Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Nếu bạn dựa vào thông tin ở đây để nói về quan hệ của TS và cướp biển TQ thì cũng nên đọc thêm cả phần chú thích nhé
# Giống như nhà Tây Sơn, phe chúa Nguyễn cũng tuyển mộ hải tặc Trung Hoa làm kẻ được cấp quyền chiến tranh, nhưng sự bảo trợ của họ có vẻ hoặc không quá sâu rộng hay quá quan trọng như Nhà Tây Sơn. Một thí dụ về sự bảo trợ của chúa Nguyễn cho các hải tặc Trung Hoa xảy ra khi Nguyễn Phúc Ánh, trở về Việt Nam sau lần lưu vong thứ nhì tại Xiêm La, đã được trợ giúp bởi Hà Hỉ Văn (Ho His-wen), “hải tặc tai tiếng sinh quán ở Tứ Xuyên, và là hội viên của Thiên Địa Hội.” Woodside, trang 17. Hà Hỉ Văn đã đến tiếp xúc trước với Phúc Ánh khi hạm đội của ông thả neo ngoài khơi đảo Côn Sơn (Poulo Condore Island) và Nguyễn Phúc Ánh đã chấp nhận sự bảo vệ của ông ta. Vào tối hôm 13 tháng Tám năm 1787, ủy thác mạng mình cho sự trong nom của hải tặc đỡ đầu, Phúc Ánh đã xuống tàu đi về Long Xuyên. Tại đó ông khởi sự tập hợp binh sĩ để phát động sự trở về của ông và trong tiến trình có tuyển dụng một vài thủ lĩnh hải tặc khác cùng thuộc hạ của họ vào phe của ông. Maybon, trang 223. Tiểu sử chính thức của Hà Hỉ Văn được ghi trong Đại Nam Chính Biên, 28; 7ff. Các bằng cớ khác cho thấy chúa Nguyễn đã bảo trợ cho các hải tặc, và còn bắt chước Tây Sơn trong việc cấp phát ấn tín và bằng sắc, được cung cấp bởi các nguồn tài liệu Trung Hoa. Một số hải tặc bị bắt giữ tại các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến trong năm 1796 và 1797 có mang trong mình các ấn tín khắc các chữ “được cấp bởi Gia Hưng Vương (Chia-hsing-wang) và Chiêu-Quảng Vương (Chao-kuang wang).” KCT 002012, C2 ii 14. Theo lời khai của các hải tặc bị bắt giữ này, hai ông “Vua” là những “thủ lĩnh thổ phỉ phe chúa Nguyễn” tại Đồng Nai và Trấn Ninh, là các người đã cấp các văn kiện này cho chúng. KCT 001848, CC2 I 16; KCT 002051, CC2 ii 20.

Thưa bạn, vì mình đọc không chỉ cái bản này nên mới nói sự quan trọng của Tàu Ô với Tây Sơn.
Lực lượng hải tặc trong quân nhà Nguyễn không có "nhiệm vụ" đi cướp bóc chính dân VN mình ạ. Và Hà Hỉ Văn, từ một kẻ cướp đơn lẻ hoạt động ở tận vịnh Xiêm La, được cử đi thu phục hải tặc nằm trong quân đội Tây Sơn. :cool: Chừng nào nhà Nguyễn để bọn hải tặc đi cướp phá như thế này thì hãy nói:
(1792) Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ kết với 40 chiếc thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi khiến chúng men các vụng biển từ miền Khang Thuận trở vào, cướp bóc nhân dân. Vua nghe tin, sai Phó tướng Tả quân là Nguyễn Long đem binh thuyền giữ cửa biển Tắc Khái kiêm quản hai đạo Lý Lê và Xích Lam, phân phái đi tuần ngoài biển, phòng bị nghiêm nhặt.
(1794) Bảy chiếc thuyền sai tuần biển của Phú Yên bị giặc biển Tề Ngôi cướp, Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân báo lên. Vua xuống dụ nghiêm trách, sai triệt hết thuyền về Diên Khánh.
(1802) Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đánh phá được giặc biển ở châu Vạn Ninh. Trước là giặc biển Tề Ngôi là Trương á Lộc ngụy xưng là thống binh, tụ đảng ở ngoài khơi, cướp bóc thuyền buôn, giặc Tây Sơn từng mượn sức để chống cự quan quân. Từ trận thua ở cửa biển Nhật Lệ, nó ngầm trốn ra ngoài biển Vạn Ninh, hoành hành cướp bóc. Trấn thần Yên Quảng đem việc báo lên. Vua sai Phước Lương và Văn Vân đem thủy quân để đánh. Quân đến cửa biển Vân Đồn, gặp 15 chiếc thuyền giặc, đánh phá được, chém được tướng giặc là Trịnh Thất và bè đảng rất nhiều, bắt được bọn Trương Ái Lộc 11 người. Dư đảng nghe tin chạy trốn.
(ĐN thực lục)
07:28 CH 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Khổ lắm cơ, "nhân dân" muốn phán xét thì "nhân dân" phải có đầu óc, chứ "nhân dân" cứ bảo "tại tôi nghe thằng kia khen thì tôi khen theo" thì nói làm giề. "Nhân dân" chẳng biết cái gì cho ra đầu ra đũa thì "nhân dân" phán xét làm sao? Cho nên người ta mới phải bới đi bới lại lịch sử, như bác Nguyên Ngọc nói lúc trước, ở Pháp còn có hội chống cắt xén và xuyên tạc lịch sử. Cắt béng hết lịch sử đi rồi bưng tai bịt mắt bảo rằng không có, không biết thì học để phục vụ cho ai?
Ờ, còn thì bọn Tàu Ô cũng đâu là gì, chỉ cần đọc cái bài viết trên kia xem chúng nó là ai, như thế nào rồi hãy phán. Bị cái danh che mờ mắt rồi thì khó nói chuyện lắm.
07:20 CH 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Lịch sử nước ta từ cổ chí kim luôn vinh danh những người có công đánh đuổi ngoại xâm, đặc biệt là đánh Khựa, đời nhà Nguyễn không làm được điều này, vì thế không được "coi trọng" cũng là điều có thể hiểu được, mặc dù nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi về phía Nam.
Dù cho môn lịch sử dưới mái trường XHCN có như thế nào, nhưng nên nhớ một điều rằng nhân dân không thờ ai sai bao giờ!

Ai bảo nhà Nguyễn không đánh Khựa? :D Nhà Nguyễn, trong thời Gia Long, lập được một chiến công mà bản thân họ rất lấy làm tự hào: Đánh đuổi Tàu Ô do... Tây Sơn rước về.
Quan hệ của Tây Sơn và cướp biển TQ có thể xem chi tiết ở đây:
http://www.gio-o.com/NgoBacDMurray082007.htm
Quân Tàu Ô rất quan trọng trong lực lượng Tây Sơn. Từ năm 1803, nghĩa là sau chiến tranh với Tây Sơn, nhà Nguyễn vẫn phải tiếp tục đánh nhau với bọn giặc cướp lúc này đã thành một lực lượng hùng mạnh trong biển Đông. Năm 1803, hàng trăm thuyền Tàu Ô đánh vào Bạch Đằng, cướp bóc Kinh Môn. Năm 1804, Tàu Ô tập hợp tại Quảng Ninh, tập hợp hơn 60 thuyền, xưng làm tướng quân. Năm 1808, hơn 80 thuyền Tàu Ô tiếp tục xâm nhập Quảng Ninh cướp phá... Cuộc chiến chống Tàu Ô của quan quân nhà Nguyễn kéo dài gần chục năm, cuối cùng mới quét sạch được chúng khỏi biển Đông. Vẫn còn dấu tích ghi lại cuộc chiến này trong văn chương cận đại là tuồng cải lương "Võ Đông Sơ, Bạch Thu Hà", Võ Đông Sơ hy sinh trên chiến trường chống giặc Tàu Ô vào thời Gia Long đấy ạ.
Nhà Nguyễn không đánh được bọn này thì nó biến miền Bắc thành Đài Loan lâu rồi. Nhưng sau này, phần sử quan trọng trên biển Đông này bị "xoá sạch" vì nó liên quan đến "anh hùng áo vải".
Chưa kể chiến tích 3 lần đánh lui quân Xiêm La của nhà Nguyễn. Bây giờ người ta chỉ nhắc đến chiến công của Nguyễn Huệ đánh 5 vạn (hay 2 vạn) quân Xiêm, có ai biết năm 1833, nhà Nguyễn đánh lui 10 vạn quân Xiêm ở Nam Bộ? Hay năm 1771, 1 vạn quân nhà Nguyễn đánh đuổi quân Xiêm ở Sài Gòn? Thậm chí vào lúc đánh Pháp, nhà Nguyễn với Nguyễn Tri Phương vẫn đủ khả năng cầm cự với hàng vạn quân Xiêm xâm nhập vào Nghệ An?
Chúa Nguyễn đánh đuổi bao nhiêu cuộc tấn công của Anh quốc, Hà Lan, Nhật Bản... Chẳng lẽ không đáng được kể?
Bao nhiêu chiến công, phủi sạch trơn như vậy, liệu có công bằng?
07:03 CH 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Hài tạm gác vụ Lê Văn Duyệt lại để nói vụ TS và Tàu Ô nhé.Đồng chí đúng là mọt sách ôm đống sách ngồi như tụng kinh gõ mõ.
Về việc TS thu phục cướp biển\,ban tước hiệu thu dùng chúng để đánh NA, và hoạt động của chúng khi triều TS sụp đổ và không còn thuộc quyền quản lý của họ thì phải nói đồng chí đang lan man ngụy biện cho NA.Cố kéo cái việc người ta thu dùng đám thổ phỉ làm quân dưới trướng,rồi quy cho tội cho người ta khi không còn quản lý chúng,vậy lí lẽ của bạn ở đâu vậy ?
Và trận Thi Nại,Thăng Long,Trấn Ninh mà đồng chí đưa ra càng chứng tỏ sức nặng của QT trong trận đánh Thanh 1789 thôi đồng chí ạ.Cứ ngẫm đi,tranh luận mà lôi 1 đống số liệu vô nghĩa không liên quan thì khó tranh luận lắm .Còn thì nạn cướp biển của đám Tàu Ô này không phải do TS rước vào thì chúng mới vào nhé

Ơ, thế Lê Chiêu Thống quản lý quân Thanh à? Hay Nguyễn Ánh quản lý quân Xiêm? Sao nghe nói trong cuốn gì của Ngô Gia văn phái, Chiêu Thống bị khinh như gì? Sao Nguyễn Ánh nghe nói là cũng bị quân Xiêm túm cổ đi chứ không định cầu?
*khóc ròng rã* Đồng chí làm ơn làm phúc đọc đi mà, chứ toàn nói suông thì đồng chí dựa vào niềm tin để nói ợ? Quân cướp biển do Tây Sơn - Nguyễn Huệ cho tàu, cho thuyền, cho vũ khí, cho đủ thứ để biến chúng từ một lực lượng thổ phỉ nhỏ lẻ thành cả một đạo quân. Cho nên mấy ông nước ngoài mới phải cho Tây Sơn nguyên 1 chương trong khi bàn về bọn hải tặc chứ chả ai quan tâm đến VN thế đâu.
Trận đánh bộ 1789 thì liên quan gì đến thuỷ chiến Thị Nại, Trấn Ninh? Cho tàu chiến đấu với nhau khác choảng nhau tay không ạ. Hay đồng chí muốn nhắc là quân Nguyễn từ Nghệ An tiến ra Bắc, đánh luôn đến Lạng Sơn, chiếm toàn bộ miền Bắc trong vòng... nửa tháng?
Đã bảo tớ làm việc có dẫn chứng, bệnh của người làm khoa học nó thế. Chứ tớ không "dựa vào niềm tin vĩ đại" được, đồng chí ạ.
(Thông cảm, cái bệnh bỗ bã của tớ với mấy thằng bạn khiến tớ nhiều khi nhỡ miệng. Thôi, từ nay tớ cũng tránh liên quan đến "niềm tin vĩ đại", kẻo bị người ta coi là chọc gậy bánh xe.)
11:44 SA 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Ơ hay, cái bài kia nói đến chuyện Tây Sơn "nuôi" bọn cướp từ 1782, tớ hỏi lại là đồng chí có đọc chữ nào không? Hoá ra Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn là không đánh luôn cướp biển? Hay Nguyễn Ánh chẳng cần đánh, Tây Sơn tự thua nên không coi việc đánh 2 thằng là 1? Khó hiểu quá, đồng chí tư duy thế nào vậy?
Hay để tớ nói luôn, triều Thanh ban đầu chả thèm tiếp phái đoàn nhà Nguyễn đâu. Đến năm 1801, sau trận thắng Thị Nại quét sạch thuỷ binh Tây Sơn, Nguyễn Ánh cho bắt bọn đầu sò hải tặc Phan Văn Tài, Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh đến làm "quà ra mắt". Thanh sử ghi rõ cả lời khai lời chứng của các đồng chí ấy đấy.
Chả lẽ đồng chí định khẳng định "chiến công" là đánh cả 2 TS cùng hải tặc cùng lúc cho oai? Ờ, đồng chí cứ lật cuốn sử nào về thời này ra cũng thấy ghi đấy. Trận Thị Nại, trận Trấn Ninh, trận Thăng Long... ở đâu cũng có bóng dáng tụi hải tặc ợ.
Khổ lắm cơ, đồng chí cứ mắc bệnh thần tượng. Việc Lê Văn Duyệt xử chết vợ hoàng tử Cảnh thì ai thời ấy cũng rõ. Nếu vua Minh Mạng muốn trừ thì sao lại chỉ cấm người con vào chầu, không hề xử phạt, dẫn đến cái việc là chục năm sau người ta còn tiếp tục tôn phù con cháu dòng ấy? "Trừ bỏ đối thủ" kiểu gì lạ vậy? Việc truất tông tịch dòng này cũng chỉ là biện pháp đối phó sau rối loạn chứ vua cũng không hề đụng tới cái lông chân anh em nhà mình, chừng chục năm sau lại phục cho. Ông Kỳ Ngoại hầu Cường Để còn ra hải ngoại vang danh được cơ mà.
Có 2 giả thuyết là việc này chỉ là án hình sự bình thường, vua bị người ta tố cáo thì phải giơ cao đánh khẽ chứ không bỏ qua được. Hai là vụ án chính trị thì... liên quan đến dự tính của Lê Văn Duyệt nhằm làm mất uy tín nhà vua. Vụ án kiểu đó xảy ra, dù xét kiểu nào thì nhà vua cũng bị mang tiếng xử trị anh em, nhất là con dòng chính tranh chấp ngôi vị trước đây. Cho nên vợ của hoàng tử Cảnh mới phải hy sinh làm tốt thí, vua không xử cháu chắt mình, nhưng vẫn coi như là "có hình phạt". Loạn luân là 1 trong tội Thập ác chỉ có nước đem cho voi giày vào thời ấy, xử kiểu này là quá sức nhẹ tay rồi.
(Cơ mà, việc này thì liên quan gì đến Gia Long? Cũng đừng túm Lê Văn Duyệt vào tội "phù trợ hoàng tử Cảnh" ạ. Ông ấy chết trước khi vụ ấy xảy ra rồi.)
11:03 SA 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Hở, nói lý lẽ 1 tí xem nào. Bộ Nguyễn Ánh định giúp nhà Lê thì Nguyễn Huệ sẽ không mắc cái tội đem quân Tàu Ô về VN ợ? Bộ cái bài dài thế kia mà đồng chí không thèm đọc chữ nào để biết có lúc quân Tàu Ô định đánh vào Huế để "đổi chủ VN" ợ? Thôi thì tớ biết ĐN TL chỉ để tham khảo, nhưng những việc liên quan đến quốc gia xã tắc lẫn "chẳng liên quan đến TS" thì cứ tham khảo đi. Đây là "công trình đánh Tàu Ô" của nhà Nguyễn:
(1803) Hơn trăm chiếc thuyền của giặc biển Tề Ngôi ra vào ở khoảng Tiên Yên và Vân Đồn, xâm bức bảo Cỗ Dũng, lại vào cả sông Bạch Đằng, cướp bóc địa phương Kinh Môn. Nguyễn Văn Thành sai Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc, Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tán lý kiêm Binh bộ Đặng Trần Thường đem quân đánh dẹp.
Vua nghe báo, sai Nguyễn Văn Trương lãnh quân thủy bộ đến cùng Văn Thành điều độ biền binh phái thêm để phòng triệt những đường trọng yếu. Hương cống cũ triều Lê là Bùi Huy Ngọc và Nguyễn Huy Khuê người Yên Quảng họp đem thổ hào ở hai tổng Hà Nam và Hà Bắc đi theo quan binh, đánh chém được 6 đầu giặc, bắt được thiếu úy giặc là tên Vân. Thổ hào ba huyện Kim Thành, Thủy Đường và Giáp Sơn thuộc Hải Dương cũng đều họp quân đón đánh, chém được 2 đầu giặc, bắt được hơn 60 người. Thuyền giặc chạy ra biển về phía đông. Văn Thành đem tình trạng tâu lên. Vua cho Huy Ngọc làm tham hiệp Yên Quảng, Huy Khuê làm Tri huyện Hữu Lũng. Các thổ hào đều được thưởng thụ cai đội, đội trưởng, cai thuộc, ký thuộc, cai tổng, phó tổng khác nhau.
(1804) Thủy sư Bắc Thành đánh tan giặc biển Tề Ngôi ở hải phận Yên Quảng, bắt được quân giặc 13 người và thuyền ghe khí giới đem nộp.
Thuộc hiệu Yên Quảng là Đoàn Bá Giai đi tuần biển, bắt được ba tên giặc đảng Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới. Thành thần đem việc tâu lên, Thưởng cho 50 quan tiền.
Giặc biển Tề Ngôi là tên Trạc ngụy xưng là Ninh Hải đại tướng quân, họp hơn 60 chiếc thuyền, lại quấy rối châu Vạn Ninh trấn Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh suất binh dân đánh dẹp. Cai châu Phan Phương Khách, phó châu Phan Đình Trung, tiền tri châu Vi Quảng Vỹ tiến đánh, chém được Trạc và đồ đảng 4 người, giặc vỡ chạy. Thành thần đem việc tâu lên. Sai cho Phương Khách làm phòng ngự sứ, kiêm cai việc châu, cho Đình Trung làm phòng ngự đồng tri, kiêm việc phó châu và Quang Vỹ làm phòng ngự thiêm sự, thưởng cho tiền 500 quan, thưởng khắp cho binh dân 1.000 quan.
(1805) Quan Bắc Thành tâu rằng : “Giặc biển Tề Ngôi là bọn Trịnh Năng Phát, Hoàng Long, Sĩ Tiến nhiều lần bị quan quân đuổi bắt, trốn vào động La Phù ở Long Môn nước Thanh. Đã bao lần tư cho Long Môn mà quan ở đấy cứ che chở. Xin gửi công văn cho Tổng đốc Lưỡng Quảng để dẹp bắt”.
Xuống chiếu trả lời rằng : “Người Thanh dung túng giặc cướp là lỗi ở họ, không nên tư báo làm chi. Duy nếu bọn giặc tụ họp thì dân ta không khỏi sợ hãi ly tán. Vậy sai trấn thần Yên Quảng đặt đồn bảo nghiêm việc phòng bị cho dân yên ổn”.
Giặc biển cướp ở ngoài biển Nghệ An, lính tuần dương đánh đuổi chạy, bắt được 18 người. Trấn thần tâu lên. Thưởng tiền 200 quan.
(1806) Giặc biển Tề Ngôi họp 30 chiếc thuyền lẩn vào Hoa Phong đốt cướp bảo Phượng Hoàng. Thành thần sai phó tướng Tiền quân là Trương Tấn Bửu đem chu sư đi đánh đuổi. Sai Quản cơ Tiền thủy là Nguyễn Văn Hạnh, Phó vệ úy Tiền dực là Nguyễn Văn Lữ quản binh thuyền đi vận chuyển gỗ ở Bình Định. Vua dụ rằng : “Giặc biển Tề ngôi lẩn lút ở ngoài biển, bọn ngươi nên gia tâm phòng bị. Ai bắt được thuyền giặc, thuyền lớn thì thưởng tiền 1.000 quan, thuyền nhỏ thì 500 quan”.
Thổ hào châu Vân Đồn trấn Yên Quảng là bọn Nguyễn Đình Bá và Phạm Đình Quế bắt được bọn giặc Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới, quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Cho bọn Đình Bá làm đội trưởng, thưởng tiền 300 quan. Những giặc Thanh bắt được sai đưa trả về nước Thanh. Người Hán bị giặc bắt phải theo đều thả hết.
(1807) Giặc biển tỉnh Mân nước Thanh là Thái Khiên và Chu Phần bị quan quân nước Thanh đuổi bắt, chạy trốn ra ngoài biển, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành nói thuyền giặc đều mũi xanh cột buồm đỏ, nếu có chạy đến hải phận ta thì đón bắt cho. Thành thần đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho các quan địa phương duyên hải từ Quảng Đức trở ra Bắc đều phát binh thuyền đi tuần xét.
(1808) Hơn 80 chiếc thuyền giặc Tề Ngôi bị người Thanh đuổi bắt, trốn chạy đến ngoài biển Yên Quảng, Thành thần sai chánh thống Hữu đồn Tiền quân là Bùi Văn Thái, Phó thống Tả đồn là Nguyễn Văn Trị đem binh thuyền tiến đánh, chánh quản thập cơ quân Thần võ là Trần Văn Thìn đem quân bộ đến Hải Dương tiếp ứng, Chưởng dinh Trương Tiến Bửu làm Điều bát nhung vụ. Bọn giặc xâm phạm sông Bạch Đằng, áp đánh trấn lỵ Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh cùng với Nguyễn Văn Trị đánh lui được giặc, chém được hơn mười đầu giặc và bắt được già trẻ hơn sáu chục người. Giặc bèn đem thuyền chia đậu ở các hải phận Hải Dương, Thanh Hoa và Nghệ An. Thành thần tâu lên. Vua lo thổ phỉ liên lạc với hải phỉ, bèn sai Tống Phước Lương quản lãnh binh thuyền tiến đánh, lại sai Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị theo làm việc giấy tờ ở trong quân.
Giặc biển Tề Ngôi đến cướp ở vùng sông Giá huyện Tiên Minh. Chưởng dinh Trương Tấn Bửu sai Chánh thống Thập cơ Trần Văn Thìn đem quân đi đánh. Thìn khinh suất tiến quân, bị giặc đánh úp. Tấn Bửu lại sai Chánh thống Hữu đồn là Bùi Văn Thái đến cứu viện, cùng giặc giao chiến phá được. Giặc dong thuyền chạy.
Giặc biển Tề Ngôi lại đến cướp các ấp Hoàng Châu, An Phong (thuộc huyện Nghiêm Phong) trấn Yên Quảng. Trấn thần sai quản cơ Vũ Văn Kế đem binh đi đánh, chém được vài đầu giặc, bắt mười mấy người, giặc tan chạy. Tống Phước Lương chia sai binh thuyền đi tuần xét, đánh bại quân giặc ở cửa Liêu, bắt được bọn giặc là Nguyễn Văn Thung 7 người và 4 chiếc thuyền. Thế giặc cùng quẫn. Đồ đảng là bọn Lương Kim Ngọc, Trần Thế Dịch đem 2 chiếc thuyền và hơn 70 người thủy thủ vào đầu thú ở Nghệ An. Trấn thần tâu lên. Vua sai tha tội và cho an tháp ở phố Thanh Hà.
(1810) Cho Khâm sai cai cơ Phạm Văn Tường và Nguyễn Văn Hạnh làm Khâm sai chưởng cơ. Sai Nguyễn Văn Hạnh suất 500 thủy quân, 20 chiến thuyền đi đóng thú ở đồn thủy Nông Giang thuộc Bắc Thành, kiêm chưởng bốn dực cơ. Thành thần thấy chiến thuyền ở thành, lâu năm mục nát, tâu xin cấp thêm cho thuyền kinh, sai một người chưởng Thủy quân quản lãnh, để phòng khi trưng phát, cho nên có mệnh này. Gặp giặc biển Tề Ngôi là bọn Ô Thạch Nhị, Đông Hải Bát, Lý A Thất bị Tổng đốc Lưỡng Quảng nước Thanh đuổi riết, phải trốn ra mặt biển thuộc bốn phủ Cao, Liêm, Quỳnh, Lôi. Khâm Châu gởi giấy cho Bắc Thành hẹn đem quân ra ngăn chặn. Thành thần đem việc tâu lên. Vua bảo Tống Phước Lương rằng: “Bọn giặc biển lẩn lút ở bãi Bạch Long, chỉ là sống tạm bợ thôi. Nay người Thanh đuổi bắt, ta nên cùng hợp sức để dẹp cho yên
mặt biển. Nhân sai Văn Hạnh đem binh thuyền thẳng tới Vạn Ninh. Thành thần lấy thêm binh thuyền lệ theo sai khiến. Lại thấy Vạn Ninh tiếp liền Khâm Châu, nên có người văn học để làm thư từ đi lại, sai Ngô Khản làm lục sự để giúp công việc từ chương trong quân. Hơn một tháng, bọn Ô Thạch Nhị đều bị quân Thanh bắt hết. Lý á Thất và bè lũ hơn hai chục người cũng đến quân ta đầu hàng. Bèn sai thành thần đưa bọn giặc bắt được ấy sang Khâm Châu. Văn Hạnh rút quân về đóng ở đồn thủy Nông Giang.

Vầng, dẫn chứng "thần phục Trung Hoa thiên triều" đâu, lấy ra cho tớ xem với. :Drooling: Hoàng tử Cảnh chết vào năm 1801 khi vẫn còn đương ngôi Thái tử người ơi. Con trai và vợ của hoàng tử Cảnh là do Lê Văn Duyệt ép chết đấy. Thôi thì thuận tiện nói luôn kẻo thắc mắc "có người đổ oan cho Lê Văn Duyệt", chính Tả quân tố cáo lên triều đình án loạn luân của hai mẹ con hoàng tử Cảnh, cũng chính ông ấy ra lệnh hạ sát bà mẹ, người con chỉ bị truất tông tịch. Năm 1835, con nuôi Lê Văn Duyệt nổi loạn ở Gia Định, tôn phù cháu nội hoàng tử Cảnh làm vua, mới dẫn đến cái hoạ cả chi ấy bị truất tông tịch, đến thời Tự Đức mới xét lại. Túm lại, chả liên quan gì đến Gia Long.
Còn việc "thần phục thiên triều" ấy mà. Cái tên Việt Nam là do Gia Long đặt, sau khi thư từ tranh cãi chán chê với nhà Thanh. Trên văn bản quốc tế, nước ta không có tên Đại Việt, Đại Cồ Việt hay gì gì ráo, chỉ được gọi là An Nam - cái tên rút ra từ An Nam phủ sứ đời Đường, thuộc địa của Tàu. Tàu cũng chả ưa đổi cái tên An Nam cho đâu, cuối cùng cãi mãi không xong, nhà vua "văng" luôn "Không cho đổi tên thì không nhận sắc phong". Gia Khánh mới xuống nước, lật ngược cái tên Nam Việt lại thành Việt Nam. Cho nên cái tên Việt Nam ấy mới được những nhà ái quốc sau này đấu tranh đòi lấy lại, coi nó là sự đánh dấu nền độc lập của VN trong chính trường thế giới.
Tớ trong việc gì cũng đòi bằng chứng, thế thôi. Nói suông thì ai chả nói được. :)
10:05 SA 21/08/2011
Mối 'thâm thù' Gia Long - Tây Sơn: Gậy ông đập...
Dựa theo Đại Nam Thực Lục của nhà Nguyễn để chém gió mà không biết ngượng mồm :Silly:,nói thế khác nào nghe theo SGK XHCN quân ta toàn thằng,quân địch toàn thua.Đã không biết thì tắt điện đi sử gia ạ :Silly:

*cười* Thì một đống ông lôi ĐN TL ra dẫn chứng mà bản thân không biết đấy. Thế cái bài dài dài kia là của ai viết đấy ạ? Thế có bằng chứng gì để bảo họ Nguyễn bảo trợ hải tặc cướp bóc khắp nơi thì dẫn chứng cho tớ nào? :o
Tớ không muốn chỉ trích công trình của người khác khi chưa được thấy tận mắt mà chỉ qua trích dẫn nhé. Nhưng chỉ nội cái chuyện Gia Hưng vương với Chiêu Quảng vương nào đó ở Đồng Nai với Trấn Ninh vào năm 1796-1797 đã thấy... nói xạo. Năm 1797, có ma nào của nhà Nguyễn ở Trấn Ninh - Quảng Trị ạ? Khi đó quân Nguyễn chưa tiến qua được Phú Yên người nhé. Gia Hưng là niên hiệu mà Nguyễn Ánh dùng đúc tiền, hoặc là một địa điểm ở Quảng Trị, có thằng điên nào "thủ lĩnh thổ phỉ" dùng niên hiệu của vua mình tự đặt - hay là lại một địa điểm nào đó ở Quảng Trị? Hai chi tiết đều chỉ về vùng Quảng Trị, tớ không đủ chắc chắn về cái dữ liệu này. Nhớ rằng trong năm 1797, Tây Sơn bị nhà Thanh nghi ngờ thúc ép chuyện giao nộp hải tặc ra nhá.
Còn chuyện Hà Hỷ Văn, vầng, thì (cũng như tư liệu trên trích dẫn từ Đại Nam), nó viết thế này:
"Thuyền vua đến đảo Cổ Cốt. Người Thanh là Hà Hỷ Văn (người đảng Bạch Liên giáo ở Tứ Xuyên nước Thanh, tự xưng là Thiên địa hội, cướp bóc ở miền Mân Việt), đem binh thuyền về theo. Hỷ Văn đầu ở đảo Côn Lôn, ý muốn theo về giúp. Vua nghe tin, khiến Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Thái Nguyên đến tiếp. Hỷ Văn đem quân đi theo, nhưng bị gió bão không đến nơi được. Tới nay mới đến bái yết, được trao chức
quản Tuần hải đô dinh đại tướng quân. Những người thuộc hạ là bọn Lương Văn Anh, Chu Viễn Quyền, Trương Bát Quan, cả thảy 10 người, được trao các chức Khâm sai tổng binh, thống binh, phi kỵ úy."
==> Rồi nó biến ra thế này: "Hà Hỉ Văn đã đến tiếp xúc trước với Phúc Ánh khi hạm đội của ông thả neo ngoài khơi đảo Côn Sơn (Poulo Condore Island) và Nguyễn Phúc Ánh đã chấp nhận sự bảo vệ của ông ta. Vào tối hôm 13 tháng Tám năm 1787, ủy thác mạng mình cho sự trong nom của hải tặc đỡ đầu, Phúc Ánh đã xuống tàu đi về Long Xuyên. Tại đó ông khởi sự tập hợp binh sĩ để phát động sự trở về của ông và trong tiến trình có tuyển dụng một vài thủ lĩnh hải tặc khác cùng thuộc hạ của họ vào phe của ông."
Ờ, coi như tớ thừa hơi đi tra xem có thuộc hạ nào xuất thân hải tặc khác bọn Hà Hỷ Văn trong triều Nguyễn không, cũng chỉ thấy hai nhóm cướp biển Nam Định. Sổ sách đấy, lăng mộ đấy, tra dễ mà. Đây là thời kỳ lịch sử gần, không chỉ có tư liệu 1 hay 2 phía thôi nhé, tớ đang lười, hay thích tớ lôi tất cả ra?

Tớ chẳng phải sử gia, là sử ra thì đúng hơn. Nhưng tớ là thằng chột. =)) =)) Nói chuyện sử siếc cho vui, dùng cái giọng đấy làm gì?
09:10 SA 21/08/2011
Chuyện về 'ái nữ' của hoàng đế Minh Mạng
À, mình cho rằng nếu là người viết thì tác giả nên biết mình viết cho ai, để làm gì, như thế nào. Bài báo này viết để giới thiệu ba nữ sĩ vốn ít được người VN biết tới (nói chung), cho đối tượng là người bình thường nhiều trình độ, trong môi trường báo mạng người ta dễ kéo roèn roẹt qua. Cho nên viết bài trước hết làm gì thì làm, phải hấp dẫn, có trọng tâm, dễ tiếp thu. Mình lại cho rằng chỉ có những người thích đọc sử mới kiên nhẫn đọc được hết bài trên, chứ người bình thường trước đã không biết rõ ba công chúa này là ai thì dễ bỏ cuộc - Vì bài không gợi cho họ được trước hết là sự tò mò, khiến họ muốn khám phá. Chứ bây giờ đừng hỏi tới thơ Tùng Thiện vương hay Mai Am nữ sĩ, đến thơ của Nguyễn Du còn không có người đọc.
Tư liệu bài viết trên mới ở dạng thô, nhiều đoạn hệt như wikipedia chép vào. Xem cũng viết về Mai Am công chúa, người yêu thơ có thể viết thế này:
Từ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó Mai Am là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong "Tam Khanh".
Mai Am (1826-1904) tức Nguyễn Phúc Trinh Thận, tên tự là Thúc Khanh, em cùng mẹ với Miên Thẩm. Năm 24 tuổi, bà kết hôn với ông Thân Trọng Di ở làng Nguyệt Biều (ngoại thành Huế). "Thân Trọng" cũng là dòng họ nổi tiếng ở Huế, em ông Di thi đỗ tiến sĩ, nhưng ông Di có lẽ không ham chạy theo con đường khoa bảng, thích vui thú điền viên, nên trong "Lô giang tiểu sử", ông Nguyễn Văn Mại có nhận xét rằng ông "không ưa từ chương, thật thà như một ông lão nhà quê". Với đức ông chồng như thế, hẳn là nữ sĩ công chúa ưa ngâm vịnh thưởng ngoạn gió trăng không thể thoả mãn. Nhà thơ Lương An, theo lời kể của cụ Thân Trọng Hy, cũng cho biết "hai người ăn ở với nhau tuy bề ngoài vẫn ấm êm, nhưng bên trong thì không được "sắt cầm hoà hợp". Liệu có phải đó cũng là lý do 13 năm sau khi lập gia đình, bà mới sinh được một đứa con trai ? Đã thế, bà lại không được hưởng niềm vui làm mẹ lâu bền. Bà đã gửi gắm biết bao hy vọng vào đứa con sớm tỏ dấu hiệu thông minh; cậu bé mới 3-4 tuổi đã được bà dạy cho đọc thơ Đường, nhưng số phận trớ trêu, chưa đầy 5 tuổi, cậu bé bị ốm nặng và bà đã phải vĩnh biệt đứa con yêu quý. Sau đó, bà không sinh thêm đứa con nào nữa; nỗi đau quá lớn lao chẳng có gì bù đắp được, nhưng với người nghệ sĩ, nỗi đau trần thế lại sinh thành những tác phẩm. Với Mai Am đó là 15 bài thơ khóc con ("Khốc nhi thi - thập ngũ thủ") từng khiến bao thế hệ độc giả rơi lệ:
"Hoạch sa vãng vãng hiệu nhân thư / Thốc quản tuỳ thân nhật bất hư / Khổ ức lâm chung vân hiếu học / Chư thiên hà xứ mịch đồng sơ."
(Lương An dịch thơ: "Vạch cát học theo người lớn viết / Bút cùn tay chẳng buổi nào lơi / Lâm chung còn nói con thèm học / Con trẻ, tìm đâu giữa các trời?")
Chùm thơ viết năm 1868, khi Mai Am 42 tuổi. Đó cũng là lúc nghệ thuật thơ của bà được các danh sĩ đương thời như Miên Thẩm, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Nguyễn Hàm Ninh hết lời ca tụng nhân tập thơ "Diệu Liên thi tập" của bà đựơc khắc in lần đầu (năm 1867). "...Đọc thơ của Mai Am, thấy dáng điệu tươi như mùa xuân, phép tắc thì hoa lệ, nghiễm nhiên lên đứng ngang hàng với các ông lớn tác gia nổi danh đời Đường, Tống..." (Lời bạt của Nguyễn Hàm Ninh) Xin mời bạn đọc thưởng thức bài "Ngẫu ti" ("Tơ ngó sen" qua bản dịch của Lê Nguyễn Lưu) mà Nguyễn Hàm Ninh xem là tác phẩm "đáng bậc thầy" đối với mình:
Ai ơi chớ bẻ ngó sen hương / Vô số tơ mành cứ vấn vương / Mềm mại khác chi the mới dệt / Mảnh mai như thể kén vừa giương / Dăng dăng mối kết trong tâm khảm / Cuộn cuộn tình lan cách dặm trường / Ví thử xe tơ thành sợi chỉ / Xin người thêu lấy cặp uyên ương.
Bài thơ Mai Am viết năm 1855, lúc bà chưa đầy ba mươi tuổi. Qua mấy dòng thơ, chúng ta cũng hình dung được phần nào tâm trạng khát khao tình cảm của nữ sĩ trong tình cảnh không mấy hạnh phúc của bà.
Nỗi bất hạnh lớn nhất đến với bà cùng với nỗi đau của cả dân tộc trước hoạ ngoại xâm. Sau khi giặc Pháp chiếm kinh đô Huế (năm 1885), nghe tin vua Hàm Nghi rời kinh đô, ông Thân Trọng Di cũng tìm đường ra Quảng Trị. Ông không theo kịp đoàn xa giá, rồi mất tích giữa núi rừng, mãi về sau vẫn không tìm được hài cốt. Một lần nữa, nỗi đau vò xé gan ruột đã hoá thành mười lăm bài thơ khóc chồng và bà đã cho khắc trên bia mộ – một ngôi mộ trống không ở làng quê Nguyệt Biều!
Là một công chúa và với lễ giáo phong kiến khắt khe, Mai Am ít có dịp sống gần gũi với cuộc sống lao động quần chúng và tham dự vào thời cuộc, nên phần lớn thơ của bà là thơ ngâm vịnh phong cảnh, xướng hoạ với người thân cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, khi có dịp, bà cũng thể hiện công việc vất vả của người lao động một cách chân thực và trân trọng, như trong bài "Nông phu từ" ("Lời nhà nông"):
"...Lúa cứa sầy da, lưng nóng bỏng / Mồ hôi như mưa giọt nhỏ ròng..."; và trước hoạ ngoại xâm, bà đã tỏ rõ tinh thần yêu nước; cảm kích trước bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu, bà đã viết: "...Dân chúng Cần vương vì ghét địch / Nhà nho lâm trận tiếc không tài / Giặc đầy chiến luỹ từng mây phủ / Xương chất sa trường bóng nguyệt soi..." (Bản dịch của Lê Thước).
Đánh giá tổng quát về sự nghiệp thơ của Mai Am, nhà thơ Lương An viết: "... thơ Mai Am trước hết là thơ một phụ nữ khuê các, hơn thế, một bà chúa sống giữa một giai đoạn lịch sử mà xã hội đang trải qua những biến động rất lớn, đất nước đang từ tự chủ trở thành lệ thuộc, là thơ của một con người giàu tình cảm, dễ xúc động, lại gặp nhiều bất nghi trong cuộc sống riêng tư. Với thơ của một người như thế, vấn đề lớn nhất không phải là chuyện đề tài, mà là bao nhiêu điều bắt ta phải suy nghĩ, tìm hiểu, thông cảm, thậm chí cả trằn trọc và tin yêu nữa."
Dù sao giá trị chủ yếu thơ Mai Am vẫn là nghệ thuật sử dụng ngôn từ và tình cảm tinh tế, nhân hậu của tác giả trước thiên nhiên, trước cuộc đời. Tác phẩm của bà đều viết bằng chữ Hán, với khả nhiều điển tích, nên thật khó chuyển tải những điều đó đến đông đảo bạn đọc hôm nay - các bản dịch, nhất là dịch thơ, công phu mấy cũng không thể diễn tả hết được tài nghệ và vẻ đẹp của nguyên bản. Vì thế, chỉ xin trích thêm vài câu có thể cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế thơ Mai Am một cách dễ dàng:
"Gió đông chẳng biết cầm xuân lại / Còn thổi hoa bay tiễn khách đi..." (Bài "Mộ xuân tống biệt")
Chúng ta đã biết bà lấy chồng làng Nguyệt Biều, đối diện bên kia sông Hương là chùa Thiên Mụ. Ca dao đã có câu: "Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương". Cũng cảnh ấy, nhưng trong bài "Tiếng chuông" của Mai Am chất chứa bao nỗi niềm:
"Hồi chuông cách quãng lọt buồng sâu / Đèn rọi song mờ nghĩ những đâu / Ban xóm giục ngầm gà gáy sáng / Qua lầu theo ngọn lá tàn thu / Gối đơn tỉnh mộng lòng thương nhớ / Chuyện cũ mười năm dạ xốn xao / Tràng hạt lần xong trăm lẻ tám / Cảnh này ai trút được phiền đau?"
Cũng về tiếng chuông, ở một bài khác, bà viết: "Che cửa, tiếng chuông rơi với lá..." Một tâm hồn thật tinh tế, đa cảm mới viết được câu thơ như thế...
*
Nữ sĩ Mai Am qua đời đến nay vừa tròn 100 năm. Trong một thế kỷ qua, do khó khăn về tài liệu và dịch thuật, cuộc đời và thi phẩm của bà chỉ mới được giới thiệu một cách lẻ tẻ. Cho đến hôm nay, cùng với thơ của người em gái Huệ Phố (Quý Khanh), nhà thơ Lương An, tuy tuổi cao sức yếu, đã bỏ nhiều công sức tuyển dịch gần sáu chục bài thơ (trong số mấy trăm bài ở "Diệu Liên thi tập") của nhà thơ Mai Am ("Thơ MAI AM-Huệ Phố", NXB Thuận Hoá, 2004) giúp chúng ta hình dung khá đầy đủ về cuộc đời và nghệ thuật thơ của "cây bút nữ sắc sảo nhất, tài hoa nhất của xứ Huế trong nửa sau thế kỷ 19."
Nguyễn Khắc Phê
Trường An - Huế, đầu Xuân 2004
(Tạp chí "Sông Hương" số 181, Tháng 3/2004)
05:42 CH 15/08/2011
Phát hiện móng tay, tóc trong viên nang “thịt...
Hở, theo điều tra của đài SBS (Hàn Quốc) thì thuốc này do người gốc Triều Tiên làm ở khu tự trị của người Triều Tiên, xuất sang Triều Tiên (Hàn Quốc), đến người TQ còn không biết là có nó.
Thế thì chửi cả người Triều Tiên, Hàn Quốc một thể nó mới công bằng. :Laughing:
05:11 CH 15/08/2011
Chuyện về 'ái nữ' của hoàng đế Minh Mạng
Có ai bắt mẹ nó phải học thuộc những cái này đâu mà bảo là "không học nổi"? :D
Người viết bài này trước là "tham" - nhồi nhét quá nhiều dữ liệu vào bài viết, sau là không biết viết kiểu truyền kỳ danh nhân để hấp dẫn người nghe, đều đều ngồi liệt kê ra sự kiện, kể cả việc liên quan lẫn ít liên quan. Cho nên viết về những tài nữ nổi tiếng kinh thành Huế một thời mà phần văn thơ thì ít, nhìn liệt kê hoa cả mắt, không thấy trọng điểm tâm điểm ở đâu.
Ba công chúa này được người đương thời gọi là Tam Khanh, nổi tiếng trong giới học sĩ kinh thành. Bà Mai Am lập ra Thỉnh Nguyệt Đình là nơi bà chủ trì các đêm hội thơ tập trung nhiều danh sĩ bốn phương. Tam Khanh cùng với ba hoàng tử anh em được gọi là Tam Đường gồm Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Tương An vương là những nhà thơ nổi danh của Huế. Ở Sài Gòn hiện thời cũng có con đường được đặt tên là Mai Am.
Chuyện các bà hay như thế mà vào tay nhà báo thành ra bản liệt kê tiểu sử. :Straightf:
04:23 CH 15/08/2011
Thêm ký tự F, J, W, Z trong bảng chữ cái tiếng...
Tham khảo về âm luật và quy tắc của bảng chữ cái của Alexandre de Rhodes. Nguyên do vì sao dùng gi, d, ph, k, q...
Cuốn từ điển của de Rhodes có một phần biên soạn về ngữ pháp tiếng Việt, có tựa là Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Báo cáo vắn tắt về tiếng An nam hay tiếng Đàng ngoài), chính là một tập ngữ pháp Việt nam vào thời kì này. Chương I: “Chữ và vần gồm trong tiếng này” có đoạn nói về chữ D như sau: “D phát âm và có giá trị y như D Latin, nhưng với một vài khác biệt, nhất là trong những từ mà D có E đi theo gần như dính liền, lại không phát âm rõ, thí dụ deă, pellis (da); còn khi không có E dính ở giữa, thì nó hoàn toàn đọc như D của chúng ta, thí dụ Dà (nhà)…”
So sánh với đoạn nói về chữ GI, ta thấy ông chỉ dẫn cách đọc GI tương tự như lối đọc gi ở tiếng Ý. Kiểu nói phân biệt /d/ và /gi/ này đã dần dần biến mất, mà có khuynh hướng đồng hoá cả hai thành / z / ở tiếng bắc, và / j / ở tiếng trung, nam. Nhưng chữ viết vẫn không thay đổi theo. Hình thức viết gi và d hiện nay vẫn là theo mẫu mực của thế kỉ XVII. Nếu không dựa vào lịch sử phát âm như thế, khó có thể hiểu tại sao lại viết giản dị mà không thể viết dản dị được.
Hiện tượng chữ PH cũng đáng chú ý. Từ điển A. de Rhodes cho rằng: “Thực ra tiếng xứ này không bao giờ có P đứng đầu các chữ như đã nói ở phần nghiên cứu chữ F. Chỉ có PH, đọc giống như phi của Hi lạp.” Ngược lên đoạn nói về chữ F, ta thấy chỉ dẫn như sau : “F- hay đúng hơn, PH – vì khi đọc nó, không tách hai môi như khi đọc F của ta. Khi phát âm chữ này, môi cử động rất nhẹ và hơi rít cũng chỉ qua loa.”
Maspéro cắt nghĩa rõ thêm rằng ph là một âm môi hơn là âm môi răng như ngày nay. Âm này đã thay đổi từ bao giờ không rõ, nhưng âm /h/ trong tổ hợp /ph/ ngày nay không còn bật hơi như ngày xưa; thảng hoặc chỉ còn một vài nơi hoặc một vài cá nhân nói giọng cổ đó mà thôi. Nói cách khác,ngày nay, âm PH phát âm như âm F của người phương tây, chứ không bật hơi khi mở hai môi như ngày xưa A. de Rhodes đã ghi nhận.
Tưởng cũng cần nói thêm là de Rhodes và các vị chế tác chữ quốc ngữ đã có dụng ý thêm chữ h trong các trường hợp th, kh, ph là để chỉ tính cách bật hơi thở của những âm này; cho đến nay, tính cách này đã mất đi ở ph, và giảm nhẹ ở kh.
Bộ chữ cái Latin dùng để ghi âm tiếng Việt tất nhiên là cũng theo nguyên tắc chung của một hệ thống chữ viết ghi âm: mỗi chữ cái là một kí hiệu ghi lại một âm thanh. Thế nhưng trong chữ quốc ngữ của chúng ta, không phải lúc nào cũng có sự trùng khít giữa chữ cái và nội dung các âm thanh. Và đây chính là nguyên do làm nảy ra các sáng kiến cải tổ chữ quốc ngữ một cách có ý thức do các nhà ngôn ngữ đề xướng.
Trước hết là hiện tượng c, k, qu. Từ điển de Rhodes có ghi chú rằng: “Chữ C chỉ ở vị trí đầu các tiếng có nguyên âm A, Ô, Ơ, U, Ư; còn trước các nguyên âm Ê và I chúng ta dùng K hoặc S. (sic)”. Ở đoạn nói về âm K, tác giả viết: “K chỉ đứng với nguyên âm Ê và I, chẳng hạn: kẻ, kĩ…”
Tại sao lại có hiện tượng đó? Không phải tiếng Việt đọc âm /k/ khác nhau trước hai loại nguyên âm này, mà chính là các nhà chế tác chữ quốc ngữ đã đem á dụng thông lệ chính tả của Pháp đặt vào tiếng Việt. Nhưng âm / k/ trong tiếng Pháp lại không có chúm môi trước nguyên âm, cho nên phải mượn QU trong tiếng Latin và đọc y như ở trong tiếng Latin vậy. Đây là một thói quen của một số giáo sĩ phương tây đặt để lên tiếng Việt mà không có lí do thoả đáng nào cả.
Mặc dù vậy, thầy cô giáo tiếng Việt vẫn cứ phải gọi đó là “quy tắc” để nhắc nhở cho học sinh viết đúng “nguyên tắc”.
Trường hợp g (h), ng (h), cũng là một lệ ngoại. Hiện tượng thêm h trước các nguyên âm E, Ê, I, là ảnh hưởng của lối chính tả Latin chứ không có lí do tự nội thân tiếng Việt. Âm /h/ trong trường hợp này không có cơ sở vững chắc như kh, ph, th.
Hiện tượng GI được nhắc nhở trên đây cũng là một trường hợp đi lạc ra ngoài nguyên tắc âm vị học nữa. GI là cách chính tả của tiếng Ý, mượn để chỉ một âm tắc xát ở vào thời de Rhodes. GI, như vậy, chỉ là một kí hiệu chỉ một âm đầu, kết hợp với một nguyên âm nào đó mới thành một tiếng: gi-à, gi-ỏ, gi-ẻ, gi-ết. Thế nhưng khi ghép với nguyên âm i, GI lại mất I: g (i) –I > gi. Đây là sự vi phạm nguyên tắc âm vị học, vì g(i) giờ đây đồng hoá với một âm khác là g/ g(h) nhưng lại đọc khác hoàn toàn.
Cũng theo qui ước âm vị học, tất cả các nguyên âm đều được phát âm ở bậc thang âm ngang: a, i, o, u… đều đọc là /a/, /i/, /o/, /u/. Nhưng khi đọc đến những nguyên âm ngắn của a và ơ, người ta phát âm thành một âm có bậc thang âm rất cao, ở bậc dấu sắc / ’/. Sự lẫn lộn nhỏ này đã dẫn đến một nhầm lẫn lớn khác: làm mờ sự đối xứng giữa nguyên âm dài và nguyên âm ngắn ở tiếng Việt. Nói cách khác, ă và a không phải là hai âm khác nhau mà chỉ là một âm dài và một âm ngắn mà thôi, tương tự như cặp ơ và â vậy. Có nhận ra sự đối lập này mới cắt nghĩa thấu đáo tại sao có một sự phân bố đồng đều giữa chúng khi kết hợp với các âm cuối y,u,ch, nh. Theo cách viết hiện nay thì ta nghĩ những nguyên âm trong ay, au, ach, anh là những nguyên âm dài, nhưng thực ra đó chính là những âm a ngắn, còn những âm a dài thường phân bố kết hợp với những âm cuối trên dưới dạng viết sau: ai, ao, ac, ang.
Trong cách viết chữ quốc ngữ hiện nay, có hiện tượng bất nhất khi viết i và y. De Rhodes ghi chú như sau về cách viết hai chữ này ở thời ông: “Tiếng xứ này chỉ dùng chữ I làm nguyên âm, vì chữ I phụ âm được thay bằng chữ G (sic). Muốn tránh lẫn lộn, ta dùng I ở giữa hay ở cuối tiếng: biết, bĩ. Cũng cần chú ý là ta dùng âm Y ở cuối tiếng khi nào có nguyên âm kép (sic) cần phải đọc tách biệt: Eùy (ấy), nhưng phải dùng I khi nào nguyên âm kép không đọc tách rời, ví dụ chữ Ai. Để tránh dùng nhiều dấu hiệu trên một chữ, ta không đánh hai dấu chấm trên chữ I. Chỉ cần nhớ với nhau một lần rằng viết Y ở sau một nguyên âm không phải để đọc thêm một vần tách biệt mà chỉ có ý phân biệt vần như trong cây và cai. Ta cũng dùng Y trước một số nguyên âm nhưng cũng không xem là phụ âm bao giờ, chẳng hạn ýeo (tức là yếu), ỷa, (tức là ỉa).”
Nhưng đến ngày nay thì sách báo tiếng Việt có nhiều kiểu viết bất nhất về chữ I và Y. Dường như người viết chỉ theo trực cảm hoặc theo thói quen (có thể đúng mà cũng có thể sai), nên chỉ có hiện tượng tên người là Sĩ được viết thành Sỹ hoặc ngược lại, tị (nạn) lại cũng có thể viết thành tỵ (nạn)… Dựa theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, chúng tôi nhận thấy có thể ta có những trường hợp sau đây viết lẫn lộn I thành Y sau h, k, l, m, qu, t. Nếu bảo rằng phải viết tiếng hán việt theo cách khác, e là không chính đáng, vì chữ viết kí âm không bao giờ “chia hán/nôm” mà chỉ quan tâm đến việc ghi âm sao cho đúng như khi người nói phát âm ra. Vì thế, không có lí do gì để phân biệt mỹ (thuật) với (bánh) mì, hoặc là phân biệt (biệt) ly với li ti, lấy lí do là một bên viết với y vì là từ hán việt, bên kia viết với i vì là một từ nôm na. Vả lại, thật là khó chấp nhận sự kiện cho rằng có thể cả hai cách viết i và y đi kèm với những âm khởi đầu m, t, l, k, qu, h, đều được coi là đúng, là hợp cách như một tác giả đã ghi nhận. Thật ra, khi chúng ta viết Lý, Kỹ, Mỹ với y, ta đã chọn thói quen và trực cảm chủ quan hơn là dựa trên chính dữ kiện ngôn ngữ để viết chữ quốc ngữ. Có lẽ vì thế mà Việt Nam Tự Điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức (một công trình đồ sộ của các học giả có trình độ làm việc cao, ra đời cùng một thời với Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh) đã không theo thói quen này.
Hiện tượng bất nhất nói trên đã diễn ra từ thời kì nào? De Rhodes và những nhà sáng chế chữ quốc ngữ xem ra rất tách bạch về cách dùng chữ này – như lời dẫn trong sách của ông đã cho thấy. Sang thế kỉ XVIII, quyển tự vị An Nam-La Tinh (Dictionarium Abamitico Latinum) soạn xong năm 1773, cũng không thấy có tình trạng nước đôi trong một số cách viết chữ i và y. Hiện tượng viết thông nhau giữa i và y chỉ thấy xuất hiện vào thế kỉ XIX, khi có hàng loạt những quyển tự vị soan và in tại nhiều địa phương khác nhau, do những nhà biên soạn không chuyên về ngôn ngữ.
Đến những năm đầu thế kỉ thứ XX thì sự lẫn lộn đã trở nên phổ biến: hai quyển từ điển cùng in năm 1931 mà lại theo hai nguyên tắc chính tả khác nhau: Đào Duy Anh soạn Hán Vịêt Từ Điển thì chuộng Y khi viết với h, k, l, m, qu, t. Trong khi đó thì Việt Nam Tự Điển của Khai Trí Tiến Đức thì nhất loạt viết i trong các từ đi đầu với h, k, l, m, qu, t.
(Chữ Quốc Ngữ qua những biển dâu) - Đoàn Xuân Kiên

Quy tắc của từ điển de Rhodes khá giống với quy tắc chính tả ngày nay, có phần còn rõ ràng hơn (chữ i và y). Từ điển này là thành quả của các giáo sĩ nhiều quốc tịch nên dễ thấy là nó mang đủ thứ quy tắc của các ngôn ngữ khác nhau: gi kiểu Ý, k kiểu Pháp, ph của Hy Lạp, gh-ch của chính tả La-tinh... Nhưng cũng dễ thấy là người tạo từ điển lựa chọn chữ trên phương diện ký âm, có những âm khá đặc biệt của tiếng Việt cần ký âm như thế.
(Nói thật mình cũng không biết kiểu viết "kách mệnh" là viết theo nguyên tắc nào? Dự án sửa chữ quốc ngữ của Hội nghị Nghiên Cứu Viễn Đông có đề nghị thay c bằng k nhưng có được phổ biến cho dân chúng đâu, cũng giống như mấy đề nghị cải cách bây giờ.)
01:07 CH 10/08/2011
Thú vật đội lốt người đang xuất hiện tại trung...
Đã nghe thấy món này ở VN hơn chục năm rồi. Giờ báo chí dựa hơi ông Tây nào đó vào nhà hàng TQ thấy rồi làm ầm lên. Chính xác món này là món Nhật, trong cái nghệ thuật nấu ăn gì đó gọi là iki zukuri (Ai biết tiếng Nhật thì giải thích hộ chứ mình hóng hớt được vậy thôi), chuyên dùng để làm sashimi. Ngoài cá ngáp, người Nhật còn có các món bạch tuộc sống, bào ngư sống, tôm sống... còn nhảy tưng tưng trong đĩa. Mười mấy năm trước, món này du nhập vào VN cũng qua các nhà hàng Nhật Bản.
Muốn xem cái món này thì cứ gõ "iki zukuri" là ra, nó được coi như một nghệ thuật nấu ăn của Nhật.
08:23 SA 09/08/2011
Con trai Bá Chi òa khóc: Con không theo bố đâu!
người ta có câu vợ chồng có chuyện gì thì đóng cửa bảo nhau , xấu chàng hổ ai , những người vợ người chồng sỗ sàng bô bô làm mất thể diện của đối phuơng sao không thử nghĩ thiên hạ sẽ cười ai , cười một người hay cười cả 2 vợ chồng . Mình rất tội nghiệp TBC nhưng nếu mình là TDP mình cũng ko bao giờ quay lại

Cái này mình lại không coi là "làm mất thể diện" nhé. :cool: Lúc trước vì tò mò "nàng" Địch Ba Lạp nên mình liếc qua mấy bản tin xưa xưa của cặp đôi này. Bà mẹ TĐP bảo con trai không bao giờ chủ động về thăm mẹ, TBC sinh con trai thì anh chàng sẵn sàng bảo chừng nào nó lên 2 tuổi thì chàng dòm tới... em gái chàng thì cũng mách là anh trai về đến nhà đóng cửa chơi game 10 tiếng trong ngày, chẳng ngó đến vợ con... vưn vưn... Nghĩa là chuyện gì TBC nói ra thì người khác đã nói từ xưa rồi, chàng Tạ còn thể diện gì đâu mà mất? Chẳng qua lúc ấy nàng tốt nhịn, gia đình còn yên ấm thì người ta nói như đùa vui, còn giờ nàng giận thì hoá ra là "mách tội". Tội ấy cũng chả đến lượt nàng mách. :Silly: Muốn mách thì nàng phải mách cái gì to to như đưa gái về nhà kiểu em trai nàng làm bum xum lên, hay bồ bịch bên ngoài kiểu bồ nhí của chàng la lối bây giờ. Chứ cái chuyện TĐP chơi game suốt ngày không chăm con thì chỉ có người bây giờ mới để ý tin của họ mới không biết.
Xem bà mẹ nói gì về con trai này:
http://dinhphong.forumn.net/t545-topic . Mấy lời của TBC bõ bèn gì. Mà quả thật 5 năm liền sống thế này thì chẳng khác osin. :RollingEy:
12:59 CH 07/08/2011
Vụ hàng ngàn thí sinh điểm 0: "Quên lịch sử là...
Phân tích nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.
Bạn hãy đọc lại câu hỏi trong đề thi, tự dưng có một số người cố tình xuyên tạc rồi lái câu chuyện đi theo một hướng khác.
Tớ thì hiểu là nguyên nhân Bác đi nước ngoài do xã hội lúc đó nó thế, rồi dần dần Bác đã trưởng thành theo từng giai đoạn lịch sử.

Nhỏ nhẹ: Mình cũng từ trường XHNV ra, mình nghĩ mình còn nhớ câu này được trả lời ra sao ạ. Nói chung nó còn liên quan đến cả những Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân châu Á, phong trào của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, nhân sĩ trí sĩ yêu nước... vưn vưn và vưn vưn. Nói chung là ở tuổi 17, có người nhận ra tất cả những con đường ấy là sai toét hết, nên quyết tâm "Vào hang cọp mới bắt được cọp", đến "mẫu quốc" tham quan tình hình quân địch, biết người biết ta trăm trận trăm thắng. :Silly:
Vầng, nguyên văn lúc mình đi học là thế, còn gạch đầu dòng 1, 2, 3 nữa. Không bảo là "khủng khiếp" cũng uổng. Ngoại trừ các em học vẹt, còn em nào muốn "hiểu" đủ thứ nguyên do ấy thì các em ráng mà hiểu thế nào là Minh Trị Duy tân, thế nào là Đông Du, thế nào là "tư sản cải lương", thế nào là quân phiệt Nhật mí lị tình hình châu Á lẫn chế độ thực dân thế giới... Nguyên do một "người vĩ đại" không chấp nhận đường lối cứu quốc của người sở tại mà chạy sang tận trời Âu.
Vầng, câu chuyện lâm ly diễm lệ phức tạp đa đoan như thế, nên 3 điểm cũng không dễ xơi đâu ạ. Làm sao mà so với chuyện du học bình thường được. Còn tính hiện thực của nó thì... bàn sau.
09:19 SA 05/08/2011
Chuyện nữ hoàng duy nhất của VN bị chồng gả bán
Còn cái ông Trần Liễu thì nếu mà cứ khăng khăng đòi Quốc Khang phải nối dõi thì mình thấy ông này rõ không biết điều. Mình vừa khen anh em nhà Trần thương yêu nhau, nay mình đíhn chính lại là chừa cái ông Trần Liễu này ra. Tất nhiên ở địa vị ông ta bất mãn vì bị cướp vợ là đúng. Làm phản, lảm loạn, ok có thể châm chước, thế cũng là hả giận. Thế nhưng làm phản thất bại, được em ruột là vua bỏ qua, che chở, thì nên biết ơn mà biết điề uhơn, bỏ qua hận thù. Lại còn được phong Yên Sinh Vương, quyền lực phú quý chả ai bằng. Quốc Khang sau này cũng được làm “bá chủ” một vùng xứ Thanh Nghệ, con cháu nối đời phong vương vùng đó, thiết nghĩ cũng chả có gì than phiền.Còn muốn gì nữa, đòi Quốc khang làm vua không được thì hận thù dòng Trần Cảnh đến lúc chết, đúng là không biết điều.

Hì hì, là phụ nữ thì không hiểu được đàn ông, cái nhục bị cướp vợ là sự nhục nhất đối với đàn ông mà hầu như chả ông nào chịu được. Việc này không chỉ liên quan đến cảm tình hay ân oán, mà là sĩ diện và tư cách ngẩng mặt nhìn đời. Nuốt cái nhục đời cha để vợ con cho người, rồi thằng con tiếp tục bị ném ra xứ Thanh Nghệ (Thời này đây là đất man mọi bị Chiêm Thành đánh vào suốt chứ chả phải nơi ngồi không hưởng phúc đâu), tiếp tục chịu cái nhục của cha nó là làm anh mà bị em giẫm lên đầu, tiếp tục phải gánh chịu cái nhục của mẹ là "đứa con không ai nhận". Ở trong hoàn cảnh ấy mà không biết oán thì không phải là người.
Cũng cần nhắc thêm, việc nhà Trần cần gấp 1 đứa con Lý-Trần đến thế là để xoa dịu dân chúng vẫn còn nhớ nhà Lý. Nhà Trần, dù đã triệt họ Lý, vẫn chưa thể tự mình "đứng" được. Và mọi thông tin về tính hợp lý của việc nhà Trần tiếm ngôi thì hiện tại mình vẫn còn đang rất nghi ngờ. Đơn cử, ai bảo nhà Lý lúc đó rối loạn Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng... cần có nhà Trần lấy danh nghĩa đánh dẹp? Xin thưa, Nguyễn Nộn đã từng là thuộc hạ của họ Trần, được họ Trần dùng để đánh phá triều Lý rồi quay sang cát cứ. Huệ Tông, trong khi dùng Trần Tự Khánh thì vẫn muốn khử dòng họ này, bí mật tập hợp binh lính định đánh Trần Tự Khánh. Bị Tự Khánh phát hiện ra, Huệ Tông phải chạy đến nương nhờ Nguyễn Nộn. Trần Tự Khánh tự tiện lập nhà vua mới là Càn Ninh, lấy hết vàng bạc, phóng hoả đốt Thăng Long rồi về Hà Nam.
Trần Tự Khánh chiếm Thăng Long, lấy hết của cải, đốt sạch nhà cửa cung điện khiến nhà vua phải dựng lều tranh mà ở. Tình thế như thế, nhà vua làm cách nào mà chống lại tướng cát cứ? Lại phải nhờ họ Trần. Trần Thị Dung được phong hoàng hậu, nhà Trần chiếm hết chức tước trong triều rồi... Lý Huệ Tông trúng phong, phát điên.
Cục diện rối loạn cuối thời Lý là sự thật, nhưng nhà Trần đóng "vai trò" gì trong cuộc rối loạn ấy, là người "dẹp loạn" hay "gây loạn" thì là việc còn khó phân định. Nhưng chắc chắn, người "đánh" nhà Lý không ngóc đầu lên nổi, tàn phá tất cả cơ sở vật chất lẫn binh lực của nhà Lý, là họ Trần, không đợi đến lúc Trần Thủ Độ tiếm quyền của cô bé Lý Chiêu Hoàng. Đây không phải là cuộc "tiếm ngôi" hoà bình ít đổ máu gì hết. Máu đã đổ hàng mấy chục năm từ thời Trần Tự Khánh nổi loạn ở Thăng Long rồi.
Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn... bị triệt hạ khi họ đang lấy danh nghĩa phù trợ nhà Lý đấy.
Bước đầu là đưa người vào nội cung lấy thế lực; sau dựa vào rối loạn mà tính việc phế lập nhà vua, đáng lẽ đã thay luôn cả Huệ Tông; triệt hạ cơ sở, các tướng ủng hộ nhà Lý để tiếm toàn bộ quyền lực trong triều; cuối cùng là có một ông vua "điên" phải thay bằng một cô bé con. Kế hoạch của họ Trần tuần tự lâu dài như thế.
Nói thật, tính "chính danh" của họ Trần cũng là do dòng họ này tự tạo ra. Loạn từ họ Trần mà ra, bây giờ lại hoá thành họ Trần "dẹp loạn", kể cũng... hài.
06:13 CH 02/08/2011
'Rất không bình thường, thưa Bộ trưởng!'
Hy vọng sau vụ này các ông ý không chấn chỉnh bằng cách đưa thêm 1 phong trào học tập cách mạng nào nữa, tốn tiền thuế của mình, và khổ em mình ra.

Yeap, đúng đúng. Chỉ sợ các ông ấy làm gì không làm, cách nhanh nhất là lại... phát động một cuộc "Tìm hiểu tư tưởng" hay "Theo dấu chân người" nữa là khối công chức, giáo dục, hssv lại phải tiếp tục ngồi học mòn mông. :Crying: :Crying: Tiền của bỏ vào phát động phong trào trong cái thời lạm phát này chả bõ.
Thôi, mình không dám nói gì nữa đâu. :Crying: :Crying: Sử của các ông ấy thì các ông ấy tự lo.
04:37 CH 02/08/2011
Đại Nạn… dốt sử nhà
Thật ra nếu lấy tiêu chuẩn là điểm thi ĐH môn Sử ra để nói là học sinh dốt Sử thì không hoàn toàn đúng. Phần đề cương thi Sử ĐH chỉ gói gọn trong sử cận đại từ 1945 trở về sau, cộng thêm một phần sử quốc tế từ đầu thế kỷ 20 trở lại. Người nào từng đi học thì biết, học sinh bị điểm kém là một phần lý do lười, nhưng thi ĐH mà điểm 0 nghĩa là... tủ đè. Cái điểm này chỉ phản ánh rằng năm nay thí sinh thi ĐH bị lệch tủ nhiều quá.
Còn việc thao thao bất tuyệt ngày này tháng nọ hoà ước nọ chiến dịch kia trong vòng 40, 50 năm trở lại đây mà gọi là "thông thuộc sử nước nhà", xin lỗi, hỏng. Giỏi đến mức ấy thì thuộc cả chiến dịch sông Bạch Đằng của Ngô Quyền, chiến dịch đánh Tống bình Chiêm của Lý Thường Kiệt, chiến dịch chống Nguyên Mông của nhà Trần, chiến dịch Chi Lăng Xương Giang của nhà Lê... xét về độ quan trọng với tiến trình lịch sử nước nhà cũng chả kém hơn. Nhưng thật lòng chứ, học thuộc để làm gì? Học thuộc vanh vách chiến dịch này kế hoạch nọ mà hỏi đến tiến trình Nam tiến của người Việt không biết, đến cả lịch sử đất quê mình cũng chẳng rành, đừng nói đến tư duy tầm cao hơn là phân tích tiến trình lịch sử hay sự thịnh suy của các triều đại. Nếu nói học sử là học cách tư duy phân tích thì xin hỏi tư duy phân tích chỉ dùng cho cuộc chiến tranh trong vòng vài chục năm thì giúp ích gì cho người học? Các em sau này đi đánh ai mà cần? Những thông tin kiểu ngày này tháng nọ hoàn toàn là những thứ có thể lật sách ra tham khảo chứ không cần phải nhớ, nó chẳng giúp cho người học thông minh sáng dạ giỏi giang thêm chút nào, tội tình gì phải làm khổ đầu óc người học đến thế?
Còn phần sử sau chiến tranh thì... chán chả buồn nói. Cái thời lạm phát 700% mà cũng ráng tìm ra "thành tựu" để nhét vào thì... nói phét cũng có mức độ. Cái phần này, chỉ sau khi lên ĐH thì giảng viên mới giảng kỹ cho SV "chuyên ngành" vì nó "thời sự" quá, dưới phổ thông chỉ được dạy phiên phiến, bỏ cho học thuộc những gì có trong sách thôi.
Ai phê phán hs dốt sử là "không yêu nước", hỏi thật, bao nhiêu phần trăm người có thể kể vanh vách niên đại các triều đại VN? Bao nhiêu người vẽ được bản đồ tiến trình Nam tiến của VN qua các thời kỳ? Bao nhiêu người biết đất nước này được hình thành thế nào, giành độc lập ra sao?
Tóm lại, thi ĐH điểm thấp nghĩa là thí sinh bị tủ đè. Chừng nào chương trình học, chương trình thi cho ra dáng một bộ môn khoa học xã hội chứ không phải thi tài học thuộc, đúng là "Sử của một dân tộc có ngàn năm văn hiến" đi thì mới có thể nói hs dốt sử nước nhà. Còn việc thí sinh, học sinh học đối phó từng phân đoạn nhỏ của những thông tin, tư liệu không có hệ thống với một lượng số liệu hoàn toàn không biết "nhớ để làm gì" thì nó chỉ cho thấy chương trình học không hấp dẫn, thế thôi.
07:19 CH 01/08/2011
Chuyện nữ hoàng duy nhất của VN bị chồng gả bán
Thế nhà Trần, xét cho cùng thì có tội lỗi gì to lớn với dân với nước không bạn?????

Vinh quang không triều đại nào bằng nhà Trần, nhưng xuống thấp cũng không triều đại nào bằng nhà Trần. Triều đại khác có để mất nước cũng mất vào tay đối thủ là cường quốc, đế quốc. Chỉ có mỗi nhà Trần có thể để quân Chiêm Thành đánh vào đốt phá Thăng Long không phải 1 mà đến 3 lần. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông khi quân Chiêm Thành đến thì bỏ kinh thành mà chạy, học trò là Nguyễn Mộng Hoa nhảy xuống kéo thuyền xin Thượng hoàng ở lại mà vua quan nhà Trần vẫn cứ... chạy, bỏ mặc kinh thành đất nước bị tàn phá, đến khi quân địch rút lui rồi mới dám lóp ngóp trở về. Kể cũng không có nổi cái "sự tích" nào về sự hèn của quan quân triều đình đáng nhớ đến thế.
3 lần thắng Nguyên Mông rồi cũng 3 lần bị Chiêm Thành hạ nhục. Lịch sử có cái công bằng của riêng nó.
06:01 CH 01/08/2011
'Chúng ta nên cảm ơn thương nhân Trung Quốc'
Em định không viết về vấn đề này, vì có viết thì thành nửa xanh, nửa đỏ. Thưa GS Võ Tòng Xuân, em chỉ có mấy nhời nửa xanh, nửa đỏ thế này:
Thứ nhất, nông dân ta phải cảm ơn thương nhân Trung Quốc (những nhà buôn thấy lợi là làm, mà sao họ tinh thế) là vì bán được giá cao; chứ bà con
không cần "ơn Đảng, ơn Chính phủ" đã miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí, trợ giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đường giao thông,...

Thưa GS, nếu bán cho thương nhân Trung Quốc mà bà con ta tính hết chi phí thì họ có dám mua hàng nông sản nữa không. Nếu không tính thì thành ra thương nhân Trung Quốc hưởng lợi nhiều quá, ngoại tệ thì thâm hụt,... GS đã tính chưa?
Thứ hai, nếu thương nhân Trung Quốc tổ chức "xuất khẩu tại chỗ" (tức SX ra các loại sản phẩm phái sinh từ khoai và bán lại cho khách hàng trong nước) thì bác GS tính thế nào, quản lý thế nào, tính thuế (thuế XNK, thuế thu nhập doanh nghiệp,...) thế nào,... ??????
Thôi, em chỉ xanh-đỏ thế thôi.

Xanh xanh: Ơn nghĩa gì, tiền thuế của bọn mềnh đấy. :D Trên danh nghĩa, chính phủ làm quái gì có tiền, trong khi vai trò của chính phủ chỉ là tổ chức chính trị điều hành chứ không sản xuất, không kinh doanh, không làm ăn... Cho nên mới có khái niệm "nô bộc của nhân dân", "công chức làm công ăn lương"... Người dân trả tiền thuế thân, thuế đất, thuế cầu đường, thuế sản xuất, thuế xăng dầu, thuế giá trị gia tăng... ti tỉ thứ thuế chẳng lẽ là để... nuôi béo cán bộ.
Mà như vậy thì vai trò của nhà nước với tiền thuế của ti tỉ thứ thuế, ti tỉ ngành nghề ấy để làm cái gì? Chẳng phải là để điều tiết kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, chi tiết ở đây là hỗ trợ cho các ngành nghề, những địa phương còn chưa phát triển? Hay hễ "thâm hụt" thì trên bóp cổ dưới đòi tăng thuế, dẫn đến mấy đứa dân đen phải đi bóp cổ nhau?
Có đi kinh doanh ở VN mới biết "chua" như thế nào. Thuế tằng tằng mà tăng, giá nhiên liệu, xăng dầu cho đến điện nước có lên không có xuống. Thế mà cũng chẳng được yên ổn mà làm ăn, đến cả cái ngõ đường cho xe tải chạy cũng phải đi "cúng" công an giao thông, ngày ngày tháng tháng đi làm "nghĩa vụ", đến chỗ của đối tác chưa được nhìn thấy mặt thủ trưởng đã phải "cúng cô hồn" cho thằng cấp dưới, chưa kể tai bay vạ gió từ đâu đến. Ăn chặn với tham nhũng từ sếp tổng đến đứa đốt lò. Thế là thằng này quay sang bóp cổ thằng kia, tính toán sao cho vơ nhiều hơn trong khi... chi không thể ít. Cứ thế đến cái khâu tận cùng là thu mua nguyên liệu đầu vào, không ép nông dân thì ép ai bây giờ?
Đấy là nói DN nhỏ lẻ, chứ mấy con "cá mập" ăn sạch tiền thuế quốc dân rồi tiếp tục đi ăn chặn tiền của nông ngư dân thì... chả còn gì để nói. Bây giờ dẫn đến tình trạng người trong một nước cắn xé ăn chặn nhau, đi hỏi một ông GS về "quản lý thế nào" thì... bộ sậu IMF cũng không biết trả lời ra răng. Thôi, ai may thì người đó hưởng, không chết đói là mừng. Có ai đi ăn khoai lang trừ cơm được cho nông dân đâu.
11:50 SA 30/07/2011
Nữ hoàng đồ lót Ngọc Trinh: Yêu tôi tốn kém lắm...
Nhiều mợ đọc không nắm được ý rồi lại hay suy diễn. :Silly: Em NT có nói là chẳng biết ơn mẹ gì hết à? Em ấy chỉ nói: lúc còn nhỏ, người ta hỏi có nhớ mẹ, thương mẹ không thì em ấy nói không, dẫn đến chuyện ba em ấy kể cho em ấy nghe chuyện mẹ em ấy vì sao mà mất, lúc ấy em mới biết. Nhưng biết thế chứ em không có ấn tượng nào về người mẹ ấy, đó là chuyện hoàn toàn tự nhiên. Chứ nếu không biết ơn, không nhớ, em ấy đã chẳng thèm đi kể lại tường tận rằng ba em ấy chọn mẹ, mẹ em ấy chọn em, em còn sống là nhờ mẹ. Em bảo, mẹ em mất sớm rồi, thế là xong.
Biết ơn với thương mến là hai chuyện khác nhau. Còn mình thì thích em NT rồi. :Smiling:
Khôn hay dại cũng chả phải là lỗi của người ta, cũng như người đẹp kẻ xấu sinh ra không chọn được. Thừa não để đi soi mói dè bỉu thiên hạ thì thà thiếu não mà sống có lòng còn hơn. Một khi người ta sống không phạm đến ai thì việc gì phải đi chê trách người ta?
Bạn nào hỏi có muốn con trai mình lấy 1 em thế này không, mình bảo Có đấy. :D Miễn là lo được cho em nó. Sợ nhất là loại điêu ngoa xảo trá, "khôn" phát sợ, lá mặt lá trái mà vẫn còn tưởng mình tốt đẹp, lại còn mắc tật hay phán xét người khác. :Silly: Sống với phụ nữ rất sợ cái tính này.
02:27 CH 19/07/2011
m
MinhnLam
Bắt chuyện
704Điểm·0Bài viết
Báo cáo