- Ngụy biện: Chỉ lấy 1 thông tin có trong tóm tắt, bẻ nó theo hướng có lợi cho mình, nhưng bỏ qua kết luận cuối cùng: báo cáo phần nào giải thích lý do tại sao ở những nước ăn nhiều đậu nành như Nhật Bản và Trung Quốc lại có tỷ lệ ung thư vú thấp.
- Phản biện: Hiển nhiên, khi estrogen ở nồng độ thấp thì sẽ gây trễ kinh, vì nó ức chế hoạt động của tuyến yên, và điều đó hoàn toàn bình thường. Quan trọng, nó lại là lập luận để cho thấy tiềm năng phòng ung thư khi dùng đậu nành ở lượng lớn<2=">2">.
3. Nguy hiểm số 3:
- Ngụy biện: Báo cáo không hề so sánh tác động của estrogen giả từ đậu nành với lại tamoxifen.
- Phản biện: thí nghiệm là in vitro, tức là ngoài tế bào sống. Từ kết quả này đến kết quả trong tế bào và trong cơ thể lại là một chuyện khác hoàn toàn. Kết luận như vậy là quá vội vàng, không đủ cơ sở khoa học<3=">3">.
4. Nguy hiểm số 4:
- Ngụy biện: bài báo đã bỏ qua 1 chi tiết quan trọng: estrogen đậu nành (genistein) Ở NỒNG ĐỘ NHỎ mới là mục tiêu của bài báo. Ở nồng độ lớn, nó lại có tác dụng chống lại ung thư vú.
- Phản biện: Thí nghiệm so sánh với tác động của thuốc trừ sâu DDT cũng là in vitro (ngoài tế bào), cho nên nói tác động của nó giống với phơi nhiễm thuốc trừ sâu là dạng ngụy biện kiểu “thầy bói xem voi”<4=">4">.
5. Nguy hiểm số 5:
- Ngụy biện: một lần nữa lại bỏ qua chi tiết: tác động của estrogen đối với ung thư vú khi nó ở nồng độ thấp (kích thích ung thư) hoàn toàn ngược khi nó nồng độ cao (ức chế ung thư).
- Phản biện: Một báo cáo công bố ở một tạp chí không chính thống, không làm thí nghiệm mà chỉ là một bài tổng hợp kết quả, ý kiến kết luận thì một chiều, và không công bố nội dung bàn luận, thì không đáng tin<5=">5">.
6. Nguy hiểm số 6:
- Ngụy biện: Không đề cập đến việc báo cáo này là chỉ làm trên chuột. Báo cáo gốc không hề đưa ra kết luận gì về ung thư tiền liệt tuyến.
- Phản biện: Đây cũng là một bài tổng hợp, nhưng lại từ năm 1994, khi các thí nghiệm còn hạn chế. Báo cáo cũng không cho xem nội dung lập luận. Không đáng tin<6=">6">.
7. Nguy hiểm số 7:
- Ngụy biện: Lại lấy kết quả mới thí nghiệm trên chuột để nói trên người.
- Phản biện: Thí nghiệm cho thấy chỉ có 1 tiêu chí về tăng trưởng của chuột là có thay đổi đáng kể. Chính tác giả cũng nói, cần phải có nghiên cứu sâu hơn mới có kết luận cụ thể. Do đó, lấy kết quả này mà nói là “genistein có thể gây dậy thì sớm” thì là ngụy biện<7=">7">.
8. Nguy hiểm số 8:
- Ngụy biện: báo cáo gốc không hề nói tới việc mất dần cơ bắp.
- Phản biện: Người viết bài báo kia cũng không thèm đọc (hoặc không thể đọc hiểu) nội dung bài báo nên mới không thấy 1 điểm vô lý trong bài. Trong tóm tắt thì báo cáo nói là giảm 19% testosterone, nhưng phần kết quả lại không chỉ ra được thông tin đó lấy từ đâu ra. Mà ngược lại, kết quả cho thấy không có sự thay đổi đáng kể nào về testosterone cả. Thông tin 19% chỉ xuất hiện đúng 1 lần trong tóm tắt (abstract), tôi tự hỏi có nhầm lẫn gì ở đây không<8=">8">.
9. Nguy hiểm số 9:
- Ngụy biện: Báo cáo gốc làm việc trên chuột mà nói cứ như làm trên người.
- Phản biện: sức chịu đựng của chuột và người khác nhau. Phản ứng của người và chuột đôi khi cũng khác nhau. Đây là thí nghiệm tiền lâm sàng, chưa đủ để kết luận<9=">9">. Chịu trách nhiệm thông tin: Nguyễn Cao Luân. www.facebook.com/Nguyen.Cao.Luan.1990
Tài liệu tham khảo
1. Ishizuki, Y., et al., . Nihon Naibunpi Gakkai Zasshi, 1991. 67(5): p. 622-9. 2. Cassidy, A., S. Bingham, and K.D. Setchell, Biological effects of a diet of soy protein rich in isoflavones on the menstrual cycle of premenopausal women. Am J Clin Nutr, 1994. 60(3): p. 333-40. 3. Makela, S., et al., Estrogen-specific 17 beta-hydroxysteroid oxidoreductase type 1 (E.C. 1.1.1.62) as a possible target for the action of phytoestrogens. Proc Soc Exp Biol Med, 1995. 208(1): p. 51-9. 4. Dees, C., et al., Dietary estrogens stimulate human breast cells to enter the cell cycle. Environ Health Perspect, 1997. 105 Suppl 3: p. 633-6. 5. de Lemos, M.L., Effects of soy phytoestrogens genistein and daidzein on breast cancer growth. Ann Pharmacother, 2001. 35(9): p. 1118-21. 6. Santti, R., et al., Developmental estrogenization and prostatic neoplasia. Prostate, 1994. 24(2): p. 67-78. 7. Casanova, M., et al., Developmental effects of dietary phytoestrogens in Sprague-Dawley rats and interactions of genistein and daidzein with rat estrogen receptors alpha and beta in vitro. Toxicol Sci, 1999. 51(2): p. 236-44. 8. Goodin, S., et al., Clinical and biological activity of soy protein powder supplementation in healthy male volunteers. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev, 2007. 16(4): p. 829-33. 9. Jefferson, W.N., et al., Oral exposure to genistin, the glycosylated form of genistein, during neonatal life adversely affects the female reproductive system. Environ Health Perspect, 2009. 117(12): p. 1883-9.
Thậm chí, hàn the còn có báo cáo cho thấy nó có tác dụng chống viêm, chống nấm.
Còn về chất phát quang Tinopal, từ lâu nó đã không còn là mối quan tâm nữa, khi mà các nghiên cứu đều chỉ ra rằng nó không liên quan đến ung thư.
Tất nhiên, cái gì quá nhiều cũng độc. Nhưng thử hỏi, với 1 chất màu vàng đậm như Tinopal thì tẩm vô bún màu trắng được bao nhiêu? Hàn the thì cho quá tay sẽ làm cứng sợi bún, nên cũng chẳng ai dại gì cho nhiều. Vậy tại sao phải lo?
Còn nếu bạn “thích lo”, xin mời mang theo đèn UV khi mua bún. Tinopal sẽ phát quang màu xanh lục khị bị chiếu UV. Còn hàn the thì mua bộ kit thử. Mua ở đâu, xin mời vào vatgia.com, gõ “Bộ kit thử hàn the” sẽ rõ.
Vâng, vì hiểu vấn đề đó nên chúng tôi có sẵn lời khuyên cho những ai vẫn thích ăn đồ chiên xào đó. Thay đổi loại dầu để chiên sang dầu dừa, dầu cọ là biện pháp tốt nhất nếu bạn vẫn muốn chiên.