Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...
Pháp luật Việt Nam quy định, theo thỏa thuận của cha mẹ, con sinh ra có thể được đặt tên theo họ của cha hoặc của mẹ. Tuy nhiên, với phong tục truyền thống của người Việt Nam từ xưa đến nay, con sinh ra thường được đặt tên theo họ của cha. Vậy, với những trường hợp đã đặt tên con theo họ cha thì có thay đổi sang họ của mẹ được không và thủ tục như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ trao đổi cụ thể về vấn đề nêu trên.
1. Căn cứ và điều kiện
Thay đổi họ là một trong những quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận. Điểm a, Khoản 1, Điều 27, Bộ luật Dân sự 2015 quy đinh: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp: “Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại”. Điều 26, Luật Hộ tịch 2014 quy định: việc thay đổi họ của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự thuộc phạm vi thay đổi hộ tịch. Người dưới 18 tuổi thay đổi họ thì phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó (Điều 7, Nghị định 123/2015/NĐ-CP).
2. Trình tự, thủ tục
- Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thay đổi họ:
+ Người thay đổi họ chưa đủ 14 tuổi: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người thay đổi họ có thẩm quyền giải quyết.
+ Người thay đổi họ từ đủ 14 tuổi trở lên: Ủy ban nhân dân cấp huyện đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người thay đổi họ thực hiện thay đổi hộ tịch.
- Thủ tục đăng ký thay đổi:
+ Người yêu cầu đăng ký thay đổi họ nộp Tờ khai theo mẫu quy định và bản chính Giấy khai sinh của người thay đổi họ; cùng với đó xuất trình một số giấy tờ có liên quan như Chứng minh thư nhân dân, Sổ hộ khẩu.
+ Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy việc thay đổi hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu; đồng thời ghi nội dung thay đổi hộ tịch vào Giấy khai sinh. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
+ Trường hợp đăng ký thay đổi không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trân trọng !
Luật sư: ĐỖ TRUNG KIÊN
ĐT : 097 802 6688 - 19002189
ĐC: Số 32/83/355 Đường Xuân Đỉnh, P Xuân Đỉnh, Q Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
VPĐD: Tòa nhà A6B, Khu ĐT Nam Trung Yên, P. Yên Hòa, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.
http://vanphongluatsutrungkien.com/



webtretho
07:34 CH 13/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...
I. Các trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài
Căn cứ vào điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có định nghĩa về Ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
“1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Tại điều 2 chương II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong vệc giải quyết một số tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, Ly hôn có yếu tố nước ngoài được chia thành 4 trường hợp
Trường hợp 1: công dân Việt Nam ở Việt Nam (nguyên đơn) muốn xin ly hôn với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (bị đơn). Người muốn ly hôn ở Việt Nam.
Khi giải quyết loại việc này, cần phân biệt như sau:
- Trường hợp biết được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thông qua thân nhân của họ thì tòa án thông qua thân nhân đó gửi cho bị đơn ở nước ngoài lời khai của nguyên đơn, và yêu cầu họ phúc đáp về tòa án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết ly hôn. Căn cứ vào lời khai và tài liệu nhận được, tòa xét xử theo thủ tục chung.
- Trường hợp bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:
+) Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.
+) Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.
Trường hợp 2: công dân Việt Nam đang ở nước ngoài (nguyên đơn) muốn xin ly hôn với công dân Việt Nam ởi Việt Nam
Căn cứ vào khoản 2 điều 127, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
“Trong trường hợp hai bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào điều 27, điều 33, điều 34, Điều 410, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004, thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi bị đơn cư trú. Như vậy, nguyên đơn có thể nộp hồ sơ yêu cầu xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của bị đơn.
- Lưu ý: Đơn ly hôn cùng các giấy tờ kèm theo phải có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài đang cư trú rồi gửi về Việt Nam. Về cách thức gửi đơn ly hôn và tài liệu kèm theo tới Tòa án, nguyên đơn có thể lựa chọn 02 phương thức: Nộp trực tiếp tại Toà án; Gửi đến Toà án qua bưu điện. Trường hợp nếu vì bận công việc mà không thể về Việt Nam, nguyên đơn có thể gửi đơn xin ly hôn và tài liệu kèm theo qua bưu điện. Sau khi nhận được đơn xin
ly hôn, Tòa án sẽ thưc hiện các thủ tục tố tụng để giải quyết yêu cầu xin ly hôn (thụ lý vụ án, yêu cầu Bị đơn có ý kiến, yêu cầu nguyên đơn làm bản tự khai và gửi cho tòa án…). Căn cứ khoản 4 điều 202, Bộ luật tố tụng dân sự 2004, nguyên đơn có thể làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Nguyên đơn không được ủy quyền cho người khác hay mặt mình tham gia tố tụng (khoản 3 điều 73 BLTTDS 2004).
Trường hợp 3: các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, xin ly hôn ở Việt Nam.
Khi giải quyết loại việc này cần phân biệt như sau:
- Các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước đã ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
+) Theo quy định của Nghị định số 24/ 2013/NĐ-CP ngày 28/03 / 2013 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước thì việc kết hôn của đương sự cần được ghi chú vào sổ đăng ký. Do đó, nếu việc kết hôn của đương sự chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Toà án yêu cầu đương sự làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký theo quy định của Nghị định này rồi mới thụ lý giải quyết việc ly hôn.
+) Trong trường hợp đương sự không thực hiện yêu cầu của Toà án làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung.
- Các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước chưa ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp cấp và cũng chưa được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo quy định của NĐ 24/2013/NĐ-CP thì nếu giấy đăng ký kết hôn của họ chưa được hợp pháp hoá lãnh sự, việc kết hôn của họ chưa được ghi chú vào sổ đăng ký, thì Toà án yêu cầu đương sự hoàn tất thủ tục hợp pháp hoá lãnh sự và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký rồi mới thụ lý giải quyết. Trong trường hợp đương sự không thực hiện các thủ tục đó mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp 4: Người nước ngoài đang ở nước ngoài (nguyên đơn) muốn xin ly hôn với người Việt Nam ở Việt Nam (bị đơn).
- Người Việt Nam có quốc tịch và đang cư trú tại Việt Nam, thì tòa án thụ lý giải quyết như sau:
+) Trường hợp nguyên đơn là công dân của nước mà Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp thì ưu tiên áp dụng hiệp định để giải quyết trước.
+)Trường hợp nguyên đơn là công dân của nước mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp thì áp dụng Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014 để giải quyết. Trong cả hai trường hợp trên, việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước đó.
- Người Việt Nam không có quốc tịch Việt Nam, đang ở Việt Nam, tòa án cũng không thụ lý giải quyết. Vì việc này không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việt Nam.
Trường hợp 5: công dân Việt Nam ở Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, trong thời gian 1 năm trở lên, nếu người nước ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, mà đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước họ, các cơ quan có thẩm quyền mà người đó là công dân), sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn... nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Tòa án thụ lý giải quyết cho ly hôn.
II. Tranh chấp tài sản khi ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn sẽ được giải quyết cùng với yêu cầu ly hôn hoặc được tách ra giải quyết ở một vụ án riêng. Việc chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng sẽ được giải quyết theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự 2004.
Tranh chấp tài sản khi ly hôn thường gặp:
1. Tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng
Căn cứ vào điều 33, khoản 2, 3 điều 59; điều 60, 61, 63, 64 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Nguyên tắc tài sản của vợ chồng sẽ được chia đôi, tuy nhiên pháp luật cũng ghi nhận công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo dựng tài sản, hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng cũng như căn cứ vào lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng mà phân chia tài sản. Vì vậy các bên phải có nghĩa vụ chứng minh được công sức tạo dựng tài sản đến đâu, chứng minh lỗi của bên vi phạm như thế nào, để dựa vào những cơ sở đó tòa án có sự phân chia công bằng, hợp lý. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
2. Tranh chấp xác định tài sản riêng vợ chồng
Căn cứ theo điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình, Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.
Đối với những tài sản mà một bên cho rằng đó là tài sản riêng của bên nào thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Như vậy đối với những tranh chấp xác định tài sản riêng nguyên đơn trong vụ án cần phải đưa các chứng cứ chứng minh rằng tài sản đó thuộc sở hữu riêng hợp pháp của mình, nếu không chứng minh được thì đương nhiên đó là tài sản chung và chia theo nguyên tắc chung.
Lưu ý: Tranh chấp tài sản khi ly hôn có yếu tố nước ngoài, đối với việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó (khoản 3 điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
II. Cơ quan giải quyết ly hôn
Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 410, điều 33, điều 34, điều 35 , điểm c khoản 1 điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011, cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn là:
- Tòa án cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương.
- Nếu bị đơn (người bị kiện) có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết;
- Nếu bị đơn (người bị kiện) không có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi nguyên đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết.
IV Hồ sơ làm thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài


Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện;
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
CMND và hộ khẩu/ hộ chiếu
Giấy khai sinh các con;
Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung

V Các bước tiến hành thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài


Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;
Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong thời hạn khoảng 7-15 ngày, Tòa án kiểm tra đơn và nếu đầy đủ thì Tòa thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;
Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật.

VI Thời gian tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn


Ly hôn đồng thuận: thời gian khoảng từ 1 đến 4 tháng;
Ly hôn đơn phương: cấp sơ thẩm khoảng từ 4 đến 6 tháng (nếu vắng mặt bị đơn, có tranh chấp tài sản,…thì có thể kéo dài hơn). Cấp phúc thẩm từ 3 đến 4 tháng(nếu có kháng cáo).
Trường hợp ly hôn vắng mặt thì thời gian khoảng từ 12 đến 24 tháng(do phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp).

webtretho
07:15 CH 13/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...
Cùng với tranh chấp về quyền nuôi con, thì tranh chấp về tài sản cũng tồn tại trong hầu hết các vụ việc ly hôn. Để giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ, chồng khi ly hôn thì trước hết cần phải phân biệt được tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng và việc giải quyết tài sản khi ly hôn được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn. Cụ thể như sau:
1. PHÂN BIỆT TÀI SẢN RIÊNG VÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG
* Tài sản riêng của vợ/chồng bao gồm:
– Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
– Tài sản mà vợ/chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân;
– Tài sản mà hai bên có thỏa thuận là tài sản riêng của mỗi người (thỏa thuận bằng văn bản, nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì văn bản phải được công chứng)
– Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Bao gồm: quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
* Tài sản chung: mọi tài sản được hình thành hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân mà không có thỏa thuận khác thì đều trở thành tài sản chung của vợ chồng. Bao gồm:
– Tài sản do vợ chồng tạo ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh;
– Thu nhập do lao động;
– Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
– Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
– Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như: khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp (trừ trợ cấp cho người có công với cách mạng và quyền tài sản gắn liền với nhân thân); tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
* Về hoa lợi, lợi tức: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung đương nhiên sẽ trở thành tài sản chung. Nhưng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì cần phải xem xét: nếu tài sản riêng này là do hai bên thỏa thuận thì hoa lợi, lợi tức cũng trở thành tài sản riêng; còn lại thuộc về tài sản chung. Phân biệt qua 2 ví dụ sau:
– Trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có thỏa thuận bằng văn bản có công chứng như sau: ngôi nhà A là tài sản riêng của vợ, ngôi nhà B là tài sản riêng của chồng. Như vậy, tiền cho thuê nhà thu được từ ngôi nhà A sẽ là tài sản riêng của vợ và tiền cho thuê nhà thu được từ ngôi nhà B là tài sản riêng của chồng.
– Trong thời kỳ hôn nhân chồng được bố mẹ tặng cho riêng một ngôi nhà, tiền cho thuê nhà thu được sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng.
2. GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG KHI LY HÔN
– Nếu hai bên tự thỏa thuận được, thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn sẽ do hai bên thỏa thuận.
– Nếu không thỏa thuận được, theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc một bên, Tòa án sẽ tiến hành phân chia theo nguyên tắc sau:
+ Tài sản riêng của vợ, chồng sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó
+ Tài sản chung của vợ, chồng được chia đôi nhưng có tính đến một số yếu tố:
Thứ nhất, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
Thứ hai, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
Thứ ba, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.
Thứ tư, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỖ TRUNG KIÊN VÀ CỘNG SỰ
ĐỊA CHỈ : Nhà A6B , Khu đô thị Nam Trung Yên , Cầu Giấy , Hà Nội.
HOTLINE : 096 272 11 55- 1900.2189
EMAIL:
dotrungkienls@gmail.com / trungtamvicca@gmail.com
Website: vanphongluatsutrungkien.com
PAGE FACEBOOK: Trung tâm tư vấn pháp luật miễn phí VICCA (FB/viccalawoffice)
Tư vấn 24/7 qua Skype : dotrungkienls

webtretho
07:04 CH 13/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...
Em là nhân viên của Công ty Microsoft mobi Việt Nam trụ sở ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hiện tại em đang làm việc ở đó và em có tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Giờ vợ em đang có bầu và sắp sinh con nhưng vợ em hiện tại đang sinh sống ở quê tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và vợ em chỉ ở nhà làm công việc nội trợ nên vợ em không tham gia bảo hiểm xã hội.
Vậy luật sư cho em hỏi với trường hợp của em thì theo quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2016 liệu em có được hưởng tiền trợ cấp bảo hiểm hay không? Nếu muốn được hưởng thì em cần phải làm những giấy tờ thủ tục gì và nộp giấy tờ ấy cho ai?
Theo như mấy người bạn em nói thì trường hợp của em sẽ được hưởng 2 tháng lương cơ bản, vậy luật sư cho em hỏi 2 tháng lương cơ bản ấy là 2 tháng lương cơ bản theo công ty em đang hưởng hay là 2 tháng lương cơ bản tối thiểu vùng? Nếu là 2 tháng lương cơ bản tối thiểu vùng thì là tính theo vùng em làm việc hay là nơi vợ em đang sinh sống?

Với nội dung câu hỏi của bạn, Trung tâm tư vấn pháp luật miễn phí VICCA tư vấn cụ thể như sau:
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì “lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con” cũng là một trong các đối tượng được hưởng chế độ thai sản. Tuy nhiên, bạn phải đáp ứng điều kiện là đã đóng bảo hiểm đủ 06 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi vợ bạn sinh con. Cụ thể quyền lợi như sau:
Về thời gian: Theo Khoản 2, Điều 34, lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau: 05 ngày làm việc với trường hợp sinh bình thường; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi; trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc; trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản nói trên được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
Về mức hưởng: Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 39 thì mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 34 được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày. Mà mức hưởng chế độ thai sản theo tháng được quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 39 như sau: “Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản”. Như vậy, cứ mỗi 01 tháng nghỉ chế độ thai sản, người lao động sẽ được hưởng tương ứng 01 tháng lương (hàng tháng công ty làm căn cứ để nộp bảo hiểm xã hội), còn với mỗi 01 ngày nghỉ chế độ thai sản như trên, lao động nam sẽ được hưởng 01 tháng lương chia cho 24.
Giả sử, vợ bạn sinh bình thường, bạn được nghỉ 05 ngày; mức lương trung bình 06 tháng gần nhất là 10.000.000 đồng, thì bạn sẽ được hưởng: (10.000.000 : 24) x 5 = 2.083.333 đồng.
Ngoài số tiền trên, trong trường hợp này vợ bạn không tham gia bảo hiểm xã hội mà chỉ có bạn tham gia, do đó bạn còn được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con (theo Điều 38). Bạn cần lưu ý, mức lương cơ sở không phải là mức lương tối thiểu vùng, cũng không phải là mức lương hàng tháng bạn được trả tại công ty. Theo Nghị quyết 99/2015/QH13, từ ngày 01/05/2016, mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng/tháng. Do vậy, trong trường hợp này, bạn sẽ được hưởng trợ cấp một lần là: 2 x 1.210.000 = 2.420.000 đồng.
Về hồ sơ hưởng chế độ thai sản của lao động nam nghỉ việc khi vợ sinh con bao gồm: bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con và giấy xác nhận của cơ sở y tế đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi (Khoản 4, Điều 101).
Về việc nộp hồ sơ: bạn nộp đầy đủ hồ sơ nêu trên cho công ty, bộ phận nhân sự – hành chính của công ty sẽ có trách nhiệm lập danh sách và nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ công ty, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động.
HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỖ TRUNG KIÊN VÀ CỘNG SỰ
ĐỊA CHỈ : Nhà A6B , Khu đô thị Nam Trung Yên , Cầu Giấy , Hà Nội.
HOTLINE : 096.272.1155 – 1900.2189
EMAIL:
dotrungkienls@gmail.com / trungtamvicca@gmail.com

webtretho
06:56 CH 12/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...

Thưa ls, tôi xin ls tư vấn cho tôi chuyện gia đình như sau: Tôi đang dự định li dị vợ, vợ chồng tôi có 2 cháu 6 tuổi và 4 tuổi, tôi có 1 cái nhà mua trước khi kết hôn mang tên tôi, 1 cái nhà mới mua chưa có sổ, hợp đồng mua nhà cũng mang tên tôi. Vợ tôi không đi làm, ở nhà đi chơi bài và ngoại tình, con cái tôi hàng ngày đi làm thì đưa đi học, đón các cháu về, rước các cháu đi học thêm, cô ấy chỉ ở nhà đi chơi không làm gì giờ còn đi ngoại tình. Bây giờ tôi li dị tôi có được nuôi con không, và tài sản thì như nào, tôi không muốn cho cô ta cái gì hết vì cô ta không đáng được nhận. Cô ta cũng đồng ý cho tôi nuôi cả 2 cháu với điều kiện là phải cho cô ta một cái nhà. Xin luật sư giúp đỡ tôi.Chào bạn,Đối với trường hợp của bạn, văn phòng Luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự xin được tư vấn cho bạn như sau:
Trường hợp bạn muốn ly hôn thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong trường hợp này là ly hôn theo yêu cầu của một bên theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tòa án giải quyết ly hôn khi có căn cứ: “ Có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ , chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” và hòa giải tại Tòa án không thành. Như vậy bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn lên Tòa án. Hồ sơ gồm:
– Đơn ly hôn theo mẫu
– Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
– Bản sao Chứng minh thư nhân dân , sổ hộ khẩu của vợ chồng
– Bản sao giấy khai sinh của các con.
– Giấy tờ chứng minh tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.
Thứ nhất về vấn đề nuôi con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau ly hôn đối với con”. Về nguyên tắc thỏa thuận về việc nuôi con phải trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích của con. Tuy nhiên vợ bạn chỉ đồng ý để bạn nuôi con khi cho cô ấy 1 cái nhà, thỏa thuận về nuôi con này không đảm bảo quyền và lợi ích của con.
Trong trường hợp này bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi, con trên 7 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con. Trong trường hợp của bạn, thì 2 người con đều không thuộc trường hợp trên. Bạn có nhiều lợi thế trong việc giành nuôi con như: Vợ bạn không có thu nhập, không có việc làm nên khó đảm bảo được cuộc sống cho con. Hơn nữa, bạn cần chứng minh vợ bạn thường xuyên đánh bạc, ngoại tình, đây cũng là yếu tố có lợi cho bạn.
Thứ hai, vấn đề về tài sản. đầu tiên bạn phải xác định được tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng bạn. Bạn có 1 nhà mua trước khi kết hôn mang tên của bạn. theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”. Căn nhà này bạn có trước khi kết hôn và vợ chồng bạn cũng không thỏa thuận là tài sản chung thì đương nhiên căn nhà đó là tài sản riêng của bạn. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này”. Như vậy, căn nhà bạn có trước khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu riêng của bạn và sẽ không chia khi ly hôn.
Căn nhà bạn mới mua chưa có sổ, hợp đồng mua nhà mang tên của bạn cũng phải xác định xem đó là tài sản chung hay riêng. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tài sản mà vợ chồng tạo lập trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ, chồng trừ trường hợp tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Mặc dù vợ bạn không đi làm, ở nhà nhưng pháp luật vẫn xác định lao động trong gia đình là lao động có thu nhập. Căn nhà mới đó có trong thời kỳ hôn nhân, nếu bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của bạn và bạn có các giấy tờ chứng minh thì căn nhà đó thuộc sở hữu riêng của bạn. Trường hợp bạn không chứng minh được căn nhà đó bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì căn nhà đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn và khi ly hôn thì sẽ chia theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Nếu căn nhà mới mua là tài sản chung, thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: hoàn cảnh của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, bảo vệ lợi ích chính đáng cảu mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.Bạn muốn căn nhà chưa sổ đỏ là tài sản riêng của bạn thì bạn cần chứng minh bạn mua căn nhà đó thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Bạn có thể chứng minh nguồn gốc số tiền để mua nhà là tiền riêng của bạn hoặc do được tặng cho riêng. Ví dụ như bạn có thể thỏa thuận với cha mẹ mình lập một hợp đồng tặng cho tiền để mua nhà. Số tiền mua nhà chính là tiền mà bạn đã được tặng, cho. Khi đó căn nhà mới sẽ là tài sản riêng của bạn, và sẽ không chia khi ly hôn.Luật sư Kiên.

HÃYLIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỖ TRUNG KIÊN VÀ CỘNG SỰ

ĐỊA CHỈ : Nhà A6B , Khu đô thị Nam Trung Yên ,Cầu Giấy , Hà Nội.

HOTLINE : 096.272.1155 - 1900.2189

EMAIL: dotrungkienls@gmail.com /trungtamvicca@gmail.com

Tư vấn 24/7 qua Skype : dotrungkienls



webtretho
06:44 CH 12/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...

Thưa ls, tôi xin ls tư vấn cho tôi chuyện gia đình như sau: Tôi đang dự định li dị vợ, vợ chồng tôi có 2 cháu 6 tuổi và 4 tuổi, tôi có 1 cái nhà mua trước khi kết hôn mang tên tôi, 1 cái nhà mới mua chưa có sổ, hợp đồng mua nhà cũng mang tên tôi. Vợ tôi không đi làm, ở nhà đi chơi bài và ngoại tình, con cái tôi hàng ngày đi làm thì đưa đi học, đón các cháu về, rước các cháu đi học thêm, cô ấy chỉ ở nhà đi chơi không làm gì giờ còn đi ngoại tình. Bây giờ tôi li dị tôi có được nuôi con không, và tài sản thì như nào, tôi không muốn cho cô ta cái gì hết vì cô ta không đáng được nhận. Cô ta cũng đồng ý cho tôi nuôi cả 2 cháu với điều kiện là phải cho cô ta một cái nhà. Xin luật sư giúp đỡ tôi.Chào bạn,Đối với trường hợp của bạn, văn phòng Luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự xin được tư vấn cho bạn như sau:
Trường hợp bạn muốn ly hôn thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong trường hợp này là ly hôn theo yêu cầu của một bên theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tòa án giải quyết ly hôn khi có căn cứ: “ Có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ , chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” và hòa giải tại Tòa án không thành. Như vậy bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn lên Tòa án. Hồ sơ gồm:
– Đơn ly hôn theo mẫu
– Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
– Bản sao Chứng minh thư nhân dân , sổ hộ khẩu của vợ chồng
– Bản sao giấy khai sinh của các con.
– Giấy tờ chứng minh tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.
Thứ nhất về vấn đề nuôi con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau ly hôn đối với con”. Về nguyên tắc thỏa thuận về việc nuôi con phải trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích của con. Tuy nhiên vợ bạn chỉ đồng ý để bạn nuôi con khi cho cô ấy 1 cái nhà, thỏa thuận về nuôi con này không đảm bảo quyền và lợi ích của con.
Trong trường hợp này bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi, con trên 7 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con. Trong trường hợp của bạn, thì 2 người con đều không thuộc trường hợp trên. Bạn có nhiều lợi thế trong việc giành nuôi con như: Vợ bạn không có thu nhập, không có việc làm nên khó đảm bảo được cuộc sống cho con. Hơn nữa, bạn cần chứng minh vợ bạn thường xuyên đánh bạc, ngoại tình, đây cũng là yếu tố có lợi cho bạn.
Thứ hai, vấn đề về tài sản. đầu tiên bạn phải xác định được tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng bạn. Bạn có 1 nhà mua trước khi kết hôn mang tên của bạn. theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”. Căn nhà này bạn có trước khi kết hôn và vợ chồng bạn cũng không thỏa thuận là tài sản chung thì đương nhiên căn nhà đó là tài sản riêng của bạn. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này”. Như vậy, căn nhà bạn có trước khi kết hôn là tài sản thuộc sở hữu riêng của bạn và sẽ không chia khi ly hôn.
Căn nhà bạn mới mua chưa có sổ, hợp đồng mua nhà mang tên của bạn cũng phải xác định xem đó là tài sản chung hay riêng. Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tài sản mà vợ chồng tạo lập trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của vợ, chồng trừ trường hợp tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Mặc dù vợ bạn không đi làm, ở nhà nhưng pháp luật vẫn xác định lao động trong gia đình là lao động có thu nhập. Căn nhà mới đó có trong thời kỳ hôn nhân, nếu bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của bạn và bạn có các giấy tờ chứng minh thì căn nhà đó thuộc sở hữu riêng của bạn. Trường hợp bạn không chứng minh được căn nhà đó bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì căn nhà đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn và khi ly hôn thì sẽ chia theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Nếu căn nhà mới mua là tài sản chung, thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: hoàn cảnh của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, bảo vệ lợi ích chính đáng cảu mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề nghiệp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.Bạn muốn căn nhà chưa sổ đỏ là tài sản riêng của bạn thì bạn cần chứng minh bạn mua căn nhà đó thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Bạn có thể chứng minh nguồn gốc số tiền để mua nhà là tiền riêng của bạn hoặc do được tặng cho riêng. Ví dụ như bạn có thể thỏa thuận với cha mẹ mình lập một hợp đồng tặng cho tiền để mua nhà. Số tiền mua nhà chính là tiền mà bạn đã được tặng, cho. Khi đó căn nhà mới sẽ là tài sản riêng của bạn, và sẽ không chia khi ly hôn.Luật sư Kiên.

HÃYLIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỖ TRUNG KIÊN VÀ CỘNG SỰ

ĐỊA CHỈ : Nhà A6B , Khu đô thị Nam Trung Yên ,Cầu Giấy , Hà Nội.

HOTLINE : 096.272.1155 - 1900.2189

EMAIL: dotrungkienls@gmail.com /trungtamvicca@gmail.com

Tư vấn 24/7 qua Skype : dotrungkienls



webtretho
06:43 CH 12/07/2016
Thủ tục kết hôn giữa hai công dân việt nam tại...
Chào luật sư, em và chồng li thân 11 tháng rồi, cưới đúng một tháng. Giờ em đang nuôi con nhỏ 3 tháng tuổi. Nhà họ đang làm khó em. Vì lúc e về bên ngoại không mang giấy tờ gì về. Vậy luật sư có cách nào để e li hôn nhanh nhất không.
Chào bạn,
Với trường hợp của bạn Văn phòng Luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự tư vấn với bạn như sau:
1, Ly hôn.


Vợ chồng chị có thể thỏa thuận ly hôn. Trường hợp này là thuận tình ly hôn căn cứ theo Điều 55 Luật hôn nhân gia đình 2014. Nếu anh chị có thể cùng nhau thỏa thuận được mọi vấn đề về ly hôn: Chia tài sản, trông nom, chăm sóc giáo dục con thì Tòa án sẽ công nhận thuận tình ly hôn.
Hoặc chị có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong trường hợp này là ly hôn theo yêu cầu của một bên. Theo căn cứ tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 “ vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Tòa án sẽ giải quyết ly hôn khi có căn cứ tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014. Trường hợp Tòa án xác định hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án sẽ cho giải quyết ly hôn.

2,Hồ sơ chị cần nộp.
– Đơn xin ly hôn theo mẫu
– Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
– Bản sao Chứng minh thư nhân dân , sổ hộ khẩu của vợ chồng
– Bản sao giấy khai sinh của các con.
– Giấy tờ chứng minh tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.
Trường hợp bên nhà chồng giữ giấy chứng nhận đăng kí kết hôn và giấy khai sinh, chị có thể yêu cầu gia đình nhà chồng cung cấp các giấy tờ trên.
Trường hợp gia đình nhà chồng không cung cấp các giấy tờ thì chị có thể:
Cách 1:


Trường hợp ko có sổ hộ khẩu thì làm đơn xin ra Ủy ban nhân dân xã xin xác nhận thường trú, tạm trú của vợ chồng.
Không có Giấy khai sinh của con thì lên Ủy ban nhân dân xã nơi đăng kí khai sinh, xin bản sao
Không có Giấy đăng kí kết hôn bản chính lên Ủy ban nhân dân xã nơi đăng kí kết hôn, xin bản sao từ sổ gốc

Cách 2: Chị vẫn có thể làm đơn xin ly hôn nộp lên Tòa án, yêu cầu tòa án hỗ trợ trong việc yêu cầu nhà chồng cung cấp các giấy tờ trên .
Luật sư Kiên.
HÃYLIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN MIỄN PHÍ.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỖ TRUNG KIÊN VÀ CỘNG SỰ
ĐỊA CHỈ : Nhà A6B , Khu đô thị Nam Trung Yên ,Cầu Giấy , Hà Nội.
HOTLINE : 096.272.1155 - 1900.2189
EMAIL:
dotrungkienls@gmail.com /trungtamvicca@gmail.com
Tư vấn 24/7 qua Skype : dotrungkienls


webtretho
06:36 CH 12/07/2016
Tìm bạn gái
Xin kết bạn :)
05:57 CH 12/07/2016
h
Hangbanhbao201094
Hóng
276Điểm·2Bài viết
Báo cáo