm phố vừa kể những ước mơ của mình. Và biết bao trò nghịch ngợm của con trẻ lại ùa về mỗi khi rùng mình bắt gặp vị chua của sấu nhắc mình sống sao cho có ích hơn. Đâu rồi cái buổi chiều ngồi thách nhau ăn sấu chín sau trận ốm dậy. Những quả sấu vàng xuộm, giòn giòn chua chua chấm muối ớt cay xé lưỡi cứ tưởng như thay cơm được. Sau buổi ấy mỗi đứa tứ tán một nơi.....
Một mùa sấu nữa lại về. Và bao công việc mới, bao điều phải làm mới đang chờ ở phía trước, cũng bắt đầu từ hương sấu...
nguồn: TC Quê Hương
09:20 SA 20/08/2009
Góc Hà Nội xưa và nay
Màu nắng pha lê (st)
Trong năm, có lẽ mùa thu là đẹp nhất. Thu dịu dàng mà lại thanh tao, lịch lãm. Thu không cháy bỏng gắt gao như hạ, không lạnh lùng buốt giá như đông và cũng chẳng ướt át sụt sùi như xuân diễm lệ.
”Lối cũ em về, nay đã thu”
Xuân Quỳnh
Đã vào thu, bầu trời dường như cao hơn, xanh hơn, trong hơn và lộng lẫy hơn. Những đám mây vần vũ chứa đầy nước của những cơn mưa mùa hạ đã nhường chỗ cho những mảng mây xốp trắng như bông thảnh thơi trôi giữa bầu trời xanh thẳm. Trong gió, chẳng còn đâu những vị oi nồng khó chịu, mà chỉ thấy một không gian mát mẻ tràn ngập khắp chốn muôn nơi. Mùa thu, với những bước chân nhẹ nhàng đến tự khi nào mà không ai hay biết. Chỉ khi một sớm mai thức dậy, ta khoan khoái trong cái se sẽ lạnh riêng biệt của mùa thu, và kìa...những hạt ngọc sương đang long lanh treo trên đầu ngọn cỏ còn mặt trời thì toả những tia nắng hết sức dịu êm mơn man vạn vật. Đấy chính là khi mùa thu đã về.
Trong năm, có lẽ mùa thu là đẹp nhất. Thu dịu dàng mà lại thanh tao, lịch lãm. Thu không cháy bỏng gắt gao như hạ, không lạnh lùng buốt giá như đông và cũng chẳng ướt át sụt sùi như xuân diễm lệ. Thu là thu với hương hoa sữa nồng nàn nơi góc phố, với cúc vàng rực nắng, với cốm xanh - hồng thắm và một màu trắng như pha lê. Thu đi vào lòng và bất tử trong âm nhạc của Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Đoàn Chuẩn...., trong thơ của Xuân Diệu, Xuân Quỳnh và rất nhiều thi nhân khác nữa. Sống giữa mùa thu, người ta cảm thấy như thêm yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống. Hẳn nhiên, trong một buổi sớm mai nào đó, khi tắm mình trong làn nắng thuỷ tinh khiết ( mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gọi là
Nắng thuỷ tinh
) với những làn gió thơm mát như vừa được ướp hương đất trời, bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng mà thốt lên rằng: “Ồ! Màu trắng pha lê!”.
Nắng vàng, nhưng hình như lại không màu sắc. Ta chỉ thấy nó lung linh thắp sáng đất trời, làm rực rỡ lên màu biếc xanh của lá, rộn rã thêm tiếng hót của muông chim và nồng nàn thêm hương thơm sắc thắm của những bông hoa nở đúng thu vàng. Trưa đến, nắng rộm vàng sóng sánh như mật ong đổ tràn lên vạn vật. Cánh đồng mùa thu được nắng nhuộm thành một màu vàng tươi óng ả và no ấm. Nắng uốn cong và làm mẩy những nhành lúa thơm, đưa vào tay người nông dân hai sương một nắng cái phần thưởng quý giá nhất trong một mùa thu vàng. Trong vườn, nắng tô thắm và làm mượt mà làn tóc của hàng cau, thắp đốm lửa đỏ giữa lùm lá xanh cho những trái hồng trứng đang mùa trẩy hái. Những bông hoa hồng nhung đỏ thắm, cúc vạn thọ rực vàng được nắng và gió mùa thu trang điểm cho càng thêm đẹp lạ thường. Chiều thu, nắng trở nên kém phần rực rỡ, nắng mờ nhạt phía chân trời xa, những dải voan trắng nhẹ nhàng hư ảo như dải khăn làm duyên của cô thiếu nữ hờ hững vắt ngang nền trời xanh biếc. Những cánh diều no gió mùa thu vi vút của các em thơ thả âm thanh dìu dặt vào giữa thinh không. Trước lúc đi ngủ, mặt trời còn cố hắt lên nền trời những tia nắng óng ả hình dẻ quạt, tô điểm cho chiều thu êm ả thêm phần lộng lẫy và quyến rũ.
Thu đẹp nhường ấy, thanh tao nhường ấy, dịu dàng nhường ấy nhưng cũng thật sôi động và rộn ràng nhịp sống. Tiếng trống trường mùa thu ngân vang trong nắng sớm như thúc giục bước chân em thơ tới trường. Đất trời mùa thu như đang trả lại sức sống bất diệt cho vạn vật xung quanh. Những tà áo dài thiếu nữ cũng bởi mùa thu mà thướt tha, dịu dàng, quyến rũ hơn. Giữa làn nắng thanh khiết ấy, tà áo dài của các cô trở nên ngàn lần đẹp hơn, sống động hơn. Quả thực, còn gì thú vị bằng được thung thăng dạo bước giữa mùa thu trong mùi hương hoa sữa cùng với một người bạn tâm giao. Biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã trải lòng mình với mùa thu mà vẫn chưa nói đủ những xúc cảm trong lòng với khoảng thời gian tuyệt đẹp trong suốt mùa thu này.
Và rồi trong một buổi chiều nào lang thang cùng những vạt hoa cỏ may tím ngát triền đê, ta bắt gặp bước chân của mùa đông đang tiến lại từ phía chân trời. Đâu đó, dâng lên man mác một nỗi buồn ly biệt...Mùa thu sắp ra đi đem theo những mùi hương quyến rũ, những làn gió trong lành và cả một màu nắng pha lê.
(Theo
Mùa đi ngang phố
- Nxb Thanh Niên)
09:17 SA 20/08/2009
Học vần tiếng Việt bàn FULL
Sao mình không down đwợc vậy bạn ơi?
Bạn nên sử dụng phần mềm chuyên dụng để down Rapid. Các link trên đều ổn cả mình đã down về đủ 03 link.
Cảm ơn chủ Topic nhiều, tài liệu rất quan trọng cho bé trước khi bước vào tiểu học :Applause:
03:51 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Với tinh thần phòng xa cuối năm 1945 đầu năm 1946, Phòng thông tin phân công nhau đi khắp nơi tìm kiếm thêm máy thu, máy phát, máy nổ, các phương tiện, linh kiện thông tin rải rác ở các cơ quan mang về phân loại sắp xếp vào một kho vật tư thông tin dự bị ở Thanh Oai Hà Đông nhờ vậy mà sau này lên Việt Bắc có phương tiện thay thế sử dụng. Và cũng thời gian này các đồng chí thông tin đã bí mật đưa được 1 máy vô tuyến điện 1KW ở nhà máy điện Hải Phòng do quân Tưởng gác lên giấu ở Bắc Cạn. Chiếc máy này sau này làm đài dự bị cho Đài tiếng nói Việt Nam trong chiến dịch Việt Bắc.
Đi đôi với việc cố gắng tháo gỡ những khó khăn trong công tác chuyên môn, việc chăm lo đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan cũng được coi trọng. Ban quản lý nội bộ
1
tuy ít người (4 đồng chí) đã chú ý tổ chức tốt việc ăn ở cho các đồng chí trong cơ quan và khách, ngoài ra còn bảo đảm các nhu cầu về văn phòng phẩm cho toàn cơ quan, đến cuối năm 1946 mới chuyển công tác này sang cho Văn phòng. Chế độ ăn uống ở cơ quan từ thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu đến cán bộ và chiến sĩ đều thống nhất một chế độ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “toàn dân chống đói”, hàng tuần cơ quan nhịn ăn một bữa vào chiều thứ sáu, hàng tháng nộp số gạo để dành được vào kho Nhà nước. Về trang phục chưa có chế độ cấp phát quân trang như sau này, mỗi người tự túc lấy quần áo của mình vì vậy mỗi người ăn mặc một kiều chỉ giống nhau ở chiếc mũ ca-lô có quân hiệu sao vàng thêu trên nền đỏ hình tròn (cấp tiểu đội), quân hiệu thêu viền trắng, phân đội (trung đội) trở lên quân hiệu thêu viền vàng. Riêng trung đội vệ binh
2
ăn mặc tương đối thống nhất hơn: áo sơ mi bằng ka ki vàng quần có chít ống
3
. Một số cán bộ có nhiệm vụ giao thiệp với quân đội đồng minh hay với Pháp thì được may mỗi người một bộ quân phục bằng vải ka ki vàng trong áo sơ mi trắng đeo cà vạt đen như kiểu quân phục của sĩ quan Pháp. Toàn cơ quan có một y sĩ trông nom sức khỏe
4
.
Cán bộ nhân viên đi công tác được cấp giấy công lệnh. Vì vậy đi tầu, đi ô tô bên ngoài không phải trả tiền. Toàn cơ quan được trang bị một chiếc ô tô du lịch kiểu “Ford” cũ, thường chỉ đưa đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng đi công tác xa.
Tuy cơ quan Bộ Tổng Tham Mưu mới thành lập (đến cuối năm 1945 quân số đã lên tới trên dưới 50 người), nhưng thủ trưởng và cấp ủy đã rất coi trọng đẩy mạnh công tác Đảng, công tác chính trị trong cơ quan.
Về xây dựng Đảng, toàn cơ quan có 3 đảng viên, được tổ chức thành một tổ Đảng nằm trong chi bộ Bộ Quốc Phòng
5
. Tuy số lượng đảng viên còn ít và sinh hoạt bí mật, song tổ Đảng đã đề ra được nội dung lãnh đạo thiết thực kịp thời, tập trung vào khâu tăng cường xây dựng tư tưởng tốt đoàn kết nội bộ, xây dựng cơ quan dần dần giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tích cực học tập về chính trị, quân sự, văn hóa, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ và chiến sĩ nhờ vậy mà tạo được một không khí hồ hởi phấn khởi tin tưởng trong toàn cơ quan. Để mở rộng diện cảm tình của Đảng, Việt Minh đoàn được tổ chức cuối năm 1945 do đồng chí Tham Mưu chủ nhiệm Lâm Cẩm Như (Tổng Tham Mưu Phó) phụ trách. Việt Minh đoàn
6
rèn luyện những cán bộ, nhân viên chiến sĩ tốt về mọi mặt để dần dần kết nạp vào Đảng.
Công tác chính trị trong cơ quan được tiến hành đều đặn. Các buổi học tập chính trị, đọc báo hàng ngày được duy trì liên tục. Mỗi khí có tình hình mới, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng trực tiếp nói chuyện thời sự cho toàn cơ quan. Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được đẩy mạnh; các buổi ca kịch, lửa trại, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn được tổ chức đều dặn, có khi tiến hành trong nội bộ cơ quan, có khi tổ chức cùng với thanh niên đường phố vào các ngày nghỉ, ngày lễ v.v... Một số cán bộ có trình độ văn hóa và quân sự xung phong tham gia dậy bình dân học vụ cho nhân dân và tổ chức huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ, nhờ vậy mà xây dựng được tình đoàn kết gắn bó giữa cơ quan và nhân dân khu phố.
Cuối tháng 11-1945, nhân dịp Ban Chấp hành Trung ương ra chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” (25-11-1945 đồng chí Võ Nguyên Giáp đến truyền dạt tinh thần cơ bản chỉ thị của Trung ương cho cơ quan.
Sau khi phác qua tình hình thế giới, tình hình trong nước đồng chí đi vào giải thích chỉ thị của Trung ương, đồng chí nói: Việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới thành lập đã phải đối phó với một tình thế vô cùng phức tạp. Trung ương đã nêu lên những nhiệm vụ trong nước lúc này là “phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân”. Đồng chí nhấn mạnh Đoàn thể ta đã phân tích tình hình địch: Mỹ tuy ngoài miệng nói giữ thái độ trung lập trong vấn đề Đông Dương nhưng đã ngầm giúp đỡ Pháp bằng cách cho mượn tàu chở quân sang Việt Nam. Trong quan hệ với Pháp, Anh, Mỹ gặp phải mâu thuẫn, một mặt muốn tranh giành quyền lợi ở Đông Dương và Đông Nam Á, một mặt khác muốn hòa hoãn để cùng lập mặt trận bao vây Liên Xô. Bọn Tưởng kéo quân sang ta với âm mưu lúc đầu nhằm lật đổ chính quyền do Đảng ta tổ chức ra, thay vào đó một chính phủ bù nhìn tay sai. Nhưng sau khi thấy toàn dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, chúng đành đặt quan hệ với Chính phủ ta. Chúng vẫn sợ ta là cộng sản và sợ “Cộng sản Đông Dương liên minh với Cộng sản Trung Quốc xích hóa Hoa Nam” nên chúng âm mưu cải tổ Chính phủ lâm thời của ta, đưa tay chân của chúng vào.
Thường vụ Trung ương Đảng đã nêu lên một nhận định mới: “Trước sau, Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi quan trọng”. Từ những phân tích, nhận định trên, nhiệm vụ của giai cấp vô sản và của dân tộc đã được xác định, khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”. Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng. Phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Nhiệm vụ của đoạn thể đề ra là:
“Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác triệt để, làm vườn không nhà trống”
Tiếp đó đồng chí biểu dương ưu điểm của cơ quan là chỉ trong một thời gian ngắn mà đã cố gắng tích cực xây dựng bước đầu có kết quả, tạo điều kiện cho bước trưởng thành sau này. Đồng chí động viên mọi người cố gắng làm việc, vừa làm vừa kịp thời rút kinh nghiệm trong thực tế công tác hàng ngày để không ngừng tiến bộ. Đồng chí nhắc nhở phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức chi viện người và vũ khí cho cuộc chiến đấu của đồng bào, đồng chí ở miền Nam, đồng thời bám sát và kịp thời đối phó, ngăn chặn một cách có hiệu quả âm mưu và hành động của quân đội Tưởng và tay sai ở ngoài Bắc...
_______________________________________
1.
Ban quản lý nội bộ gồm các đồng chí: Trang, Hoan, Kiếm, Roãn.
2.
Đội trưởng đội vệ binh của Bộ Tổng Tham Mưu thời gian này là đồng chí Thái Dũng.
3.
Thành ủy Hà Nội có phát cho trung đội vệ binh mỗi- người 1 bộ quân áo lính khố xanh để khi canh gác mặc cho thống nhất.
4.
Y sĩ Nguyễn Văn Ngạn.
5.
Ba đảng viên đầu viên trong Bộ Tổng Tham Mưu năm 1945 là: các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phạm Toàn, Hồ Tôn Vinh.
6.
Việt Minh đoàn: gồm những đồng chí cảm tình của Đảng.
(Còn Nữa)
03:36 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Đối với vấn đề trang bị, hội nghị thống nhất nhận định đây là một vấn đề khó khăn nhất của toàn quân cần phải tích cực tháo gỡ để các đơn vị có đủ súng đạn chiến đấu. Đề nghị phòng quân giới Bộ Quốc phòng tích cực tìm kiếm, mua đổi vũ khí, đạn dược, tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí nhất là sản xuất loại đạn DAM
1
.
Hội nghị cũng đã nhất trí những nguyên tắc cơ bản về tổ chức lực lượng vũ trang chi viện cho chiến trường miền Nam. Những nguyên tắc này sau đó đã được Thường vụ Trung ương chuẩn y.
Hội nghị khẳng định: chiến sự ở miền Nam đang ngày càng mở rộng. Quân địch đang tiếp tục đưa viện binh từ Pháp và các thuộc địa ở Châu Phi sang. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Bộ Tổng Tham Mưu cũng như các cấp chỉ huy quân sự các địa phương đối với tiền tuyến miền Nam là tiếp tục tổ chức tốt những dân quân Nam tiến và chuyển vũ khí quân trang quân dụng chi viện cho chiến trường trong Nam. Việc tổ chức vả bảo đảm mọi mặt cho các đơn vị lên đường là do tỉnh thành phụ trách, theo kế hoạch chung của BTTM đã được Thường vụ Trung ương thông qua. Binh lực nhiều hay ít sẽ do Bộ quy định, xét theo khả năng của từng địa phương, chủ yếu là coi trọng chất lượng. Thành phần các đơn vị Nam Tiến là những chiến sĩ tình nguyện, có tinh thần kỷ luật tốt và đã được huấn luyện ngắn ngày hoặc đã có ít nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Việc lựa chọn cán bộ chỉ huy phải được tiến hành chặt chẽ. Vũ khí của các đơn vị Nam Tiến phải chọn những khẩu súng tốt, có phụ tùng thay thế, có cơ số đạn nhiều nhất...
Sau hội nghị Bộ Tổng Tham Mưu đã cử phái viên xuống một số đơn vị và địa phương để giúp dưới triển khai kế hoạch tổ chức chấn chỉnh các đơn vị Vệ Quốc Đoàn nói chung và các đơn vị Nam Tiến nói riêng theo biểu biên chế mới. Ngành quân sự được quyền ưu tiên sử dụng đường sắt vào việc chuyển quân. Việc ăn uống hoàn toàn dựa vào sự ủng hộ của nhân dân các tỉnh thành dọc đường xe lửa Bắc Nam.
Đoàn quân Nam Tiến đầu tiên xuất phát từ Thủ đô Hà Nội ngày 26-9-1945, đúng vào ngày Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đoàn gồm 3 đại đội Bắc Sơn, Bắc Cạn và Hà Nội được tổ chức thành một chi đội do đồng chí Hoàng Thơ chỉ huy, đồng chí Vũ Nam Long làm phó. 72 cán bộ trong số gần 400 học viên vừa tốt nghiệp trường Quân chính Trung ương tại Hà Nội, cũng có mặt trong chuyến đi này.
Từ đó, suốt hai tháng hầu như không ngày nào không có quân Nam Tiến, hầu như không có chuyến tàu nào không chở quân Nam Tiến. Và cán bộ của cơ quan nhân sự của Bộ Tổng Tham Mưu luôn luôn có mặt để tổ chức cho các đoàn đi. Tiếp theo có các chi đội Bắc Bắc, Đông Triều, Nam Định, Ninh Bình, các đơn vị của Kiến An, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi v.v...
Từ tháng 11-1945 Bộ Tổng Tham Mưu còn tổ chức các chuyến tàu vũ khí, đạn dược, xăng dầu, lương thực thuốc men, quân trang quân dụng, vải v.v... chi viện cho chiến trường miền Nam.
Các loại hàng này đều được chuyển bằng đường xe lửa vào khu 5. Còn từ khu 5 vào Nam Bộ các đồng chí chuyến tải rất linh hoạt khi thì bằng ô tô, khi thì bằng thuyền.
Sang tháng 4-1946 Bộ Tổng Tham Mưu lại được lệnh của Thường vụ Trung ương tổ chức một chuyến tàu chở vũ khí đạn dược và quân trang quân dụng vào khu 5 rồi chuyển tiếp xuống thuyền vào Nam Bộ. Chuyến hàng này do đồng chí Nguyễn Thị Định cùng đi theo và áp tải, đến địa phận Bến Tre an toàn.
Triển khai thực hiện kế hoạch đã bàn bạc, thống nhất với đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng, được sự giúp đỡ của các cơ quan bạn. Phòng thông tin có thêm điều kiện mở rộng mạng liên lạc xa hơn so với những ngày đầu mới thành lập. Sau khi Chính phủ chuẩn y đề nghị đặt sở vô tuyến điện thuộc quyền điều hành của Bộ Quốc phòng
2
ngành thông tin quân sự có thêm một số máy, một số xe. Cuối tháng 9-1945 các Chiến Khu 1, 2, 3 và một số tỉnh trọng điểm đã liên lạc được với Trung ương bằng những máy vô tuyến điện đặt trên xe du lịch do Sở Hải quan chuyển sang BTTM. Ngày 1-10 được coi là ngày triển khai xong hệ thống thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện trong toàn quốc. Chữ toàn quốc đây dùng với nghĩa hẹp là ta có thể liên lạc được với đài Nam Bộ, khu 5 (Quảng Ngãi), chiến khu 1, chiến khu 2 và chiến khu 3.
Cùng với mạng liên lạc vô tuyến điện được mở rộng, bảng luật mật mã bước đầu được cải tiến, mỗi đài vô tuyến điện đã có một nhân viên mật mã. Hệ thống truyền đạt công văn bằng đường bộ của đội “liên lạc đặc biệt” đã bắt đầu hoạt động trên mấy tuyến đường chính: Hà Nội, Vinh, Huế, Khu 5, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Lao Cai. Nhưng hệ thống điện thoại còn phải dựa vào đường dây của Bưu Điện.
Cũng ngày 1-10 phòng thông tin liên lạc đã khai giảng một lớp báo vụ vô tuyến điện gồm 20 đồng chí. Lớp đã kết thúc vượt mức trong vòng 1 tháng. Tháng 11-1945 các báo vụ viên đã được việc. Trong buổi lễ bế mạc lớp học đồng chí Hoàng Văn Thái đã đến thăm, biểu dương và khen ngợi kết quả, tinh thần khẩn trương và chủ động của lớp học.
Khi chiến sự nổ ra ở Sài Gòn, do không kịp mang máy vô tuyến điện ra ngoại thành nên liên lạc giữa Nam Bộ với miền Bắc đã có lúc bị gián đoạn. Các báo vụ viên của Nam Bộ đã có sáng kiến chạy về Mỹ Tho nhờ đài ở đây để liên lạc với đài Trung ương, khi trời xấu nhờ đài Khu 5 (Quảng Ngãi) chuyển tiếp, nên việc liên lạc giữa Trung ương và Nam Bộ lại được thông suốt. Còn việc liên lạc giữa miền Đông và miền Tây vẫn tốt, nhờ ta vận dụng được các máy vô tuyến điện lấy được từ một máy bay rơi của Pháp.
Trên miền Bắc, dự kiến tình hình liên lạc sẽ khó khăn khi xẩy ra chiến sự nên Phòng thông tin đã bố trí thêm một đài vô tuyến điện dự bị ở ngoại thành Hà Nội, sẵn sàng cơ động khi có lệnh.
________________________________________
1.
Đạn DAM là loại đạn dùng cho súng trường của Pháp như Rơ-manh-tông, Mút-cờ-tông v.v…
2.
Theo sắc lệnh số 61 ngày 21-11-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
03:36 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Phòng tình báo cũng tập trung vào việc theo dõi âm mưu và hoạt động của quân đội Tưởng và tay sai, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Mặc dù phòng được chính thức thành lập muộn hơn các phòng khác (25-10-1945) nhưng đồng chí Hoàng Minh Đạo, trưởng phòng ra sức tìm người để đưa vào hoạt động ngay sau khi đã tranh thủ bồi dưỡng cấp tốc cho các anh em một số kiến thức về “tình báo sơ giải”. Nhờ vậy mà cuối năm 1945 đã bố trí đối tượng bám sát quân Tưởng ở tất cả các tỉnh. Phòng đặt trụ sở ở 67 Bà Triệu Hà Nội. Đến khoảng tháng 2 năm 1946 Phòng tình báo đã có 26 cơ sở tình báo ở Bắc Bộ và 6 nơi ở Trung Bộ, tập trung vào vùng biên giới, duyên hải và dọc các đường giao thông quan trọng.
Hình thức điều tra phố biển nhất là quan sát bằng mắt. Tình báo viên lợi dụng địa hình thuận tiện, kín đáo để quan sát theo rõi cổng trại lính Tưởng, đếm quân, đếm súng, đếm xe ra vào... Một vài nơi như ở Hà Nội, đã cài được người vào hàng ngũ chúng để điều tra một số tin quan trọng như chủ trương của bọn Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội sắp hành động gì ở đâu kể cả ý đồ bắt cóc cán bộ của ta v.v...
Nhờ đội ngũ tình báo viên dần dần được tăng cường, nên mạng lưới cơ sở được mở rộng, dần dần đã hình thành được những cá nhân và tổ chuyên trách theo dõi quân đội Tưởng và tay sai, theo dõi quân đội Pháp bị giam lỏng trong thành và Pháp kiều có vũ trang đang chuẩn bị hoạt động và cả bọn phản động đội lốt tôn giáo lén lút hoạt động dưới sự chỉ đạo của Lê Hữu Từ.
Bộ phận nhân sự mới hình thành, quân số còn ít ỏi (4 người), chưa có trình độ nghiệp vụ, trong khi đó nề nếp chế độ báo cáo ở dưới lên chưa có, mẫu biểu chưa được quy định thống nhất nên chưa thể nắm được tình hình phát triển của lực lượng vũ trang ở các đơn vị, các địa phương. Thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch cho các Chiến Khu, các tỉnh phải nhanh chóng chấn chỉnh và củng cố quân giải phóng ngày 15-9-1945, sau khi trao đổi bàn bạc trong bộ phận nhân sự các đồng chí thấy việc cử người xuống các đơn vị, các địa phương trọng điểm là biện pháp phù hợp nhất để nắm tình hình về mọi mặt quân số, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang.
Khi xuống các khu, tỉnh và các đơn vị cơ sở đề đảm bảo nắm quân số chính xác các đồng chí mượn quân số của Khu của Tỉnh, đối chiếu với quân số của các chi đội, trung đoàn, lấy sổ ghi quân số ăn hàng ngày của quản lý đại đội, tiểu đoàn đối chiếu với sổ nắm quân của cấp chỉ huy đơn vị cơ sở.
Qua thời gian xuống cơ sở nắm tình hình, Bộ Tổng Tham Mưu đã đánh giá được thực trạng chung tình hình lực lượng vũ trang của ta ở các địa phương, các đơn vị:
Từ khi cách mạng tháng Tám thành công đến nay các lực lượng vũ trang địa phương phát triển khá nhanh, nhưng các đơn vị tập trung trực thuộc Trung ương vẫn còn ít: chỉ có hai chi đội giải phóng quân từ chiến khu về, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ. Biên chế tổ chức mỗi nơi một khác, chưa thống nhất. Vũ khí đạn dược rất thiếu và chất lượng không đảm bảo. Việc nuôi dưỡng bộ đội hầu như hoàn toàn dựa vào các địa phương, phần lớn cán bộ và chiến sĩ của các đơn vị mới thành lập chưa được huấn luyện cơ bản về quân sự theo một chương trình thống nhất.
Chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng và Chính phủ phân chia lại chiến trường: Bắc Bộ có 3 chiến khu, Trung Bộ có 3 chiến khu, Nam Bộ có 3 chiến khu
1
. Theo chỉ thị của đồng chí Võ Nguyên Giáp, cuối tháng 10-1945 Bộ Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc hội nghị để bàn việc củng cố hệ thống tổ chức chỉ huy, phân chia lại lực lượng vũ trang và chuẩn bị một số nguyên tắc về xây dựng lực lượng vũ trang để đề đạt lên Thường vụ Trung ương phê duyệt. Thành phần hội nghị gồm các ủy viên quân sự khu, tỉnh, thành phổ và cán bộ chỉ huy chi đội, trung đoàn từ khu 4 trở ra.
Mở đầu hội nghị đồng chí Hoàng Văn Thái phổ biến chỉ thị của Hồ Chủ Tịch là từ nay giải phóng quân đổi tên là Vệ Quốc Đoàn.
Hội nghị đã thống nhất đề nghị về tổ chức biên chế của các đơn vị Vệ Quốc Đoàn như sau: Các đơn vị tổ chức theo hệ thống tam tam chế (mỗi phân đội, tức trung đội) có 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 người. Mỗi trung đội (tức đại đội) có 3 phân đội hay trung đội. Mỗi trung đoàn có 3 đại đội tức 3 tiểu đoàn. Từ trung đội trở lên có chính trị viên. Từ cấp chiến khu có chính trị ủy viên.
______________________________________
1.
Bắc Bộ có 3 chiến khu 1, 2, 3.
+
Chiến khu 1
gồm 13 tỉnh: Lai Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, do đồng chí Lê Quảng Ba làm khu trưởng, Thanh Phong làm phó, Tạ Xuân Thuỳ chính trị viên ủy viên.
+
Chiến khu 2
gồm 8 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nội, Sơn Tây, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình do đồng chí Hoàng Sâm làm khu trưởng. Văn Tiến Dũng làm chính trị ủy viên.
+
Chiến khu 3
gồm 8 tỉnh thành: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh, Hải Phòng do các đồng chí Hoàng Minh Thái làm khu trưởng, Lê Quang Hòa chính trị ủy viên.
Trung Bộ có 3 chiến khu 4, 5, 6.
+
Chiến khu 4
có 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.
+
Chiến khu 5
có 5 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kông Tum, Gia Lai.
+
Chiến khu 6
có 6 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.
Nam bộ có 3 chiến khu 7, 8, 9
+
Chiến khu 7
có 7 tỉnh: Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn, Bà Rịa.
+
Chiến khu 8
có 5 tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc.
+
Chiến khu 9
có 9 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng.
03:35 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Tuy công việc rất bận, đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa là Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ làm thời nhưng vẫn được Hồ Chủ Tịch và Thường vụ Trung ương giao nhiệm vụ theo dõi và giúp đỡ chỉ đạo công tác quân sự, chuẩn bị quốc phòng. Đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng tranh thủ từng thời gian đề hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiều điều vướng mắc của cơ quan, để xác định hướng đi cho mình và cho đơn vị.
Đầu tháng 10-1945 đồng chí Võ Nguyên Giáp đến thăm cơ quan ở số 18 Nguyễn Du. Sau khi nghe đồng chí Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình tổ chức cơ quan những việc đang làm và những việc đang nghiên cứu, đồng chí Võ Nguyên Giáp căn dặn: về cơ cấu tổ chức cơ quan đồng chí nhất chí như định hình hiện nay nhưng cần cố gắng vừa làm vừa rút kinh nghiệm và chấn chỉnh dần dần. Về phương pháp công tác cần:
- Cố gắng nắm được tình hình các khu, các tỉnh. Cần hiểu dưới đó các đồng chí đang làm gì, gặp khó khăn, thuận lợi gì, cần chúng ta giúp đỡ gì. Có như thế mới chỉ đạo, chỉ huy, hướng dẫn cho dưới đi đúng đường lối chủ trương của Đoàn thể.
- Việc nắm tình hình các đơn vị bây giờ cũng có khác. Trung ương đã trao đổi với các khu về việc tổ chức cơ quan tham mưu, cần bàn với dưới nên tổ chức cơ quan tham mưu xuống tận cơ quan quân sự tỉnh, phải hướng dẫn cho anh em cách báo cáo thường xuyên. Trường hợp cần nắm sâu một địa phương nào, về một vấn đề gì thì chỉ hướng dẫn cho anh em cơ quan của Bộ xuống. Ngay trong cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Tham Mưu Trưởng cũng chỉ nên tập trung nắm một số đầu mối quan trọng còn thì giao cho tham mưu chủ nhiệm. Cần có chế độ họp nghe cán bộ theo dõi từng hướng, đơn vị báo cáo và hướng dẫn rút kinh nghiệm để cán bộ biết nắm tình hình và báo cáo tình hình.
- Công việc của chúng ta lúc này thật nhiều. Nhưng phải nắm đâu là công việc chính, tình hình gì là chủ yếu cần nắm và lại phải hướng dẫn cho anh em cũng biết nắm tình hình nữa. Chúng ta không còn hoạt động trong một phạm vi nhỏ hẹp trong một địa phương như trước đây nữa mà việc chúng ta làm hiện nay có tính chất rộng lớn cả nước. Nắm tình hình cũng phải chú ý nhiều nhất trước nhất đến những vấn đề có ảnh hưởng tới cả nước. Giải quyết công việc hàng ngày cũng phải biết gạt bớt những cái gì vụn vặt. Nếu công việc nào không ảnh hưởng đến tình hình chung cả nước thì cứ để các địa phương và cấp dưới trong cơ quan bàn bạc tự do liệu lấy, sau khi đã góp ý kiến chỉ đạo để các đồng chí đi đúng phương hướng.
Sau khi bộ máy được định hình, từ khoảng tháng 10, tháng 11, hoạt động của từng bộ phận đã đi vào nội dung cụ thể của chức năng nhiệm vụ, kết quả công việc đã bước đầu có hiệu suất, do đi đúng hướng mà đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng đã cùng anh em bàn bạc và tổ chức triển khai sau khi có sự hướng dẫn từng bước của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Nhìn chung lại, từ dây mới chính là quá trình vừa làm vừa học mà Bác Hồ đã vạch ra từ 2 tháng trước.
Cùng với những buổi bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày được tổ chức thường xuyên, đều đặn ở từng phòng, là những buổi hội báo, nghe tin tức hàng tuần, có khi hàng ngày, những buổi tổng hợp tình hình và rút kinh nghiệm v.v... Nề nếp đó dần dần trở thành biện pháp tốt để anh chị em thấy cần tập trung vào những tin tức gì và làm thế nào để có những tin tức chính xác, báo cáo thế nào để trên nắm được tin tức kịp thời hơn, tranh thủ sự giúp đỡ, hướng dẫn của trên như thế nào để công tác đi đúng hướng và đạt hiệu suất cao hơn. Ngày nay những phương pháp làm việc trên đây thật là bình thường, nhưng phải sống trong bối cảnh đang trải qua những ngày đầu cơ quan mới thành lập thì mới thấy việc tìm được ra những phương pháp làm việc sơ đẳng ấy là cả một quá trình mày mò, từng bước.
Một kinh nghiệm hay là cơ quan tham mưu biết mau chóng mở lớp đào tạo nhân viên chuyên môn, không những để thêm người cho cơ quan nghiệp vụ trên Bộ hoạt động đều mà còn nhằm rút kinh nghiệm huấn luyện cho các giáo viên chuẩn bị cho các lớp chính thức đào tạo nhân viên chuyên môn cho các địa phương và đơn vị. Ở mỗi phòng, như đã thành nếp, cứ có “lính mới” được bổ sung về là mở “lớp” dù chỉ vài ba người. Chính do không cầu toàn, không chờ đợi, lại biết xoáy vào những nội dung thiết thực và những kinh nghiệm đầu tiên (tuy còn rất ít ỏi và đơn sơ) mà những buổi bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên ở từng Phòng đã giúp cho nhiều anh em về cơ quan với hai bàn tay trắng về nghiệp vụ đã dần dần quen với công việc. Điều đó giải thích vì sao quá trình cán bộ được bổ sung về từng bước cũng là quá trình nhịp độ hoạt động của bộ máy nhịp nhàng và có hiệu quả hơn.
Chiến sự đang lan rộng ở miền Nam, nhưng vì nhiều lý do, trước hết vì phương tiện thông tin hạn chế, báo cáo dưới lên chưa thành nền nếp, chế độ cho nên cơ quan tác chiến thời gian này chưa có điều kiện với tới các chiến trường xa được, chủ yếu là nắm tình hình ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ (khu 4). Ngoài việc thu thập tin tức chiến sự (nhưng cũng hạn chế vì phần lớn là ở miền Nam) phòng Tác chiến đồ bản còn lo sưu tầm các loại bản đồ của Sở địa chính Bắc Kỳ, phân loại, sắp xếp, can vẽ và in theo lối nhật chiếu
1
, bước đầu cung cấp cho các đơn vị đáp ứng một phần theo yêu cầu trước mắt.
Một công việc thực tế thu hút nhiều hoạt động của phòng Tác chiến là phải đi dàn xếp những vụ xung đột do quân Tưởng gây ra, hầu như ngày nào cũng có, ngay ở Thủ đô Hà Nội. Xử trí với những chuyện gây rối của chúng trong điều kiện ngôn ngữ bất đồng thật là một việc đầy khó khăn phức tạp. Yêu cầu của trên đề ra là làm sao ngăn chặn được hành động của chúng nhâm đảm bảo chủ trương hòa hoãn, bảo vệ được chính quyền cách mạng, đồng thời tập trung được tinh lực để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang lan rộng ở miền Nam. Cán bộ tác chiến phải thấm nhuần phương châm mà Hồ Chủ Tịch đã đề ra là phải làm sao biến những cuộc xung đột to thành xung đột nhỏ, biến những cuộc xung đột nhỏ thành không có xung đột. Bằng những biện pháp vừa kiên quyết, vừa khéo léo mềm dẻo, dựa vào sự ủng hộ và hậu thuẫn của nhân dân, các đồng chí đã góp phần hạn chế ý đồ gây xung đột và phá hoại của quân đội Trưởng, đồng thời răn đe được bọn phản động trong các đảng phái phản cách mạng.
__________________________________
1.
In theo lối nhật chiếu là in theo ánh sáng mặt trời rọi xuống tấm kính dưới có đặt giấy có tẩm thuốc hóa học mầu tím.
03:34 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Vấn đề trăn trở đối với đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng trong những ngày này là tổ chức cơ quan như thế nào, gồm những bộ phận gì và tên gọi ra sao, cung cách tiến hành công việc phải như thế nào cho đúng chức năng nhiệm vụ. Trải qua nhiều ngày suy nghĩ và trao đổi ý kiến với nhóm được phân công nghiên cứu tổ chức cơ quan tham mưu
1
và tranh thủ trao đổi ý kiến với các cán bộ ở các khu, các trung đoàn về họp ở Bộ, lại được sự gợi ý hướng dẫn của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Hoàng Văn Thái đã cùng cán bộ thống nhất định hình các tổ chức chính trong cơ quan là Tác chiến – Đồ bản, Tình báo, Thông tin liên lạc và Văn phòng.
Hồi đó, các đồng chí trong cơ quan cũng không ai bàn cãi nhiều chung quanh vấn đề đặt tên ví như phòng Tình báo nên gọi là phòng 2 hay phòng 5, phòng Tác chiến nên gọi là phòng 1 hay phòng 3... Cứ theo việc mà đặt tên để làm việc đã. Cũng có ý kiến cho rằng Văn phòng đảm nhiệm quá nhiều công việc, cả Văn thư hành chính, cả quản lý nội bộ, lại còn bao gồm cả tổ nhân sự có nhiệm vụ theo rõi binh lực toàn quân. Có ý kiến cho rằng không nên để tổ mật mã trong phòng thông tin liên lạc v v… Những ý kiến chung cho rằng số cán bộ của cơ quan tham mưu lúc đầu chưa nhiều, bộ phận nào cũng đang trong quá trình định hướng công việc nên cứ tạm để trong Văn phòng như vậy, trải qua thực tế vừa làm vừa rút kinh nghiệm sẽ thay đổi, bổ khuyết dần...
Thế là từ khoảng trung tuần tháng 10-1945, cơ cấu tổ chức cơ quan tham mưu bước đầu được hình thành cùng với sự phân công phân nhiệm trong nội bộ từng bộ phận và mối quan hệ hợp đồng giữa bộ phận này với bộ phận khác.
Để cho guồng máy trong cơ quan bước đầu chạy được đều đặn, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng bắt đầu gặp trực tiếp từng bộ phận để xác định hướng đi cho họ:
Về thông tin liên lạc đồng chí Hoàng Văn Thái bàn với đồng chí Hoàng Đạo Thúy nên tổ chức ngay một mạng thông tin vô tuyến điện, một mạng điện báo, một hệ thống truyền đạt công văn, và mở lớp huấn luyện sử dụng máy vô tuyến cho các chiến khu, các đơn vị để rồi đây khi có thêm người, thêm phương tiện thông tin, cần tập trung cho các địa phương đang có chiến sự ở trong Nam và các địa bàn xung yếu ngoài Bắc. Trước hết phải đảm bảo thông suốt từ các chiến khu về Trung ương. Bộ phận mật mã cần nghiên cứu bản luật mật mã để đảm bảo bí mật chỉ huy bằng vô tuyến điện và bằng điện thoại qua đường dây của Bưu điện, khi ngành quân sự chưa tổ chức được hệ thống điện thoại riêng đảm bảo bí mật chỉ huy.
Ngày 29 tháng 10 đồng chí Hoàng Văn Thái tiếp tục trao đổi ý kiến với các đồng chí phụ trách bộ phận nắm địch là Hoàng Minh Đạo và Bùi Huy Bê
2
để định hướng việc theo dõi tình hình địch của phòng tình báo. Cuộc họp kéo dài một ngày đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng quan hệ tới nghiệp vụ của bộ phận này.
Mưu đồ “diệt Cộng - cầm Hồ”
3
của Tưởng chính là mục đích hiện nay của chừng hai mươi vạn quân Tưởng vào miền Bắc, bề ngoài là để giải giáp mấy vạn quân Nhật. Yêu cầu đặt ra là cơ quan tình báo phải liên hệ mật thiết với giám đốc Nha Liêm Phóng (đồng chí Lê Giản) bám sát để kịp thời có kế hoạch phối hợp ngăn chặn hành động chống phá của quân Tưởng vào bọn Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng, tay sai của Tưởng.
Ở miền Nam, theo tin tức chúng ta nhận được trong gần một tháng qua cho thấy chiến sự vẫn ngày càng ác liệt và chiến trường ngày càng mở rộng. Bàn tay của quân đội Anh nối giáo cho quân Pháp đã quá rõ ràng. Sau khi giúp cho quân Pháp đứng chân vững ở miền Nam Việt Nam quân Anh sẽ rút đi và quân Nhật cũng sẽ được hồi hương. Đối tượng chính còn lại mà ta cần tập trung theo dõi là quân đội Viễn chinh Pháp và số lính Pháp bại trận sau ngày 9-3-1945 còn bị giam trong nội thành Hà Nội, số tàn quân chạy trốn sang vùng Vân Nam (Trung Quốc) đang đợi thời cơ kéo về. Bọn Pháp kiều có vũ trang ở Hà Nội đang chờ thời cơ ngóc đầu dậy, và ở chính quốc chúng sẽ tiếp tục đưa sang. Phòng tình báo cần bố trí hệ thống nắm địch theo phương hướng như đã bàn bạc thống nhất.
Từ sau ngày giành chính quyền, lực lượng vũ trang của ta ở các địa phương phát triển nhảy vọt theo chủ trương và nguyện vọng của từng nơi chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Trao đổi ý kiến với bộ phận Nhân sự, đồng chí Tổng Tham Mưu Trưởng thấy yêu cầu đặt ra đối với cơ quan tham mưu là phải làm sao nắm cho được tình hình bộ đội ở các địa phương, các đơn vị, để đề đạt ý kiến về chỉ đạo xây dựng, tổ chức huấn luyện, các đơn vị cho thống nhất. Phải nắm lấy công việc động viên chi viện cho miền Nam làm trọng tâm trọng điểm và kiểm tra các địa phương đang thực hiện theo chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề này. Tình trạng Vệ quốc quân, du kích và tự vệ ở các nơi còn tự túc về trang bị theo khả năng của từng địa phương. Các cơ quan Quan nhu, Quân khí đã hình thành trong Bộ Quốc Phòng nhưng vì mới, chưa tới các đơn vị được. Cơ quan Nhân sự cần quan hệ với các cơ quan nói trên để bàn bạc, có kế hoạch thống nhất chỉ đạo sản xuất vũ khí trong phạm vi khả năng của ta và nhất là mua vũ khí của quân đội Tưởng và quân đội Nhật để ưu tiên trang bị cho lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh. Các đơn vị Vệ quốc đoàn còn do chính quyền tỉnh cấp dưỡng việc này ta cũng phải suy nghĩ thêm. Cần nghiên cứu nhanh chóng các mẫu biểu và chế độ báo cáo hướng dẫn cho các chiến khu các đơn vị để thống nhất từng bước biên chế, tổ chức, trang bị, phiên hiệu...
Thảo luận về công tác xây dựng bộ phận mật mã, đồng chí Hoàng Văn Thái nhất trí với đề nghị của đồng chí Hoàng Đạo Thúy là nên giao cho đồng chí Tạ Quang Đệ (Quang Đạm) tập trung vào việc nghiên cứu bản luật mật mã. Khi được giao nhiệm vụ đồng chí Tạ Quang Đạm chỉ được nghe ý kiến tầm quan trọng và yêu cầu của việc bảo đảm bí mật chỉ huy quân sự, còn nội dung cụ thể của công tác này đối với đồng chí vẫn còn là một ẩn số. Khi bắt tay vào nghiên cứu, đồng chí dựa trên cơ sở kinh nghiệm “trò chơi đọc thư mật” khi còn trong tổ chức Hướng đạo sinh mấy năm trước. Nhờ có trình độ văn hóa lại có thói quen tìm tòi nghiên cứu, đồng chí đã lập ra bảng luật bằng cách nghiên cứu từ ngữ trong các từ điển Việt - Việt,Việt - Pháp, Việt - Hán và nghiên cứu cả cuốn “ấm tự” (cryptographie) của một người Pháp. Cuối cùng một bảng luật đã hình thành, tuy “khóa” còn rất đơn sơ nhưng đã được đưa vào sử dụng. Quá trình vừa sử dụng vừa cải tiến, chỉ ba tháng sau, (cuối năm 1945) luật mật mã đã được đánh giá là “tương đối thích hợp và đạt trình độ tương đối tin cậy so với yêu cầu đề ra”.
_______________________________________
1.
Trong nhóm nghiên cứu ngoài các cựu binh sĩ yêu nước còn có chuyên gia người Nhật tên là Lâm Sơn, một võ quan Nhật Bản sang hàng ngũ ta.
2.
Đồng chí Bùi Huy Bê là Phó phòng Tình báo.
3.
“Diệt Cộng – Cầm Hồ” là diệt Cộng sản, bắt giữ Chủ. tịch Hồ Chí Minh.
03:33 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
CHƯƠNG 1:
NHỮNG NGÀY ĐẦU MỚI THÀNH LẬP
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ:
Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Châu Á.
Nhân dân và quân đội ta vừa mới đứng lên giành quyền làm chủ vận mệnh của mình thì quân thù đã từ nhiều phía kéo đến trên cả hai miền đất nước
1
. Hiệp định Pô-x-dam (7/45) đã hợp pháp hóa hành động của bọn đế quốc Anh và bọn Tưởng Giới Thạch mượn tiếng tước vũ khí quân Nhật để thi hành một âm mưu thâm độc: thôn tính nước ta và buộc nhân dân ta trở lại cuộc đời nô lệ mới. Cách mạng Việt Nam vừa giành được chính quyền đã ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Nhưng cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên, “ toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập...”(Tuyên Ngôn độc lập).
Đối với lực lượng vũ trang trong cả nước, sau khi cướp chính quyền, chúng ta đã có Bộ Quốc Phòng, Quân ủy Hội nhưng chưa kịp thành lập Bộ Tổng Tham mưu để giúp Ban chấp hành Trưng ương Đảng, Bộ Quốc Phòng và Quân ủy Hội xây dựng, chỉ huy và chỉ đạo lực lượng vũ trang trong cả nước. Đây là một công việc vô cùng cấp bách và quan trọng. Bộ Tổng Tham mưu ra đời trong lúc này nhằm đáp ứng lòng mong mỏi của toàn quân, toàn dân. Theo đề nghị của đồng chí Võ Nguyên Giáp với Thường vự Trung ương Đảng, ngày 7 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập cơ quan tham mưu quân đội cho đồng chí Hoàng Văn Thái tại Phủ Chủ Tịch
2
. Cùng tham dự giao nhiệm vụ có đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Khi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiều điều rất cơ bản có tầm quan trọng quyết định phương hướng xây dựng, hoạt động và tiến lên của Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan tham mưu các cấp trong toàn quân không chỉ cho buổi ban đầu ấy mà suốt cả trên hơn bốn mươi năm qua. Người nói đại ý: “Ta vừa giành được độc lập, tự do, cả nước đang tích cực xây dựng quân giải phóng và tự vệ để cùng toàn dân giữ gìn độc lập, tự do. Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức Bộ Quốc phòng nay Đoàn thể (Đảng) lập Bộ Tổng Tham mưu để chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước. Bộ Tham Mưu là cơ quan quân sự cơ mật của đoàn thể, là cơ quan quan trọng của quân đội, có nhiệm vụ: tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi; tổ chức nắm dịch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng.
Bây giờ chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu biết về công tác tham mưu, có khó khăn đấy, nhưng phải cố gắng vừa làm vừa học, có quyết tâm làm thì khó mấy cũng làm được, thế nào ta cũng xây dựng được một ngành tham mưu vững mạnh, tài cán, xứng đáng với dân tộc Việt Nam mưu trí, sáng tạo và anh hùng bất khuất, để bảo vệ độc lập của Tổ quốc, tự do của dân tộc...”
3
.
Đồng chí Hoàng Đạo Thúy báo cáo với hội nghị là Đoàn thể mới cử sang hai đồng chí Vũ Hán Thăng và Lê Dung đã từng ở trong nghề vô tuyến điện của Pháp. Ngoài ra còn có một số cựu binh sĩ cứu quốc. Các đồng chí đã kiếm được một số máy vô tuyến diện, đã liên lạc thử được với đài của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ nhưng khi trời xấu, phải nhờ đài Quảng Ngãi chuyển tiếp.
Các đồng chí Hoàng Minh Đạo phụ trách bộ phận tình báo và Nguyễn Văn Trang... cũng báo cáo tình hình các bộ phận đầu tiên của mình đang trong quá trình hình thành.
Cuộc họp vừa để ra mắt, vừa bàn về tổ chức và sinh hoạt của cơ quan đã diễn ra trong vòng trên một tiếng đồng hồ. Cuối cùng đồng chí Hoàng Văn Thái kết luận:
- Hôm nay chúng ta mới bước đầu làm quen với nhau và cũng mới bàn được một số công việc trước mắt. Trước hết cần ổn định chỗ ở và nơi làm việc. Do cơ quan còn thiếu phương tiện sinh hoạt, các đồng chí có gia đình ở Hà Nội vẫn tạm thời được phép ăn ngủ ở nhà ban đêm, ban ngày đến làm việc. Các đồng chí khác ăn ở nhà ăn tập thể và ngủ ở căn nhà đằng sau cơ quan. Việc canh gác do đội vệ binh đảm nhiệm. Ngoài một số cán bộ sẽ được Thành ủy và Tổng bộ Việt Minh giới thiệu sang, các đồng chí cần tìm thêm những người quen biết tin cậy, báo cáo trên xét duyệt để đưa vào làm việc. Các đồng chí cựu binh sĩ cứu quốc sẽ làm việc riêng với tôi để bàn việc tổ chức cơ cấu của cơ quan ta. Chúng ta nghiên cứu tổ chức biên chế của cơ quan tham mưu nước ngoài nhưng có chọn lọc, cần vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta trong lúc này, nhất là yêu cầu nắm địch, nắm ta, theo rõi việc xây dựng lực lượng vũ trang, đồng thời bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt...
Đồng chí căn dặn mọi người thân ái đoàn kết, cùng nhau góp công sức của mình, đem hiểu biết xây dựng cơ quan để guồng máy sớm hoạt động. Cần coi trọng giữ bí mật về tổ chức và công việc của cơ quan, giữ quan hệ tốt với nhân dân khu phố, nhất là đối với tự vệ và thanh niên. Mọi việc quan hệ về công tác chuyên môn với các đơn vị và địa phương nhất nhất đều phải báo cáo với cán bộ phụ trách...
Cuộc họp kết thúc trong không khí hồ hởi phấn khởi của những thanh niên đầy tinh thần yêu nước nhưng còn rất bỡ ngỡ về nhận thức đối với vai trò và tác dụng của cơ quan tham mưu chiến lược.
______________________________________
1.
Ở miền Bắc từ ngày 27-8-1945 trở đi 4 quân đoàn trung ương và địa phương của Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán là Tư lệnh lần lượt vượt biên giới vào nước ta. Tổng quân số lên tới gần 20 vạn quân: Quân đoàn 93 từ Lào Cai theo sông Hồng xuống, quân đoàn 62 theo đường Lạng Sơn sang đóng trên các trục giao thông từ Hà Nội đến đồng bằng Bắc Bộ. Quân đoàn 50 theo đường biển vào vùng Đông Bắc và Hải Phòng. Quân đoàn 60 đóng từ Hội An (Quảng Nam) trở ra. Một sư đoàn thuộc quân đoàn 60 vào Lào.
Ở miền Nam Việt Nam lực lượng của Anh, Pháp gồm: một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 quân đội Hoàng gia Anh do tướng Gracey (Grê-xi) làm Tư lệnh kiêm Trưởng phái bộ Đồng minh từ vĩ tuyến 16 trở xuống Nam Bộ. Một đại đội của Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5eRiC) của Pháp đi theo quân Anh ngay từ ngày đầu (12-9-1945), 1400 tù binh Pháp thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11eRiC) bị Nhật cầm tù từ 9-3-1944 vừa mới được Anh thả ra vào khoảng 500 Pháp kiều có vũ trang.
Dựa vào thế lực của Anh và trên 5000 lính Nhật đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xi-bin, ủy viên cộng hòa Pháp ở miền Nam Đông Dương quyết định nhanh chóng đánh chiếm Sài Gòn.
2.
Phủ Chủ Tịch hồi đó là Bắc Bộ Phủ (số 10 phố Ngô Quyền, nay là nhà khách của Chính Phủ).
3.
“40 năm chiến đấu và trưởng thành của BTTM” của Đại tướng Hoàng Văn Thái, trang 17. Tạp chí QĐND số tháng 9 năm 1985.
03:33 CH 30/07/2009
Tư liệu lịch sử chiến trường Việt Nam
Lịch sử BTTM trong cuộc KCCP (1945-1954)
Tên sách: Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
Tác giả: Bộ Tổng Tham mưu
Nhà xuất bản: Nhà in BTTM-Hà Nội
Năm xuất bản: 1991
Số hoá: ptlinh, chuongxedap
Chỉ đạo nội dung:
Đại tướng:
HOÀNG VĂN THÁI
Thượng tướng: TRẦN VĂN QUANG
Ban biên tập:
Chủ biên: Đại tá PHAN VĂN CẨN
Phó chủ biên: Đại tá LÊ HỮU THANH
Các biên tập viên:
đại tá TÔN THẤT CẢNH
Đại tá
TRẦN QUANG ĐẨU
Đại tá CAO KHẮC GIÁP
Đại tá NGUYỄN BộI GIONG
Đại tá PHAN HẠO
Đại tá NGUYỄN VĂN NGẠN
Đại tá PHẠM HỒNG THẮNG
Lời giới thiệu
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu, Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ cho phát hành quyển “
Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp
”
Bộ Tổng Tham mưu là một trong những cơ quan quan trọng bậc nhất của Bộ Tổng Tư lệnh. Nó có quan hệ mật thiết với các cơ quan khác của Tổng hành dinh, đặc biệt là với Tổng Cục Chính trị và Tổng Cục Hậu cần. Nó luôn luôn được Bác Hồ, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quan tâm chỉ đạo và được các cơ quan khác trong quân đội cũng như các cơ quan dân chính đảng hết lòng giúp đỡ.
Cuốn “Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp” là một công trình được xây dựng rất công phu. Tập thể cán bộ của Ban Biên tập đã sưu tầm được những tư liệu quý, nói chung phản ánh được những bước hình thành và phát triển của Bộ Tổng Tham mưu, đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, vừa học vừa làm, vừa làm vừa tiến bộ, đạt được những thành tựu ngày càng quan trọng.
Tuân theo lời dạy của Bác Hồ khi Người trao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Văn Thái, người Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội ta, vào ngày 7 tháng 9 năm 1945, tập cán bộ Bộ Tổng Tham mưu đã quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bạn trong Bộ Tổng Tư lệnh, phát huy trí tuệ và tài năng sáng tạo, bám sát thực tiễn của chiến trường, dốc lòng, dốc sức giúp cơ quan lãng đạo trong nhiều lĩnh vực: từ đánh giá địch ta, phát huy quy luật của chiến tranh, cho đến việc đề xuất những chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật…
Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành tốt nhiệm vụ vẻ vang, có những cống hiến xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ những cuộc chiến đấu ban đầu cho đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Công trình xuất bản lần đầu, mặc dầu đã có cố gắng lớn, nhưng không tránh khỏi thiếu sót và nhược điểm. Vì vậy, ban biên tập và tổng kết rất mong nhận được những ý kiến phê bình và bổ sung của đông đảo bạn đọc. Đặc biệt mong rằng các cán bộ trung cấp và cao cấp trong quân đội, với kiến thức và kinh nghiệm của mình, với quan điểm phân tích và tổng hợp lại tự những đỉnh cao của những thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, từ yêu cầu xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng ngày nay, mà nêu lên được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn ý nghĩa những kinh nghiệm về công tác tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm xưa, có những gợi ý xây dựng nhằm nâng cao chất lượng và hoàn chỉnh hơn công trình hôm nay ra mắt bạn đọc.
Với tinh thần ấy, tôi có lời biểu dương cố gắng của tập thể ban biên tập và tổng kết và trân trọng giới thiệu với bạn đọc quyển lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hà Nội
, mùa xuân năm 1992.
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh QĐNDVN
03:31 CH 30/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Người Bạn Đồng Hành (Tiếp)
Tác Giả:
Hans Christian Andersen
Ta cứ đến xem sao!
Vậy là bất chấp những lời can ngăn của mọi người kể cả người bạn đồng hành. Giăng kiên quyết vào cung vua để gặp công chúa xin trả lời câu hỏi của nàng. Anh chải giầy và quần áo, rửa mặt mũi rồi ra phố để vào cung. Nghe tiếng gõ cửa, nhà vua phán:
- Cứ vào!
Giăng mở cả thấy nhà vua mặc quần áo ngủ, đi hài thêu, ra tiếp anh. Ngài đưa tay cho Giăng.
Khi biết là chàng đến cầu hôn, người oà khóc lên, bỏ rơi quyền trượng xuống đất, lấy ao lau nước mắt và nói:
- Đừng dại mà vào đấy! Ngươi sẽ không tránh khỏi số phận những người đi trước đâu. Hãy đi theo ta!
Nhà vua dẫn Giăng ra khu vườn. Trên cây lủng lẳng những bộ xương người, dưới đất lăn lóc những đầu lâu.
Đấy là xác chết của những người đã đến cầu hon nhưng không trả lời được câu hỏi của công chúa, bị nàng treo cổ.
Vua hỏi: Thấy chưa? Tốt nhất là nên quay về, không thì sẽ mất xác vô ích.
Giăng hôn tay nhà vua nhân đức và tâu rằng tình yên mãnh liệt của chàng đối với công chúa sẽ giúp nàng vượt qua tất cả.
Vừa lúc công chúa đi du ngoạn về. Nàng mời Giăng vào phòng khách trò chuyện và hẹn sáng hôm sau nàng sẽ tiếp. Hội đồng giám khảo và các quan tư pháp sẽ họp để nghe anh trả lời và phán quyết. Sẽ có ba câu hỏi. Trả lời được câu thứ nhất mới được trả lời câu sau. Nếu ngay từ đầu đã trả lời sai thì coi như mất đầu. Giăng chấp nhận tất cả các điều kiện, không sợ hãi, rồi ra về quán trọ nghỉ, để hôm sau vào cung.
Người bạn đồng hành đang đợi Giăng về để hỏi tình hình. Giăng đã kể lại đầu đuôi và khăng định quyết của mình. Người bạn nói:
- Tôi quý cậu lắm. Lẽ ra chúng ta còn sống chung với nhau lâu dài. Nhưng cậu đã quyết tâm, mình không biết làm thế nào.
Trong thành phố người ta biết tin có người đến cầu hôn công chúa. Ai cũng buồn cho anh. Nhà vua và các linh mục quỳ lễ trong nhà thờ. Ai cũng cho rằng ngày tận số của Giăng đã đến.
Đến tối hai người bạn uống rượu vĩnh biệt. Giăng say nằm ngủ đi. Người bạn đứng dậy lấy đôi cánh thiên nga chắp vào vai mình, giắt một chiếc roi bà cụ đưa hôm nọ rồi mở cánh bay đến cung vua.
Đến nơi, anh bạn của Giăng nép vào một bóng tối. Anh thấy công chúa khoác áo màu trắng, mở cửa sổ xòe đôi cánh rộng bay qua thành phố đến một ngọn núi cao. Anh bạn của Giăng tàng hình và bay theo công chúa. Anh vừa bay lấy roi vụt vào công chúa. Anh có roi tàng hình nên công chúa không nhìn thấy.
Rồi hai người đến ngọn núi cao. Công chúa gõ khẽ vào một tảng đá. Tảng đá nứt làm đôi thành một hang sâu. Công chúa lẻn vào. Anh bạn của Giăng vẫn tàng hình đứng nấp sau chiếc ngai nghe ngóng.
Anh nghe thấy công chúa nói lại có một chàng trai đến xin cầu hôn và hỏi lão phù thuỷ nên đố câu gì trước.
Phù thuỷ bảo: "Giầy, giầy là vật tầm thường, hắn không ngờ tới, không đoán ra được đâu. Vậy là con có thể chặt đầu nó ngay nó ngay từ ngày thứ nhất không bị quấy rầy sang ngày sau. Nhớ đem đôi mắt nó về để ta dùng bữa.
Công chúa lạy ta ra về. Anh bạn của Giăng cũng bay về quán trọ ngủ. Sáng hôm sau thức dậy, anh bạn nó bảo: "Đêm qua mình mơ thấy đôi giầy. Hôm nay vào cung nếu công chúa hỏi nàng đang nghĩ gì thì cậu cứ nói "Giầy".
Giăng ra đi để vào cung. Đến nơi đã thấy đông đủ các quan chức ngồi chật ních trong phòng. Cùng lúc ấy công chúa trong bộ quần áo lộng lẫy bước vào. Sau khi cúi chào cử toạ một cách duyên dáng nàng đi lại chỗ ngồi, chìa tay cho Giăng và hỏi câu thứ nhất trong bài đố.
Không ngần ngừ gì, Giăng nói "Giầy"
Công chúa tái mặt, Giăng đã đoán đúng.
Nhà vua mừng quá! Cử toạ reo lên.
Anh bạn của Giăng biết tin thắng lợi mặt mày hớn hở. Giăng chắp tay cảm ơn Thượng Đế, cho rằng người đã phù hộ mình. Đêm hôm sau, anh bạn của Giăng đợi Giăng ngủ rồi chắp cánh đi theo công chúa. Lần này anh mang theo những hai roi để quật cho công chúa thật đau để tàng hình chắc chắn hơn. Anh bạn đã chú ý lắng nghe thấy lão phù thuỷ bảo công chúa. "Tất tay".
Nghe được bí mật rồi anh bạn quay về ngủ, sáng hôm sau lại dặn dò Giăng trước khi đi. Nghe Giăng trả lời đúng, Công chúa run bắn người, còn cử toạ vỗ tay như pháo nổ.
Còn một lần nữa, lần quyết định. Nếu Giăng đoán được, anh sẽ lấy công chúa, nếu đoán sai, anh sẽ hết đời.
Đến tối Giăng đi ngủ, còn anh bạn lại chắp cánh vào vai, đem theo ba cái roi lại thêm thanh gươm giắt cạnh sườn, bay đến cung công chúa.
Trời tối đen như mực, bão làm tốc cả mái ngói, cây cối treo các bộ xương đổ rạp, sấm chớp ầm ầm. Cửa sổ phòng công chúa bỗng mở toang, nàng bay vụt ra theo hướng ngọn núi hai đêm trước. Nàng tái nhợt như một xác chết. Tấm áo choàng trắng căng phồng như một cánh buồm lớn.
Người bạn đồng hành chập ba ngọn roi quật cho nàng tối tăm mặt mũi, máu chảy ròng ròng rơi cả xuống đất tưởng nàng không thể bay được đến ngọn núi. Nhưng rồi nàng cũng bay tới được.
Đến nơi nàng nói với lão phù thuỷ chưa bao giờ nàng thấy mưa to gió lớn đến như thế. Rồi nàng kể việc chàng trai kia trả lời đúng hai câu hỏi trước và nói thêm: "Nếu lần này nữa chàng ta lại đoán đùng thì hắn sẽ được cuộc và nàng sẽ không bao giờ quay lại gặp lão tại ngọn núi này nữa. Nàng rất buồn vì như thế sẽ chấm dứt những đêm ma quái như thế này trong hang núi.
Lão phù thuỷ bảo: Con yên tâm. Lần này thì nó sẽ không thể đoán ra được. Ta sẽ tìm một vật mà nó không thể nghĩ tới, trừ phi nó cao tay hơn ta.
Công chúa sốt ruột hỏi: "Vật gì?"
- Được! Phù thuỷ trả lời có vẻ tự tin - Cứ hãy vui vầy với nhau đã.
Lão nói và nắm hai tay công chúa. Rồi hai người nhảy nhót. Lũ ma chơi cùng hoà nhịp lắc lư, đàn nhện đỏ đung đưa trên tường, còn đám hoa lửa thì phọt ra những tia sáng chói. Con cú vỗ trống, đàn châu chấu bật chân tanh tách như đánh đàn. Thật là một dạ hội ma quái.
Công chúa nóng ruột muốn bay về, sợ ở nhà vua cha và hoàng hậu thấy nàng vắng lại đi tìm. Nhưng lão phù thuỷ vẫn nhởn nhơ, cố ý kéo dài thời gian gần gũi nàng.
Nhưng rồi chúng phải bay đi. Lần về này có cả lão phù thuỷ bay theo.
Anh bạn Giăng ra sức quất hai người kia, quất đến mỏi tay. Chưa bao giờ lão phù thuỷ bị một trậnk đòn như thế, tê tái cả người.
Đến cung vua hắn từ biệt công chúa và nói: "Hãy nghĩ tới cái đầu của ta".
Anh bạn đồng hành của Giăng đã nghe thấy câu ấy.
Lão phù thủy vừa chào từ biệt công chúa và bay về được một quãng thì anh bạn của Giăng đã túm lấy râu của lão, lấy gươm chặt phăng cái đầu của lão. Xác lão, anh quẳng xuống ao cho trôi vào bụng cá, nhúng đầu lão xuống ao cho sạch máu, rồi bọc vào chiếc khăn lụa, đem về quán trọ rồi đi ngủ.
Sáng hôm sau Giăng lại ra đi đến cung vua để dự kỳ sát hạch thứ ba cũng là kỳ cuối cùng, kỳ thi quyết định anh lấy được công chúa, được làm phò mã, hay là chết.
Trước khi Giăng ra đi, anh bạn đồng hành đưa cho Giăng chiếc khăn gói và dặn hễ hôm nay công chúa hỏi nàng nghĩ gì thì đưa chiếc khăn gói không cần nói gì thêm.
Giăng đến nơi đã thấy sân rồng chật ních. Tất cả mọi người trong cung đều có mặt và chen chúc nhau như nêm cối. Các quan giám khảo ngự trên bục, đầu thụt vào trong những tấm thảm. Các quan thẩm phán cũng tề tựu đông đủ. Ngoài phố, dân chúng nín thở nghe ngóng tin tức trong cung. Đức vua hôm ấy bận quần áo mới, đầu đội mũ miện vàng, tay cầm quyền trượng, trông rất đường bệ. Trong khi đó, công chúa mặt tái mét, bận quần áo đen như để tang. Nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh, nàng hỏi Giăng:
- Ngươi hãy đoán xem ta đang nghĩ gì?
Giăng cởi chiếc khăn lụa. Chiếc đầu phù thuỷ hiện ra. Ai nấy giật thót mình trước cảnh tượng ghớm giếc. Còn công chúa lịm đi, ngồi ngay như pho tượng, không nói thành lời.
Nhưng rồi định thần lại, nàng đứng lên, chìa tay cho Giăng và nói:
- Bây giờ thiếp đã thuộc về chàng.Tối nay làm lễ cưới!
Nhà vua reo lên. Đình thần hô lớn: Hoan hô! Ngoài phố dân chúng reo mừng. Chuông nhà thờ reo vang lên ầm ĩ.
Người ta mở hội ăn mừng. Riêng tại một phố nhỏ, người ta mổ ba con bò để quay, còn thêm nhiều gà vịt nhồi để mọi người có thể lấy một miếng đem về ăn. Còn rượu vang thì chảy ở các vòi công cộng suốt ngày đêm, ai muốn cứ tự do.
Tối đến mở dạ hội. Đèn thắp sáng trưng. Lính bắn súng đại bác. Trẻ con đốt pháo. Trong cung tổ chức ăn uống nhảy múa.
Công chúa còn đang bị ma ám ảnh chẳng quan tâm gì đến Giăng. Anh bạn đồng hành bày cho Giăng một cách như sau: Cầm vào phòng công chúa ba chiếc lông thiên nga và mọt lọ đựng chất nước màu hồng. Cả hai thứ này do anh bạn của Giăng cho. Giăng đặt cạnh giường công chúa một thùng nước đầy, đổ lọ nước màu hồng vào thùng nước, bỏ thêm vào đấy ba chiếc lông thiên nga, rồi dìm công chúa vào đấy ba lần.
- Sau trận tắm ấy, công chúa sẽ hết lòng yêu cậu - anh bạn Giăng bảo thế.
Giăng đã làm theo đúng lời dặn của bạn. Công chúa bị dìm trong nước kêu váng lên. Người nàng ướt lướt thướt như con thiên nga bị bão và đen xì, mắt sáng quắc. Khi bị dìm lần thứ hai, công chúa ngoi lên mặt nước, màu đen đổi thành màu trắng. Riêng ở cổ còn lại một vòng đen. Giăng lo ngại. Nhưng dìm lần thứ ba thì vòng đen biến đi, công chúa trở thành một thiếu nữ đẹp mê hồn. Nàng cảm ơn Giăng đã trả lại cho nàng sắc đẹp mà ma quái đã làm cho phai nhạt. Quốc vương và cả triều đình rất mừng làm lễ thành hôn cho nàng, suốt ngày hôm ấy văn võ bá quan và cả hoàng gia đến chúc mừng đôi vợ chồng mới.
Người khách cuối cùng là người bạn đồng hành. Một tay chống gậy, một tay cầm khăn gói, anh bạn từ biệt ra đi. Giăng khẩn khoản mời mà anh không ở lại.
- Tôi thiết tha mời bạn ở lại với tôi- Giăng nói - Tất cả hạnh phúc của tôi là nhờ ơn anh.
Nhưng người bạn đồng hành vẫn lắc đầu. Anh nói "Duyên số của tôi với anh chỉ có đến đây là hết. Tôi giúp anh cũng chỉ là để đền ơn anh thôi. Anh còn nhớ cái người chết mà những tên vô lại định dày vò không? Lúc ấy anh đã hy sinh tất cả gia sản để cho tấm thân người ấy được yên nghỉ dưới mồ. Người đó chính là tôi.
Nói rồi anh ta biến mất.
Lễ cưới kéo dài một tháng. Toàn dân tổ chức hội mừng. Nhà vua thọ thêm nhiều năm nữa. Ngài sống sung sướng, vui vẻ với đàn cháu nhỏ, cho chúng nhong nhong trên đùi, nô giỡn với chúng.
Rồi Giăng được nối ngôi vua trị vì trăm họ.
08:51 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Người Bạn Đồng Hành
Tác Giả:
Hans Christian Andersen
Cha nó đang ốm thập tử nhất sinh. Nó rất buồn. Trong túp lều nhỏ chỉ có hai cha con. Cha nó bảo: "Giăng ơi! con thật hiếu thảo! Cha cầu mong Thượng đế phù hộ cho con trên đường đời."
Giăng oà khóc. Nó chẳng còn ai trên đời này nữa! Không mẹ, không cha, không anh không em. Nó quỳ bên cạnh giường hôn tay cha, nước mắt giàn giụa. Một lúc nó mệt, nằm thiếp đi, gục đầu xuống thành giường bằng gỗ cứng.
Nó mơ một giấc mơ kỳ diệu. Nó thấy mặt trời và mặt trăng sà xuống, cha nó mạnh khoẻ, cười với nó như những lúc cha vui. Một cô gái xinh đẹp, đội chiếc mũ miện chìa tay cho nó. Cha nó lại cười và bảo: "Người vợ tương lai cha sắp cưới cho con đấy!"
Giăng bừng tỉnh. Trước mặt nó là sự thực đáng buồn: Cha nó đã chết, nằm sóng sượt trên giường, ngoài ra chẳng có một ai. Tội nghiệp cho nó!
Hôm sau Giăng đi theo quan tài người cha thân yêu ra mộ. Thế là từ nay nó chẳng bao giờ được thấy mặt cha nó. Lòng nặng trĩu buồn phiền, tim nó như tan nát thành muôn mảnh.
Người đi đưa ma hát một bài thánh thi. Tiếng hát làm nó chan hoà nước mắt, giọt lệ làm nhẹ bớt đau khổ.
ánh dương lấp lanh trên hàng cây xanh như an ủi nó: "Đừng buồn phiền! Hãy nhìn lên trời xanh. Cha cậu đang trên đó và đang cầu nguyện cho cậu gặp mọi sự tốt lành thành đạt trong mọi việc".
Giăng đáp: "Còn tôi, tôi sẽ ăn ở tốt lành để sau này được lên đấy gặp lại và đoàn tụ với cha tôi".
Giăng mỉm cười, hai hàng lệ lăn trên gò má. Trên cây mấy con chim non cất tiếng hót: quy vit! quy vit! Chúng vừa chứng kiến đám tang. Chúng cũng tin rằng giờ đây người cha đang ở trên Thiên đường, ông sung sướng mỉm cười vì đã sống phúc hậu khi ở dưới trần.
Giăng thấy đàn chim chuyền từ cành nọ sang cành kia rồi cùng nhau bay vút lên cao. Giăng thấy khao khát được bay theo chúng. Nhưng nó không quên đẽo một cây thập tự bằng gỗ đem cắm bên mộ cha. Khi mang cây thập tự đến, nó đã thấy ngôi mộ có cỏ đắp và cắm đầy hoa. Bạn bè đã đem đến trang hoàng mộ ông, vì ai cũng quý ông.
Chôn cất cha xong, sáng hôm sau Giăng gói quần áo thành một bọc nhỏ và dắt lưng toàn bộ gia tài gồm có năm mươi đồng tiền vàng và vài hào bạc. Nó định dùng món tiền ấy và đi chu du thiên hạ.
Trước khi đi, Giăng ra nghĩa địa, tìm đến mộ cha, quỳ xuống khấn: "Vĩnh biệt cha thân yêu. Con nguyện trước vong hồn cha lúc nào cũng sẽ ăn ở tốt lành. Xin cha yên lòng cầu Thượng đế phù hộ cho con".
Trên những cánh đồng Giăng đi qua, nó thấy hoa nào cũng tươi đẹp dưới ánh năng ấm. Chúng nghiêng mình trong gió nhẹ như chào mừng Giăng.
Đi được một quãng Giăng đứng lại nhìn ngôi nhà thờ cổ kính, nơi nó đã đến với cha để nghe giảng đạo.
Nó nhìn thấy trên cửa tò vò gác chuông anh lùn gác chuông nhà thờ đầu đội mũ đỏ, tay đang che mắt để tránh những tia nắng. Nó vẫy tay vĩnh biệt anh ta.
Anh lùn cũng chào lại, vẫy chiếc mũ, lấy tay gửi cho Giăng nhiều chiếc hôn gió, tỏ ý chúc Giăng lên đường mạnh khỏe gặp nhiều may mắn.
Giăng vừa đi vừa nghĩ đến những gì sẽ gặp trên đường. Nó đi, đi mãi; chưa bao giờ đi xa thế. Trên đường chẳng hề gặp một người nào quen, thành phố cũng lạ. Nó đã đến một nơi chưa bao giờ đặt chân.
Đêm đầu tiên nó ngủ trong một đống rơm vì không tìm được chỗ nào khác. Tuy vậy nó thấy rất may mắn, đến vua cũng không có được chỗ ngủ như thế. Này nhé; một cánh đồng một con sông, một đống rơm và bầu trời xanh trên đầu; còn có các phòng ngủ nào đẹp hơn thế! Thảm cỏ xanh có điểm hoa trắng đỏ. Hương mộc và và dã tường là những bó hoa trang trí tuyệt đẹp; rửa mặt thì đã có cả một con sông và làn nước trong mát in bóng những vì sao từ trên trời soi xuống. Chị hằng như một đèn lớn treo lơ lửng trên bầu trời xanh chẳng còn sợ bén lửa sang rèm cửa, nên Giăng có thể yên chí nằm ngủ.
Lúc tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, khắp nơi chim chóc líu lo: "Chào cậu! Chào cậu!"
Hôm ấy đúng vào ngày chủ nhật. Chuông nhà thờ rộn rã. Giáo dân trong vùng kéo nhau đến nhà thờ. Giăng đi theo họ vào nhà thờ và cùng hát với họ. Nó tưởng như đang đứng trong nhà thờ quê nhà nơi nó đã chịu lễ ban thánh thể và đến lễ với cha.
Ngoài nghĩa địa có nhiều mộ. Có những ngôi mộ cỏ mọc cao. Giăng nghĩ đến ngôi mộ của cha ở quê nhà, thiếu người chăm sóc, chắc cũng giống thế. Nó ngồi xuống nhổ cỏ, dựng laị những cây thánh giá bị đổ, xếp lại những bó hoa bị gió cuốn đi.
Nó nghĩ: "có lẽ mộ cha mình cũng được người khác chăm sóc thay mình như thế này".
Có một ông lão nghèo đang đứng ở nghĩa địa. Giăng cho ông mấy hào lẻ rồi tiếp tục chu du thiên hạ.
Chiều tối gặp một cơn giông khủng khiếp. Giăng rảo bước tìm nơi trú ẩn. Nó đã tìm được một ngôi nhà thờ biệt lập trên một quả đồi. Nó thấy cửa mở, chẳng có người. Nó vào ngồi xếp nghỉ và cầu kinh. Chưa hết một bài mắt đã díu rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Lúc tỉnh dậy, đã nửa đêm, cơn giông đã tan, trăng lấp lánh ngoài cửa kính. Giữa nhà thờ nó nhìn thấy một chiếc quan tài mở nắp, bên trong có một thi hài sắp đem chôn. Giăng không chút sợ hãi. Nó biết rằng người chết rồi không hại ai. Có chăng chỉ những kẻ còn sống có tâm địa xấu xa mới tìm cách hại người, mới đáng sợ. Giữa lúc ấy có hai tên có vẻ là bọn bất lương, định lôi xác chết ra để quẳng đi. Vốn là người nhân đức, Giăng động lòng thương, hỏi: - Các anh định giở trò gì thế? Phải tội chết. Người ta chết rồi, để cho vong hồn người ta yên.
- Không được! Hai tên bất lương trả lời. Nó nợ tiền chúng tao, không trả. Bây giờ nó vào áo quan rồi mà chúng tao chẳng được lấy một xu. Chúng tao phải quẳng nó ra cửa nhà thờ cho bõ tức.
Giăng điều đình.
- Người ấy nợ các anh bao nhiêu không biết. Đây tôi có tất cả năm mươi đồng vàng, tôi sẽ đưa cả cho các anh rồi để cho người ấy yên lành. Còn tôi vẫn đang khỏe mạnh, lành lặn. Thượng đế sẽ phải phù hộ tôi.
- Được! Nếu anh muốn trả nợ thay cho nó thì đây đồng ý tha.
Chúng cầm tiền, cười ngất bỏ đi, chắp hai tay người chết với nhau, từ biệt bước đi vào khu rừng lớn. Ra khỏi khu rừng thì trời vừa sáng. Bỗng Giăng nghe có tiếng gọi sau lưng:
- Anh bạn về đâu thế?
- Đi chu du thiên hạ. Giăng đáp. Tôi là đứa trẻ không cha không mẹ, nhưng Thượng đế sẽ phù hộ tôi.
- Tôi cũng chu du thiên hạ đây - người lạ mặt nói - Chúng ta cùng đi với nhau chăng?
- Nhất trí, Giăng đáp và họ cùng đi với nhau.
Chỉ mười lăm phút sau, họ đã trở thành đôi bạn ý hợp tâm đầu. Vì cả hai đều là người tốt. Nhưng Giăng thấy người bạn đồng hành, khôn hơn mình nhiều. Anh ta đã đi nhiều, từng trải nhiều, chuyện gì cũng biết.
Họ bảo nhau hãy ngồi xuống gốc cây nghỉ và ăn sáng. Vừa lúc ấy, có một bà cụ đi tới.
Bà cụ lụ khụ, lom khom chống nạng, trên lưng mang một bó củi khô nhặt trong rừng, dưới tạp dề lòi ra đầu ba cái roi bằng cây đuôi chuồn và dương liễu. Còn cách hai người một quãng, bà cụ ngã lăn kềnh ra, kêu thét lên.
Giăng muốn khiêng bà cụ về nhà, nhưng người bạn đồng hành bảo: "Không cần, tôi có thứ thuốc bôi vào bà lão dậy được tự đi về nhà ngay như không có chuyện gì xảy ra". Nhưng anh ta đòi bà cụ phải trả công ba cái roi, cụ dắt dưới tạp dề.
- Thế thì đắt quá đấy! Bà cụ nói, ngần ngừ không muốn đưa.
Nhưng gãy chân nằm đấy thì khổ, cụ đành phải đưa ba cái roi cho người kia. Anh ta lấy thuốc bôi vào chỗ chân đau, bà cụ đứng ngay lên, đi được.
Thật là một thứ thuốc công hiệu ít thấy.
Xong rồi hai anh bạn ra đi. Giăng hỏi anh kia:
- Cậu lấy mấy cái roi ấy làm gì?
- Mình hay thích những cái lặt vặt như thế. Tính mình vậy.
Hai người đi một hồi khá lâu. Giăng nhìn về phía trước và nói:
- Nom kìa! Những đám mây đen đang kéo đến mù mịt khiếp quá!
- Không phải mây đâu! Anh bạn đồng hành nói- Đấy là những ngọn núi cao.
Thực vậy. Đấy chỉ là những ngọn nũi. Trông gần mà hoá ra xa. Đi cả một ngày ròng rã mới tới nơi. Rừng ở đây rậm, mọc toàn cây thẳng đứng. Lại còn có những hòn đá cực to. Vượt qua nơi này không dễ, hai người bàn nhau nghỉ lại mai đi sớm.
Trong quán trọ bên dưới một đám đông người đang tụ tập. Một người đang làm trò múa rối. Khán giả ngồi xem chung quanh. Trên hàng đầu là một lão hàng thịt béo phị. Cạnh lão là một con chó to xù, nom dữ tợn như sắp cắn người. Mở đầu buổi diễn là một hài kịch. Hai nhân vật chính là vua và hoàng hậu, đầu đội mũ miện vàng, khoác áo choàng, ngồi trên ngai. Những chú lính hầu xinh xắn, mắt bằng thuỷ tinh, đứng gác cửa. Cửa đóng ra mở vào liên tục để lấy gió vào cung. Màn kịch thật vui, khán giả vỗ tay ran ran.
Đến lúc hoàng hậu ra sân khấu, dạo được vài bước, thì chả biết thế nào, con chó của lão hàng thịt nhảy lên ngoạm vào lưng, hoàng hậu ngã vật xuống. Chủ gánh xiếc rất buồn, phần vì mất vai hoàng hậu là con rối đẹp nhất, phần vì mất buổi diễn. Những người bạn của Giăng biết anh ta có thể chữa được. Anh ta lấy lọ thuốc vừa dùng chữa chân cho bà lão lúc nãy, bôi cho con búp bê hoàng hậu. Con búp bê đứng ngay lên và biểu diễn luôn, lại không cần có dây điều khiển. Mà khéo như người thật, chỉ không biết nói. Chủ xiếc mừng quá.
Hết buổi diễn mọi người ra về. Người trong quán trọ đi ngủ cả. Bỗng có tiếng rên rỉ vọng lên. Mọi người dậy xem, thì thấy đám con rối nằm ngổn ngang, nào vua, nào cận thần, nào lính hầu, giương to đôi mắt thuỷ tinh rên rỉ thảm hại, cầu xin được bôi thuốc để có thể tự ngọ nguậy được như hoàng hậu.
Thấy vậy, hoàng hậu quỳ xuống, hai tay nâng mũ miện kêu van xin "ông lang" bôi thuốc và tất cả những người trong cung.
Người chủ gánh hát hứa anh bạn của Giăng xin biếu tất cả tiền bán vé vào cửa tối ấy chỉ cầu an bôi thuốc cho tất cả những con búp bê còn lại. Nhưng anh bạn chỉ đòi mỗi thanh gươm đeo cạnh sườn quốc vương. Nhận gươm rồi, anh bạn bôi thuốc cho mấy con búp bê. Tức thì tất cả mấy con tự hoạt động được, không cần giật dây, trông thật là buồn cười. Các cô cậu hầu bàn cười ngặt nghẹo và nháy theo chúng. Cả người đánh xe, cả bác bếp, cả những khách trọ đang ngủ cũng bật dậy ôm nhau nhảy. Lại cả xẻng, cái cặp than cũng hối hả chạy vào nhảy. Rõ thật là vui.
Sáng hôm sau. Giăng và anh bạn đồng hành từ biệt mọi người lên đường. Họ vượt qua những cánh rừng bát ngát, leo lên những đỉnh núi cao chót vót. Họ trông được rất xa, nhìn đến tận những nơi họ chưa từng đến, ngắm nhiều cảnh đẹp huy hoàng. Mặt trời lấp lánh trên khoảng trời xanh mát rượi. Tiếng kèn săn chốc chốc vẳng lên từ các khe núi.
Say sưa trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hai anh bạn đường đứng chắp tay tạ ơn Thượng đế đã cho hưởng những cảnh tuyệt diệu trên thế gian này. Bỗng trên đầu có tiếng vang. Ngẩng lên họ thấy một con thiên nga đang bay lượn trong không trung và không biết thế nào lại lảo đảo rồi rơi bịch xuống ngay dưới chân họ. Anh bạn của Giăng trầm trồ:
- Đôi cánh đẹp quá! Tôi phải cắt mới được. Cậu xem mình lấy thanh gươm đem đi, có được việc không?
Rồi anh lấy gươm chặt phăng đôi cánh. Xong rồi họ lại đi. Sau mấy ngày họ đến một kinh thành lớn xung quanh có một trăm ngọn tháp lấp lánh dưới nắng như làm bằng bạc. Giữa kinh thành là một toà lâu đài bằng đá cẩm thạch, mái bằng vàng. Đấy là cung điện nhà vua.
Giăng và người bạn đồng hành vào một quán trọ nghỉ ngơi và sửa sang lại quần áo cho nghiêm chỉnh trước khi bước chân vào thành phố. Trò chuyện với chủ quán, họ được biết rằng nhà vua rất nhân từ, độ lượng. Nhưng công chúa, con người lại rất ghê ghớm. Đẹp thì có đẹp, nhưng nàng nham hiểm độc ác, đã từng làm chết nhiều hoàng tử.
- Sao vậy? Anh bạn của Giăng ngạc nhiên hỏi.
- Nàng cho phép bất kỳ ai đến cầu hôn cũng được, không kể người quyền quý hay thứ dân. Nàng chỉ yêu cầu trả lời một điều nàngh ỏi. Nếu trả lời đúng sẽ được lấy nàng. Nếu không đúng sẽ bị treo cổ hoặc chặt tay.
- Thế từ trước đến giờ thế nào? Hai người hỏi.
- Chưa ai trả lời được. Đều bị nàng chặt tay hoặc treo cổ. Cha nàng cũng không sao can khuyên được nàng và tuyên bố không dính đến chuyện chồng con của nàng, mặc nàng muốn làm thế nào thì làm. Cũng có lần nhà vua cùng triều đinh quỳ xuống van xin nhưng công chúa vẫn kiên quyết không nghe cứ làm theo ý mình.
Giăng nghe thấy thế liền bảo: "Mụ công chúa này ghê ghớm thật! Phải đánh cho mụ ta một trận để mụ ta chừa thói đánh ác mới được".
Thấy Giăng nói vậy ai cũng can khuyên, đừng nóng nẩy mà thiệt thân.
- Không! Giăng kiên quyết. Tôi sẽ vào cung gặp nàng xin trả lời câu hỏi, để xem ra sao.
Giữa lúc ấy dân chúng reo hò. Công chúa ngự du ngoài phố. Giưng len đám đông ra xem. Công chúa quả là một trang tuyệt thế giai nhân. Nàng cưỡi trên một con ngựa trắng, mình đầy kim cương châu báu. Nàng mặc quần, dệt bằng sợi vàng chiếc roi ngựa trong tay lóng lánh như một tia mặt trời. Chiếc mũ miện trên đầu lấp lánh như các vì sao, tấm áo choàng óng ánh như muốn ngàn cánh bướm. Thật là tuyệt! Nhưng tuyệt hơn cả là sắc đẹp của chính nàng, một sắc đẹp mê hồn, không thể rời mắt được. Lại còn một điều kỳ lạ nữa là nàng giống hệt như cô gái đẹp anh mơ thấy đêm hôm cha anh chết.
Anh nghĩ thầm:
- Một người con gái sắc nước hương trời thế này mà lại nham hiểm độc ác thật là vô lý!
08:50 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp & Hết)
Con thuyền vẫn còn tốt, lão nghĩ. Nó cũng chắc và chẳng hư hại gì ngoài cái tay lái. Cái đó thì dễ thay. Bây giờ lão có thể nhận thấy lão đã vào giữa dòng chảy; lão trông thấy ánh đèn trên những bãi biển dọc bờ. Lão biết bây giờ lão đang ở đâu và lối về thì chẳng còn là vấn đề gì nữa. Ngẫm cho cùng thì gió là bạn của ta, lão nghĩ. Rồi lão nghĩ tiếp, chỉ đôi khi. Và cả đại dương bao la với những người bạn lẫn kẻ thù của ta. Và giường chiếu nữa, lão nghĩ. Giường là bạn của ta. Chỉ có giường thôi, lão nghĩ. Giường chiếu hẳn là việc trọng đại. Đơn giản làm sao khi mày bị đánh bại, lão nghĩ. Ta chưa hề hình dung chuyện ấy lại đơn giản đến thế. Cái gì làm mày thất bại, lão nghĩ.
“Chẳng gì cả”, lão nói lớn.
“Ta đã đi quá xa”. Khi đưa được thuyền về cái bến nhỏ, đèn nơi Terrace đã tắt, lão biết mọi người đã đi ngủ. Gió không ngừng lớn thêm và bây giờ đang thổi mạnh. Nhưng phía trong bến cảng vẫn yên ả, lão cập thuyền vào con lạch nhỏ, đầy sỏi bên dưới ghềnh đá. Do không có người giúp nên lão dốc sức đẩy con thuyền lên đến mức khả năng cho phép. Rồi lão nhảy ra buộc thuyền vào một tảng đá. Lão hạ buồm, quấn lá buồm lại và buộc chặt. Rồi lão vác cột buồm dợm chân leo lên. Chỉ đến khi ấy lão mới biết cơ thể lão rã rời đến mức nào. Lão dừng lại nghỉ một lát, ngoái nhìn và thấy ánh đèn đường phản chiếu lên cái đuôi to kềnh của con cá đang dựng thẳng đứng bên cạnh đuôi thuyền. Lão thấy cái xương sống vạch thành đường thẳng trụi trần, trắng hếu và cái đầu đồ sộ và đen ngòm với lưỡi kiếm nhô thẳng tới trước mà chẳng còn tí thịt da nào. Lão lại tiếp tục leo, lên đến đỉnh dốc lão ngã rồi nằm một lát, cột buồm vẫn vắt ngang qua vai. Lão gượng đứng dậy. Nhưng việc ấy lại quá khó nên lão cứ vác cột buồm ngồi đó nhìn con đường. Đằng xa, một con mèo đang băng qua đường tìm kiếm cái gì đó, lão nhìn nó. Lát sau lão chỉ nhìn con đường. Cuối cùng lão đặt cột buồm xuống, đứng dậy. Lão dựng cột buồm, vác lên vai rồi tiếp tục đi. Lão phải ngồi nghỉ năm lần trước khi về đến lều. Vào trong lều, lão dựng cột buồm tựa vào tường. Lão tìm trong bóng tối ra chai nước và uống một ngụm. Rồi lão nằm xuống giường. Lão kéo cái mền đắp qua vai, xuống lưng rồi chân; lão nằm ngủ úp mặt lên lớp báo, hai tay dang rộng, lòng bàn tay ngửa lên. Sáng hôm sau, khi thằng bé nhìn vào lều, ông lão đang ngủ. Trời đang nổi gió lớn đến nỗi thuyền câu không thể ra khơi; thằng bé dậy muộn rồi tạt qua lều ông lão như nó thường làm vào mỗi buổi sáng. Thằng bé thấy ông lão đang thở và khi nhìn vào đôi bàn tay, nó bật khóc. Nó rón rén bước ra đi mua cà phê mang về; suốt con đường dốc nó cứ thổn thức mãi. Nhiều người đánh cá quây quanh con thuyền, ngắm nhìn cái vật được buộc bên mạn, một người xắn quần lội xuống nước dùng dây đo chiều dài bộ xương. Thằng bé không xuống đấy. Nó đã đến từ trước và một trong những người đánh cá thay nó trông hộ con thuyền.
“Bác ấy sao rồi?”, một trong những người đánh cá hỏi vọng lên.
“Đang ngủ”, thằng bé đáp. Nó không bận tâm đến việc mọi người nhìn thấy nó khóc.
“Đừng để ai đến quấy rầy ông”.
“Từ mũi đến đuôi, con cá dài gần sáu mét”, người đang đo xướng lên.
“Cháu chắc là thế”, thằng bé nói. Nó đi vào Terrace và hỏi mua một lon cà phê.
“Thật nóng và cho nhiều sữa, đường vào”.
“Cần gì nữa không?”
“Thưa không. Để lát nữa cháu xem ông có thể ăn được gì”.
“Con cá thật ra trò”, chủ khách sạn nói.
“Chưa từng có một con cá nào như thế. Kể cả hai cái con đáng mặt mà cháu bắt hôm qua”.
“Mấy con cá quèn của cháu ấy mà”, thằng bé nói rồi lại khóc.
“Cháu có muốn uống chút gì không?”, chủ khách sạn hỏi.
“Thưa không”, thằng bé đáp.
“Nhờ bác nhắc hộ họ đừng đến quấy rầy ông Santiago. Cháu sẽ quay lại”.
“Chuyển hộ lời hỏi thăm của bác đến ông lão”.
“Cám ơn bác”. Thằng bé mang lon cà phê nóng lên lều ông lão và ngồi xuống bên cạnh cho đến khi lão thức giấc. Có lúc, trông ông lão như thể sắp tỉnh dậy. Nhưng lão lại chìm vào giấc ngủ vùi; còn thằng bé thì đi qua đường hỏi mượn ít củi về hâm nóng cà phê. Rốt cuộc thì lão cũng thức giấc.
“ông khoan ngồi dậy hãy”, thằng bé nói.
“Cứ uống cái này đi đã”. Nó rót một ít cà phê ra lá. ông lão nhìn chỗ cà phê rồi uống.
“Chúng đánh bại ông, Manolin à”, lão nói.
“Chúng thật sự đã đánh bại ông”.
“Nó không đánh bại được ông. Kể cả con cá”.
“Anh Pedrico đang trông thuyền và dụng cụ. ông định làm gì với cái đầu cá kia?”
“Để Pedrico chẻ ra dùng bẫy cá”.
“Thế còn lưỡi kiếm?”
“Nếu cháu thích thì giữ lấy”.
“Cháu thích lưỡi kiếm”, thằng bé nói.
“Bây giờ ông cháu ta phải lên kế hoạch cho những việc khác”.
“Họ có tìm ông không?”
“Dĩ nhiên. Cả thuyền tuần tra bờ biển lẫn máy bay”.
“Đại dương vô cùng vô tận, thuyền câu thì quá ư nhỏ bé nên khó nhìn thấy”, ông lão nói. Lão nhận thấy được nói chuyện với ai đó thì dễ chịu hơn phải tự nói với chính bản thân mình hay với biển cả.
“ông nhớ cháu”, lão nói.
“Cháu bắt được mấy con?”
“Hôm đầu được một con. Hôm thứ hai được một và hôm thứ ba được hai”.
“Giỏi lắm”.
“Bây giờ ông cháu ta lại cùng đi câu”.
“Đừng. ông không gặp may mắn. ông chẳng còn may chút nào”.
“Vứt quách cái chuyện may rủi ấy đi”, thằng bé nói.
“Cháu sẽ mang vận may của cháu theo”.
“Gia đình cháu sẽ nói gì?”
“Cháu không quan tâm. Hôm qua cháu bắt được hai con. Nhưng bây giờ ông cháu ta sẽ đi câu cùng nhau bởi cháu còn phải học hỏi nhiều điều”.
“Ta phải rèn một ngọn lao đâm cá thật tốt và luôn mang theo trên thuyền. Cháu nên cắt một lưỡi dao từ lá thép giảm sóc của chiếc xe Ford cũ. Chúng ta có thể mài nó ở Guanabacoa. Phải mài sắc chứ đừng mang nung lửa kẻo nó sẽ gãy. Dao của ông đã gãy”.
“Cháu sẽ cắt con dao khác và mang lá thép ấy đi mài. Chẳng biết đợt briạa lớn này sẽ kéo dài mất mấy ngày?”
“Có lẽ ba hôm. Không chừng lâu hơn đấy”.
“Cháu sẽ chuẩn bị sẵn sàng đủ mọi thứ”, thằng bé nói.
“ông nhớ chăm sóc hai bàn tay cho lành”.
“ông biết cách chữa trị. Hồi đêm ông khạc ra cái gì đó thật lạ và cảm thấy cái gì đó trong ngực bị vỡ”.
“Cũng để cái đó bình phục luôn”, thằng bé nói.
“ông hãy nằm nghỉ đi, ông ạ; cháu sẽ mang chiếc sơ mi sạch của ông đến cho ông. Thêm cái gì đó để ăn”.
“Nhớ mang bất cứ tờ báo nào trong khoảng thời gian ông đi vắng đến nhé”, ông lão dặn.
“ông phải khỏe lại thật nhanh vì còn nhiều thứ cháu cần phải học và ông có thể dạy cháu mọi điều. Chắc ông đã chịu đựng quá nhiều?”
“Nhiều lắm”, ông lão đáp.
“Cháu sẽ mang thức ăn và báo đến”, thằng bé nói.
“ông cứ nghỉ cho lại sức. Cháu sẽ mua thuốc chữa tay từ hiệu thuốc nữa”.
“Đừng quên bảo Pedrico cái đầu cá ông cho anh ấy đấy”.
“Vâng. Cháu nhớ”. Khi thằng bé ra khỏi cửa, đi xuống con đường rải đá san hô vụn, nó lại khóc. Chiều hôm ấy có đoàn du khách ở Terrace và nhìn xuống khoảng nước ngổn ngang lon bia rỗng và xác cá nhồng, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống dài, trắng phau, cực lớn với chiếc đuôi đồ sộ dính đằng cuối dập dềnh, đung đưa theo làn sóng trong lúc gió Đông thổi trên vùng biển cồn sóng không ngớt phía ngoài cửa cảng.
“Cái gì kia?”, bà ta hỏi anh bồi và đưa tay chỉ chiếc xương sống dài của con cá khổng lồ, bây giờ chỉ là đồ rác thải đang đợi thủy triều cuốn đi.
“Tiburon”, anh bồi đáp.
“Cá mập ấy mà”. Anh ta hàm ý giải thích chuyện gì đã xảy ra.
“Tôi không ngờ cá mập lại đẹp như thế, dáng đuôi thật duyên dáng”.
“Anh cũng thế”, bạn trai của bà ta nói. Phía trên đường, trong căn lều, ông lão lại ngủ. Lão vẫn nằm úp mặt ngủ; thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão. ông lão đang mơ về những con sư tử.
08:46 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
“Lẽ ra ta đừng nên đi quá xa, cá à”, lão nói.
“Không nên đối với mày và cả đối với ta. Ta lấy làm tiếc, cá à”. Nào, lão tự nhủ. Hãy nhìn sợi dây buộc dao xem nó có bị đứt không. Rồi chuẩn bị sẵn sàng bởi vì những con khác sẽ đến.
“Giá mà mình có hòn đá mài dao”, lão nói sau lúc kiểm tra xong sợi dây buộc lưỡi dao vào mái chèo.
“Lẽ ra mình nên mang theo hòn đá ấy”. Lẽ ra mày phải mang theo nhiều thứ, lão nghĩ. Nhưng mày đã không mang, lão già ơi. Giờ thì không phải lúc nghĩ về những thứ mày mang hay không mang. Hãy nghĩ về những việc mày có thể xoay xở với những dụng cụ có sẵn ở đây.
“Mày răn bảo tao quá nhiều lời hay hớm rồi đấy”, lão nói lớn.
“Tao mệt mỏi lắm rồi”. Lão cặp tay lái vào nách và nhúng cả hai bàn tay xuống nước khi con thuyền lướt về phía trước.
“Lạy Chúa, cái con cuối cùng ấy đớp mới nhiều làm sao”, lão nói.
“Nhưng bây giờ con thuyền đã nhẹ hơn nhiều”. Lão không muốn nghĩ đến cái bụng dưới rách nát của con cá. Lão biết mỗi cú giật rung của con cá mập thì một mảng thịt bị rứt đi và bây giờ con cá lại để lại một vệt máu loang rộng, trải dài như con đường cao tốc trên đại dương cho họ hàng lũ lĩ nhà cá mập kia. Con cá này có thể nuôi sống một người suốt cả mùa đông, lão nghĩ. Đừng nghĩ về điều đó nữa. Hãy nghỉ ngơi và xoa dịu đôi tay để bảo vệ chỗ thịt cá còn lại. Bây giờ với tất cả khối mùi vị ấy trong nước, mùi máu từ đôi tay mình sẽ chẳng nghĩa lý gì cả. Vả lại chúng không chảy nhiều máu. Bất kì vết cắt nào cũng đâu phải hoàn toàn vô giá trị. Không chừng, chỗ máu chảy kia sẽ ngăn bàn tay trái khỏi chứng chuột rút. Bây giờ mình có thể nghĩ về cái gì nhỉ? Lão nghĩ. Chẳng gì cả. Mình phải không suy nghĩ và chờ đợi những con sắp đến. Giá mà chuyện này chỉ là giấc mơ thật, lão nghĩ. Nhưng ai biết được? Không chừng nó lại hóa ra tốt lành. Con cá mập tiếp theo đi một mình, thuộc loài mũi
-xẻng. Nó lao tới như con lợn xông vào máng ăn nếu con lợn ấy có cái mõm rộng đủ để bạn đút lọt đầu mình vào. ông lão chờ nó đớp con cá rồi phóng mũi dao đầu mái chèo vào não nó. Con cá mập trằn mạnh người ra sau, lúc nó lăn tròn lưỡi dao gãy. ông lão cầm lấy tay lái. Thậm chí lão cũng chẳng buồn nhìn con cá mập đồ sộ từ từ chìm xuống nước, lúc đầu còn giữ nguyên kích cỡ, rồi nhỏ dần chỉ còn một chấm nhỏ. Cảnh ấy luôn hấp dẫn lão. Nhưng bây giờ lão cũng chẳng buồn liếc mắt nhìn.
“Bây giờ ta còn cây sào móc”, lão nói.
“Nhưng cây sào ấy chẳng giúp ích gì nhiều. Ta cũng còn hai mái chèo, tay lái và cái chày ngắn”. Giờ thì chúng thắng ta rồi, lão nghĩ. Còn ta thì đã quá già để có thể vung chày đập chết lũ cá mập kia. Nhưng ta sẽ cố cầm cự nếu trong tay còn hai mái chèo, cái chày ngắn và tay lái. Lão lại nhúng tay xuống biển. Chiều đang xế, lão chẳng nhìn thấy gì cả ngoài mặt biển và bầu trời. Gió thổi mạnh hơn lúc trước, và lão hi vọng chẳng mấy chốc lão sẽ về đến đất liền.
“Mày đã rã rời, lão già kia”, lão nói.
“Mày rã rời đến tận xương tủy”. Lũ cá mập không tiếp tục tấn công mãi cho đến ngay trước khi mặt trời lặn. ông lão nhìn thấy mấy chiếc vi xám lao theo vệt hơi rộng mà con cá kiếm hẳn đã để lại trong nước. Chúng thậm chí không thèm tản ra đánh hơi. Cùng sánh đôi, chúng bơi thẳng đến con thuyền. Lão chèn tay lái, buộc chặt dây lèo buồm rồi đưa tay xuống đuôi thuyền tìm cái chày. Đấy là khúc cán được cưa từ mái chèo gãy, dài chừng tám tấc. Lão chỉ có thể sử dụng nó hiệu quả bằng một tay bởi chỗ tay nắm của nó chỉ vừa vặn với một bàn tay; tay phải lão đã nắm chắc cái chày trong lúc lão nhìn lũ cá mập xông đến. Cả hai con thuộc loài galanos. Mình phải để con đầu tiên ngoặm chặt rồi mới nện nó vào ngay giữa mũi hay giã thẳng vào đỉnh đầu, lão nghĩ. Hai con cá mập cùng tiến sát và khi thấy con gần lão há mồm cắn phập vào bên lườn ánh bạc của con cá thì lão nâng cao cái chày, dốc sức bình sinh giáng ngay xuống đỉnh đầu rộng của con cá mập. Khi chạm xuống, lão cảm thấy cái chày chùng lại như chạm phải lớp cao su rắn. Nhưng lão cũng cảm nhận được độ cứng của xương rồi lão giáng thêm một đòn cật lực vào chóp mũi của con cá mập khi nó trượt khỏi con cá. Con cá mập kia cứ nhào vào táp rồi lùi ra, bây giờ nó lại ngoác to mồm xông vào. ông lão có thể nhìn thấy những dải thịt cá kéo thành vệt trắng trong khóe hàm con cá mập khi nó lao vào con cá kiếm và khớp mõm xuống. Lão chồm người bổ một đòn nhưng chỉ trúng vào đầu nó, con cá mập nhìn lão rồi bứt nốt chỗ thịt đã bị cắn rời ra. ông lão lại vung chày giã xuống khi nó lảng ra nuốt, cái chày chỉ đánh trúng lớp thịt dày, chắc như cao su.
“Nhào vô đi, GALANOS”, ông lão nói.
“Hãy lại nhào vô xem”. Con cá mập xốc thẳng tới và khi nó vập hàm xuống, lão giáng cho nó một chày. Lão giáng cật lực từ độ cao mà lão có thể nâng cái chày hết cỡ. Lần này lão cảm nhận được lớp xương sọ, rồi lão lại quật tiếp vào ngay chỗ ấy trong lúc con cá mập lờ đờ kéo đứt miếng thịt chìm xuống. ông lão chờ nó lại xông đến nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Rồi lão thấy một con đang lượn vòng trên mặt nước. Lão không thấy vi của con kia. Mình không hi vọng giết được chúng, lão nghĩ. Như mình có thể làm thuở còn trai trẻ. Nhưng mình đã đánh chúng bị thương nặng và cả hai con cá mập ấy đều đã choáng váng. Nếu mình có thể cầm cái chày bằng cả hai tay thì chắc mình đã hạ gục con đầu tiên rồi. Thậm chí ngay cả bây giờ, lão nghĩ. Lão chẳng muốn nhìn con cá. Lão biết nó đã bị hủy hoại mất một nửa. Mặt trời đã lặn trong lúc lão đang kịch chiến với hai con cá mập.
“Chốc nữa trời sẽ tối”, lão nói.
“Rồi mình sẽ nhìn thấy ánh đèn Havana. Nếu mình đi quá xa về hướng Đông thì mình cũng thấy ánh đèn của một trong những bãi biển mới”. Bây giờ mình không còn xa quá nữa, lão nghĩ. Mình hy vọng không có ai phải lo lắng nhiều. Dĩ nhiên chỉ có mỗi thằng bé lo mà thôi. Nhưng mình chắc nó vẫn tin tưởng. Nhiều bạn chài luống tuổi cũng sẽ lo lắng. Nhiều người khác cũng vậy, lão nghĩ. Mình sống trong một thành phố nghĩa tình. Lão không thể nói chuyện với con cá được nữa bởi lẽ nó đã bị xâu xé nát tươm cả rồi. Lát sau đầu lão chợt nảy ra ý tưởng.
“Nửa con cá kia ơi”, lão nói.
“Cá à, trước khi mày là thế đấy. Ta ân hận vì đã đi quá xa. Ta đã hủy hoại cả hai chúng mình. Nhưng chúng ta đã tiêu diệt được nhiều cá mập, mày và ta, đã đánh trọng thương nhiều con khác. Mày đã từng giết được bao nhiêu con, hỡi anh bạn cá già kia? Cái lưỡi kiếm trên đầu mày chẳng phải vô cớ mà được sinh ra như thế”. Lão thích tưởng tượng về con cá và những gì nó có thể làm đối với một con cá mập nếu nó được tự do bơi lội. Có lẽ mình nên cắt cái lưỡi kiếm để dùng làm vũ khí chiến đấu, lão nghĩ. Nhưng chẳng có cái rìu nhỏ hay con dao nào cả. Nhưng nếu ta có và có thể buộc nó vào mái chèo thì đấy mới đích thực là vũ khí. Rồi chúng ta sẽ cùng chiến đấu với bọn chúng. Bây giờ mày sẽ làm gì nếu bọn chúng kéo đến vào ban đêm? Mày có thể làm gì?
“Chống lại chúng”, lão nói.
“Mình sẽ chống lại chúng cho đến lúc chết”. Nhưng lúc này, trong bóng tối, không một quầng sáng lấp lánh, không một ánh điện, chỉ có gió và con thuyền lững thững trôi, lão cảm nhận như thể lão đã chết tự bao giờ. Lão áp hai bàn tay vào nhau, sờ vào lòng bàn tay. Chúng chưa chết và lão có thể cảm nhận nỗi đau đớn bằng cách đơn giản là nắm, mở đôi bàn tay. Lão ngả người tựa lên đuôi thuyền và biết mình chưa chết. Đôi vai đã mách lão điều đó. Mình nhớ đọc tất cả những bài kinh khi mình bắt được con cá, lão nghĩ. Nhưng lúc này, mình đã quá mệt để đọc nổi nữa rồi. Tốt hơn là mình nên lấy cái bao đắp lên vai.
Lão nằm xuống phía sau thuyền, tay vẫn lái và mắt dõi nhìn quầng sáng hắt lên nền trời. Mình còn một nửa, lão nghĩ. Có lẽ vận may sẽ đến giúp mình mang nửa con cá này vào bờ. ít ra thì mình cũng phải có chút may mắn nào đấy. Không, lão nói. Cứ đi quá xa thế này thì mày đã tự làm tổn hại cái vận may của mày rồi.
“Đừng có ngốc”, lão nói lớn.
“Cố mà thức và lái thuyền đi. Không chừng mày lại gặp may nhiều đấy”.
“Ta muốn mua một ít may mắn nếu nó được bán ở bất cứ nơi nào”, lão nói. Thế ta lấy gì để mua nó đây? Lão tự hỏi. Ta có thể mua nó bằng ngọn lao mất, con dao gãy và đôi tay bị thương ư?
“Mày có thể”, lão nói.
“Mày cố mua nó bằng tám mươi tư ngày đi biển. Suýt nữa nó đã được bán cho mày”. Mình đừng nghĩ vớ vẩn nữa, lão nghĩ. Vận may là thứ đến với vô vàn dáng vẻ, ai có thể nhận diện ra nó? Dẫu sao thì mình sẽ nhận một ít trong bất cứ hình thức nào và trả bất kỳ giá nào mà người bán đòi hỏi. Giá mà mình có thể nhìn thấy ánh điện, lão nghĩ. Mình ao ước quá nhiều. Nhưng đấy là thứ mình cần bây giờ. Lão cố xoay trở cho thoải mái để lái thuyền và nhờ nỗi đau nhức lão biết mình chưa chết. Vào khoảng mười giờ tối, lão trông thấy ánh đèn thành phố hắt xuống nước. Thoạt tiên, đấy chỉ là thứ ánh sáng mang máng trên bầu trời như trước lúc mặt trăng mọc. Thoáng chốc chúng hiện rõ ra ở đằng kia đại dương, lúc này đang dậy sóng theo chiều gió mạnh. Lão lái thẳng vào giữa quầng sáng, lão nghĩ chẳng mấy chốc kể từ lúc này lão sẽ chạm đến mé dòng nước. Giờ thì đã xong, lão nghĩ. Có lẽ chúng sẽ lại tấn công ta. Nhưng trong đêm tối, không một tấc sắt trong tay, con người có thể làm gì để chống lại chúng? Lúc này lão đã tê cứng, nhức nhối và cái giá lạnh ban đêm càng làm những vết thương và tất cả những chỗ xây xát trên khắp cơ thể lão đau buốt. Mình hy vọng là sẽ không còn chạm trán với chúng, lão nghĩ. Mình rất hy vọng mình không phải chạm trán lại với bọn chúng. Nhưng vào lúc nửa đêm lão phải chiến đấu và lần này lão biết cuộc chiến đấu là vô vọng. Chúng kéo đến cả đàn, lão chỉ nhìn thấy những đường nước do vây chúng xẻ bơi và những vệt lân tinh khi chúng quăng mình vào con cá. Lão nện chày xuống mấy cái đầu, nghe tiếng răng bập và cảm thấy con thuyền chao đảo khi chúng luồn xuống dưới. Lão vung chày tuyệt vọng vào bất cứ chỗ nào lão có thể phỏng đoán hoặc nghe thấy, rồi lão cảm thấy có cái gì đó tóm lấy cái chày, lôi tuột đi. Lão giật cái tay lái ra khỏi ổ lái, cầm cả hai tay đâm, bổ dọc liên hồi kì trận. Nhưng bây giờ bọn chúng lại dồn hết đến đằng mũi thuyền, lần lượt thay phiên nhau, hay cả bọn cùng xông vào xâu xé con cá, chỗ thịt chúng rứt được lấp lánh dưới nước khi chúng trở mình để lại lao vào. Cuối cùng một con xáp đến đớp vào cái đầu cá, lão biết thế là hết. Lão vung tay lái quật ngang đầu con cá mập chỗ bộ hàm bị kẹp cứng trong xương đầu con cá kiếm mà không thể rứt ra được. Lão quật lần nữa, thêm lần nữa, rồi thêm nữa. Lão nghe tiếng cái tay lái gãy; dùng phần gãy lởm chởm, lão đâm vào con cá mập. Cảm thấy đoạn tay lái cắm phập vào, lão biết nó sắc rồi thọc sâu xuống. Con cá mập buông ra, lăn mình đi. Đấy là con cuối cùng của đàn cá mập. Chẳng còn gì nữa để chúng xâu xé. Lúc này lão nặng nề thở và cảm thấy có vị là lạ trong miệng. Vị ấy ngòn ngọt và có mùi tanh đồng; lão thoáng lo sợ. Nhưng chỗ mùi vị ấy không nhiều. Lão khạc nhổ xuống đại dương rồi nói:
“Đớp đi, lũ galanos kia. Và hãy tưởng tượng rằng bọn mày đã giết chết một con người”. Bây giờ lão biết mình đã bại trận hoàn toàn, không thể nào cứu vãn nổi; lão quay lại đằng lái, tìm đoạn tay lái gãy lởm chởm còn đủ dài để lắp vào ổ lái, đưa thuyền vào bờ. Lão khoác cái bao qua vai rồi lái thuyền theo hướng cũ. Bây giờ, tay lái lão nhẹ bẵng và lão chẳng còn nghĩ hay thoáng chút vương vấn gì nữa. Lúc này lão quên hết mọi chuyện và chỉ tập trung đưa con thuyền vào bến khéo léo và an toàn. Trong đêm, đàn cá mập kéo đến gặm bộ xương như kiểu ai đó nhặt những mẩu bánh vụn trên bàn. ông lão chẳng buồn bận tâm đến chúng và cũng không để ý đến bất cứ chuyện gì ngoài việc lái thuyền. Bây giờ lão chỉ lưu ý đến độ lướt nhẹ và đằm của con thuyền khi không còn phải đeo thêm cái gánh nặng bên mình.
08:46 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
Đây là giống cá được cấu tạo để ăn thịt tất cả các loài cá khác ở đại dương, chúng nhanh nhẹn, khỏe mạnh và được trang bị lợi hại đến mức chúng chẳng còn có bất kỳ đối thủ nào nữa. Bây giờ khi bắt được mùi rõ hơn, con cá tăng tốc, cái vi xanh vùn vụt cắt mặt nước. Khi nhìn thấy nó lao đến, lão biết đấy là con cá mập không hề biết sợ hãi và sẽ thực hiện đúng những gì nó muốn. Trong lúc quan sát con cá mập tiến đến, lão chuẩn bị cây lao và buộc dây vào. Sợi dây ngắn bởi vì lão đã cắt bớt để buộc con cá. Bây giờ, đầu óc lão tỉnh táo, bình thản; lão có nhiều quyết tâm nhưng lại ít hi vọng. Cái quá tốt đẹp thì chẳng bền, lão nghĩ. Khi theo dõi con cá mập đang đến gần, lão liếc nhìn con cá kiếm khổng lồ. Cứ như thể là giấc chiêm bao ấy, lão nghĩ. Mình không thể ngăn nó đừng tấn công nhưng có lẽ mình sẽ giết được nó. Dentuso, lão nghĩ. Mẹ mày. Con cá mập áp nhanh mạn thuyền và khi nó đớp con cá, ông lão trông thấy cái mồm rộng, đôi mắt kì lạ và hàm răng bổ đánh cách một tiếng khi nó cắm phập vào chỗ thịt phía trên đuôi.
Đầu con cá mập nhô khỏi mặt nước, lưng nó cũng đang bềnh lên và ông lão có thể nghe thấy tiếng da thịt từ con cá lớn bị rứt đứt khi lão cắm phập mũi lao xuống đầu con cá mập, ngay điểm giao nhau giữa những đường kẻ ngang mắt và đường chạy thẳng từ mũi nó vắt ra sau. Chẳng có những đường như vậy đâu. Chỉ có cái đầu xanh nhẫy, nặng nề, đôi mắt lớn, tiếng răng nghiến xuống, và tiếng kéo nuốt. Nhưng đấy là vị trí của não và ông lão đã đâm trúng. Lão đâm bằng cả hai bàn tay tứa máu, dốc hết sức lực ấn sâu mũi lao xuống. Lão đâm không bằng hi vọng mà bằng quyết tâm và cả lòng căm hận. Con cá trằn mình ra, ông lão thấy nó dại đi và khi lật người sang phía kia, con cá tự quấn sợi dây quanh mình hai vòng. ông lão biết con cá đã chết nhưng nó không thừa nhận điều đó. Lát sau, nằm phơi bụng lên trời, đuôi quật mạnh, hai hàm răng đớp cạch cạch, con cá mập cằn đi trên mặt nước như chiếc thuyền đua. Chỗ đuôi nó quật xuống, nước tung trắng xóa, ba phần tư người nó nhô khỏi mặt nước khi sợi dây bị kéo căng, rung rung rồi bật đứt. Con cá mập nằm im một lúc trên mặt nước; ông lão ngắm nó. Rồi nó lặn xuống, rất chậm.
“Nó đớp khoảng hai mươi cân rồi”, ông lão nói lớn. Nó cũng đoạt luôn mũi lao và cả dây nữa, lão nghĩ, còn bây giờ, con cá của mình lại chảy máu rồi những con khác sẽ kéo đến. Lão chẳng còn muốn nhìn con cá thêm chút nào nữa kể từ lúc nó bị đớp tosc cả thịt da. Lúc con cá bị cắn thì như thể chính bản thân lão cũng đang bị cắn. Nhưng ta đã giết con cá mập cắn con cá của ta, lão nghĩ. Nó là con dentuso lớn nhất mà ta đã từng thấy. Chúa chứng giám rằng ta đã thấy nhiều con cá lớn. Cái quá tốt đẹp thì khó bền, lão nghĩ. Bây giờ mình ước giá mà chuyện này chỉ như là một giấc mơ và mình chưa hề câu được con cá và hãy còn nằm ngủ một mình trên lớp giấy báo lót giường. Nhưng con người sinh ra không phải để thất bại”, lão nói.
“Con người có thể bị hủy diệt chứ không thể bị khuất phục”. Dẫu sao thì mình cũng lấy làm ân hận vì đã giết chết con cá, lão nghĩ. Bây giờ sắp đến lúc vất vả và mình thì lại không có lấy một mũi lao. Con dentuso đấy độc ác, nham hiểm, khỏe mạnh và liều lĩnh. Nhưng mình thì lại khôn ngoan hơn nó bội phần. Có lẽ không, lão nghĩ. Có lẽ mình chỉ giỏi giang khi còn vũ khí.
“Đừng nghĩ nữa, lão già ạ”, ông lão nói lớn.
“Cứ giong buồm theo hướng này và hãy sẵn sàng đối đầu khi sự việc xảy đến”. Nhưng mình phải tư duy, lão nghĩ. Bởi vì đấy là tất cả những gì mình còn lại. Tư duy và bóng chày. Mình không chắc Di Maggio vĩ đại có thích cái cách mình đâm mũi lao vào não con cá không? Việc ấy chẳng to tát gì, lão nghĩ. Ai cũng có thể làm được. Nhưng anh ta có nghĩ đôi tay ta cũng can đảm trong lúc bị thương như chứng nẻ cựa gà kia không? Ta không thể biết. Gót chân ta chưa bao giờ mắc bệnh gì cả chỉ trừ hồi con cá nhám cựa châm nọc vào khi bị ta đạp phải lúc đang bơi; nọc độc làm tê liệt cả phần chân dưới và nhức nhối không tài nào chịu nổi.
“Nghĩ về chuyện gì vui vui đi, lão già ơi”, lão nói.
“Lúc này cứ mỗi phút thì mày lại gần đến nhà hơn. Mất đi hai mươi cân cá thì mày lướt nhẹ hơn”. Khi vào đến giữa dòng nước thì lão biết rõ chuyện gì có thể xảy ra. Nhưng lúc này thì chẳng thể làm được gì nữa.
“ừ, phải đấy”, lão nói lớn.
“Ta có thể buộc lưỡi dao vào đầu một mái chèo”. Cặp tay lái vào nách, chận chân lên dây lèo buồm lão làm ngay điều đó.
“Bây giờ”, lão nói,
“ta vẫn là một lão già. Nhưng ta đã có vũ khí”. Lúc này gió mát rượi, lão lướt nhanh. Lão chỉ nhìn phần phía trước của con cá và hi vọng lại lóe lên. Có mà ngốc mới không hi vọng, lão nghĩ. Thêm nữa, mình tin chắc đấy là tội lỗi. Đừng nghĩ về tội lỗi nữa, lão nghĩ. Bây giờ, trừ cái chuyện tội lỗi ra thì cũng đã có quá đủ rắc rối rồi. Vả chăng mình đâu có hiểu gì về nó. Mình đâu có hiểu gì về nó và mình cũng không chắc là mình tin có tội lỗi. Có lẽ giết con cá là tội lỗi. Mình cứ cho là thế mặc dù mình làm điều đó để nuôi sống mình và nhiều người khác. Nhưng nếu thế thì mọi việc đều là tội lỗi hết. Đừng nghĩ về tội lỗi nữa. Đã quá muộn để ân hận và đã có nhiều người được trả lương để làm việc đó. Cứ để họ nghĩ về điều đó. Mày được sinh ra để làm ngư dân như con cá kia được sinh ra để làm cá. San Pedro là dân chài lưới, cha của Di Maggio vĩ đại cũng vậy. Bởi vì không có gì để đọc và chẳng có radio nên lão cứ nghĩ về mọi thứ có liên quan đến lão, lão nghĩ lan man và cứ tiếp tục nghĩ về tội lỗi. Mày giết con cá không chỉ để giữ mạng sống và để đổi lương thực, lão nghĩ. Mày còn giết nó vì lòng kiêu hãnh và vì mày là người đánh cá. Mày yêu nó khi nó còn sống và mày cũng yêu nó sau đó. Nếu mày yêu con cá thì chẳng có tội lỗi gì khi giết nó. Còn gì nữa không?
“Mày nghĩ quá nhiều, lão già ạ”, lão nói lớn. Nhưng mày hả dạ khi giết con dentuso, lão nghĩ. Nó sống bằng những con cá sống như mày. Nó không phải là loài vật tìm thịt thối để ăn và cũng không phải là cái dạ dày biết bơi như lũ cá mập kia. Nó đẹp đẽ, cao thượng và chẳng sợ bất cứ thứ gì.
“Ta giết nó chỉ để tự vệ”, ông lão nói lớn.
“Và ta đã giết được nó”.
Ngoài ra, lão nghĩ, bằng cách này hay cách khác thì vạn vật cũng sát hại lẫn nhau. Nghề câu cá hại ta y hệt như đã nuôi sống ta vậy. Thằng bé giúp ta sống, lão nghĩ. Ta chớ tự lừa dối mình quá nhiều. Lão cúi người qua mạn rứt mẩu thịt cá chỗ con cá mập ngoạm dứt. Lão nhai và cảm nhận chất cá và mùi vị dễ chịu của nó. Thịt con cá săn, nhiều nước như chất thịt súc vật, nhưng không đỏ bằng. Thịt con cá không dai, lão biết loại thịt này sẽ được giá cao nhất trên thị trường. Nhưng chẳng có cách nào ngăn không cho mùi cá tỏa trong đại dương và lão biết rằng giai đoạn rất cam go đang đến gần. Gió vẫn thổi đều. Hướng gió hơi chuyển sang Đông Bắc và lão biết điều đó có nghĩa là gió sẽ không tắt. Nhìn thẳng phía trước, lão chẳng hề thấy một lá buồm, một bóng thuyền hay một làn khói tàu nào cả. Chỉ có đàn cá chuồn phóng lên từ dưới mũi thuyền, bay giạt sang phía kia và những vệt rong vàng của vùng Nhiệt Lưu. Thậm chí lão không còn thấy bóng dáng của một con chim nào nữa. Trong suốt hai tiếng đồng hồ, lão lái thuyền đi và sau khi tựa người sau lái, thỉnh thoảng nhai một mẩu thịt cá kiếm, cố nghỉ ngơi để phục hồi sức thì lão nom thấy con đầu tiên trong hai con cá mập.
“Ay”, lão thốt lớn. Không thể nào diễn nghĩa được từ này và có lẽ nó chỉ là thứ âm thanh vô tình thốt lên khi một người cảm thấy cái đinh xuyên qua tay mình ghim vào gỗ.
“Galanos”, lão nói lớn. Bây giờ lão mới trông thấy chiếc vây thứ hai bám sau con thứ nhất; nhìn chiếc vây hình tam giác màu nâu và cách thức quẫy đuôi, lão nhận dạng đó là loài cá-mập-mũi-xẻng. Chúng bắt được mùi, háo hức và trong cơn điên cuồng do bị cái đói thôi thúc, chúng lạc lối rồi lại huyên náo khi định hướng mùi vị. Nhưng mỗi lúc chúng lại đến gần hơn. ông lão buộc chặt dây lèo buồm, nêm kỹ bánh lái. Rồi lão cầm mái chèo đã buộc sẵn lưỡi dao. Lão ráng nâng lên từ từ bởi hai bàn tay lão đang nhức nhối. Rồi lão cứ khẽ buông, nắm mái chèo để đôi tay quen dần. Lúc này lão nắm chặt để chúng quen với cơn đau; không nao núng, lão nhìn hai con cá mập đang đến. Giờ thì lão có thể nhìn thấy mấy cái đầu dẹt, phẳng, nhọn như hai mũi xẻng và những chiếc ông vi bên sườn rộng, viền chóp trắng của chúng. Những con cá mập đáng ghét, thối tha, những kẻ săn tìm thịt chết và cũng là những kẻ giết thịt; khi đói chúng đớp cả mái chèo hay cả bánh lái của con thuyền. Loài cá mập này có thể cắt đứt phăng chân và chân chèo của loài rùa khi chúng ngủ lơ mơ trên mặt nước; nếu đói thì chúng tấn công cả con người dưới nước dẫu cho người ấy không có mùi máu cá hay chút nhớt cá nào trên mình.
“Ay”, ông lão gọi.
“Galanos! Hãy đến đây galanos”. Chúng đến nhưng lại không theo kiểu của con Mako. Một con lắc mình, lặn khuất dưới thân thuyền; lão có thể nhận thấy chiếc thuyền rung lên khi nó đớp và rứt thịt con cá. Còn con kia giương đôi mắt vàng ti hí nhìn lão rồi há rộng cái mõm như nửa vòng tròn của nó, bất thình lình xáp vào đớp con cá ngay nơi đã bị đớp. Đường nhăn hằn rõ trên đỉnh đầu nâu xám vắt ngược ra sau nơi não của con cá mập nối với xương sống, ông lão cắm mũi dao đầu mái chèo vào chỗ ấy, rút ra đâm vào đôi mắt vàng như mắt mèo của nó. Con cá mập buông mồi, chìm xuống, nuốt vội chỗ thịt đã ngoạm được trong cơn hấp hối. Chiếc thuyền vẫn cứ chao đảo bởi sức tàn phá của con cá mập còn lại vào con cá; ông lão buông chùng dây lèo buồm để con thuyền lạng sang bên làm con cá mập phải hiện ra. Khi nhìn thấy, lão cúi người qua mạn phóng mũi dao vào nó. Lão mới chỉ chạm vào phần thịt bởi da cá mập rất cứng và lão khó có thể thọc sâu lưỡi dao xuống. Cú đâm dội lại không chỉ làm buốt đôi tay mà còn làm đau cả vai lão nữa. Nhưng con cá mập lại trồi nhanh đầu lên, ông lão đâm thẳng xuống đỉnh đầu bẹt khi mũi nó nhô khỏi mặt nước, áp chặt vào con cá. ông lão rút dao ra rồi đâm trở lại ngay chính chỗ ấy. Nó vẫn bám chặt con cá bởi bộ hàm đã ngoạm vào, ông lão đâm vào mắt trái. Con cá mập vẫn cứ đeo cứng.
“Không hả”?”, ông lão nói rồi phóng dao đâm vào giữa điểm nối xương sống và não. Lúc này, cú đâm đã dễ dàng, lão cảm thấy chỗ xương sụn vỡ tan. ông lão rút mái chèo lách lưỡi dao vào giữa hàm con cá mập, cạy mở. Lão xoYy lưỡi dao và khi con cá mập buông ra Lão nói.
“Cút đi galanos. Cứ chìm sâu cả ngàn thước. Đi mà gặp bạn mày, hay gặp con mẹ mày ấy”. ông lão chùi lưỡi dao rồi đặt cây chèo nằm xuống. Lão tìm dây lèo buồm, cánh buồm no gió, lão đưa con thuyền vào bờ.
“Bọn chúng đã xơi hết một phần tư con cá, mà lại vào chỗ thịt ngon nhất nữa cơ chứ”, lão nói lớn.
“Giá mà đây chỉ là giấc mộng và ta chưa hề câu được nó. Ta lấy làm tiếc về điều đó, cá à. Nó khiến mọi chuyện hỏng bét cả rồi”. Lão ngừng lại và bây giờ không muốn nhìn con cá nữa. Kiệt máu và bềnh bồng trên sóng, trông con cá có màu bạc xỉn của lớp thủy tráng gương nhưng những cái sọc của nó vẫn rõ nét.
08:45 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
“Vòng tròn rất lớn”, lão nói.
“Nhưng con cá đã quay tròn”. Rồi sợi dây không nhích thêm tí nào nữa, lão kéo cho tới lúc lão thấy trong ánh nắng, những giọt nước từ sợi dây bắn ra. Thế rồi sợi dây bị kéo xuống, ông lão quì gối để nó lao hút trở lại vào trong vùng nước tối.
“Bây giờ nó đang lượn đến chỗ xa nhất của vòng tròn rồi đấy”, lão nói. Mình phải dốc sức ra mà níu lại, lão nghĩ. Độ căng sẽ dần thu hẹp các vòng lượn. Có lẽ độ tiếng nữa mình sẽ nhìn thấy nó. Bây giờ mình phải khuất phục nó rồi sau đó mình phải giết nó. Nhưng con cá vẫn chậm rãi lượn vòng và hai giờ sau mồ hôi ướt đẫm người ông lão, lão mệt đến tận xương. Bây giờ vòng tròn đã hẹp hơn nhiều; nhìn độ chếch của sợi dây lão có thể biết con cá dần ngoi lên trong lúc bơi. ông lão thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, mồ hôi làm mắt lão cay xè, vết cắt trên trán và mắt lão ran rát. Lão không ngại chuyện hoa mắt. Chứng ấy bình thường khi cứ phải căng người ra mà kéo sợi dây. Nhưng đã hai lần lão cảm thấy chóng mặt và choáng váng; điều ấy khiến lão sợ.
“Ta không thể lả người chết vì một con cá như thế này được”, lão nói.
“Bây giờ là lúc ta đưa nó lên một cách thật hoàn hảo, Chúa giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể”. Cứ xem như mình đã hứa, lão nghĩ. Mình sẽ đọc sau vậy. Đúng lúc đó lão cảm thấy sợi dây nảy mạnh, đột ngột; lão dùng cả hai tay giữ. Sợi dây nặng nề, nghiến mạnh, bỏng rát. Lưỡi kiếm của con cá đang quật vào đoạn dây thép đáy, lão nghĩ. Chuyện ấy tất xảy ra. Nó phải làm như thế. Nhưng điều đó sẽ làm con cá nhảy lên, bây giờ mình muốn nó hãy lượn vòng đi thôi. Những cú nhảy cũng cần để nó chứa đầy không khí. Nhưng sau mỗi lần nhảy, chỗ lưỡi câu móc vào sẽ bị rộng hơn rồi nó có thể hất văng ra.
“Đừng nhảy, cá”, lão nói.
“Đừng nhảy”. Con cá quật sợi dây thêm vài lần nữa và cứ mỗi lần nó văng đầu, ông lão lại nới thêm chút dây. Mình phải giữ cho nó đừng đau quá, lão nghĩ. Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề. Ta có thể chế ngự. Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên. Lát sau, con cá không quật dây đáy nữa và bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm. Bây giờ ông lão thong thả thu dây. Nhưng lão lại cảm thấy choáng váng. Lão đưa tay trái vốc ít nước biển vỗ lên đầu. Rồi lão tiếp tục vỗ thêm, xoa cả xuống gáy.
“Ta không để bị chuột rút”, lão nói.
“Chốc nữa nó sẽ ngoi lên và ta có thể cầm cự. Mày phải cầm cự. Chớ có nói lằng nhằng”. Lão tì gối vào mạn thuyền một lúc rồi lại quàng sợi dây lên lưng. Bây giờ mình sẽ nghỉ một lát trong lúc nó mải lượn vòng dưới kia rồi khi nó ngoi lên mình sẽ đứng dậy chiến đấu, lão quyết định. Được nghỉ ngơi ở đằng mũi thuyền, để mặc con cá bơi vòng mà không phải kéo dây thì quả thật là cám dỗ quá mức. Nhưng khi độ căng của sợi dây cho thấy con cá quay về phía thuyền, ông lão nhổm người dậy, xoay, lắc người dốc sức kéo sợi dây vào. Chưa bao giờ mình mệt như thế này, lão nghĩ, bây giờ gió mậu dịch đang nổi lên. Hướng gió thuận lợi để đưa con cá vào bờ. Mình rất cần thứ gió này.
“Lát nữa nó lượn ra, ta sẽ nghỉ”, lão nói.
“Ta cảm thấy đỡ hơn nhiều. Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ giáp mặt với nó”. Chiếc mũ rơm của lão trật ra sau gáy, để ý sức kéo của sợi dây, khi cảm thấy con cá lượn lại, lão ngồi xuống mũi thuyền. Bây giờ mày cứ lượn đi, cá, lão nghĩ. Tao sẽ đợi khi mày quay lại. Biển dậy sóng. Nhưng gió ấy chỉ xuất hiện vào những lúc thời tiết tốt và lão cần nó để trở về đất liền.
“Ta chỉ việc lái theo hướng Tây Nam”, lão nói.
“Người ta không bao giờ lạc trên biển và xứ sở của mình lại là một hòn đảo dài”. Đến vòng thứ ba, lão thoáng thấy con cá. Thoạt tiên lão thấy một cái bóng đen trùi trũi vượt dài qua dưới con thuyền, đến mức lão không thể tin nổi độ dài của nó.
“Không”, lão nói.
“Nó không thể lớn như thế được”. Nhưng đúng là con cá lớn như thế và đến cuối đường vòng, chỉ cách chừng hai lăm mét, nó trồi lên và lão nom thấy cái đuôi nhô lên khỏi mặt nước. Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tím sẫm trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to lớn bên sườn đang xòe rộng. Lần lượn này, ông lão có thể nhìn thấy mắt con cá và cả hai con cá chét xám bơi bên cạnh. Thỉnh thoảng hai con cá này rúc vào mình nó. Rồi có lúc chúng giạt ra. Chốc chốc chúng nhẹ nhàng bơi trong bóng của con cá lớn. Mỗi con dài cả thước và khi bơi nhanh, chúng vặn vẹo toàn thân như thể loài lươn. Bây giờ ông lão đang toát mồ hôi đầm đìa nhưng không phải vì mặt trời mà là vì một nguyên nhân khác.
Cứ mỗi vòng bơi bình lặng của con cá thì lão lại thu dây vào và lão chắc chỉ chừng hai vòng nữa thôi thì lão sẽ có cơ hội phóng lao vào nó. Nhưng mình phải để nó đến gần, gần, thật gần, lão nghĩ. Mình không cần nhằm vào đầu. Mình phải nhằm thẳng vào tim.
“Hãy bình tĩnh và giữ sức, lão già ạ”, lão nói. Vòng lượn tiếp theo, lưng con cá đã nhô lên nhưng hãy còn khá xa thuyền. Vòng tiếp theo đó, nó vẫn ở xa nhưng đã nhô mình lên cao hơn và ông lão tin chắc rằng nếu thu thêm dây thì con cá sẽ cặp sát thuyền. Lão đã chuẩn bị mũi lão trước đấy khá lâu; cuộn dây nhỏ của nó để trong cái xô tròn và một đầu dây đã được buộc vào cái mấu ở mũi thuyền. Bây giờ con cá lại tiếp tục lượn theo vòng tròn của nó, chỉ có cái đuôi đồ sộ cử động, trông điềm tĩnh và tuyệt đẹp. ông lão dốc hết sức ra kéo con cá vào gần hơn. Con cá khẽ nghiêng mình trong chốc lát. Rồi trở mình thẳng dậy và bắt đầu lượn thêm vòng nữa.
“Ta đã điều khiển nó”, ông lão nói.
“Ta đã điều khiển được nó rồi”. Lúc này lão thấy xây xẩm mặt mày nhưng vẫn gượng hết sức bình sinh ra mà kéo. Mình khuất phục được nó, lão nghĩ. Có lẽ lần này mình sẽ cho nó đi đứt. Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ khử nó. Nhưng khi lão tập trung hết sức lực, chuẩn bị dốc kiệt ra trước khi con cá bơi song song với mạn thuyền thì con cá chao mình tránh ra, lật thẳng người lên bơi đi.
“Cá ơi”, ông lão nói.
“Cá này, dẫu sao thì mày cũng sẽ chết. Mày muốn tao cùng chết nữa à?” Cứ cái đà này thì không ổn rồi, lão nghĩ. Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, nhưng lúc này lão không thể với lấy chai nước. Lần này mình phải kéo nó cặp mạn, lão nghĩ. Cứ thêm vài vòng nữa thì mình sẽ đuối sức. Không, mày khỏe, lão tự nhủ. Mày sẽ luôn khỏe.
Vòng lượn tiếp theo, lão gần như kìm được con cá. Nhưng lần nữa nó lại lách mình, từ từ bơi ra xa. Mày đang giết tao, cá à, ông lão nghĩ. Nhưng mày có quáền làm như thế. Tao chưa bao giờ thấy bất kỳ ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai. Giờ thì đầu óc mày đang lú lẫn lên hết cả rồi, lão nghĩ. Mày phải giữ đầu óc tỉnh táo. Hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như một con người. Hay như một con cá, lão nghĩ.
“Đầu ơi, hãy tỉnh táo”, lão nói bằng giọng mà bản thân hầu như không còn nghe nổi.
“Hãy tỉnh táo”. Con cá điềm nhiên lượn thêm hai vòng nữa. Mình không biết, ông lão nghĩ. Lão có cảm giác như lão có thể đổ sụp xuống bất cứ lúc nào. Mình không biết. Nhưng mình sẽ cố thêm lần nữa. Lão cố thêm lần nữa và khi kìm con cá, lão tưởng như mình đang ngất đi. Con cá lại giãy ra, chầm chậm bơi xa, cái đuôi đồ sộ lắc lư trong không trung. Mình sẽ lại cố thêm, ông lão hứa mặc dù hai tay lão đã rã rời và mắt lão không thể nhìn rõ vì hoa quá. Lão lại cố và mọi chuyện vẫn như cũ. Thế đấy, lão nghĩ và lão cảm thấy xây xẩm cả mặt mày trước lúc bắt đầu. Mình sẽ lại cố thêm một lần nữa. Cố nén cơn đau, dồn hết tàn lực, dốc hết lòng kiêu hãnh còn lại lão mang ra đương đầu với nỗi đớn đau vô bờ của con cá; con cá tiến gần mạn thuyền, từ từ bơi nghiêng, mõm nó gần như chạm vào ván thuyền và sắp sửa vượt qua, dài, sâu, rộng, ánh bạc, vằn tím sẫm và bất tận trong dòng nước. ông lão buông sợi dây xuống, giẫm chân giữ rồi nhấc cao ngọn lao hết mức, vận hết sức bình sinh, cộng thêm sức lực lão vừa huy động trong người, phóng xuống sườn con cá ngay sau cái vây ngực đồ sộ, vươn cao trong không trung ngang ngực ông lão. Cảm thấy mũi sắt cắm phập vào, lão tì người lên ấn sâu xuống rồi dồn hết trọng lực lên cán lao. Con cá sực tỉnh; mang cái chết trong mình, nó phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền.
Thoáng chốc nó rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền. ông lão cảm thấy choáng váng, đau đớn; lão không thể nhìn rõ. Nhưng lão vẫn kịp đón sợi dây của ngọn lao rồi để nó từ từ chạy qua đôi tay xây xát, và khi đã nhìn rõ, lão thấy con cá nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời. Cán lao nhô ra từ cái hốc sau vây cá, còn biển thì đang đổi màu bởi máu đỏ loang ra từ tim cá. Thoạt tiên, làn máu đen sẫm trông như bãi cát ngầm trong làn nước biếc sâu hơn ngàn thước. Rồi nó lan rộng nom tựa đám mây. Con cá trắng bạc, thẳng đơ, bồng bềnh trên sóng. ông lão thận trọng quan sát khi thị lực còn tỏ. Rồi lão quấn sợi dây mũi lao hai vòng quanh cái mấu ở đầu thuyền và gục đầu vào lòng bàn tay.
“Hãy giữ đầu óc tỉnh táo”, lão nói khi tựa vào mạn thuyền.
“Ta là lão già mệt mỏi. Nhưng ta đã giết con cá này, người anh em ta, và bây giờ ta phải làm cái việc nhọc nhằn”. Lúc này mình phải chuẩn bị dây và thòng lọng để buộc con cá vào mạn thuyền, lão nghĩ. Dẫu cho mình có hai người để nghiêng thuyền kéo nó lên rồi tát nước ra thì chiếc thuyền này cũng không thể chứa nổi nó. Mình phải chuẩn bị mọi thứ, kéo nó vào buộc chặt rồi dựng cột, giong buồm trở về. Lão kéo con cá cặp sát thuyền để có thể luồn sợi dây qua mang, ra mõm rồi buộc nó vào mũi thuyền. Mình muốn ngắm nó, lão nghĩ, muốn chạm và sờ vào mình nó. Con cá là vận may của ta, lão nghĩ. Nhưng đấy không phải là lý do để ta muốn sờ nó. Ta chắc ta đã sờ trúng tim, lão nghĩ. Khi ta ấn cái cán lao lần thứ hai. Bây giờ phải kéo nó vào, buộc chặt; tròng một chiếc thòng lọng vào giữa thân và một chiếc nữa vào đuôi để buộc nó vào thuyền.
“Làm ngay đi, lão già ơi”, lão nói. Lão hớp một ngụm nước rất nhỏ.
“Bây giờ khi trận đấu đã kết thúc, vẫn phải làm một công việc hết sức nhọc nhằn”. Lão ngước nhìn bầu trời rồi cúi nhìn con cá. Lão chăm chú quan sát mặt trời. Chỉ vừa xế trưa thôi, lão nghĩ. Và gió mậu dịch đang thổi. Cả đám dây câu ấy bây giờ không quan trọng. thằng bé sẽ cùng mình nối lại khi về đến nhà.
“Đến đây, cá”, lão nói. Nhưng con cá không nhúc nhích. Thay vào đó, lúc này nó nằm dầm mình trong nắng và ông lão phải lôi con thuyền lại chỗ nó. Khi đến bên con cá và kéo đầu nó tì sát mũi thuyền, lão không thể nào tin được kích thước của nó. Lão tháo sợi dây ở cán lao ra khỏi cái mấu, luồn nó qua mang cá ra miệng, quấn một vòng quanh cái kiếm rồi lại đút sợi dây qua miệng ra mang kia, quấn một vòng quanh miệng cá, gút hai mối dây lại rồi cột vào cái mấu đằng mũi thuyền. Sau đó lão cắt sợi dây mang ra sau lái buộc thòng lọng vào đuôi cá. Da cá chuyển từ màu gốc, tím sẫm ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc cũng có cùng màu tím nhạt như đuôi nó. Những đường sọc ấy lớn hơn cả bàn tay người xòe rộng, còn mắt nó trông đờ đẫn như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như mắt một vị Thánh trong đám rước.
“Đấy là cách duy nhất để giết nó”, ông lão nói. Kể từ lúc uống nước, lão cảm thấy khỏe hơn và biết lão sẽ không bị ngất, đầu óc lão tỉnh táo. Với cái lối này thì con cá chắc phải nặng hơn nửa tấn, lão nghĩ. Có lẽ còn hơn cả thế. Nếu chỉ tính hai phần ba số lượng thịt từ trọng lượng ấy với giá ba mươi cent một pound thì sẽ được bao nhiêu?
“Ta cần một cái bút chì để tính”, lão nói.
“Đầu ta không thạo tính toán. Nhưng ta nghĩ Di Maggio vĩ đại sẽ tự hào về ta hôm nay. Ta không mắc chứng nẻ cựa gà. Nhưng đôi tay và lưng thì thực sự nhức nhối”. Mình chẳng hay chứng nẻ cựa gà là gì, lão nghĩ. Không chừng mình đã mắc chứng ấy mà không biết. Lão buộc chặt con cá vào mũi, đuôi thuyền và cả vào cái gióng ngang giữa thuyền. Con cá lớn đến nỗi trông như thể ông lão buộc một con thuyền khác lớn hơn nhiều vào thuyền mình. Lão cắt một mẩu dây mang đến buộc chặt cái hàm dưới của con cá vào miệng để miệng nó không há ra, để con thuyền lướt đi càng êm càng tốt. Rồi lão dựng cột, căng buồm với thanh đỡ là cái sào móc ở bên trên và cây sào dài giữ ở bên dưới; cánh buồm vá căng phồng, con thuyền bắt đầu lướt đi; tựa ngả người lên đuôi thuyền, lão lái về hướng Tây Nam. Lão không cần địa bàn để biết hướng Tây Nam. Lão chỉ cần nương theo hướng gió mậu dịch và chiều xoay trở của cánh buồm. Tốt hơn là mình nên buông một cái vó buộc vào sợi dây nhỏ để kiếm cái gì đó bỏ bụng và làm dịu cơn khát. Nhưng lão chẳng tìm thấy nó, còn mấy con cá mòi thì đã ươn ình. Vậy nên lão dùng cái móc khua một đám rong vàng vùng Nhiệt Lưu lên thuyền khi đám rong đó trôi qua và rũ bắt những con tôm nhỏ rơi xuống lòng thuyền. Chừng hơn mười con và chúng nhảy búng chân như loài bọ chét trên cát. ông lão dùng ngón cái và ngón trỏ rứt đầu rồi nhai gọn cả vỏ lẫn đuôi. Mấy con tôm rất bé nhưng lão biết chúng giàu chất dinh dưỡng, vả lại mùi vị của chúng thật dễ chịu. ông lão vẫn còn trong chai độ hai ngụm nước và sau khi ăn xong chỗ tôm ấy, lão uống hết một nửa. Con thuyền vẫn lướt êm bất chấp vật cản kia; ông lão cặp tay lái vào nách, lái thuyền đi. Lão có thể nhìn thấy con cá, và chỉ khi nhìn đôi tay và cảm nhận cái mạn thuyền dưới lưng, lão biết việc này đã thực sự xảy ra chứ đâu phải trong mơ. Đã có lúc khi cuộc đấu sắp kết thúc, người lão rệu rã đến nỗi lão nghĩ chuyện con cá hẳn là trong mơ. Rồi khi lão thấy con cá tung mình lên khỏi mặt nước, lơ lửng bất động trong không trung trước lúc rơi xuống thì lão chắc chắn là có điều gì đó thực sự quái đản và lão không thể nào tin nổi. Khi ấy lão không thể nhìn rõ, nhưng bây giờ mắt lão lại tỏ như thường.
Bây giờ lão biết con cá, đôi bàn tay và lưng lão đâu phải là mơ. Ta sẽ chóng lành, lão nghĩ. Mình đã rửa sạch máu và nước biển sẽ làm chúng bình phục. Dòng nước tối sẫm của chính vùng Nhiệt Lưu là phương thuốc làm nhanh lành da tay kì diệu nhất. Những gì phải làm bây giờ là giữ cho đầu óc tỉnh táo. Đôi tay đang làm bổn phận của chúng, chúng ta đi nhanh. Với cái miệng bị buộc chặt, cái đuôi dựng thẳng dứng, nhấp nhô, con cá và mình lướt đi như thể hai anh em. Rồi đầu óc lão bắt đầu hơi lẫn lộn, lão nghĩ, nó đang đưa ta vào bờ hay ta đang đưa nó? Nếu ta đang kéo nó phía sau thì chẳng cần phải thắc mắc gì nữa. Nếu con cá ở trên thuyền và dáng vẻ hiên ngang của nó tiêu tan hết thì cũng chẳng cần phải thắc mắc gì nữa. Nhưng cả con cá lẫn ông lão lại đang cặp kè lướt đi nên lão nghĩ, cứ để nó đưa ta vào bờ nếu việc đó làm hài lòng nó. Ta chỉ thạo hơn nó ở mỗi cái trò mánh lới; còn nó thì đâu có làm hại ta chút mảy may. Thuyền đi nhanh, ông lão nhúng hai bàn tay xuống nước mặn và cố giữ đầu óc tỉnh táo. Nhìn những đám mây tầng vươn cao và những dải mây tơ bên trên, ông lão biết gió nhẹ sẽ còn thổi suốt đêm. ông lão thường xuyên nhìn con cá để chắc chắn là nó có thực. Đấy là giờ đồng hồ đầu tiên trước khi con cá mập tấn công. Con cá mập này không phải là tình cờ. Nó ngoi lên từ phía biển sâu khi đám mây máu đen sẫm được hình thành rồi lan nhanh xuống vùng nước sâu hơn ngàn thước. Nó bơi lên rất nhanh và hoàn toàn bất cẩn đến mức đã xé tung mặt nước xanh thẳm, nhao mình trong ánh nắng. Thoáng chốc, nó rơi tõm xuống biển, bắt mùi bơi theo chiếc thuyền và con cá. Thỉnh thoảng nó bị lạc đường. Nhưng nó lập tức bắt lại mùi, hay một dấu hiệu gì đó, rồi cật lực bơi nhanh về hướng ấy. Nó là loài cá mập Mako cực lớn, cơ thể được cấu trúc để bơi nhanh như bất kì loài cá nào bơi nhanh nhất trên đại dương; mọi thứ trên người nó đều đẹp chỉ trừ bộ hàm. Lưng nó cũng xanh như lưng loài cá kiếm, bụng nó ánh bạc, da đẹp và bóng mượt. Thân hình nó nom tựa một con cá kiếm, trừ bộ hàm đồ sộ lúc này đang ngậm chặt khi lao nhanh mấp mé mặt nước, chiếc vi cao ngồng trên lưng sừng sững cắt đôi mặt biển. Bên trong cặp môi đôi mím chặt của bộ hàm, tám hàng răng nghiêng chếch vào trong. Chúng không phải là những chiếc răng bình thường có hình kim tự tháp như răng của những loài cá mập khác. Hình dạng chúng như ngón tay của con người quắp lại khi bị chuột rút. Chúng dài gần bằng ngón tay ông lão và sắc bén cả hai mặt.
08:44 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
“Con cá cũng là bạn ta”, lão nói lớn.
“Ta chưa hề được nhìn thấy hay nghe nói về một con cá nào như thế. Nhưng ta phải giết nó. Ta lấy làm mừng vì chúng ta không phải cố giết những vì sao”. Hãy tưởng tượng hằng ngày con người phải cố giết cả mặt trăng. Mặt trăng sẽ lánh xa. Nhưng thử hình dung nếu có ngày có người phải giết cả mặt trời. Chúng ta được sinh ra may mắn, lão nghĩ. Rồi lão xót xa cho con cá lớn đã không có cái gì để ăn và dẫu cho có xót xa như thế thì quyết tâm giết con cá của lão cũng không hề suy giảm. Bao nhiêu người sẽ ăn thịt con cá này, lão nghĩ. Nhưng liệu họ có đủ tư cách để ăn thịt nó không. Không, đương nhiên là không. Chẳng một ai có đủ tư cách để ăn thịt nó bởi cái cách cư xử đĩnh đạc và phong độ của nó. Mình không hiểu những chuyện này, lão nghĩ. Nhưng thật dễ chịu khi chúng ta không phải cố giết mặt trời, mặt trăng hay những vì sao. Sống nương vào biển và giết người anh em thực sự của chúng ta là đã quá đủ rồi. Bây giờ, lão nghĩ, mình phải nghĩ về chuyện hãm bớt. Việc này thì có phần lợi và cũng có phần hại. Nếu con cá dốc sức chạy và hai cái chèo cản nước làm con thuyền mất độ nhẹ thì chắc mình cũng phải buông hết dây rồi để mất con cá. Con thuyền càng nhẹ thì càng kéo dài nỗi khổ của mình lẫn con cá nhưng đấy lại là điểm an toàn của mình bởi sức lực của con cá hãy còn rất dồi dào và nó chưa dùng hết. Dù gì đi nữa thì mình cũng phải mổ thịt con dorado để nó không bị hỏng và ăn vài miếng để lấy sức. Bây giờ mình sẽ nghỉ thêm một tiếng nữa để xem nó có còn lừng lững và ngoan cố trước khi mình quay ra sau lái quyết ra tay thử xem sao. Nhưng trong khi chờ đợi mình hẵng quan sát xem cách thức nó hành động và liệu nó có giở trò gì ra không. Buộc chèo là mẹo tốt nhất nhưng đã đến lúc cuộc chơi phải an toàn. Nó vẫn còn sung sức, mình thấy lưỡi câu móc vào khóe miệng và nó cứ ngậm chặt miệng. Nỗi đau đớn của lưỡi câu chẳng nghĩa lý gì cả. Nhưng sự hành hạ của cái đói cùng với việc không hiểu rõ mình đang chống lại cái gì là cả vấn đề đối với con cá. Giờ thì hãy nghỉ đi, lão già ạ, và cứ để nó kéo cho đến khi nhiệm vụ sắp tới của mày đến. Lão nghỉ độ chừng hai tiếng. Mặt trăng chưa mọc bây giờ nhưng lát nữa sẽ mọc; lão không có cách nào đoán thời gian. Và cái việc nghỉ ngơi của lão cũng lơ mơ nốt. Lão vẫn cứ chịu sức kéo của con cá dồn lên vai tuy đã đặt bàn tay trái lên mép mạn thuyền trước mũi để trút bớt, bớt nữa gánh nặng của con cá lên chiếc thuyền. Thật đơn giản làm sao nếu ta có thể buộc sợi dây, lão nghĩ. Nhưng chỉ với một cú quẫy nhẹ, con cá sẽ giật đứt. Mình phải đưa thân ra làm chiếc đệm cho sợi dây và lúc nào cũng sẵn sàng cả hai tay nới thêm dây.
“Nhưng mày vẫn chưa ngủ, lão già ơi”, lão nói lớn.
“Đã nửa ngày và một đêm còn bây giờ lại sang một ngày nữa mà mày vẫn chưa ngủ tí nào cả. Nếu con cá cứ lặng lẽ và kéo đều như thế thì mày phải thu xếp để ngủ đi một lát. Nếu mày không ngủ thì đầu óc không chừng sẽ rối tung lên mất”. Đầu mình vẫn còn tỉnh táo, lão nghĩ. Quá tỉnh táo nữa là đằng khác. Mình tỉnh như những vì sao anh em kia. Nhưng mình phải ngủ. Sao ngủ, mặt trăng, mặt trời ngủ và ngay cả đại dương đôi khi cũng ngủ vào những hôm nào đó khi dòng hải lưu ngừng trôi và mặt nước phẳng lặng. Nhưng hãy nhớ chợp mắt, lão nghĩ. Cố ngủ đi và hãy nghĩ ra một kế gì đó đơn giản nhưng bảo đảm về mấy sợi dây câu. Bây giờ hãy lùi lại mổ thịt con cá dorado kia. Nếu mày phải ngủ thì chớ có liều mạng buộc chèo làm vật cản. Ta có thể chịu đựng mà không cần ngủ, lão tự nhủ. Nhưng như thế thì thật là quá nguy hiểm. Lão bắt đầu dò dẫm bò về phía đuôi thuyền, thận trọng không làm giật sợi dây. Có lẽ nó cũng đang lơ mơ ngủ, lão nghĩ. Nhưng mình không muốn nó được nghỉ ngơi. Nó phải kéo cho đến khi chết. Ra đến lái, lão xoay người để bàn tay trái giữ chặt sợi dây và dồn sức mạnh lên cả hai vai rồi rút con dao ra khỏi vỏ bằng tay phải. Lúc này ánh sao chiếu sáng, lão nhìn rõ con cá dorado, cắm lưỡi dao vào đầu và lôi nó ra khỏi tấm ván sau lái. Lão đè chân lên con cá, rạch phăng một nhát từ phía dưới bụng dọc lên đến mõm hàm dưới. Rồi lão đặt dao xuống, dùng tay phải moi sạch ruột và móc hết mang ra. Cảm thấy cái dạ dày con cá nặng và trơn trơn nên lão mổ nó ra. Có hai con cá chuồn trong đó. Chúng còn tươi rói, lão đặt nằm cạnh nhau rồi quẳng mớ lòng lẫn mang qua mạn thuyền. Khi chìm, chúng kéo thành vệt lân tinh dài trong nước.
Con cá dorado lạnh ngắt, trong ánh sao, chỗ thịt trắng nhợt màu phong hủi; lão lột một bên da trong lúc đạp chân phải lên đầu cá. Rồi lão lật lại lột nốt nửa kia và lóc thịt cả hai bên từ đầu đến đuôi. Lão quẳng xương xuống biển và nhìn xem thử có xoYy nước không. Nhưng chỉ có ánh lân tinh khi cái xương từ từ chìm xuống. Rồi lão quay lại đặt hai con cá chuồn vào giữa hai miếng thịt cá; đút dao vào vỏ, lão chầm chậm quay về phía mũi thuyền. Lưng lão oằn xuống bởi độ nặng của sợi dây; tay phải lão cầm mấy miếng thịt cá. Đến mũi, lão đặt chỗ thịt cá lên tấm ván, hai con cá chuồn xếp bên cạnh. Sau đó lão nhích sợi dây sau vai sang chỗ mới, tay trái lại giữ nó và tì lên mạn thuyền. Rồi lão nghiêng người qua mạn rửa con cá chuồn và để ý tốc độ nước vỗ vào tay. Tay lão dính lân tinh khi lột da con cá, lão nhìn dòng nước xói vào chỗ ấy. Dòng nước không còn xiết nữa và khi lão miết mu bàn tay vào ván thuyền, nhiều mảnh lân tinh bong ra, từ từ trôi về phía lái.
“Hoặc là nó đang mệt hoặc là nó đang nghỉ”, ông lão nói.
“Bây giờ ta cố ăn chỗ thịt cá dorado này, rồi nghỉ ngơi và ngủ một tí”. Dưới trời sao, trong đêm thâu mỗi lúc một lạnh, lão ăn hết nửa miếng cá dorado và một con cá chuồn sau khi đã móc ruột và cắt bỏ đầu.
“Thịt cá dorado này càng tuyệt vời khi nấu chín bao nhiêu”, lão nói,
“thì lại càng dở ẹc khi ăn sống bấy nhiêu. Mình sẽ không bao giờ ra khơi mà lại không mang theo muối hay quất nữa”. Nếu biết trù tính thì mình đã đổ nước biển lên ván mui phơi khô để lấy muối, lão nghĩ. Nhưng mãi cho tới lúc gần tối thì mình mới bắt được con dorado. Dẫu sao thì cũng đã thiếu sự chuẩn bị. Nhưng mình sẽ nhai kỹ và cố không bị nôn. Từ hướng Đông, mây đang giăng lên bầu trời và lần lượt từng ngôi sao lão thấy chìm đi. Bây giờ lão như thể đang trôi vào hẻm mây lớn và gió đã ngừng thổi.
“Trời sẽ trở trong vòng ba bốn hôm nữa”, lão nói.
“Nhưng tối nay và ngày mai thì chẳng sao. Bây giờ trong lúc con cá đang bơi bình tĩnh, đều đặn thì hãy quên mọi chuyện và cố ngủ đi, lão già ạ”. Bàn tay phải nắm chặt sợi dây, đùi lão kẹp lấy bàn tay khi lão dồn hết sức nặng tựa vào mạn thuyền. Rồi lão đẩy sợi dây trên lưng xuống thấp một tí và quàng tay trái qua giữ lấy. Tay phải của mình có thể giữ chắc sợi dây cho đến khi nó còn nắm chặt, lão nghĩ. Nếu trong lúc ngủ nó buông sợi dây ra thì tay trái sẽ đánh thức mình dậy. Tay phải sẽ chịu khổ đấy. Nhưng nó đã quen chịu đựng rồi. Dẫu cho mình có ngủ hai mươi phút hay nửa tiếng thì nó cũng không sao. Nằm quắp người tới trước, dồn hết trọng lượng cơ thể đè lên sợi dây, lên bàn tay phải, lão chìm vào giấc ngủ. Lão không mơ về sư tử, thay vào đó là đàn cá heo đông như kiến cỏ, trải dài tám đến mười dặm; đấy là mùa chúng giao phối, nhảy lên và rơi xuống đúng điểm nhảy trên mặt nước. Rồi lão mơ, lão đang ở làng, đang trên giường, gió bấc thổi làm lão lạnh cóng, cánh tay phải của lão tê buốt vì lão đã gối đầu lên thay gối. Sau đó lão bắt đầu mơ về bãi cát dài vàng rực, lão thấy con sư tử đầu tiên bước ra trong bóng tối chập choạng rồi tiếp đó là những con khác, còn lão thì tựa lên mạn con tàu đang thả neo trong làn gió nhẹ buổi tối từ đất liền thổi đến; lão cứ đợi xem thử còn có thêm con nào nữa không, lão hạnh phúc. Trăng mọc đã lâu mà lão vẫn ngủ vùi, con cá vẫn lững thững kéo, còn con thuyền thì chui vào đường hầm mây. Lão choàng tỉnh bởi cú đập từ nắm tay phải va vào mặt, sợi dây bỏng rát trong lòng bàn tay phải. Lão không có cảm giác về bàn tay trái nhưng đã dồn hết sức lên tay phải, hãm sợi dây khi bị kéo đi. Cuối cùng tay trái lão cũng đã tìm thấy sợi dây, lão oằn người ra giữ và bây giờ lưng và bàn tay trái lão bị sợi dây làm bỏng rát; độ căng dồn lên bàn tay trái, cắt nát nó. Lão nhìn lại mấy cuộn dây và thấy nó nhẹ nhàng tuôn ra.
Đúng lúc ấy, con cá nhảy lên, xé toang một mảng đại dương rồi rơi ầm xuống. Nó cứ tiếp tục nhảy, con thuyền lao đi vùn vụt mặc dù dây vẫn không ngừng tuôn ra; ông lão cứ tiến đến điểm sắp đứt, làm chùng xuống rồi cứ lặp đi lặp lại. Rốt cuộc lão bị kéo sập xuống mũi thuyền, mặt đập vào chỗ thịt cá dorado và nằm bất động. Đây là những gì ta chờ đợi, lão nghĩ. Vậy thì ta hãy nhận ngay đi. Bắt nó trả sợi dây, lão nghĩ. Bắt nó trả sợi dây. Lão không thể nhìn thấy những cú nhảy của con cá mà chỉ nghe thấy tiếng rách của đại dương và tiếng đập xuống nặng nề khi con cá rơi. Tốc độ của sợi dây đang cứa nát hai bàn tay lão nhưng do lường trước được chuyện này sẽ xảy ra nên lão đã cố giữ sợi dây lướt trên vùng chai sần, không để nó tuồn qua lòng bàn tay hay cứa đứt mấy ngón tay. Nếu thằng bé ở đây thì nó sẽ thấm ướt mấy cuộn dây, lão nghĩ. Đúng đấy. Nếu thằng bé ở đây. Nếu thằng bé ở đây. Sợi dây cứ tuồn, tuồn, tuồn ra mãi nhưng giờ thì nó chậm dần và lão chỉ để con cá nhích, nhích dần từng tí một. Lúc này lão đã ngẩng đầu lên khỏi tấm ván và miếng cá mà lão đã đập má vào. Lão quì gối rồi từ từ đứng lên. Lão đang tiếp tục nới thêm dây nhưng luôn giữ cho chậm hơn. Lão lần lại nơi lão có thể đưa chân sờ được cuộn dây mà mắt lão không nhìn thấy. Vẫn còn nhiều dây và bây giờ con cá phải đeo thêm cái gánh nặng của cả số dây vừa mới bị kéo chìm xuống nước.
Phải đấy, lão nghĩ. Đến giờ nó đã nhảy hơn mười hai lần và đã lùa đẩy không khí vào những chiếc túi dọc lưng nó; nó không thể lặn xuống sâu mà chết ở nơi mình không thể kéo lên. Chốc nữa nó sẽ bắt đầu lượn vòng và lúc ấy mình sẽ ra tay. Mình không rõ chuyện gì làm nó bất thình lình giật mình như vậy? Có phải cơn đói khiến nó liều mạng hay là đêm tối có cái gì làm nó sợ hãi? Có lẽ đột nhiên nó cảm thấy sợ. Nhưng nó là con cá điềm tĩnh, khỏe mạnh cực kỳ cơ mà, như thể nó chẳng biết sợ là gì và rất tự tin. Lạ thật.
“Tốt hơn là mày không được sợ và hãy tự tin”, lão nói.
“Mày đã kìm được nó nhưng chẳng thu về được tí dây nào. Chẳng mấy nữa con cá sẽ lượn vòng”. Bây giờ ông lão dùng tay trái và vai giữ con cá rồi cúi người đưa bàn tay phải vốc nước rửa chỗ cá dính trên mặt. Lão sợ mùi cá khiến lão buồn nôn và khi nôn thì lão mất sức. Khi mặt đã sạch, lão rửa bàn tay phải bên mạn thuyền rồi ngâm nó trong làn nước mặn trong lúc dõi theo tia nắng đầu tiên hắt lên từ phía mặt trời mọc. Con cá gần như bơi về hướng Đông, lão nghĩ. Đấy là dấu hiệu chứng tỏ nó đã thấm mệt, phải xuôi theo dòng nước. Chốc nữa nó sẽ phải lượn vòng. Khi ấy công việc của chúng ta mới thực sự bắt đầu. Sau khi nghĩ bàn tay phải đã ngâm lâu trong nước, lão nhấc lên quan sát.
“Cũng không đến nỗi tồi”, lão nói.
“Và nỗi đau nhức thì chẳng hề gì đối với một người đàn ông”. Lão thận trọng nắm sợi dây để nó không lọt xuống những đường vừa bị cứa và di chuyển người để bàn tay trái có thể nhúng xuống nước bên phía mạn thuyền kia.
“Kể ra mày cũng được việc đấy”, lão nói với bàn tay trái.
“Nhưng có lúc tao đã không tìm thấy mày”. Tại sao ta không được sinh ra với hai bàn tay khỏe? Lão nghĩ. Có lẽ đấy là lỗi của ta vì ta không chịu tập luyện đúng cách. Nhưng Chúa biết nó có đủ cơ hội để học hỏi. Dẫu sao tối qua nó cũng không đến nỗi quá tồi. Nếu nó lại bị chuột rút thì ta cứ để sợi dây cắt phăng nó đi. Khi nghĩ như thế, lão biết đầu lão không còn minh mẫn nữa và lão nghĩ nên ăn thêm ít thịt cá dorado. Nhưng mình không thể, lão tự nhủ. Thà rằng hơi váng đầu một chút còn hơn là bị xuống sức do nôn. Kể từ lúc mặt mình vùi vào đó, mình biết mình chẳng kiềm được nôn nếu mình ăn chỗ cá ấy. Mình sẽ để đấy đến lúc thật cần thiết dẫu cho nó có hỏng thì thôi. Bây giờ đã quá muộn để giữ gìn sức khỏe dẫu cho đấy có là chất bổ dưỡng gì đi nữa. Mày thật ngốc, lão tự mắng. n ngay con cá chuồn kia đi. Con cá nằm đó, sạch sẽ và sẵn sàng; lão đưa tay phải nhặt lên, nhai xương thật cẩn thận, ăn hết, từ đầu đến tận đuôi. Thịt cá chuồn nhiều đạm hơn nhiều loài cá khác, lão nghĩ. Chí ít thì cũng giúp mình phục hồi sức đến mức cần thiết. Giờ thì mình đã làm xong những việc có thể, lão nghĩ. Nó cứ lượn vòng đi và trận đấu hãy bắt đầu. Mặt trời đang mọc lên lần thứ ba kể từ lúc lão ra khơi thì con cá bắt đầu lượn vòng. Lão chưa thể nhìn độ nghiêng của sợi dây để biết con cá đang bơi tròn. Hãy còn quá sớm cho điều đó. Lão chỉ cảm nhận áp lực của sợi dây hơi chùng lại và dùng tay phải, lão nhẹ nhàng kéo vào. Sợi dây chững lại, như mọi khi, nhưng lão kéo đến điểm sắp đứt thì sợi dây bắt đầu thu vào. Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu từ từ kéo nhịp nhàng. Lão dùng cả hai tay, lắc người, dồn hết lực của cả cơ thể, của chân trụ ra mà kéo. Đôi chân già nua và vai lão bắt nhịp với mỗi cử động qua lại của đôi tay.
08:43 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
“Con cá này chắc thịt và nhiều máu”, lão nghĩ.
“Mình may mà tóm được nó thay vì đám cá dorado kia. Thịt cá dorado ngọt quá. Con cá này thịt không ngọt nhưng chất bổ dưỡng trong nó thì nhiều và vẫn ngon sau khi chết”. Dẫu sao thì thực tiễn cũng luôn thắng mọi giả định, lão nghĩ. oeớc chi mình có được ít muối. Mình không rõ liệu mặt trời sẽ làm hỏng hoặc sấy khô số cá còn lại, vậy nên tốt hơn là chén tất dẫu cho cái bụng không đói. Con cá bình tĩnh và kiên cường. Mình sẽ ăn hết cả chỗ cá này rồi mình sẽ sẵn sàng.
“Hãy kiên nhẫn, tay à”, lão nói.
“Tao làm điều này vì mày đấy”. Giá mà ta có thể cho con cá ăn, lão nghĩ. Nó là người anh em của ta. Nhưng ta phải giết nó và giữ gìn sức khỏe để làm điều đó. Từ tốn và tỉ mẩn, lão ăn hết sạch những miếng cá hình chữ V. Lão đứng dậy, chùi tay vào quần.
“Nào”, lão nói.
“Tay này, mày có thể buông sợi dây ra được rồi đó, tao sẽ điều khiển nó với mỗi bàn tay phải cho đến khi mày từ bỏ cái trò ngớ ngẩn ấy”. Lão giẫm chân trái lên sợi dây nặng mà bàn tay phải đã nắm giữ và ưỡn người làm giảm bớt sức nặng dồn lên lưng lão.
“Xin Chúa hãy giúp con trừ bỏ cái chứng chuột rút này đi”, lão nói.
“Bởi lẽ con không biết rồi đây con cá sẽ làm gì”. Nhưng dường như nó cứ điềm tĩnh, lão nghĩ, thực hiện kế hoạch của mình. Nhưng kế hoạch của nó là gì, lão thầm nhủ. Thế còn kế hoạch của ta? Của ta, ta phải ứng biến kịp thời với nó bởi kích thước khổng lồ ấy. Nếu nó nhảy lên thì ta có thể giết nó. Nhưng sao nó cứ ở mãi dưới đó. Vậy thì ta cũng sẽ cầm cự luôn với nó dưới đó mãi mãi. Lão xát bàn tay bị chuột rút vào quần dài và cố cử động mấy ngón tay. Song nó vẫn không duỗi ra. Có lẽ mặt trời sẽ làm nó duỗi, lão nghĩ. Có lẽ nó sẽ lại cử động khi chỗ thịt cá thu sống bổ dưỡng ấy được tiêu hóa. Nếu phải sử dụng nó thì ta sẽ cố mở bằng bất cứ giá nào. Nhưng bây giờ ta chưa muốn dùng sức với nó. Cứ để nó tự duỗi ra và quay lại với chức năng của chính mình. Tình thực tối qua ta đã lạm dụng nó quá mức khi lẽ ra nó cần được nghỉ ngơi, không vướng mắc với mớ dây dợ kia.
Lão nhìn quanh biển và biết lúc này lão cô đơn biết nhường nào. Nhưng lão vẫn có thể nhìn thấy những khối hình trụ trong làn nước đen sẫm sâu hoYy, cả sợi dây câu thẳng chếch phía trước mặt và những gợn sóng bình thản đến kỳ lạ. Theo làn gió mậu dịch, giờ đây những đám mây ùn lên, lão nhìn ra trước mặt và thấy một đàn vịt trời in lên nền trời trên biển, thoắt ẩn, thoắt hiện và lão biết chẳng có ai phải cô đơn trên biển cả. Lão nghĩ đến kiểu sợ của nhiều người lúc lênh đênh trên thuyền nhỏ mà không nhìn thấy đất liền và biết họ đúng, bởi trong nhiều tháng thời tiết sẽ thất thường. Bây giờ họ đang ở vào những tháng cuồng phong, song những khi không có bão thì thời tiết trong những tháng cuồng phong lại tốt nhất trong năm. Nếu có bão thì khi đi biển người ta sẽ luôn thấy dấu hiệu của nó trên bầu trời từ vài hôm trước. Nhưng những người ở trên bờ thì không thấy bởi họ chẳng biết quan sát để làm gì, lão nghĩ. Đất liền rõ là khác hẳn, hình dáng những đám mây ấy mà. Nhưng bây giờ thì chưa có bão. Lão nhìn lên bầu trời và thấy những đám mây trắng xếp lên nhau tựa chồng bánh kem ngon lành, còn bên trên là những quầng mây mỏng nhẹ tênh trên bầu trời tháng chín sâu thẳm.
“Gió nhẹ”, lão nói.
“Cá này, thời tiết thuận cho ta hơn là cho mày”. Bàn tay trái của lão vẫn co quắp nhưng lão đã khẽ duỗi được một tí. Mình căm thù chứng chuột rút, lão nghĩ. Đây là ngón đồi bại của chính thể xác. Thật là nhục nhã khi trước mặt người khác mà lại ỉa chảy hay nôn mửa do ngộ độc thức ăn. Nhưng trò chuột rút, lão nghĩ, rõ đúng là một calambre, lại đặc biệt nhục nhã khi xảy ra với kẻ một thân một mình. Nếu thằng bé ở đây thì nó sẽ xoa bóp cánh tay, bàn tay và làm nó duỗi ra, lão nghĩ. Nhưng tự nó cũng sẽ khỏi. Tiếp đó bàn tay phải của lão cảm nhận sức nặng của sợi dây có phần khang khác trước khi lão thấy độ nghiêng của nó thay đổi trên mặt nước. Rồi khi giữ chặt sợi dây, đập nhanh và mạnh bàn tay trái vào đùi, lão thấy sợi dây chênh chếch từ từ nổi lên.
“Nó đang trồi lên”, lão nói.
“Thôi nào tay. Hãy cố lên”. Sợi dây cứ lững thững, điềm tĩnh nhô lên và lúc mặt biển vỡ toang phía trước thuyền, con cá tung mình lên. Nó nhô lên bất tận, nước đổ ròng ròng từ hai bên lườn. Thân hình bóng nhẫy trong ánh nắng; đầu và lưng màu tím sẫm; trong ánh nắng, những đường sọc hai bên mình nó nom đồ sộ, phớt hồng. Cái kiếm của nó dài bằng cây gậy bóng chày, thon như một lưỡi kiếm; nó vươn hết độ dài thân hình lên khỏi mặt nước rồi nhẹ nhàng lao xuống như một tay thợ lặn; ông lão nom thấy cái đuôi hình lưỡi hái đồ sộ chìm xuống và sợi dây câu lại hút theo.
“Nó dài hơn chiếc thuyền chừng năm sáu tấc”, ông lão nói. Sợi dây tuồn nhanh xuống, nhưng đều đặn, chứng tỏ con cá không hề hoảng sợ. ông lão dồn cả hai tay hãm sợi dây nhưng chỉ trong mức an toàn, tránh để bị đứt. Lão biết, nếu lão không kìm chậm tốc độ của con cá thì nó có thể lôi tuột hết cả dây và bứt đứt. Chú cá thật kiêu hùng và mình phải chinh phục nó, lão nghĩ. Ta phải không để nó biết rằng nó khỏe cũng như nếu nó cứ bơi hoài như thế thì nó cũng sẽ chẳng mảy may biết chuyện đã gây ra cho ta. Nếu ta là nó thì ta sẽ dốc hết sức bình sinh kéo cho dây câu đứt tung hết cả lên. Nhưng, tạ ơn Chúa, loài vật thì chẳng thông minh bằng kẻ tiêu diệt chúng; mặc dù chúng cao thượng và hùng tráng hơn. ông lão đã từng thấy nhiều cá lớn. Lão đã tận mắt chứng kiến nhiều con cân nặng hơn nửa tấn và trong đời chính lão cũng đã bắt được hai con lớn như thế, nhưng không phải chỉ một mình.
Giờ đây, chỉ mình lão, đất liền lại khuất xa tầm mắt mà lão lại tóm được con cá lớn nhất, một con cá lão chưa từng thấy và lớn hơn cả những con được cánh chài lưới truyền tụng, trong lúc bàn tay trái của lão vẫn quắp chặt như cái vuốt của con đại bàng lúc co vào. Dẫu sao thì nó cũng sẽ khỏi, lão nghĩ. Chắc chắn nó sẽ duỗi ra để giúp bàn tay phải. Có ba thứ là anh em ta: con cá và hai bàn tay. Nó phải thôi cái thói chuột rút ấy đi. Bị chuột rút thì chẳng còn chút giá trị gì nữa. Con cá lại giảm tốc độ và tiến đều đều như trước. Mình thắc mắc tại sao nó lại nhảy lên nhỉ, lão nghĩ. Nó nhảy lồng lên như thể nó để mình biết nó lớn nhường nào. Dẫu sao thì bây giờ mình đã biết; lão nghĩ. Giá mà mình có thể cho nó thấy mình thuộc loại người nào. Nhưng ngộ nhỡ nó nhìn thấy bàn tay bị chuột rút. Cứ để cho nó nghĩ mình khỏe hơn chính bản thân mình và mình sẽ là như thế. oeớc gì ta là con cá, lão nghĩ, với mọi phẩm chất nó có chỉ trừ khát vọng và trí tuệ của ta. Lão lựa chiều tựa người thoải mái hơn vào mạn thuyền, rán sức chịu đựng trọng lực dồn tới khi con cá bình thản bơi va con thuyền chầm chậm trôi trên làn nước thẫm. Khi gió từ hướng Đông thổi lại, mặt biển khẽ cồn lên và đến trưa, bàn tay trái của lão hết bị chuột rút.
“Tin xấu cho mày đây, cá”, lão nói và dịch sợi dây trên chiếc bao phủ vai lão. Đã chọn được tư thế thoải mái nhưng lão vẫn thấy đau nhức dẫu cho lão chẳng bận tâm đến cơn đau ấy tí nào.
“Mình vô thần”, lão nói.
“Nhưng mình sẽ đọc mười lần bài kinh Lạy Cha và mười lần bài kinh Mừng Đức Mẹ để mình có thể bắt được con cá này và mình hứa mình sẽ hành hương đến nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh xứ Cobre nếu mình bắt được nó. Mình xin hứa như thế”. Lão bắt đầu máy móc đọc kinh. Đôi chỗ, do quá mệt nên lão không thể nhớ bài kinh rồi tiếp đó lão đọc nhanh đến nỗi bài kinh như động ùa ra. Kinh Mừng Đức Mẹ dễ đọc hơn kinh Lạy Cha, lão nghĩ.
“Kính Đức Mẹ Maria ơn sâu, Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Bà có phước lạ hơn mọi phụ nữ và Jesus cùng Bà gồm nhiều phước lạ. Thánh nữ Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen”. Rồi lão đọc thêm:
“Đức Mẹ Đồng Trinh đầy phép lạ, cầu cho con cá này chết đi. Dẫu cho nó có là chú cá siêu phàm”. Đọc xong mấy bài kinh của mình, cảm thấy đỡ hơn nhiều nhưng cơn đau nhức vẫn nguyên như cũ, có lẽ lại tăng thêm chút ít, lão tựa vào mạn mũi thuyền và bắt đầu máy móc cử động mấy ngón tay ở bàn tay trái. Bây giờ mặt trời nóng bức dẫu cho cơn gió nhẹ đang thoảng qua.
“Tốt hơn là ta móc lại sợi dây câu nhỏ ấy rồi thả qua đuôi thuyền”, lão nói.
“Nếu con cá quyết định nán thêm một đêm nữa thì mình cần có cái để ăn, vả lại trong chai, nước sắp hết rồi. Nơi này mình không hy vọng bắt được loài nào khác ngoài cá dorado. Nhưng nếu mình ăn lúc nó còn tươi rói thì thịt nó cũng không đến nỗi tồi. Mình ước tối nay một con cá chuồn bay lạc lên thuyền. Nhưng mình không có đèn để dụ nó. Thịt cá chuồn ăn sống thì tuyệt cú mèo và mình sẽ không cần cắt ra. Giờ thì mình phải giữ gìn sức lực. Lạy Chúa, mình không biết nó lớn quá”.
“Nhưng ta sẽ giết nó”, lão nói.
“Dẫu cho con cá có vĩ đại và kiêu hãnh đến nhường nào”. Dẫu sao thì cũng thật bất công, lão nghĩ. Nhưng mình phải cho con cá thấy những gì con người có thể làm và khả năng chịu đựng của hắn.
“Mình đã bảo thằng bé, mình là lão già kỳ lạ”, lão nói.
“Giờ là lúc mình phải chứng minh điều đó”. Đã hàng ngàn lần lão chứng minh nhưng rồi cũng chẳng có nghĩa lý gì. Bây giờ lão lại đang chứng minh. Mỗi lần đều mới mẻ và lão chẳng hề nghĩ về quá khứ khi lão làm điều đó. Mình mong nó ngủ và mình có thể ngủ và mơ về những con sư tử, lão nghĩ. Tại sao đàn sư tử lại là hình ảnh đậm nét nhất trong ký ức? Đừng nghĩ nữa, lão già ạ, lão tự nhủ. Bây giờ hãy tựa vào mạn thuyền nghỉ ngơi một lát và đừng nghĩ ngợi về bất cứ điều gì cả. Con cá thì mải kéo. Còn mày thì hạn chế di chuyển đến mức có thể.
Trời dần sang chiều, con thuyền vẫn lừ đừ tiến một cách vững chắc. Nhưng giờ thì đã xuất hiện trợ lực, gió Đông đẩy thuyền đi và ông lão nhấp nhô theo những con sóng nhỏ, nỗi nhức nhối của sợi dây hằn trên lưng đã dịu đi, mềm mại. Trong buổi chiều ấy, sợi dây lại nổi lên một lần nữa. Nhưng con cá vẫn tiếp tục bơi ở tầng nước cao hơn một tí. Mặt trời rọi lên cánh tay trái, vai và lưng lão. Vậy nên lão biết con cá đã chuyển sang hướng Đông Bắc. Bây giờ, khi đã trông thấy nó, lão có thể hình dung con cá đang bơi trong đại dương, bộ vây đỏ hồng dang rộng như đôi cánh, còn cái đuôi dựng đứng đồ sộ đang rẽ nước trong vùng tối đen. Mình không biết nó có nhìn rõ ở độ sâu ấy không, lão nghĩ. Mắt nó to lắm và loài ngựa mắt nhỏ hơn nhiều vẫn có thể nhìn xuyên qua bóng tối. Có hồi mình có thể nhìn khá rõ trong bóng tối. Không phải tối đen kịt đâu. Nhưng có thể nói là sáng gần như mắt mèo. Mặt trời và việc cử động bền bỉ mấy ngón tay của lão đã làm bàn tay trái giờ đây hoàn toàn hết bị chuột rút và lão bắt đầu dồn thêm áp lực lên nó; lão gồng các bắp thịt trên lưng cố nhích sợi dây đau điếng sang một tí.
“Cá này, nếu mày không mỏi mệt”, lão nói lớn,
“thì mày quả thật đúng là dị thường”. Lúc này, lão cảm thấy rất mệt, lão biết bóng tối sắp ập đến và lão cố nghĩ sang chuyện khác. Lão nghĩ về Liên đoàn Big mà lão gọi là Gran Ligas và lão biết đội Yankee của New áork đang đấu với đội Tigres của Detroit. Bây giờ đã sang ngày thứ hai mà mình không biết kết quả các trận đấu, lão nghĩ. Nhưng mình phải tin tưởng và phải xứng đáng với tài danh Di Maggio vĩ đại, người luôn xử lý mọi việc hoàn hảo dẫu cho phải mang cái gót chân đau vì chứng nẻ cựa gà. Chứng nẻ cựa gà là gì nhỉ? Lão tự hỏi. Una espuela de Hueso. Chúng mình không mắc bệnh ấy. Nó có đau như cựa của một chú gà chọi đâm vào gót chân không nhỉ? Mình không nghĩ mình có thể chịu đựng được điều ấy hay việc mất một mắt, hai mắt mà vẫn tiếp tục chiến đấu theo kiểu của đám gà chọi. Bên cạnh giống chim và loài thú vĩ đại thì con người chẳng thấm tháp gì nhiều. Vậy nên mình thích làm con cá ở dưới kia, lội trong vùng tối đen của đại dương.
“Miễn là đừng gặp lũ cá mập”, lão nói lớn.
“Nếu cá mập đến, cầu Chúa hãy rủ lòng thương lấy con cá và cả con nữa”. Mày có chắc Di Maggio vĩ đại sẽ cầm cự với một con cá lâu như tao đã cầm cự với chú cá này không? Lão nghĩ. Mình nghĩ anh ta có thể và thậm chí có thể lâu hơn nữa bởi anh ta trẻ trung, cường tráng. Cha anh ta cũng là dân chài lưới. Nhưng cái chứng nẻ cựa gà có làm anh ta đau nhiều không nhỉ?
“Ta không biết”, lão nói lớn.
“Ta không bao giờ mắc cái chứng ấy”. Khi mặt trời lặn, lão hồi tưởng, để tự củng cố thêm niềm tin, về cái hôm ở quán rượu tại Casablanca khi lão chơi vật tay với anh chàng da đen lực lưỡng quê ở Cienfuegos, người được xem là khỏe nhất ở cảng ấy. Hai người đấu suốt một ngày và một đêm; khuỷu tay đặt trong vòng phấn trên bàn, cánh tay dựng thẳng, hai bàn tay nắm chặt lấy nhau. Người nào cũng cố vật tay của đối thủ xuống bàn. Người ta đặt cược rất nhiều và cứ đi vào đi ra căn phòng sáng ánh đèn dầu; lão nhìn cánh tay, bàn tay rồi nhìn mặt anh chàng da đen. Sau tám giờ đầu, người ta quyết định cứ bốn tiếng thì thay trọng tài để họ có thể đi ngủ. Máu từ tay lão và tay anh chàng da đen tứa ra kẽ móng tay. Hai đấu thủ nhìn vào mắt, vào bàn tay, cánh tay của nhau; dân đánh cược cứ ra ra vào vào và ngồi trên những chiếc ghế cao tựa vào tường theo dõi. Mấy ngọn đèn hắt bóng họ lên những bức tường gỗ sơn màu xanh biếc. Bóng tay da đen nom đồ sộ, cứ chập chờn trên vách mỗi khi gió nhẹ lùa vào mấy ngọn đèn. Suốt đêm, tình thế trận đấu vẫn chưa ngã ngũ, người ta cho tay da đen uống rượu rum và châm thuốc mời hắn. Rồi thì anh chàng da đen, sau ngụm rum đã dốc hết nỗ lực phi thường và có lúc đã đè nghiêng tay lão, người lúc ấy chưa già mà là Santiago EL Campeón, chừng bảy phân. Nhưng lão đã đẩy bật trở về vị trí ban đầu. Lúc đó lão chắc là lão sẽ thắng tay da đen, một vận động viên điền kinh cừ khôi, sung sức. Rồi ngày ló rạng, khi những người cá cược đang đề nghị xem trận đấu là hòa và trọng tài đang lắc đầu thì lão dồn hết gân cốt đè bàn tay của anh chàng da đen xuống, xuống nữa cho đến khi chạm hẳn mặt bàn. Trận đấu bắt đầu vào sáng chủ nhật và kết thúc vào sáng thứ hai. Nhiều tay cá độ đề nghị hòa vì họ phải ra cảng bốc vác các bao đường hay làm việc cho Công tá than Havana. Nếu không thế thì mọi người hẳn muốn đợi xem cho đến lúc kết thúc. Nhưng dẫu sao thì lão cũng kết thúc trận đấu trước lúc mọi người phải đi làm. Trong suốt thời gian dài sau sự kiện ấy, mọi người đều gọi lão là Nhà Vô Địch; dĩ nhiên còn có cả trận phục thù vào mùa xuân nữa kia. Nhưng tiền đặt cược không nhiều và lão đã chiến thắng quá dễ dàng bởi đã đập tan lòng tin của tay da đen ở Cienfuegoạ trong trận chạm trán đầu tiên. Sau chiến thắng ấy, lão còn đấu vài trận nữa rồi nghỉ hẳn. Lão biết lão có thể đánh bại bất cứ ai nếu lão thực sự khao khát và lão cũng hiểu rằng bàn tay phải của lão sẽ kém đi khi câu cá. Lão đã thử vài trận đấu luyện với bàn tay trái. Nhưng tay trái lão luôn là kẻ phản bội, không chịu làm theo ý chí lão nên lão không thể tin cậy nó. Lúc này, mặt trời đã làm nó đủ ấm, lão nghĩ. Nó sẽ không bị chuột rút nữa nếu ban đêm không bị lạnh quá. Mình không rõ, đêm nay chuyện gì sẽ đến đây. Một chiếc máy bay vượt qua bầu trời trên đường đến Miami, lão thấy cái bóng của nó làm cả đàn cá chuồn hoảng sợ.
“Nhiều cá chuồn đến thế thì ở đó chắc có cá dorado”, lão nói rồi trì sợi dây lại xem thử có khả năng đoạt được đoạn dây nào từ con cá kia không. Nhưng lão không thể, nó cứ trơ trơ, sợi dây rung rung bắn cả nước cơ hồ như sắp đứt. Chiếc thuyền vẫn bình lặng tiến về phía trước và lão dõi theo chiếc máy bay cho đến khi không còn nhìn thấy nó. Ngồi trong máy bay chắc là lạ lắm, lão nghĩ. ở độ cao ấy, mình không biết mặt biển trông ra sao? Họ có thể thấy rõ con cá nếu không bay cao quá. Mình thích bay thật chậm ở độ cao hai trăm sải để quan sát cá từ trên cao. Những lần theo thuyền săn rùa, mình đứng trên xà ngang của cột buồm tiền và chỉ với độ cao ngần ấy mình cũng đã nhìn rõ ra phết. Đám cá dorado trông xanh hơn từ trên đấy và bạn có thể nhìn thấy những đường sọc, những đốm đỏ tía trên mình chúng và có thể thấy hết cả đàn khi chúng bơi. Tại sao tất thảy các loài cá bơi nhanh trong vùng nước tối thì lưng lại tím sẫm và luôn có vằn và đốm tím? Loài cá dorado có màu xanh thẫm là vì da chúng vàng ruộm. Nhưng khi chúng đi kiếm mồi, vào những lúc đói ngấu thì mấy cái vằn tím hai bên lườn trông giống hệt như vằn của loài cá kiếm. Có phải là do giận dữ hay là do tốc độ lớn mà da chúng có hiện tượng ấy?
Ngay trước khi trời tối, lúc vượt qua đảo rong biển Sargasso mênh mông đang ngả nghiêng dập dềnh trong sóng nhẹ như thể đại dương đang làm tình với ai đó dưới cái mền vàng, thì sợi dây câu nhỏ của lão đã móc vào họng một con cá dorado. Lão thấy nó lần đầu tiên khi nó nhảy lên mặt nước, vàng ruộm trong sắc nắng còn nán lại, uốn cong mình vẫy vùng loạn xạ trong không trung. Nó lại cứ tiếp tục lao lên, lần nữa, rồi lần nữa trong cơn hoảng sợ tột cùng và ông lão lom khom lần về phía đuôi thuyền, bàn tay phải và cả cánh tay giữ sợi dây câu lớn, còn tay trái lão lôi con cá vào, chân trái chận giữ những đoạn dây thu được. Khi vào gần mạn thuyền con cá cứ nhào lên lặn xuống hoảng loạn trong cơn tuyệt vọng, ông lão cúi người qua mạn, nhấc con cá vàng cháy lốm đốm vệt tím sẫm vào thuyền. Mồm nó cứ há ra rồi ngoạp liên hồi xuống lưỡi câu rồi cứ nảy trong lòng thuyền bằng cái thân dẹt dài, bằng cả đầu và đuôi nữa cho đến lúc ông lão quật mạnh xuống cái đầu vàng nhẫy thì nó mới rùng mình nằm im. ông lão tháo lưỡi câu khỏi con cá, móc lại mồi bằng một con cá mòi khác rồi buông qua mạn thuyền. Lão dò dẫm trở lại mũi thuyền. Lão rửa tay trái và chùi vào quần. Đoạn lão chuyền sợi dây nặng từ tay phải sang tay trái rồi rửa tay phải trong lúc quan sát mặt trời đang chìm xuống biển và độ chếch của sợi dây lớn.
“Nó chẳng thay đổi chút nào”, lão nói. Nhưng khi nhìn sức cản của nước dội vào tay, lão biết tốc độ đã có phần giảm đi.
“Ta sẽ buộc hai mái chèo sau lái chéo vào nhau để làm chậm con cá vào ban đêm”, lão nói.
“Về đêm nó khỏe và ta cũng thế”. Tốt hơn là để lát nữa mới mổ thịt con cá, như thế mới giữ được máu trong thịt, lão nghĩ. Lát nữa ta làm việc ấy và cả việc buộc hai mái chèo để làm vật cản luôn thể. Bây giờ ta nên để con cá yên thì tốt hơn và không nên quấy nó quá vào lúc hoàng hôn. Hoàng hôn là khoảng thời gian khó khăn đối với tất cả các loài cá. Lão để bàn tay cho gió thổi khô rồi nắm sợi dây, thả lỏng cơ thể hết mức, nương theo đà kéo, nép vào mạn thuyền để con thuyền chia đều áp lực hay chiếm hơn phần lực đè lên lão. Mình biết cách rồi đấy, lão nghĩ. Dẫu sao thì đấy cũng là một trong những mẹo. Rồi lão nhớ con cá chưa hề ăn thứ gì kể từ lúc cắn câu; nó là con cá khổng lồ nền cần phải ăn nhiều. Mình đã ăn hết con cá thu. Ngày mai mình sẽ ăn con dorado. Mình gọi loài dolphin này là dorado. Có lẽ ta nên ăn một ít khi đã mổ thịt. Thịt nó sẽ khó ăn hơn thịt con thu. Nhưng giờ đây, có gì là dễ đâu.
“Mày cảm thấy thế nào hở cá?
“ lão hỏi lớn.
“Còn tao thì thấy khỏe, bàn tay trái cũng đã khá hơn. Tao có đủ thức ăn cho một đêm, một ngày nữa. Có giỏi thì cứ kéo thuyền đi, cá”. Lão không thật sự cảm thấy khỏe khoắn bởi nỗi nhức nhối do sợi dây hằn lên lưng lão đã vượt qua giới hạn đau để đi vào miền tê dại mà lão chẳng thể nào lường nổi. Nhưng ta đã từng gặp chuyện tồi tệ hơn thế, lão nghĩ. Bàn tay chỉ bị cứa nhẹ một tí, còn chứng chuột rút thì đã đi đâu mất rồi. Đôi chân còn khỏe chán. Đấy là chưa kể ta còn nhỉnh hơn nó về khoản thịt cá kia. Giờ thì trời đã tối, đêm tháng chín, bóng tối ập xuống rất nhanh ngay sau lúc mặt trời lặn. Lão ngả người tựa vào mạn thuyền và cố nghỉ ngơi thư thái. Những ngôi sao đầu tiên xuất hiện. Lão không biết tên vì Rigel nhưng lão nhìn thấy nó và biết chẳng mấy nữa, cả trời sao sẽ hiện lên và lão sẽ có những người bạn ở nơi xa xôi kia.
08:42 SA 29/07/2009
Bộ sưu tâp truyện: Cổ tích, lịch sử cho các bé...
Ngư Ông Và Biển Cả (Tiếp)
“Nó đã đớp mồi”, lão nói.
“Giờ thì ta sẽ để cho nó nuốt hẳn”. Vẫn để sợi dây tuồn qua mấy ngón tay, lão dùng tay trái nối đầu sợi dây vào cả hai cuộn dây dự trữ kia. Lúc này lão đã sẵn sàng. Lão đã có ba cuộn dây dự trữ với tổng chiều dài là một trăm hai mươi sải cùng với cuộn lão đang sử dụng.
“Nuốt thêm tí nữa đi”, lão nói.
“Nuốt ngay đi”. Nuốt làm sao để mũi lưỡi câu đâm vào tim và giết chết mày, lão nghĩ. Hãy ngoan ngoãn trồi lên để tao cắm phập mũi lao này. ổn thôi. Mày sẵn sàng chưa? Đánh chén như thế là đã đủ rồi chứ?
“Nào!”, lão nói lớn và dùng cả hai tay kéo mạnh được chừng một mét dây rồi lại kéo, kéo nữa, tay nọ tiếp tay kia, dồn hết sức mạnh của cánh tay và của cả cơ thể lên sợi dây. Nhưng chẳng được gì, con cá vẫn chậm rãi bơi đi và ông lão thì chẳng thể nhúc nhích nổi nó dẫu chỉ một phân. Dây câu của lão rất bền, được bện để câu cá lớn; lão kéo căng sợi dây qua lưng cho đến lúc những giọt nước lăn ra khỏi nó. Thoáng chốc, sợi dây bắt đầu phát ra những âm thanh trầm trầm trong làn nước và lão vẫn giữ chặt, tì lên chỗ ngồi chèo thuyền, ưỡn người ra sau và kéo. Con thuyền bắt đầu từ từ tiến về hướng Tây Bắc. Con cá vẫn một mực bơi đi và họ di chuyển chầm chậm trên mặt biển phẳng lặng. Những cái mồi khác vẫn còn ở dưới nước nhưng lão chẳng biết xoay xở ra sao nữa.
“Giá mà ta có thằng bé”, ông lão nói lớn.
“Ta đang bị con cá kéo đi và ta là cái cọc kéo thuyền. Ta có thể buộc sợi dây lại. Nhưng như thế con cá sẽ bứt đứt. Mình phải giữ sợi dây cho đến lúc sức tàn lực kiệt và nới thêm dây khi nó cần. Đội ơn Chúa, nó cứ bơi ngang chứ không lặn xuống”.
“Mình sẽ làm gì nếu nó quyết định lặn xuống, mình không biết. Mình sẽ làm gì nếu nó lặn xuống và chết, mình cũng không biết. Nhưng mình sẽ làm cái gì đó. Có nhiều thứ mình có thể làm”. Lão tì sợi dây vào lưng và nhìn độ nghiêng của nó trên mặt nước, con thuyền cứ lững thững trôi về hướng Tây Bắc. Thế này sẽ giết nó, lão nghĩ. Nó không thể cứ kéo mãi thế này. Nhưng bốn giờ sau, con cá vẫn bình thản bơi ra khơi, kéo theo chiếc thuyền và cả ông lão đang giữ chặt sợi dây vắt qua lưng.
“Mình câu được nó vào quãng trưa”, lão nói.
“Nhưng mình chưa được nhìn thấy nó”. Lão đã đẩy chiếc mũ rơm sụp mạnh xuống đầu trước lúc câu được con cá, cái mũ cứa đau trán lão. Lão cũng khát nước bèn quì gối xuống, cẩn thận không làm giật sợi dây, rán vươn người quờ tay về phía mũi thuyền lôi ra chai nước. Lão mở nắp, uống một ngụm. Rồi lão tựa lưng vào mũi thuyền. Lão ngồi nghỉ trên đống cột buồm, cố không nghĩ ngợi điều gì, ngoại trừ việc chịu đựng. Khi nhìn về phía sau, lão không còn thấy bóng dáng đất liền đâu nữa. Chẳng có gì khác đâu, lão nghĩ. Mình luôn có thể quay về dựa vào ánh đèn từ Havana. Còn hai giờ nữa mặt trời mới lặn và có lẽ con cá sẽ trồi lên trước lúc trời tối. Nếu chưa ngoi lên thì có lẽ nó sẽ ngoi lên khi trăng mọc. Nếu cũng không thì chắc bình minh nó sẽ nổi lên. Mình không bị chuột rút và mình cảm thấy khỏe mạnh. Chính nó đã bị lưỡi câu móc vào miệng. Nhưng thử hỏi có con cá nào kéo được như nó. Miệng nó hẳn ngậm chặt đoạn dây thép. Mình ước mình có thể nhìn thấy nó. oeớc chi mình có thể nhìn thấy nó dẫu chỉ một lần để biết đối thủ của mình là ai. Con cá chẳng hề giảm tốc độ và đổi hướng suốt đêm ấy như lão có thể xác định bằng cách quan sát các vì sao. Trời lạnh sau lúc mặt trời lặn và mồ hôi của lão khô lạnh trên lưng, trên cánh tay và cả đôi chân già nua của lão. Lúc ban ngày, lão đã lấy cái bao tải đậy thùng đựng mồi ra trải phơi khô. Sau khi mặt trời lặn, lão cột nó quanh cổ, để phủ xuống lưng và bây giờ lão cẩn thận chèn nó xuống dưới sợi dây vắt qua vai. Cái bao lót dưới sợi dây và lão tìm cách tựa vào mạn thuyền để cơ thể bớt căng thẳng. Tư thế ấy thực ra cũng chỉ bớt được đôi phần, nhưng lão nghĩ là rất thoải mái. Ta chẳng thể làm gì được nó và nó cũng chẳng làm gì được ta, lão nghĩ. Chẳng làm được gì nếu nó cứ kéo mãi thế này. Một lần lão đứng dậy, đái qua mạn thuyền, ngước nhìn sao kiểm tra hướng đi. Từ vai lão, sợi dây như thể một đường lân tinh dài xuyên thẳng làn nước. Bây giờ họ di chuyển chậm và ánh điện Havana cũng không quá rõ, vậy là lão biết dòng nước hẳn đang đưa họ về hướng Đông. Nếu mình không còn thấy ánh sáng Havana thì chắc chúng mình đang tiến xa về phía Đông, lão nghĩ. Vì nếu con cá cứ giữ đúng hướng của nó thì mình phải thấy Havana thêm một lúc nữa. Mình không rõ mấy trận đấu bóng chày giải ngoại hạng hôm nay ra sao nữa, lão nghĩ. Có một chiếc rađiô khi đi câu như thế này thì thật tuyệt diệu. Rồi lão nghĩ, cứ phải nghĩ mãi về nó. Nghĩ về cái việc mày đang làm. Mày chớ có làm điều gì ngu ngốc. Lát sau lão nói lớn.
“Ước chi mình có thằng bé. Để giúp mình và chứng kiến cái cảnh này”. Con người ta không nên sống một mình khi tuổi đã xế bóng, lão nghĩ. Nhưng không thể nào tránh khỏi. Mình phải nhớ ăn con thu trước lúc nó hỏng để giữ sức khỏe. Hãy nhớ, dù mày chẳng muốn ăn tí nào, mày phải ăn nó vào sáng mai. Nhớ đấy, lão tự nhủ. Suốt đêm ấy, hai con cá heo bơi đến gần thuyền, lão có thể nghe tiếng chúng trở mình và thở. Lão có thể nhận biết sự khác nhau giữa tiếng thở dốc của con đực và tiếng thở dài của con cái.
“Chúng thật đáng yêu”, lão nói.
“Chúng chơi đùa, nghịch ngợm và yêu nhau. Chúng là anh em của ta như đàn cá chuồn kia vậy”. Rồi lão bắt đầu Yi ngại cho con cá lớn mà lão đã câu. Nó tuyệt vời, kỳ lạ và tuổi tác của nó là sao nhỉ, lão nghĩ. Chưa bao giờ mình gặp một con cá nào kiêu hùng và hành động quá đỗi kỳ lạ như nó. Có lẽ nó cũng thừa khôn ngoan để không nhảy lên. Bởi nếu cứ phóng lên hoặc lao chạy thì nó có thể hủy hoại mình. Nhưng chắc trước kia cu cậu đã nhiều lần nếm mùi dây câu nên đã biết đây là cách chiến đấu tốt nhất. Nó không thể biết chỉ có mỗi một người duy nhất đang đương đầu với nó và cũng chẳng hay rằng đấy là một lão già. Nhưng cu cậu đúng là chú cá vĩ đại và sự vĩ đại ấy còn được thể hiện ở phản thịt nơi chợ nếu thịt nó hãy còn tươi khi được mang đến đó. Cu cậu đớp mồi hệt một trang nam tử và cái cách cu cậu kéo cũng là của đấng hào hoa; cu cậu chống cự không một chút hoảng sợ. Ta phân vân chẳng biết nó có mưu đồ gì không hay cũng chỉ cố gỡ gạc như cái thân của ta thôi? Lão nhớ lần lão câu được một con trong cặp cá kiếm. Con đực luôn để con cái ăn trước và khi bị dính câu, con cái giãy giụa kinh hoàng, tuyệt vọng vẫy vùng thoát thân mạnh đến nỗi chẳng mấy chốc đã kiệt sức, suốt thời gian đó, con đực luôn ở bên bạn, bơi qua bơi lại dưới sợi dây và lượn tròn cùng bạn trên mặt nước. Nó bơi gần đến nỗi ông lão sợ nó có thể tiện phăng sợi dây câu bằng cái đuôi có hình dáng, kích cỡ và sắc tựa lưỡi hái. Khi ông lão móc con cá cái, giữ chặt cái kiếm xù xì tựa giấy nhám của nó và vung chày quật vào đỉnh đầu cho đến khi da nó chuyển sang màu như màu thủy ngân tráng phía sau gương, và rồi với sự trợ giúp của thằng bé, lão lôi con cá lên thuyền trong lúc con cá đực vẫn cứ sán lại bên mạn thuyền. Rồi trong lúc lão đang rửa sợi dây câu và xem xét lại cây lao, con cá đực tung mình nhảy vọt lên lửng lơ trong không trung bên cạnh chiếc thuyền để xem con cá cái ở đâu, rồi rơi lặn sâu xuống; đôi cánh màu đỏ hồng, tức đôi vây hai bên ngực, xòe rộng phô hết ra những đường sọc đỏ hồng rộng. Nó thật đẹp, ông lão nhớ, và nó thủy chung. Đấy là chuyện buồn nhất mà mình từng chứng kiến qua đôi cá ấy, ông lão nghĩ. Thằng bé cũng buồn và bọn mình cầu xin nó tha thứ trước khi vội xả thịt nó.
“Giá mà thằng bé ở đây”, lão nói lớn rồi trở người tì vào chỗ ván uốn cong phía trước mũi thuyền và cảm nhận được sức mạnh của con cá khổng lồ qua sợi dây lão giữ vắt qua vai, đang đều đều tiến theo hướng nó lựa chọn.
Một khi mình đã giở mẹo thì việc con cá chọn một lối thoát là rất thỏa đáng, ông lão nghĩ. Sự lựa chọn của nó là ở trong vùng nước sâu thẳm, tối om, cách xa hết thảy những lưỡi câu, cạm bẫy, lừa lọc. Còn mình thì lại chọn lối đến tìm nó ở nơi cách xa với loài người. Cách xa tất cả loài người trên trái đất. Bây giờ mình và nó dính chặt vào nhau kể từ buổi trưa. Và chẳng có ai giúp đỡ mình hoặc nó. Lẽ ra ta đừng làm ngư dân, lão nghĩ. Nhưng đấy là việc ta sinh ra để làm. Ta phải nhớ kỹ là phải ăn con cá thu sau khi trời sáng. Vào lúc gần sáng, có con gì đó đớp một trong mấy miếng mồi phía sau lão. Lão nghe tiếng phao gỗ gãy và sợi dây bắt đầu bị kéo xuống, qua mạn thuyền.
Trong bóng tối, lão rút con dao trong vỏ ra, dồn hết trọng lực lên vai trái, ngã người cắt sợi dây vướng vào mấu gỗ ở mép trên mạn thuyền. Rồi lão cắt đến sợi dây gần đấy và trong bóng tối, lão nối đầu dây của các cuộn dự trữ lại. Lão nối rất điêu luyện chỉ với một bàn tay rồi giẫm chân lên giữ khi lão thắt chặt múi nối. Bây giờ lão đã có sáu cuộn dây dự trữ, bốn cuộn từ hai cái mồi lão đã cắt bỏ và hai cuộn từ miếng mồi con cá đang tha, tất cả đã được nối vào nhau. Khi trời sáng rõ, lão nghĩ, mình sẽ xem xét miếng mồi bốn mươi sải và cũng sẽ cắt bỏ để nối những cuộn dây dự trữ. Mình sẽ bị mất hai trăm sải dây Catalan loại tốt, lưỡi câu và cả chì nữa.
Số tài sản ấy có thể được bù đắp. Nhưng cái gì sẽ đền bù nổi con cá này nếu mình câu được vài con cá khác và chúng sẽ làm đứt sợi dây kia? Giờ thì mình không rõ con cá đớp mồi kia thuộc loại gì. Có thể đấy là một con cá kiếm, một con mõm lớn hay một con cá mập. Mình không nhận ra. Mình phải rũ bỏ nó quá nhanh. Lão nói lớn,
“Giá như mình có thằng bé”. Nhưng mày không có thằng bé đâu, lão nghĩ. Mày chỉ có một thân một mình và tốt hơn là mày nên quay lại với sợi dây câu còn lại kia, tối hay không tối thì cũng phải cắt phăng nó đi rồi nối nốt hai cuộn dây dự trữ lại. Lão làm như thế. Trong bóng tối, công việc quả khó khăn và một dạo con cá lồng lên kéo lão ngã sấp mặt xuống, đứt một vệt bên dưới mắt. Máu rỉ xuống má lão. Nhưng nó đông lại và khô trước khi bò đến cằm, lão lần về phía mũi thuyền, tựa lưng vào mạn. Lão chỉnh lại cái bao và thận trọng nhích sợi dây để nó hằn sang vùng vai khác, giữ và dùng vai neo chặt; lão cẩn thận dò sức kéo của con cá rồi nhúng tay xuống nước xem tốc độ thuyền. Mình không rõ nó nhảy lên để làm gì, lão nghĩ. Đoạn dây thép đáy hẳn quét trên mỏm lưng đồ sộ của nó. Chắc chắn lưng nó không thể đau bằng lưng mình đâu. Nhưng nó không thể cứ kéo mãi con thuyền như thế được dẫu cho nó khổng lồ đến mức nào. Giờ thì mình đã dọn sạch mọi thứ vướng víu và mình lại có cả đống dây dự trữ; con người ta chỉ cần có thế thôi.
“Cá này”, lão dịu giọng nói,
“tao sẽ cầm cự với mày cho đến chết”. Nó cũng sẽ cầm cự với mình, mình chắc thế, ông lão nghĩ rồi đợi trời sáng. Giờ đây trước khi trời sáng, không khí lạnh lẽo, lão nép sát mạn thuyền tìm hơi ấm. Mình có thể chịu đựng lâu như nó, lão nghĩ. Và trong ánh bình minh, sợi dây câu kéo dài, chếch đâm xuống nước. Con thuyền vẫn một mực thẳng tiến và khi mặt trời hé lên, tia nắng đầu tiên đậu lên vai phải lão.
“Nó bơi về phương Bắc”, ông lão nói. Dòng nước sẽ cuốn ta dạt xa về phương đông, lão nghĩ. Mình mong nó xuôi theo dòng nước. Lúc ấy chứng tỏ nó đã thấm mệt. Khi mặt trời lên cao hơn, ông lão nhận thấy con cá vẫn chưa mệt. Chỉ có một dấu hiệu đáng mừng duy nhất. Độ chếch của sợi dây cho thấy nó không còn bơi sâu nữa. Dấu hiệu ấy không thực sự có nghĩa con cá sẽ nhảy lên. Nhưng nó có thể.
“Cầu Chúa làm nó nhảy lên”, ông lão nói.
“Mình còn đủ dây để chinh phục nó”. Có lẽ nếu ta kéo căng dây một tí thì nó sẽ bị đau và nhảy lên, lão nghĩ. Bây giờ đã ban ngày ban mặt, nó cứ nhảy lên đi để những chiếc túi dọc theo xương sống chứa đầy không khí khiến nó không thể lặn sâu xuống chết. Lão cố kéo, nhưng sợi dây vẫn cứ căng đến mức chuẩn bị đứt tung như từ lúc lão mới câu được con cá và khi ưỡn người ra để kéo, lão cảm nhận được sức cản ấy và biết là mình không thể dồn thêm lực vào đó. Mình không nên giật mạnh, lão nghĩ. Mỗi cú giật sẽ nới rộng thêm chỗ lưỡi câu móc vào rồi khi nhảy lên, con cá có thể tuột thoát. Dẫu sao thì mặt trời đã làm mình dễ chịu hơn và lần này thì mình không phải nhìn trực diện về phía mặt trời. Những mảng rong biển màu vàng bám vào dây câu nhưng lão biết chúng chỉ làm tăng thêm sức cản, lão hài lòng. Đấy là giống rong vàng vùng Nhiệt lưu, ban đêm tỏa nhiều lân tinh.
“Cá này”, lão nói,
“tao rất yêu và ngưỡng mộ mày. Nhưng tao sẽ giết mày trước khi ngày kết thúc”. Ta hãy hy vọng thế, lão nghĩ. Từ phương Bắc, một con chim nhỏ bay về phía thuyền. Nó thuộc giống warbler và bay rất thấp trên mặt nước. ông lão có thể nhận thấy con chim đã thấm mệt. Con chim bay đến đuôi thuyền, đậu xuống. Lát sau nó lượn vòng quanh đầu ông lão và đáp xuống sợi dây nơi nó cảm thấy thoải mái hơn.
“Mày bao nhiêu tuổi rồi?”, ông lão hỏi con chim.
“Có phải đây là chuyến đi đầu tiên của mày không?” Con chim nhìn lão khi lão nói. Nó thậm chí đã quá mệt để kiểm tra sợi dây và khi đôi chân mảnh mai đáp nhanh trên sợi dây, con chim lảo đảo.
“Nó chắc đấy”, lão bảo con chim.
“Nó chắc lắm. Sau một đêm lặng gió lẽ ra mày chưa mệt mới phải. Loài chim nào sắp đến đây?” Đám diều hâu, lão nghĩ, sẽ ra khơi săn chúng. Nhưng lão không nói điều ấy với con chim bởi làm sao mà nó có thể hiểu được lão và đâu có thể lập tức hiểu ngay được lũ diều hâu.
“Cứ nghỉ ngơi thoải mái đi, chú chim nhỏ”, lão nói.
“Rồi bay vào bờ, tận hưởng vận may như bất kỳ con người, con chim hay con cá nào”. Con chim khuyến khích lão nói chuyện bởi suốt đêm lưng lão đã tê cứng còn bây giờ thì thực sự nhức nhối.
“Hãy ở lại nhà ta nếu chú mày muốn, chim à”, lão nói.
“Ta lấy làm tiếc là không thể giương buồm nương theo làn gió nhẹ đang thổi đưa chú mày vào đất liền. Bởi ta đang bận tiếp một người bạn”. Đúng lúc ấy, bất thình lình con cá giật mạnh, kéo lão ngã sấp xuống mũi thuyền và suýt lôi lão xuống biển nếu lão không gồng hết sức níu giữ và nới thêm dây. Con chim bay vụt lên khi sợi dây giật mạnh và ông lão thậm chí cũng không nhìn thấy nó bay đi. Lão thận trọng đưa tay phải sờ sợi dây và thấy bàn tay mình đang chảy máu.
“Đúng là có cái gì đó làm đau nó”, lão nói lớn và kéo dây lại để xem có thể lay chuyển được con cá không. Nhưng khi ráng đến điểm căng nhất thì lão đành giữ chặt và quay lại chống đỡ sức kéo của sợi dây.
“Giờ thì mày sắp nếm mùi rồi đấy, cá à”, lão nói.
“Và lạy Chúa, cả tao cũng vậy”. Lúc này lão nhìn quanh tìm con chim bởi lẽ lão muốn có nó làm bè bạn. Con chim đã bay đi. Mày không chịu ở lâu với tao rồi, lão nghĩ. Nhưng suốt đoạn đường vào bờ mày sẽ chịu gian nan hơn đấy. Làm sao mà mình lại để con cá cắt đứt tay bằng cú quẫy chớp nhoáng ấy? Hẳn mình đang hóa ngu đần rồi. Hay có lẽ tại mình mải nhìn con chim và nghĩ về nó. Giờ đây mình sẽ tập trung vào việc của mình và lát nữa mình phải ăn con thu để không bị đuối sức.
“Mình ước thằng bé ở đây và có một ít muối”, lão nói lớn. Chuyển sợi dây nặng trĩu sang vai trái và cẩn thận quì xuống, lão rửa bàn tay trong đại dương rồi ngâm chứng hơn một phút, mắt nhìn những vệt máu loang ra và sự di chuyển đều đều của mặt nước táp vào tay khi con thuyền trôi đi.
“Nó đã chậm lắm rồi”, lão nói. ông lão hẳn thích ngâm tay trong nước mặn thêm lát nữa nhưng lão sợ con cá lại thình lình quẫy, lão đứng dậy, gượng giữ thăng bằng và đưa bàn tay ra đón ánh nắng. Chỉ một cú giãy nảy lên là đã cắt đứt thịt da lão. Mà nó lại nhằm đúng cái phần hoạt động của bàn tay. Lão biết lão cần đôi tay cho đến khi trận đấu này kết thúc và lão lại càng không muốn bị cứa đứt trước khi trận đấu bắt đầu.
“Nào”, lão nói khi bàn tay đã khô.
“Mình phải ăn con thu nhỏ. Mình có thể lấy cái móc khều nó ra và cứ ngồi đây ăn cho thoải mái”. Lão quì xuống, tìm con thu dưới đuôi thuyền, dùng cái móc gỡ nó ra khỏi đống dây dợ, kéo về phía mình. Vẫn giữ sợi dây bên vai trái, dồn lực lên bàn tay trái và cánh tay, lão gỡ con cá thu ra khỏi cái móc và đặt cái móc về vị trí cũ. Lão tì đầu gối lên con cá, cắt dọc những miếng thịt đỏ thẫm từ sau đầu đến đuôi. Thịt cá được rạch theo hình chữ V, lão tiếp tục xẻ từ sống lưng xuống rìa vùng bụng. Khi cắt được sáu lát lão trải chúng ra trên tấm gỗ đằng mũi thuyền, chùi con dao vào quần, nhấc cái đuôi kéo theo cả phần còn lại của con cá quẳng ra ngoài thuyền.
“Mình không chắc là có thể ăn hết cả miếng cá”, lão nói rồi đưa dao cắt đôi một khúc thịt. Lão cảm thấy sợi dây vẫn kéo mạnh đều và bàn tay trái của lão đã bị chuột rút. Lão bực bội nhìn bàn tay quắp chặt lấy sợi dây câu nặng.
“Tay tiếc quái quỉ gì mày”, lão nói.
“Nếu muốn thì mày cứ co quắp đi. Biến thành cái vuốt ấy. Cũng sẽ chẳng làm mày tốt lành hơn gì đâu”. Thế đấy, lão nghĩ rồi nhìn làn nước đen ngòm chỗ sợi dây chếch xuống. n cá ngay đi, nó sẽ lấy lại sức lực cho bàn tay. Đấy không phải lỗi của bàn tay bởi mày đã cầm cự quá lâu với con cá. Nhưng mày vẫn có thể đương đầu với con cá mãi mãi. n con thu đi thôi. Lão nhặt một miếng, đút vào miệng, từ từ nhai. Cũng chẳng đến nỗi nào. Nhai thật kỹ, lão nghĩ và nuốt hết nước. Sẽ không tệ nếu được ăn kèm với một quả quất nhỏ, với chanh hoặc với muối.
“Mày cảm thấy thế nào rồi hở tay?”, lão hỏi bàn tay bị chuột rút cứng đến mức gần như là bàn tay của cái xác chết lạnh ngắt.
“Vì mày, tao sẽ cố ăn thêm một ít”. Lão ăn phần còn lại của khúc thịt đã cắt ra lúc nãy. Lão nhai cẩn thận rồi nhổ bỏ da.
“Thế nào rồi hả tay? Hay hãy còn quá sớm để hoàn hồn?” Lão lấy cả miếng thịt dài khác và nhai nó.
08:42 SA 29/07/2009
m
Moonlight Sonata
Bắt chuyện
865
Điểm
·
5
Bài viết
Gửi tin nhắn
Báo cáo
Lên đầu trang
Thu Hà Nội không biết tự bao giờ đã trở thành biểu tượng của mùa đẹp, mùa thiêng của người Việt Nam ta. Ai đã từng tận hưởng một mùa thu Hà Nội, hẳn không thể quên những chiều thu da trời xanh một màu xanh tận đáy từ năm mặt hồ lung linh huyền thoại, một màu cốm thơm non tơ trong lá sen tơ hái từ sương khói Tây Hồ, một mùi hoa sữa quyến rũ mê mẩn tỏa ra từ những chùm lá rì rào gần gụi xa xăm... và những con đường lá chín rắc vàng sau rùng mình cơn gió đầm đậm phù sa từ sông Hồng thổi lại...
Thu Hà Nội mang về cho ta bao màu áo thanh tân mỗi thời mỗi đẹp. Và thu Hà Nội cũng mang lại cho ta bao xao xuyến mơn man của thánh thiện đắm say...
Nhưng Hà Nội không chỉ có thu thiên nhiên dấu đầy hương sắc. Thu Hà Nội còn là thu của con người đã làm nên mùa thu ấy, mùa thu – Tháng Tám! Và chính sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên tuyệt hảo mà thu Hà Nội đã cất lên biết bao giai điệu mê đắm hồn người trường tồn cùng lịch sử.
Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao/ Tôi về đây trong nắng nhớ thu nào...
Những giai điệu vừa xao xuyến vừa hào hùng trong bài trữ tình hùng tráng ca Ba Đình nắng của Bùi Công Kỳ (thơ Vũ Hoàng Địch) đã mang đến cho Hà Nội một mùa thu khác, mùa thu độc lập mà hơn nửa thế kỷ qua vẫn còn lay động lòng người.
Xa hơn nữa, thu Hà Nội “mấy nghìn năm chói chang rực rỡ” với những “Hàng cây xanh bao mùa lá đỏ/ Gió sông Hồng rì rào sóng vỗ/ Mùa thu đi qua từng ngõ nhỏ/ Ôi Hồ Gươm như một bài thơ”. Với lời ca ấy, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã thổi vào một giai điệu lộng lẫy, khiến thu Hà Nội tràn ngập tình yêu và lòng tự hào về Hà Nội trái tim hồng. Trần Tiến cũng nhớ mùa thu gió sông Hồng, nhưng là gió thu của tình yêu đưa người qua sông da diết khôn cùng:
Hồng Hà mùa thu, Hà Nội mùa thu/ Một ngày mùa thu đầy gió/ Con sáo sang sông bạt gió/ Con sít thương ai lội sông đi tìm ai...
Ngẫu hứng sông Hồng vì thế cũng là một ngẫu hứng thu Hà Nội.
Hầu như thu Hà Nội luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ khi viết về Hà Nội. Những trời, những hồ, những hoa, những con đường đều trở thành ký ức không phai mờ trong biết bao giai điệu của thủ đô yêu dấu. “Nhớ phố Quang Trung, đường Nguyễn Du/ Những đêm hoa sữa thơm nồng” (Hoàng Hiệp)... Nhưng phải đến Trịnh Công Sơn thì nỗi Nhớ mùa thu Hà Nội mới thật sự lung linh, huyền ảo và sang trọng. Ông đã ghi lại những ấn tượng về Hà Nội vô cùng tinh tế, từ “mái ngói thâm nâu” đến “bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời”; từ “thơm bàn tay nhỏ” đến “thơm bước chân qua”. Nhờ sự quan sát tinh tế đó mà giai điệu Hà Nội của Trịnh len lỏi vào những “lối nhỏ” thẳm sâu của hồn người:
Hà Nội mùa thu/ cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ/ nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu/ Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội/ Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió/ Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ/ Cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua/ Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi/ Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời.
Nếu như Trịnh Công Sơn là một người Huế viết lên giai điệu Hà Nội với những tình cảm của thu thoáng gặp đã kết thành duyên nợ, thì Đoàn Chuẩn lại chính là một hồn thu Hà Nội ngập tràn kỷ niệm ái ân. Dù lời hát của ông không nói cụ thể về Hà Nội, thì khi giai điệu cất lên ta vẫn như thấy một chàng trai Hà Nội đang hiển hiện trước mắt ta với tâm hồn lãng mạn, hào hoa:
Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm muôn màu về hoa/ Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư/ Về đây với thu trần gian/ Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi phím tơ đồng tìm duyên/ Gửi thêm lá thư màu xanh ái ân/ Về đôi mắt như hồ thu...
(Gửi gió cho mây ngàn bay)
Ngôn ngữ thật mượt mà bóng bẩy. Âm nhạc luôn réo rắt du dương. Đoàn Chuẩn tả thu Hà Nội như vẽ lên một bức tranh lụa nuột nà tình ái:
Mây bay về đây cuối trời/ Mưa rơi làm rụng lá vàng/ Duyên ta từ đây lỡ làng/ Còn đâu những chiều/ Dệt cung đàn yêu/ Thu nay vì đâu tiếc nhiều/ Thu nay vì đâu nhớ nhiều/ Đêm đêm nhìn cây trút lá/ Lòng thấy rộn ràng/ Ngỡ bóng ai về.
(Thu quyến rũ)
Và có lúc mùa thu của Đoàn Chuẩn như một tiếng thở dài tê tái:
Giữa trời thu Hà Nội, ta đang nghe mùa thu Hà Nội trong thật nhiều cung bậc, hân hoan, xán lạn, sầu thương và hào hùng khôn tả. Giai điệu thu Hà Nội như không bao giờ dứt, nó luôn ngân vang ngay cả khi mùa thu chưa kịp trở về. Nó luôn se lòng gửi về muôn xưa nỗi niềm của thu nay:
Tây Hồ, Tây Hồ/ kìa mặt gương xanh soi bóng trời Thăng Long xưa/ Còn mãi tiếng vọng ru đưa/ Tây Hồ, Tây Hồ/ tình này xin đem bóng mặt gương trong xanh/ theo gió bay về xa xưa...
(Một thoáng Tây Hồ - Phó Đức Phương). Hà Nội, cuối thu 2007