Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Nhà sư bị tố nhiều lần hiếp nữ phật tử 13 tuổi
Bạn này cuồng Phật nhỉ, chuyện hủ hóa nó rành rành thế, nên sư bị đưa ra làm trò cười thiên hạ là phải. Có gì mà phản ứng như bị dẫm đuôi thế.
Tôi hơn 30 rồi mà nói thật chưa gặp trực tiếp Bác Sư nào giống người tu hành cả. Tôi ở TP, ko biết ở quê thế nào. Sư tôi gặp (trụ trì, sư trẻ sư già đủ cả, chùa to chùa nhỏ đủ cả-vì tôi hay theo ông anh chuyên làm một số chuyện cho chùa) tuyền một lũ tham, sân si. Gặp lúc nào cũng khoe thầy mới sắm con xe, cái đt, cái kính gọng vàng, cái máy ảnh xịn, cái ống kính xịn. Sư toàn chửi sau lưng nhau, nói xấu nhau đủ cả. Thịt chó thì cũng gặp vài vụ rồi, còn trai gái, đồng tính thì ko ít nhé. Cả sư nữ chứ ko phải toàn sư nam nhé. Rất nhiều trong đó khoe tự hào mình là Đảng viên nữa. Sư gì bọn ấy, được cái lắm tiền, thuê mình thì mình làm việc.

Chỉ bạn nơi toàn Thầy chân tu nhé : mỗi ngày chỉ ăn 2 bữa, ko ăn quá 12h trưa, ko giữ 1 xu, ko sài điện thoại, uy nghi giữ 365 giới - ở Tịnh Thất Tây Thiên, Tam Đảo
05:42 CH 10/03/2014
Lợi và hại của việc ngoại tình
Confused1212, người đàn ông mà cô đang yêu ko phải là chồng cô, chắc ổn, vậy người vợ anh ta đã chọn cũng k đến nỗi tệ trừ cái chuyện khiến anh ta chán nản. Kiểu người như anh i khi về ở với cô rồi, sẽ lại thấy một điểm gì đó chán. Cứ phải về ở với nhau đã chừng 10 năm rồi phán tiếp.
Cô chẳng đáng cái gót chân của người vợ anh kia đâu hehe tin tôi đi. Ba cái chuyện body, học thức này nọ có gì là hay ho mà đã vội nhận mình là thú vị. Nhiều bộ quần áo, món ăn nhìn thơm tho, sạch sẽ mà ăn vào muốn ói, mặc vài lần muốn bỏ.
Thích thì nhích việc gì phải vật vã nhỉ.
05:03 CH 04/01/2014
Lợi và hại của việc ngoại tình
Hàng xóm nhà tôi có 2 cô chú, mỗi người có 3 còn . họ bỏ gia đình và về ở với nhau.6 đứa trẻ cực kỳ tội nghiệp, 2 người lớn khác đau don. 2 người kia ở với nhau thỏa chí yêu đương, rồi lại cảnh cơm áo gạo tiền, chú vẫn có những người đàn bà khác. Cô thì mắc bệnh ung thư cổ tử cung và mất khi 50 tuổi. Nói thật bệnh tật, rủi ro đầy đường. Lo mà sống cho dang hoàng, tử tế để nếu lỡ có nhắm mắt, xuôi tay mà thanh than. Chẳng may vướng phải lưới tình thì có gì là hay ho hả các anh, các chi đã, đang ngoại tình. Mau tìm cách thoát ra mà vui sống. Đừng nhân danh mình là người ăn vụng mà có ý phán xét bạn đời của nhau là thế nọ thế kia. Nhân vô thập toàn, và rõ ràng mấy nàng, chàng đang ngoại tình kia sao có nhân cách bằng những người vợ, chồng đang đau đơn vì bị phản bội.
04:50 CH 04/01/2014
Ngô Thanh Vân làm giám khảo cho Project Runway...
2 mẹ con mình đều khóc hu hu vì cái áo khoác của Gia Khang bị cắt. Khổ thân bạn thí sinh quá. Cái áo da đó chắc phải đắt tiền lắm. Dã man quá:((
04:29 CH 29/04/2013
Và con tim đã vui trở lại !!!
@ chanvo: cháu không bình luận gì với chú nữa, mỗi con người mỗi bản chất dẫn đến cách suy nghĩ và hành xử khác nhau.
p/s: cháu đang thanh lý chân váy, chú có nhu cầu thì liên hệ, cháu để rẻ cho mấy cái mà mặc. :Laughing:

Mán ơi chắc lập hội hâm mộ Mán quá :Rose::Applause:
Mán cho chú Chanvo5 mắc bệnh tiểu
(bên)
đường đê :Laughing:
07:22 CH 04/02/2011
Và con tim đã vui trở lại !!!
25 năm nữa, bác này 65 em kia 47 đang tuổi hồi xuân :Laughing: tượng tượng ra cảnh bác này chống gậy đi dạo một mình, nhìn về phương trời xa xăm mờ về vợ già và con cũ :Crying:
anyway, chúc mừng bác của thời điểm hiện tại, còn tương lai thì chả dám chúc :p vì chưa biết thế nào kakaka

• Trâu kia sao gọi là già?
Cỏ kia sao lại gọi là cỏ non?
Ai mà chẳng thích vợ son.
Cưới về làm má hay con vậy trời?
Vui chi cái thú ở đời.
Già thì uống rượu hay ngồi làm thơ.
Ngủ thì cũng có khi mơ
Sáng mà không tỉnh con đưa lên bàn.
Lên trên gặp lại họ hàng.
GẶp ba gặp mẹ lại hoàn trắng tay.
Thôi thì yên phận cho rồi.
Để con cái được yên vui cửa nhà.
p/s : thực sự em thấy bác Chanvo05 thật đáng thương :Laughing: . Dù sao cũng cám ơn topic của bác. Em về nhẹ nhàng hơn, tinh tế hơn với giai nhà không có lại vô tình tạo ra chanvo0....
06:18 CH 04/02/2011
Sự trả thù khủng khiếp của rắn độc khổng lồ ở An...
Cặp Rắn Tu Ở Chùa Trà Am (Huế)
Lý Trường Trân Trích: Tuyển Tập Nhớ Huế 2000
( Lỡ rồi post tiếp luôn :) )
Năm 1940 là năm mà Việt Nam và toàn cõi Đông dương bắt đầu nếm mùi khối lửa cuộc chiến tranh Mỹ Nhật tại Thái Bình Dương lan rộng, và năm ấy tôi đang học tại trường Khải Định Huế. Con nhà nghèo xứ Quảng ra chốn Thần kinh để học một trường lớn có danh tiếng là một may mắn nhất của thời ấy. Ðược vậy là nhờ sự cố gắng vượt mực của bản thân, và nhờ sự giúp đở của một người anh bà con về mặt tài chánh. Ông này thỉnh thoảng từ Quảng Nam ra Huế để thăm viếng một người bà con đang xuất gia và đang tu tập tại Chùa Trà Am Huế.
Chùa Trà Am sau đổi tên Mật Sơn Tự, là một ngôi chùa nhỏ, nằm sau lưng núi Ngự Bình. Muốn đến chùa phải đi theo con đường đất đỏ, chạy sau lưng núi từ phía An Cựu, rẽ qua trái, băng qua một dòng suối, đi ngang trước nghĩa trang của gia đình họ Nguyễn Khoa, nép theo các hàng tre xanh dẫn đến cổng chùa. Ngôi chùa này cũng như bao ngôi chùa ở Huế, có vườn mít, chuối, chè xanh, có một hàng trúc cao bao bọc. Chùa này thuộc loại chùa nghèo, vách xây, mái lợp ngói âm dương, sân chùa lát gạch, bên trong chánh điện lát xi măng, cách xa phía sau chùa khoảng 100 m, có ba ngôi tháp mộ của các vị trụ trì đã viên tịch. Mỗi lần anh tôi ra thăm người bà con tại chùa là mỗi lần tôi tháp tùng anh tôi để viếng chùa, lễ Phật, và nếu gặp dịp nghĩ lễ vài ngày, thì tôi ở lại chùa với anh tôi trước khi trở về đất Quảng.
Điểm sâu đậm đặc biệt ám ảnh mãi trong tôi, mỗi khi nhớ Huế là nhớ đến cặp rắn tu ở chùa này. Trong chuyến viếng chùa lần đầu tiên, khi sương chiều buông xuống sau sườn núi Ngự Bình và sau khi tiếng chuông công phu chiều vừa chấm dứt thì người bà con của anh tôi cho biết là trong chùa này có cặp rắn khổng lồ dưới đất của các ngôi tháp, vào đợt công phu lúc 3 giờ sáng thường hay bò vào chánh điện để nghe kinh, và xong thời kinh thì bò lại về hang xuống tháp. Theo lời của người ấy cho biết thì cặp rắn này ở chùa này đã lâu, rất hiền, không nguy hiểm, không đáng sợ, vì trong mấy năm tu ở đây, ông ta chưa bao giờ thấy hay nghe nói cặp mãng xà này làm hại ai cả, mặc dù ngoại hình dễ làm cho người nào gặp lần đầu cũng phải khiếp đảm vì sự to lớn của thân hình bởi những khoang rằn ri màu vàng và đen sọc trên các vảy dầy sắp lớp trên mình. Chúng tôi đang nghe kể lại về chuyện cặp rắn tu thì Thượng tọa Viện chủ chùa bước đến. Với nụ cười hồn nhiên và đôn hậu của một vị chân tu, ông ta nói thêm rằng đừng sợ sệt hay lo lắng chi cả, những lúc đầu chưa quen thì cứ ngồi yên trên giường, rút chân lên, để xem cặp rắn bò vào nghe kinh. Với sự ngạc nhiên pha lẫn niềm lo sợ, tôi đánh bạo hỏi T.T Viện chủ sao không đuổi cặp rắn ấy vào núi, mà để gần chùa như vậy, có thể làm hại đến tánh mạng các vị tu hành, hay các Phật tử hành hương. T.T trả lời rằng:"Chùa chiền là nơi thanh tịnh để chúng sinh tìm đến tu tập, nay chúng sinh đã đến đây tu hành nghe kinh thính pháp, mà đuổi họ (chỉ cặp rắn) đi thì không hợp đạo lý, hơn nữa họ không làm gì hại đến ai cả, vả chăng muốn đuổi họ đi, thì không ai có đủ sức đuổi họ, hãy chờ thời công phu sáng thì quí vị sẽ thấy họ và chứng kiến sự hiền hòa của họ.”
Nghe T.T Viện chủ giải thích như trên, chúng tôi cũng tạm yên tâm song chưa hết thắc mắc, nằm trên giường nghĩ miên man, mà ngũ hồi nào không hay, đến khi nghe các tiếng chuông của đại hồng chung ngân vang, chúng tôi mới thức giấc, bèn ngồi xồm dậy, xem đồng hồ thì đã 3g30 sáng, và buổi công phu sáng bắt đầu. Tiếng chuông đại hồng kèm theo tiếng niệm danh hiệu các vị phật của chú tiểu sa di vừa chấm dứt, các đèn dầu và nến được thấp sáng thì T.T Viên chủ, đắp y hậu chỉnh tề, bước lên chính điện để niệm hương thỉnh Phật. Xong phần này, T.T ngồi trên tọa cụ, một tay chuông, một tay mỏ bắt đầu tụng kinh. Độ 5 phút sau, khi chúng tôi còn ngồi xổm trên giường tre, thì bỗng nghe những tiếng đập bạch bạch dưới nền chánh điện, và qua ánh đèn dầu và đèn nến, chúng tôi thấy rỏ ràng một con rắn to, dài độ 1m50, thân hình tròn, óng ánh xanh như một ống tre luồng cở bằng trái chân người, trên đầu có một cái mồng đỏ như mồng gà trống, nhưng mồng không đứng thẳng, mà lại ngã sang một bên, giống như đội mũ ca-lô trên đầu. Tiếng đập bạch bạch dưới đất là do cái đuôi rắn đập xuống nền, khi di chuyển, vì hình như có phần cuối của đuôi bị cụt. Tiếp theo sau là một con rắn khác thân hình đen nhánh, vẻ từng khoang, dài độ 2m50 nhưng cái mồng đỏ trên đầu thì nhỏ hơn và đứng thẳng đang bò vào, nhẹ nhàng, ít tiếng động hơn. Bò qua cửa xong, thì hai con chia làm 2 hướng, bò thẳng về phía bàn thờ, leo lên bàn thờ, và quấn tròn mỗi con một bên, gác đầu lên mình, nằm nghe kinh. Đứng xa ngó vào bàn thờ, người ta có cảm tưởng như hai chồng vỏ xe hơi, sắp lên nhau thấy mà lạnh gáy.
Sau này khi hỏi tại sao một cặp rắn mà con ngắn con dài, 2 mồng trên đầu lại khác nhau, thì người bà con tu trong chùa, giải thích rất trịnh trọng, bằng cách gọi 2 con rắn ấy là "ông dài" và "ông cụt". Ông cụt là con rắn đực, có mồng lớn, ông dài là con cái có mồng ngắn. Cánh đây mấy năm, cặp rắn này có thân hình bằng nhau, sau vắng bóng một thời gian mấy tháng, khi trở về lại đây, thì con rắn đực bị cụt đuôi, có lẽ qua một cuộc hành trình nguy hiểm trong rừng sâu, hay sau một cuộc chiến đấu sinh tử với một con thú khác trong rừng, nên bị trọng thương, mình mẩy bị đầy thương tích, phải dưỡng thương trong hang dưới tháp mộ mấy tháng. Và trong lúc ấy chỉ có con cái vào chánh điện nghe kinh mà thôi, mỗi buổi sáng. Ông ta cho biết thêm, ban đêm vào khoảng khuya, lúc 12 giờ đến 1 giờ sáng, trong chùa nghe những tiếng gáy của gà tre, thì đó là tiếng gáy của ông cụt, nhất là trong những đêm trăng sáng, con ông dài thì không bao giờ nghe gáy cả.
Buổi kinh mai tụng vừa xong, chuông được một hồi, mõ chấm dứt, trong khi T.T Viện chủ quỳ lạy để rút lui, thì cặp rắn từ từ bò xuống, và trườn ra khỏi cửa như khi mới vào, và tiếng động của ông cụt mỗi lúc xa lần, về hướng các tháp mộ. Trong tuần trà buổi sáng, khi gặp lại Thượng tọa Viện chủ, ngài mỉm cười hỏi chúng tôi đã thấy cặp rắn ấy chưa, và giảng thêm: “Trong các kinh Phật, quí vị thường nghe nói đến 4 chữ Thiên Long Bát Bộ. Là 8 loại chúng sanh nguyện phát tâm bảo vệ chánh pháp, hộ trì Tam Bảo, mà rắn là một bộ môn trong bát bộ, vì họ cũng biết nghe kinh, thính pháp, tu tập hành trì, nên tâm linh của họ thăng tiến. Và qua một thời kỳ tu tập lâu dài vài nghìn năm, cũng có thể tiến hóa từ ngoại vật, súc sanh đến quả vị loài người, và từ cõi người lên các cõi chư thiên, hay các vị giác ngộ và thành Phật. Quí vị còn nhớ, ngày trước, khi đức Thích Ca đang tu khổ hạnh, ngồi dưới cội Bồ Đề, trong dãy Tuyết Sơn, có nhiều ngày bị mưa lũ hoành hành các thần rắn đến quấn quanh mình Ngài, dùng 7 đầu xoè ra che cho Phật khỏi bị ướt, cũng như trong các chuyện Tàu, các mỹ nữ Thanh Xà, Bạch Xà cũng là các con rắn tu lâu năm, Đắt Kỷ hay Nguyệt Cô đều do những con hồ ly tu lâu năm thành người v.v…” Được hỏi về các lối sống của cặp rắn tu, thì T.T Viện chủ cho biết họ không ăn thịt, chỉ ăn bó hoa tàn, cúng thải ra, các vỏ bầu bì, dưa, mướp đặt dưới chân các tháp mộ.
Từ ấy đến nay, sau khi người bà con chuyển tu đến một chùa khác, chúng tôi không có dịp trở lại chùa Trà Am nữa, cho đến 30 năm sau, có dịp đến chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài gòn, để vấn an Hòa thượng Trí Thủ vì lúc trước HT có một thời gian tu tại chùa Trà Am, khi nhắc đến cặp rắn tu ở chùa này, thì HT cho biết là sau ngày rằm tháng 7 năm 1945, trong mùa thu, người trong chùa không còn thấy cặp rắn vào nghe kinh ở chùa Trà Am nữa.
Về các cặp rắn tu, tôi có duyên hội kiến với T.T Thiền Tâm tu ở ngôi chùa sau lương Vĩnh Minh Thiền Viện ở xã Đại Ninh, thuộc huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng, Ngài cho biết có làm lễ quy y cho mấy cặp vợ chồng rắn trong rừng Bảo Lộc, ra quỳ xin ngài quy y dưới dạng hình người, và nhiều cặp rắn khổng lồ đã vào khoanh tròn trên giường trong thiền thất của Ngài, mặc dù Ngài đã khóa cửa rất kỹ, và khi Ngài ngồi thiền, nhiều cặp rắn đã nằm sát sau lưng Ngài. Các đệ tử của ngài kể lại, trong tang lễ của Ngài khi kim quan của Ngài sắp đưa nhập tháp, kim quan được quàn lộ thiên để các đệ tử đến đảnh lễ, thì một cặp rắn, toàn thân màu vàng, có tỏa ánh sang, bò đến trước kim quan ngẩng đầu bái 3 bái, và sau đó biến lẹ vào rừng cây xanh ngắt.
Trong đời tôi, thấy rắn và nghe chuyện rắn cũng nhiều như hang rắn tu ở trong núi Sập trong dãy Thất Sơn, con rắn khổng lồ Buông Ay Riên, giữa huyện Cống Sơn giáp ranh tỉnh Phú Yên và Darlac ở Rừng Lào về, nhưng không có hình ảnh nào khiếp đảm và sống động bằng cặp rắn tu ở Chùa Trà Am, mà đã 50 năm qua, hình ảnh cặp rắn ấy không bao giờ phai lợt, và câu nói nhẹ nhàng của T.T Viện chủ Chùa Trà Am vẫn còn văng vẳng bên tai: “ Phật dạy: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, 4 loài bò, bay, máy, cựa đều có Phật tánh cả, nếu biết tu hành, không chóng thì chầy, đều sẽ đạt Phật tánh ấy ?”
05:34 CH 05/11/2010
Sự trả thù khủng khiếp của rắn độc khổng lồ ở An...
Mình có một chuyện kể về rắn :
Link :
http://thuvienphathoc.blogspot.com/2008/10/ht-thch-thin-tm-sng-gia-loi-rn.html
HT Thích Thiền Tâm sống giữa loài rắn
Tại miền Nam Việt Nam, từ 1968 tới 1992, có Hoà Thượng Thích Thiền Tâm, ẩn tu trong núi rừng tỉnh Lâm Đồng, cũng đã "qui y" cho hàng ngàn rắn độc. Loại rắn vùng này mình có xọc vàng, kêu là kim xà, và vị cao tăng được tôn là Vô Nhất Đại Sư, Kim Xà Thánh Giả.
Ba ngày sau, trong lễ khai mộ của ngài, mọi người hiện diện đều trông thấy một đôi kim xà màu vàng rực rỡ dài khoảng hai thước tây bò đến trước đầu mộ của Đại Sư, nằm im một chốc, đoạn cất đầu ngó lên ni sư trưởng tử Thanh Nguyệt, gật đầu ba lượt. Các hình ảnh về đôi Kim Xà này đều đã được ghi nhận đầy đủ bằng hình chụp và video. . .
"Hương Quang tịnh thất" là nơi của cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm ẩn tu không nằm sát ngoài quốc lộ như đa số nhà của các người kinh khác trong thôn mà lại là nằm sâu bên trong, sát với khu vực của người Thượng %97 cho nên muốn vào đến chỗ trụ xứ của ngài thì phải đi bộ một khoảng đường rất xa mất gần cả giờ đồng hồ mới tới. ---> chỗ này bác TRiết và rất nhiều vị lãnh đạo đã vào đấy :Donttella:
Có đôi lúc sau khi làm vườn xong, đến khi trở vào thất thì thấy rắn nó quấn đuôi trên ngạch cửa, thòng mình xuống, hả miệng, le lưỡi thở khè khè. Ban đầu thì ngài cũng có ý sợ, chần chờ không dám bước qua, nhưng rồi nghĩ không lẽ đứng ở ngoài sân hoài, hay là dùng cây đập đuổi thì gây thù oán khó lòng. Thôi thì cứ niệm Phật mà bước ngang qua đại, rủi có bị nó cắn chết thì mình cũng quy Tây, càng tốt chớ sao! Rồi ngài nhiếp tâm niệm Phật và nghĩ đến phép "từ bi quán" đoạn nhắm mắt, đi ngang qua cửa. Con rắn "đánh đu" mình qua bên này, bên kia chạm vào mặt, vào cổ lạnh ngắt mà ngài vẫn cứ làm tỉnh bước đi. Đến khi vào trong thất xong rồi mới mở mắt nhìn lại thì nó cũng vừa buông mình ra, rớt xuống đất nghe một cái đụi rồi bò ra ngoài rừng đi mất.
Lại có lần khác, sáng sớm thức dậy (để sửa soạn vào khóa lễ)... Vừa bước chân xuống "đơn" (tức là cái đi-văng nhỏ, bề ngang khoảng 8 tấc, bề dài khoảng 2 thước rưỡi của người tu) thì ngài có cảm giác như là đạp trúng phải vật gì tròn tròn và mềm mềm. Ngó xuống, té ra đó là một con rắn hổ đen thui, to bằng bắp chân đang nằm khoanh một đống ở dưới chân giường!
Ngài nghĩ:
- Cha chả, mình đạp trúng nó một cái mạnh như vậy, chắc nó cắn mình quá.
Liền niệm A Di Đà Phật năm bảy câu rồi đứng chết trân tại chỗ chớ không dám nhúc nhích. Còn con rắn kia dù bị ngài đạp trúng mà nó cũng không có phản ứng gì hung hăng hết, y ta từ từ cất đầu lên, nhìn ngài một hồi rồi le cái lưỡi đỏ lòm ra khè khè mấy cái đoạn nằm im trở lại.
Lúc đó ngài mới dám bước đi, vừa mở cửa ra vừa niệm Phật mà bảo với y ta rằng:
- Thôi sáng rồi, đạo hữu cũng nên về đi để cho thầy còn niệm Phật nữa.
Tưởng đâu nói khơi khơi vậy rồi thôi, không dè y ta dường như biết nghe nên y mới từ từ bung mình ra dài cả mấy thước, chầm chậm bò đến cửa một cách êm ái hòa bình, rồi ra ngoài rừng mất dạng.
Thêm một lần khác, đêm đó ngài niệm Phật và trì chú Đại bi đến khuya mới xong, vừa bước chân xuống cầu thang thì đạp phải lên một đống gì đó đen thui, to tướng, ngài biết chắc là rắn (quen với mấy người quá xá rồi!) nhưng cũng làm tỉnh niệm A Di Đà Phật một hồi, đoạn bước đến bàn viết, vặn đèn lên cho tỏ để xem thì thấy một con rắn quá to (không biết làm sao mà nó lọt vào nhà được trong khi cửa nẻo đã đóng kín rồi - sau này mới biết chúng nó là các loại rắn thần) đang cuộn tròn một đống bên cạnh đôi dép của mình. Nó nhìn ngài, ngài nhìn nó. Hai bên làm thinh ngó nhau một chặp, ngài vừa niệm Phật vừa hỏi y ta rằng:
- Phải đạo hữu vào đây để nghe kinh, nghe niệm Phật không? Nếu phải vậy thì gật đầu ba cái cho thầy biết đi.
Rắn ta liền gật đầu 3 cái. Cố hòa thượng biết rằng đây là loại rắn linh cũng ưa tu niệm chớ không có ý gì muốn làm hại mình. Cũng như các lần trước, ngài mở cửa ra bảo thôi đạo hữu hãy về đi... và y ta nhìn ngài với ánh mắt hiền lành rồi từ từ bò ra ngoài đi mất.
Từ đó trở đi, mỗi lần làm vườn hay tình cờ gặp phải các "người bạn dài thoòng, thấy dễ sợ" này thì ngài niệm Phật cho nó nghe một hồi, rồi mạnh đường ai nấy đi, việc ai nấy làm chớ không có xảy ra chuyện gì khác lạ cả.
Biết vùng này có nhiều loại rắn linh mến mộ tu hành như vậy nên ngài mới làm pháp "Du già thí thực", hồi hướng công đức tu niệm của mình để bố thí đến cho loài rắn và nói rằng (nói khơi khơi một mình nhưng dùng tâm tưởng và tác ý cho loài rắn được nghe):
- Vì khác loài nhau, nên từ nay nếu như quý vị muốn nghe kinh chú và niệm Phật, v.v... để tu theo thì cứ ở ngoài sân chớ đừng có vào trong thất của thầy nữa.
Sau vài lần "truyền lịnh" như thế rồi thì từ đó về sau tuyệt nhiên không còn có một con rắn nào vào trong cốc nữa.
Nơi miền rừng núi cao nguyên này, thường thì có rất nhiều gò mối lớn đặc biệt của miền sơn cước. Chính cái thất mà ngài đang ở (Phương Liên thất) cũng nằm trên một gò mối lớn. Hầu hết gò mối đều là ổ hang của rắn cả, (rắn làm hang trong đó để ăn mối) gò mối càng lớn bao nhiêu thì rắn ở trong đó càng nhiều và càng to bấy nhiêu.
Như vừa lược qua, căn tịnh thất của ngài ở được xây cất trên một gò mối lớn (đã được san bằng) vì vậy nên có nghĩa là trên mặt đất thì cố Hòa Thượng ở, còn dưới mặt đất là rắn ở. Hòa Thượng đã vô tình "sống chung hòa bình" với cả đống rắn độc mà không hay biết chi hết. Sở dĩ các con rắn này nó không làm hại chi đến ngài là vì cứ mỗi tối, khi ngài niệm Phật, trì chú, hoặc lễ bái, sám hối, tụng kinh v.v... thì các "y ta" nằm im ở dưới nền nhà, hoặc là bò lên mặt đất, rồi ẩn hình nằm tại chỗ để nghe và tu theo. (Đây là lý do vì sao mà khi ngài mới dọn về - như đã có lược qua trong phần trước - là ở dưới chân giường, cầu thang... bỗng nhiên có rắn xuất hiện, con nào con nấy cũng dài đến cả mấy thước, to bằng bắp vế, nằm một đống đen thui trong cốc mà ngài không hiểu vì sao nó lại vào thất được, trong khi ngài đã đóng cửa nẻo kỹ lưỡng hết rồi).
Nhờ tu theo bằng cách "dựa hơi hòa thượng" các "ông dài" này dần dần trở nên linh thông biến hóa được. Do vì thầm cảm cái ơn trọng đại đó, cho nên các "y ta" kính lễ cố Hòa Thượng như bậc cha, thầy, còn các "y ta" thì giữ bổn phận của con, cháu hay đệ tử - Vì thế nên từ đó về sau các loài rắn này trở nên hiền hòa - chẳng những nó không làm cho ngài bực bội hay gây thương tổn chi, mà trái lại còn âm thầm theo bảo vệ cho "Sư Phụ" nữa.
Sau đây là một vài chuyện liên hệ mà khi còn sanh tiền, cố Hòa Thượng đã tự thân kể lại cho ni sư Thanh Nguyệt và cháu là Đ.Đ. bổn sư Thích Hải Quang nghe:
Có lần, cố Hòa Thượng đang ngồi làm cỏ tranh và xới đất bên cạnh một gò mối lớn ở phía sau thất (Phương Liên) của ngài - lúc ngài quơ tay ra sau lưng để cầm cuốc thì ngài lấy làm lạ mà nói trong bụng rằng: Ủa, sao bữa nay cái cán cuốc có vẻ là lạ và bự quá vậy? Ngài quay đầu ngó lại thì té ra là mình đang nắm nhằm cần cổ của một con rắn to bằng bắp chân người lớn, màu đen có sọc vàng.Rắn ta vì bị nắm cổ nên hả miệng, le lưỡi ra khè khè năm sáu tiếng làm cho ngài hết hồn vội vã buông tay ra và bước lùi lại phía sau, niệm Phật cả mấy chục câu mới định thần được. Xong rồi ngài đứng ngó y ta một lúc và nói rằng:
- Ủa nhà ngươi ở đâu mà ra đây, nằm sau lưng ta hồi nào vậy? Thôi hãy đi đi.
Ngài lấy tay xua, khởi ý đuổi đi. Rắn ta cũng ngó ngài một hồi, gật đầu mấy cái (giống như xin lỗi) rồi bò ra phía sau gò mối. Ngài đứng ngó theo xem nó bò đi đâu cho biết nhưng chờ hoài mà vẫn không thấy tăm hơi gì hết, mới nghĩ: Ủa, bộ nó còn nằm gần đây sao mà không thấy bò đi đâu hết vậy kìa? Ngài đi vòng quanh gò mối, tìm kiếm mấy lần mà cũng không thấy y ta đâu hết.
Khuya lại, sau thời khóa trì niệm (gần 4 giờ sáng) ngài đang ngồi trên ghế bên cạnh bàn viết nghỉ mệt, định bụng chút nữa sẽ pha cà phê uống thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa. Ngài lấy làm lạ, trong bụng nghĩ rằng: Ủa, giờ này còn sớm quá mà sao Thượng lại tới gõ cửa vậy kìa? (Bởi vì mỗi buổi sáng mấy người Thượng ưa tới gõ cửa thất của cố Hòa Thượng để hỏi việc làm như là cuốc đất, phát cỏ hoang và lên giồng trồng khoai, sắn v.v...
Ngài mới đứng lên, đi ra mở cửa thì thấy: bên ngoài, trước thất của ngài là hai người Thượng một nam, một nữ, tuổi chừng 50, dung mạo rất đơn sơ, mặt mũi sần sùi, da dẻ đen đúa, cả hai đều mặc quần áo màu chàm trông cũng rất sơ sài, đầu hơi nhọn, đi chơn đất (không có dép, giày gì hết), bàn tay nhám nhúa giống như có vảy, đang chắp tay, cúi đầu chào ngài, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Ngài nghĩ bụng: Ủa, hai người Thượng này ở đâu đến mà thấy lạ mặt, mình ở đây cũng đã lâu rồi mà chưa quen với hai vợ chồng này. Ngài hỏi:
- Phải hai vị đến xin việc làm hôn?
Hai người ấy đáp:
- Mô phật, kính bạch Hòa Thượng không.
- Ủa, vậy chớ có chuyện gì cần không mà gọi cửa tôi sớm quá vậy?
Người đàn ông đáp:
- Bạch Hòa Thượng, hai vợ chồng con đến đây để xin lỗi Hòa Thượng về chuyện đáng tiếc ban trưa, có đứa cháu nội đã làm cho ngài giật mình. Xin Hòa Thượng từ bi tha lỗi và cho vợ chồng con sám hối.
Cố Hòa Thượng lấy làm kỳ, nên ngài mới hỏi:
- Cháu nội của hai vị hả, hồi nào, nó bao nhiêu tuổi? Tôi nhớ suốt cả ngày hôm qua có gặp đứa cháu nào đâu!
Người đàn bà đáp:
- Kính bạch Hòa Thượng, cháu trai của con là đứa bé hôm qua mặc áo quần đen có sọc vàng nằm hầu phía sau lưng của ngài lúc ngài làm vườn đó.
Ngài mới hỏi (mà trong bụng cũng chưa nhớ rõ ra là ai, bởi vì đâu có đứa nhỏ nào mặc áo quần đen, sọc vàng theo hầu sau lưng mình suốt ngày hôm qua đâu):
- Vậy hả, cháu bé bao nhiêu tuổi?
Người đàn bà đáp:
- Kính bạch Hòa Thượng, cháu được 95 tuổi!!!
Cố Hòa Thượng của chúng ta giật mình, sảng sốt hỏi tiếp:
- Ủa, cháu nội mà được 95 tuổi thì hai vị đây bao nhiêu tuổi?
Người đàn ông đáp:
- Dạ con được 842 tuổi và vợ của con 760 tuổi!
Đến đây thì Hòa Thượng đã biết rõ họ là ai rồi, nên ngài mới hỏi tiếp:
- Hai vị ở đâu tới đây?
Người đàn ông thưa:
- Bạch Hòa Thượng, chúng con ở Huỳnh Xà Thôn nằm về phía Đông của thôn Phú An này cách nơi đây khoảng 9 cây số, gia đình con có khoảng một ngàn người...
Vừa nói tới đây thì người đàn bà nắm lấy tay của ông chồng dặt dặt mấy cái như ra hiệu đừng nên nói nữa (chắc sợ bị lộ tông tích) làm cho người chồng mới nói đến câu: khoảng một ngàn người... thì làm thinh luôn.
Cố Hòa Thượng gật đầu nói:
- Thôi hai vị yên lòng về đi, không sao đâu.
Nghe ngài bảo như vậy thì hai vợ chồng người này đồng chắp tay cúi chào rồi quay lưng đi vòng ra sau thất của ngài. Hòa Thượng mới nom theo xem họ đi đâu và làm thế nào cho biết, thì ngài thấy khi họ ra đến phía sau rồi, cả hai người đồng hóa ra hai luồng ánh sáng màu vàng nhạt lớn bằng cườm tay, bay bổng lên không về hướng Đông đi mất (giống như ông đi, bà xẹt vậy).
Do đó nên ngài biết rằng: Đứa bé 95 tuổi mặc áo đen, sọc vàng là con rắn đen có vằn vàng ngày hôm qua đã làm cho mình hết hồn! Hai vợ chồng này là rắn chúa (chúa động). Hang ổ chánh của họ nằm về hướng Đông của ấp Phú An, cách đây 9 cây số có tên là "Huỳnh Xà Động" (động rắn vàng).
Chắc có lẽ họ mới biết biến hình nên dung mạo còn thô sơ chớ chưa đẹp người. Và hơn nữa chắc mỗi đêm họ ít nhiều gì đó cũng có đến đây nghe kinh và tu theo mình nên mới có vẻ kính trọng mình và biết chắp tay niệm Phật như vậy...
. . .
Tiếp theo đây, Bảo Đăng tôi xin kể hầu cho quý vị nghe thêm một vài chuyện nữa có liên quan đến hai vị "Kim Xà Vương" này và "Kim Xà Thánh Giả", Vô Nhất Đại Sư của chúng ta:
Nguyên gần 10 năm về trước, lúc cố Hòa Thượng còn nhập thất ở Bến Tre, ngài có quen với một vị tu sĩ tên là "Ông sư Mỏ Cày". Sở dĩ gọi là ông sư Mõ Cày vì vị này tuy có hình tướng một nhà sư Phật giáo, nhưng thật ra là một người đạo sĩ tu tiên luyện điển theo phương pháp xuất hồn, địa danh (tên của vùng đất) nơi ông sư này ở tu tên Mõ Cày, không ai biết được tên thật của ổng là chi hết. Ông sư này rất kính quý cố Hòa Thượng qua phong cách và đạo hạnh của ngài, nên thỉnh thoảng cũng có đến viếng thăm. Hòa Thượng cũng có chỉ dẫn thêm cho sư một vài pháp tu bổ túc, vì vậy mà sư có một sự mang ơn ở nơi cố Hòa Thượng.
Lúc ngài về Sàigòn và làm Đốc giáo ở Phật Học Viện Huệ Nghiêm rồi thì sư cũng có đến thăm một lần, đến khi cố Hòa Thượng lìa Huệ Nghiêm để ẩn tu thì hai đàng biệt nhau. Mãi đến mấy năm sau, sư mới tìm được lên Đại Ninh (trước sau hai lần) để thăm cố Hòa Thượng - và rồi sư qua đời vào mấy năm sau đó.
Lần đầu tiên sư lên thăm cố Hòa Thượng vào năm 1970 (lúc đó thì ngài không còn ở Hương Quang thất nữa, mà đã dời về thất mới là Phương Liên tịnh xứ rồi) và được Hòa Thượng cho phép ở lại thất của ngài vài ba hôm để đàm đạo giáo lý và tu tập (Sư thọ giáo mật tông từ nơi cố Hòa Thượng).
Qua đêm đầu tiên, sáng lại sư có thưa với cố Hòa Thượng rằng thất của ngài đang ở tu nằm trên miệng hang của một động rắn "Kim Xà" rất lớn và xin Hòa Thượng hãy cẩn thận vì đây là các loại rắn thần con nào con nấy cũng sống trên mấy trăm năm hết...
Cố Hòa Thượng gật đầu, nói với sư là ngài đã biết việc đó từ lâu rồi và cũng có kể lại cho sư nghe về vài ba chuyện của các Kim Xà này.
Qua ngày kế đó, sư nằm ngủ và xuất hồn ra đi "thăm" xà động này, khi thức dậy sư có thưa cùng ngài như sau: Nguyên từ mặt đất của nền thất Phương Liên đi thẳng xuống dưới (lòng đất) sâu 800 thước có một động rắn lớn, trong đó có khoảng 200 "ông dài" đều sống từ hơn 100 cho đến gần 1000 tuổi hết. Động này có đường (hầm) thông qua 3, 4 động khác nữa - Chúa tể của tất cả các động rắn này là một đôi Xà Vương (rắn chúa) màu nửa đen, nửa vàng và đều đã được trên một ngàn tuổi rồi - Cặp Xà Vương này hiện đang ở ngay dưới nền thất của cố Hòa Thượng cùng với các con cháu, mỗi đêm có đều nghe ngài niệm Phật, trì chú và tu theo cho nên biết biến hóa và đồng thờ cố Hòa Thượng làm thầy để nương theo tu tập.
Sư kể tiếp rằng, khi sư xuất hồn ra gặp hai vị Xà Vương động chúa này rồi thì mấy vị đó có nhờ sư về thưa lại với ngài là họ muốn được quy y Tam Bảo cho được sớm thoát khỏi kiếp rắn, họ cũng nói rằng trước kia họ chỉ có sống lâu thôi chớ không biết phương cách tu hành (vì rắn lột da cho nên sống lâu lắm), cứ ban ngày thì ngó mặt trời, ban đêm thì ngó theo trăng, sao (tu theo phép luyện âm dương nhị khí) nên mặc dù sống hơn cả ngàn năm rồi mà vẫn không sao biến hóa được. Từ khi cố Hòa Thượng về ở đây tu, mấy năm trôi qua cũng nhờ nương theo oai lực chú ấn và câu niệm Phật của Hòa Thượng mỗi đêm, cho nên nay đã bắt đầu biến hóa được rồi và thân mình cũng đã đổi từ màu đen ra màu hơi vàng (tức là từ Hắc Xà vương chuyển dần sang Kim Xà vương). Hiện thời thì hai vị đó đang cùng với các quyến thuộc đều ẩn hình ở tại đây để tu và ngầm bảo vệ cho ngài là bậc đại sư của họ.
Hòa Thượng gật đầu và nhờ sư xuất hồn ra chuyển lời lại cho các vị Xà Thần này biết là hôm sau Hòa Thượng sẽ truyền phép Tam Quy (Quy Y Phật, Pháp, Tăng - Tam Bảo) để cho họ được dự vào hàng Phật Tử.
Hôm sau, Hòa Thượng đắp y, hậu ngồi trên pháp tòa bày sẵn giữa tịnh thất, trì chú và bắt ấn triệu thỉnh, chỉ đích danh 2 vị Xà Vương chúa động Huỳnh Xà thôn (với sự hiện diện của Sư Mõ Cày) gọi về...
Liền sau đó ngài thấy trước mặt mờ ảo ẩn hiện ra hai vị xà thần bò vào và hiện hình ra hai người một nam, một nữ trong lứa tuổi khoảng ngoài 60, cả hai đều mặc áo ngắn màu vàng luốc, quỳ trước mặt chắp tay cúi đầu phụng mạng.
Hòa Thượng mới thuyết Tam Quy cho nghe và kế đó là quy y cho họ cùng các quyến thuộc, đốt chú ấn (mà ngài đã vẽ sẵn trên giấy vàng) để pháp thí cùng rải nước cam lồ xoáy tịnh, chú nguyện cho họ sau khi thoát kiếp rắn đều được sanh thiên, y như Phật Pháp tu hành...
(Kể từ đây ngoài các đệ tử thuộc về nhơn đạo ra, ngài còn có thêm các đệ tử thuộc về thần đạo và súc đạo nữa - việc làm này những tăng ni (lục lục thường tài) chỉ biết tụng kinh niệm Phật, cầu phước qua ngày, không lòng tin, không tu Mật Tông và không có cảm ứng đạo giao với cảnh giới vô hình đều không thể nào hiểu thấu được cả). Ngoài ra cố Hòa Thượng cũng còn có quy y cho chư thần địa phương như thổ thần, sơn thần, thọ thần v.v... Các vị này cũng đều đồng nương theo ngài để tu tập hết...
Đến năm 1974, Sư Mõ Cày có lên thăm cố Hòa Thượng một lần nữa và ở cùng với ngài một tuần lễ - Sư có thưa cùng với cố Hòa Thượng mấy điều sau:
1/- Về tình hình đất nước vào năm tới (1975) sẽ có một sự "đổi đời" rất lớn, vô số người chết... (tức là biến cố tháng 4 năm Ất Mão 1975).
2/- Sư có xuất hồn ra gặp lại các Xà Thần, điều đặc biệt nhất mà sư thưa cùng với cố Hòa Thượng là cặp Xà Vương Động Chúa Huỳnh Xà thôn, mấy năm qua nhờ được quy y Tam Bảo và tu theo phép của ngài truyền cho (đốt nghi thức tu để pháp thí) khi trước nên bây giờ đều được biến hóa linh thông, từ nơi Hắc Xà Vương nay đã chuyển ra thân Kim Xà Vương (Rắn Chúa màu vàng) và thường hay biến thành hình sư tăng mặc áo vàng, mỗi đêm đều có đi kinh hành niệm Phật chung quanh thất của Hòa Thượng hầu hạ và bảo vệ cho ngài trong tất cả mọi hoàn cảnh (để báo đức tôn sư).
Mấy đêm sau, qua sự trung gian của vị sư Mõ Cày, ngài mới cho triệu hai vị Chúa Động này về. Đêm đó, cố Hòa Thượng chiêm bao, thấy như sau:
Bên ngoài có hai vị, một tăng, một ni đều mặc áo vàng đi theo sau sư Mõ Cày vào trong thất quỳ xuống cung kính đảnh lễ. Ngài hỏi là ai và từ đâu đến?
Hai vị ấy thưa là:
- Bạch tôn sư chúng đệ tử là động chúa Huỳnh Xà thôn, nghe lịnh triệu thỉnh nên về phục mạng.
Hòa Thượng truyền cho đứng dậy thì thấy hai vị ấy thân tướng cũng quang minh, thần sắc sáng sủa, nghiêm chỉnh, trên trán mỗi người đều có chữ Vạn màu đỏ, trước ngực mang một xâu chuỗi lóng lánh hào quang.
Ngài hỏi vì sao hai con lại có được các món pháp bửu này?
Hai vị ấy thưa:
- Bạch tôn sư, chữ Vạn này là nhờ nơi quy y Tam Bảo mà có, còn xâu chuỗi này là do công tu tập mà thành - Bất cứ người nào (ý nói là xà thần) ở gần và tu theo tôn sư 3 năm đều cảm hiện ra được cả. Trong hàng quyến thuộc của con hầu hết đều được chuỗi này. Kể từ khi chúng con có 2 món bửu bối này (chữ Vạn là một, xâu chuỗi pháp bảo là hai) thì mỗi khi chúng con đi dạo chơi đến nơi nào cũng đều được chư thần ở địa phương đó kính trọng, nhường đường và gọi chúng con là Phật Tử...
Hòa Thượng gật đầu thuyết pháp cho nghe cùng khuyến nhắc tu hành. Các vị ấy đều lạy tạ ơn và biến mất.
Mấy hôm sau "Sư ông Mỏ Cày" ra về và có thưa với cố Hòa Thượng rằng: Lần này là lần cuối cùng gặp nhau. Sang năm (1975) sư sẽ dời về vùng núi Thất Sơn ẩn tu và sẽ tịch vào năm 1980, không còn có dịp gặp lại ngài được nữa.
*** Còn Hòa Thượng Thiện Tâm thì tịch 18 năm sau.
Ngày mở cửa mả của ngài, hai vị Kim Xà đệ tử này có đến hiện hình ra là hai con rắn màu vàng rực rỡ bò lại trước đầu mộ của ngài một chốc rồi mới bò vào trong đám cỏ tranh và biến mất, tất cả mọi người hiện diện trong buổi lễ hôm đó đều thấy rõ ràng - Bên Việt Nam chỉ trừ có độc nhất một mình ni sư trưởng tử Thanh Nguyệt (và bên Mỹ là Đại Đức Bổn Sư Thích Hải Quang) là biết rõ căn cột của cặp rắn này mà thôi - ngoài ra không một ai hiểu thấu vì sao mà lại có đôi kim xà này xuất hiện đúng vào ngày "mở cửa mả" của cố Hòa Thượng - nên đều có ý nghi ngờ). Đây là chuyện sau. ***
Sau năm 1975, có một vài vị tăng sinh của Phật Học Viện Huệ Nghiêm lên Đại Ninh thăm cố Hòa Thượng và ngụ ở ngoài tu viện Hương Nghiêm. Nửa đêm thức giấc (đi tiểu) ở phía sau (nhà cầu), sáng dậy nói với mấy thầy nơi tu viện rằng:
- Cha chả, ông già của tụi mình tu hành tinh tấn ác ôn!
Mấy thầy Tu Viện hỏi:
- Sao biết là ông già tu hành tinh tấn?
Khách tăng trả lời rằng:
- Hồi hôm này lúc 2 giờ khuya, tôi thức dậy đi tiểu, lúc trở vào, ngó qua bên thất của ông già thấy ổng vẫn còn mặc hậu đi kinh hành ở ngoài lan can trên lầu thất của ổng, nên biết rằng ông già tu hành suốt cả đêm, tụi mình thiệt không bằng.
Thật ra thì người mặc áo vàng đi kinh hàng chung quanh lầu đó không phải là ngài đâu, mà chính là một trong hai vị Kim Xà Vương đệ tử hiện hình tăng tướng đi vòng quanh thất để bảo vệ cho "Sư Phụ" của mình được an lành nghỉ ngơi và tu niệm.
*
05:32 CH 05/11/2010
"Gia đình Linh khó lòng viết đơn xin bãi nại cho...
Thế N có dùng tới pháp sám này không hả bạn???

Bạn nên đọc thêm chuyện về chính đức Phật nhé:
Vị thuyền trưởng Bồ tát
Có câu chuyện khác nữa. Thông thường giết người là ác nghiệp. Thế nhưng, trong một kiếp quá khứ, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã giết một người. Vào kiếp đó, Ngài là vị thuyền trưởng của một chiếc thuyền đang chở năm trăm lái buôn và một người trong số đó có âm mưu giết tất cả những người kia. Biết được việc này, và vì nghĩ rằng nếu xảy ra chuyện, kẻ giết người ắt phải đi vào địa ngục và phải chịu đựng khổ đau trong rất nhiều đại kiếp, vị thuyền trưởng liền cảm thấy quá bi mẫn xót thương ông ta tới mức không chịu nổi. Ngài nghĩ : “Tôi sẽ vào địa ngục chịu thay cho ông ta. Tôi sẽ giết ông ta trước khi ông ta có cơ hội giết người. Cho dù việc giết ông ta sẽ đưa tôi vào địa ngục nhưng tôi vẫn phải làm”. Vì lòng bi mẫn xót thương quá mức, vị thuyền trưởng đã giết người lái buôn đó.
Tuy nhiên, nhờ vào động cơ đại bi này, hành động giết người đã không trở thành nghiệp ác. Thay vì vậy, nó trở nên phương tiện tích luỹ công đức rất đặc biệt và rút ngắn một trăm ngàn đại kiếp ở luân hồi. Kinh điển ở đây nói rất rõ rằng hành động này đã không trở thành nghiệp ác -mặc dù đôi khi việc này bị tranh cãi. Một số người thấy rất khó chấp nhận rằng việc giết người là đạo đức dù được thúc đẩy bởi lòng đại bi. Họ phản bác rằng động cơ là đạo đức nhưng hành động tự nó là phi đạo đức nên vị thuyền trưởng Bồ tát ắt phải chịu một quả bất thiện nào đó vì điều này. Một số tu sĩ đã phản bác như vậy trong luận giảng của Tiểu thừa, nhưng Kinh Đại thừa nói rất rõ rằng hành động của vị thuyền trưởng là không phải nghiệp ác.
Bình luận : Khi biết kẻ ác kia đang chuẩn bị kế hoạch giết người - chứ chưa giết - mà vì mạng sống bao người tự tay thuyền trưởng (thành Phật sau này) đã giết hắn trước để trừ hậu hoạ.

Câu chuyện trên có kết thế này :
"Một thời gian nọ, khi Phật đang ngụ ở Trúc Lâm tịnh xá gần thành Sa duyệt, bỗng đâu một mũi kim thương hiện ra sừng sững trước mặt Ngài. Ngài hiện hình lên không trung, mũi kim thương cũng bay lên theo; Ngài trở xuống tịnh xá; mũi kim thương cũng bay xuống theo. Thấy thế Phật bèn nói với mọi người hiện diện tại đó cùng với Thiên long Bát Bộ rằng:
- Kim thương này là quả báo đời trước của ta. Vậy mọi người hãy an lòng để ta trả quả.
Phật bèn đưa chân mặt ra, kim tương đâm xuống chân Phật, lún xuống đất, rung động cả vũ trụ. Mọi người thấy thế lấy làm ngạc nhiên và xin Phật giải rõ. Phật nói: "trong một tiền kiếp xa xưa, thật là xa ta là một vị Chúa tàu chở 500 người đi buôn, ra biển để tìm báu vật. Bỗng nhiên đang đi ngoài khơi, có một kẻ trong bọn ấy sanh tâm muốn giết hết tất cả để đoạt sản vật, ta liền đâm nó chết. Nay ta phải trả cái quả ấy".
Ý : Có rất nhiều sự tích chứng minh là luật Nhân quả là bất di bất dịch (Sự tích Tỳ kheo ni Bảo Liên Hương cáo đồng thoái hoá; ông lão đắc quả A la hán) và đến như đức Phật - một đấng đại từ đại bi, công đức vô lượng vô biên, một bậc thầy cuả Trời và người mà còn phải trả quả thay! huống hồ là ai!
Có tích sau :
Angulimala xuất gia sau khi đã giết 999 người
Một buổi sáng, Phật đi vào thành Sravasti khất thực. Khất thực xong, ngài tìm nơi ngồi thọ trai một mình ở một mé rừng. Thọ trai xong, ngài đứng dậy đi ra ngoại ô theo một con đường lớn vắng vẻ. Vài người nông dân thấy Phật, vội chạy đến bảo:
- Bạch Thế-tôn, đi đường này hôm nay nguy hiểm lắm. Người ta cho biết tên sát nhơn Angulimala hiện đang có mặt trong vùng này. Hắn là người rất hung bạo, giết người không gớm tay, quan quân đều nể sợ. Mỗi khi giết được ai, hắn cắt ngón tay út của người đó, xỏ thành xâu đeo trên cổ, hiện nay hắn đã có hằng ngàn ngón tay rồi.
Nhiều người đã đến gặp Phật, nói như thế. Nhưng Phật chỉ cám ơn rồi tiếp tục đi. Ðến đoạn đường hoàn toàn không có bóng người, Angulimala trông thấy Phật, liền ẩn mình trong bóng cây bên vệ đường, theo dõi một lúc rồi cầm đao xong ra đường chạy theo. Ban đầu hắn chạy chậm, về sau hắn chạy càng lúc càng nhanh hơn, cho đến khi mồ hôi nhễ nhại mà vẫn không bắt kịp đức Phật, trong lúc hắn thấy đức Phật chỉ bước đi một cách khoan thai. Hắn bực tức hét lớn:
- Ông sa-môn kia, hãy dừng lại!
- Này Angulimala, mặc dù bước đi, Như Lai đã dừng lại. Còn ông, ông đã dừng lại chưa?
- Này sa-môn, ông không nói dối chứ!? Ông nói ông đã dừng lại, sao tôi chạy theo ông nãy giờ mà không bắt kịp?
- Ðúng vậy, Angulimala, Như Lai đã dừng lại từ lâu rồi. Ðã từ lâu Như Lai không còn sát hại hay làm tổn thương bất cứ một sinh mạng nào. Còn ông, ông đã sát hại bao nhiêu mạng người với chứng tích vòng hoa kết bằng những ngón tay trên cổ ông kia. Hai tay ông và cả tâm hồn ông dính đầy máu. Chính ông là người phải dừng lại. Này Angulimala, không thể tìm được hạnh phúc bằng hành động sát hại. Sát hại chỉ gây ra ghê sợ, thù hận và đau khổ. Này Angulimala, chỉ có những hành động ban vui, cứu khổ, hòa nhã với mọi người, tha thứ mọi lỗi lầm của người khác mới đem lại hạnh phúc mà thôi.
Angulimala rất ngạc nhiên. Ðã từ lâu không ai dám đến gần ông ta. Ðã từ lâu không ai dám đứng nhìn ông ta dù từ xa. Thế mà hôm nay vị sa-môn này lại có vẻ oai nghiêm bình tĩnh đứng trước mặt ông ta, nhìn thẳng vào mắt ông ta, dùng lời nói ôn tồn hòa nhã khuyên nhủ ông. Phải rồi, vị này không phải ai khác hơn là sa-môn Gotama mà ông từng nghe tiếng. Angulimala buông đao xuống đất, xụp xuống đảnh lễ dưới chân Phật, rồi vừa khóc vừa nói:
- Bạch Thế Tôn, con là Ahimsaka xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Con rất ân hận đã gặp Thế Tôn quá muộn màng. Con đã gây quá nhiều tội ác, không còn dừng lại được nữa. Con không còn cách nào để chuộc lại những lỗi lầm đã qua. Quan quân và dân chúng sẽ không để cho con yên.
- Này Ahimsaka, biết phục thiện, sám hối sự lỗi lầm, trở về đời sống chơn chánh, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn. Này Ahimsaka, nếu ông gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ, quyết tâm sống đời phạm hạnh, siêng năng tu hành theo chánh pháp thì Như Lai sẽ có cách bảo vệ cho ông.
- Bạch Thế Tôn, con nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm theo Phật để học hạnh từ bi. Con xin Thế Tôn chấp nhận con làm đệ tử.
- Hãy đến đây, tỳ-kheo Ahimsaka, hãy sống đời thánh thiện!
Vừa lúc ấy các đại đức Sariputta, Ananda, Upali, Kimbila và nhiều vị khất sĩ khác xuất hiện. Hay tin Phật đang đi vào vùng đang có hiểm họa Angulimala, các đại đức vội đi tìm Phật. Bây giờ thấy Phật an lành và Angulimala đã quy phục, mọi người đều mừng rỡ. Phật bảo thầy Upali xuống tóc cho Ahimsaka; thầy Ananda trao cho Ahimsaka một cái áo sanghati; thầy Sariputta và Upali truyền dạy vài giới luật và giáo pháp căn bản. Rồi mọi người theo Phật trở về tinh xá Jetavana.
Về đến tinh xá Jetavana, Angulimala kể lại cho Phật nghe cuộc đời của ông ta như sau: Angulimala (Ươn-quật-ma) lúc nhỏ tên là Ahimsaka (Người vô tội). Cha là Gagga, quốc sư của vua Pasenadi xứ Kosala. Mẹ là Mantani. Ông được cha cho đến Taxila (Takshasila) học với một đạo sư danh tiếng. Ahimsaka rất thông minh nên đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Vì thế mà bạn bè sinh lòng ganh tị, bịa chuyện nói xấu ông với thầy. Thầy ông tin lời, lấy làm tức giận, mưu hại Ahimsaka bằng cách truyền lệnh cho ông phải giết một ngàn người và nộp đủ một ngàn ngón tay út của bàn tay phải để ông làm phép truyền dạy cho nhiều môn thần thông đặc biệt. Ahimsaka tưởng thật, vâng lời. Sau khi giết vài người để chặt lấy ngón tay út, ông bị chánh quyền ra lệnh tầm nã, phải vào ở ẩn trong rừng Jalini. Lần hồi ông trở nên một tên sát nhân ghê gớm, võ nghệ cao cường, xuất quỷ nhập thần, đến cả quan quân triều đình đều phải nể sợ. Vua Pasenadi ra lệnh lùng bắt Ahimsaka và treo giải thưởng cho ai bắt được ông, nhưng đến nay chưa ai làm được việc này. Những ngón tay chặt được, ông xỏ xâu như một vòng hoa đeo trên cổ để khỏi bị chim hay thú ăn mất. Do đó người ta gọi ông là Angulimala (Vòng hoa kết bằng những ngón tay). Khi ông đã được 999 ngón tay thì dân chúng quá hoảng sợ không dám ra khỏi nhà, quân lính tuần phòng rất nghiêm nhặt, Angulimala phải vất vả suốt đêm mà không tìm được ngón tay cuối cùng. Ông định bụng lẻn về nhà để chặt ngón tay của mẹ. Nhưng giữa đường thì gặp Phật.
Trong mười hôm liên tiếp, đại đức Ahimsaka được đại đức Upali hướng dẫn về giới luật và đại đức Sariputta chỉ dạy về giáo lý và các phương pháp thiền tọa, thiền hành, khất thực, thọ trai ... Ðại đức Ahimsaka nổ lực học hỏi và thực tập rất tinh tấn. Nửa tháng sau, khi đến thăm Ahimsaka tại am của thầy ở một nơi thanh vắng trong tinh xá Jetavana, đức Phật cũng phải ngạc nhiên về sự tiến bộ của thầy. Ahimsaka đã trở nên một vị khất sĩ trang nghiêm, hiền hòa với lời nói ôn tồn điềm đạm.
Tiếng đồn Angulimala đã xin xuất gia theo Phật đã đến tai vua Pasenadi. Dân chúng và triều thần đều cảm thấy nhẹ nhỏm. Uy tín của đức Phật và giáo đoàn khất sĩ càng vững mạnh. Ðộ một tháng sau ngày Angulimala xuất gia, vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana viếng Phật và hỏi:
- Bạch Thế Tôn, trẫm nghe nói tên sát nhân Angulimala đã xin xuất gia theo ngài, có đúng thế không? Hiện nay hắn ở đâu? Hắn có làm điều gì nhiễu hại đến Thế Tôn không?
- Thưa Ðại vương, quả thật Angulimala đã xuất gia. Hiện nay thầy đang tịnh tu trong một am ở nơi thanh vắng trong tinh xá. Thầy đã quyết chí cải tà quy chánh, sống đời phạm hạnh, tinh tấn tu hành. Như Lai khuyên thầy nên ẩn cư tu tập cho đến cuối mùa an cư này.
- Bạch Thế Tôn, Angulimala là một tên sát nhân vô cùng nguy hiểm, là một mối họa lớn cho mọi người. Thế Tôn nên thận trọng để người coi chừng hắn.
- Ðại vương đừng ngại, thầy Ahimsaka bây giờ đã trở nên một khất sĩ thuần thành, thầy còn có nhiều triển vọng tiến xa hơn nữa.
- Bạch Thế Tôn, nếu được như vậy thì thật là một phước lớn cho dân chúng ở Sravasti, mọi người sẽ hết phập phòng lo sợ, được an ổn làm ăn. Ðiều mà trẫm không thực hiện được bằng binh hùng tướng mạnh, Thế Tôn đã hoàn thành bằng đức từ bi, chẳng những cứu dân chúng khỏi nạn lo sợ chết chóc mà còn độ được tên sát nhân Angulimala vào đường tu hành thánh thiện. Trẫm xin bái phục.
****
@ FoxFamily : Cũng chính vì đã có những biến cố dữ dội với gia đình mình nên mình mới mạo muội nói đến từ Tha Thứ.
02:38 CH 04/11/2010
"Gia đình Linh khó lòng viết đơn xin bãi nại cho...
Em thấy đúng òy!
Các bác đặt mình là Nhà Linh đi, Bác nào nói là sẽ Viết đơn Bãi nại nói em nghe coi!

Mình xin đăng ký sẽ viết đơn bãi nại. Cái được sẽ nhiều hơn cái mất.
Có một tích truyện như thế này :
Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái cưa ngài Tri Huyền mới dặn rằng:
- Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:
- Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì bụm ghẻ kêu lên:
- Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi có đọc.
- Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.
Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.
Khi đó Ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
p/s : Pháp sám này hiện nay vô cùng hữu hiệu trong đạo Phật.
12:05 CH 04/11/2010
Sao cứ toàn mì tôm thế?
Thứ 7 và chủ nhật tuần trước các bạn của mình vừa vào Hà Tĩnh, đến tận nhà 4 cha con anh Thắng mà báo dân trí đưa tin và những nơi chưa có đoàn cứu trợ nào tới. Trong số hàng cứu trợ, mì tôm là lượng hàng ít nhất mà đoàn mình mang theo. Nước vừa rút bên mình tranh thủ đặt mua gạo ngay Hà Tĩnh nên được giá rẻ, mua 5 tấn chia đều ra các bao giá 9200 đ/kg.
Ngoài ra mua tặng bà con áo phao, bạt- cái này quý lắm, các loại thuốc, đặc biệt thuốc lọc nước sạch và tặng tiền mặt tới từng hộ dân.
Các bạn kể có cụ nhận lon sữa bò mà quay đi quay lại cám ơn 2-3 lần, nước mắt thì vòng quanh.
Chăn màn thì tụi mình ra chợ đồng xuân mua loại mới.
514 lọ Phật linh (giá gốc)- Phải là Phật Linh vì chúng ta là Phật tử .
300 lọ Berberin ( trị đi ngoài )
500 vỉ Paracetamol loại 500mg. Trẻ em có thể dùng 1/2 viên (của Nghệ An sản xuất - Định liên lạc với Công ty dược Nghệ An nhưng lại không chủ động thời gian)
Các thuốc hạn dài - Nên bà con có thể dùng khi cần....
- Thuốc thì gồm 5000 viên lọc nước. Mỗi viên lọc 20 lít nước.
- Thuốc Becberin trị đâu bụng đi ngòai 500 hộp .
- Sữa đặc ông Thọ vinamilk 500 hộp
Đôi lời chia sẻ. :)
06:35 CH 30/10/2010
2 người phụ nữ!
@ Bác HNSG, chẳng hiểu sao hôm nay tôi dở người. Đọc bài của bác đến phát bực vì cứ đà này thì
Người này nhiều ông muốn mà không được mà cái thằng có được nó lại coi không ra gì?

Và
Người chồng này nhiều bà muốn mà cũng không có luôn.

Có cơ hội làm hàng xóm thế nào cũng ối trẻ con ngơ ngác hic hic.:cool:
Tôi mời bác nghe bài này mà thương vợ hơn nhé (thay em = anh ah hihi)
05:50 CH 31/08/2010
Vu lan-Một bông hồng tặng mẹ
Mùa Vu Lan báo hiếu.:LoveStruc:
Tặng các bạn những người cài hoa trắng, hoa đỏ :Rose::Rose::Rose:
11:33 SA 25/08/2010
Mùa Thu cho Em...Cảm xúc những ngày Thu sang!
trời mưa sụt sùi mấy hôm nay... Mình ghét trời mưa.

Nghe bài này để bạn đỡ ghét trời mưa nhé. :Smiling:
05:19 CH 24/08/2010
Mùa Thu cho Em...Cảm xúc những ngày Thu sang!
Chúc mừng sinh nhật Lavender87 nhé :Rose::Rose::Rose:
Tuổi trẻ là những khát khao, tuổi trẻ là những đam mê …. :)
Khúc Mùa Thu
Tác giả: Hồng Thanh Quang
Đã biết ta giờ không trẻ nữa
Sao thương ai ở mãi cung Hằng
Lời nguyện cũ trên đầu như nguyệt quế
Chẳng chịu nhoà khi tới giữa mùa trăng
Tôi đã yêu như chết là hạnh phúc

Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc
Có điều chi em mải miết đi tìm?
Tôi đã đến cùng em và tôi biết
Em cũng là như mọi người thôi
Nhưng chưa hết cuộc yêu tôi đã hiểu
Em ám ảnh tôi trọn một kiếp người
Ngay cả nếu âm thầm em hoá đá
Bầu lặng yên cũng đã vỡ rồi
Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp
Khi thanh âm cũng bất lực như lời
Sẽ chỉ còn quầng thu thuở ấy
Nỗi cô đơn vằng vặc giữa trời
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc
Em tìm gì khi thất vọng về tôi?
11:56 SA 20/08/2010
Mùa Thu cho Em...Cảm xúc những ngày Thu sang!
Xa HN mình hay nghe bài này.
Hồi sinh viên mỗi độ thu về đi học thế nào cũng cố tình đi qua đoạn tràng tiền để đèn xanh đèn đỏ tranh thủ ngắm mặt hồ gươm mùa thu. Mặt hồ sóng gợn lăn tăn, màu xanh thì lạ , liễu rủ thướt tha :)
06:01 CH 19/08/2010
Mùa Thu cho Em...Cảm xúc những ngày Thu sang!
Tặng chủ Top - tặng cả cho tôi cho Female :)
05:04 CH 19/08/2010
Nguyễn Đức Nghĩa kháng cáo toàn bộ bản án
Mình nghĩ đối với Nghĩa em ý coi mình như chết rồi. Có sống làm đơn kháng cáo cũng vì chữ hiếu với cha với mẹ. Nhớ trước lúc xét xử em ý cũng bị ngất thì phải. Làm người mà ...:(
Tớ chẳng có ý kiến tranh luận, hãy để mọi việc xảy ra tự chúng !!!
Tặng bác Onami và bác H5 :) cùng những người khác tham gia Topics thư giãn tinh thần nhé :Rose:
ở chỗ nhân gian không thể hiểu …..
….trời đất khi không cũng khóc òa
…. Em sống cùng ta mỗi sớm hôm
… Em phục sinh ta từ mộ sâu
Bàn tay bồ tát em đợi kip
Ân nghĩa nghìn sau vẫn chói lòa
07:09 CH 17/08/2010
Nguyễn Đức Nghĩa kháng cáo toàn bộ bản án
Chào các bạn, mình vừa đọc bài này không biết đã có ai đọc chưa, gửi vào để cả làng cùng tham khảo :)
Bố Nguyễn Đức Nghĩa trải lòng quyết định kháng cáo của con
Gia đình đã khuyên Nghĩa nên viết đơn kháng cáo vì còn một điều chưa đồng ý với cáo trạng “giết người man rợ” mà bản chất của con không phải thế. Thứ nữa, viết đơn kháng cáo thì cơ hội ngày thi hành án được kéo dài hơn, con được nhìn thấy gia đình thêm nữa.
Nguyễn Đức Nghĩa ở quận Kiến An, Hải Phòng trong vụ án sát hại bạn gái Nguyễn Phương Linh tại chung cư G4 (phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội) bị TAND TPP Hà Nội tuyên phạt án tử hình vừa có đơn kháng cáo vào những ngày cuối cùng của 15 ngày theo luật định. Kháng cáo của Nghĩa được coi là hợp lệ. Và như vậy, TANDTC sẽ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm...
Chỉ là “ân huệ” của gia đình đối với Nghĩa
Ngày 10/8 TAND TP Hà Nội chính thức thông báo chấp nhận đơn kháng cáo của Nguyễn Đức Nghĩa. Ngày 11/8 chúng tôi liên lạc bằng điện thoại đến bố đẻ Nghĩa là ông Nguyễn Đức Hùng xin được gặp gỡ với 2 lẽ: chia sẻ nỗi đau gia đình đang phải gánh chịu bởi hệ luỵ của chính người con đứt ruột sinh ra và cũng muốn hiểu hơn nỗi lòng của gia đình trong lúc này. Lúc đầu, ông Hùng tỏ ra băn khoăn chưa nhận lời ngay. Cuối cùng, ông đồng ý gặp chúng tôi nay tại cơ quan ông vào đầu giờ chiều ngày hôm sau.
Dẫu nhìn ông rất buồn, mắt cứ như muốn khóc, ông Hùng vẫn tiếp chúng tôi với thái độ nhã nhặn, lịch sự. Khi chúng tôi chia sẻ với ông trước “đây là sự khó mà ông và gia đình bất ngờ phải gánh chịu. Mọi người cố gắng giữ sức khoẻ để chịu đựng, vượt qua nỗi đau này. Dù sao thì chuyện đã rồi...”. Nghe vậy, ông Hùng chỉ nói được câu “cám ơn các anh...” rồi nghẹn lời và khóc thực sự. Phải mất một lúc sau lấy lại bình tĩnh ông mới tâm sự lại với chúng tôi:
- “Cha sinh con, trời sinh tính”... Đã sinh ra con rồi không ai còn lựa chọn được nữa. Con ngoan thì được nhờ, con hư bố mẹ phải chịu. Tôi không biện minh cho thằng Nghĩa, nhưng trước khi nó hành động “vô đạo” với cháu Linh, nó vẫn là đứa con ngoan, niềm hy vọng của gia đình. Nào ngờ sau cái ngày “ấy”, nó tước đi mạng sống của bạn nó, khác chi cướp đi niềm tin của cả gia đình từng nuôi dạy nó trưởng thành.
Cả gia đình tôi đau đớn trong tủi nhục. Đến nỗi viết thư cho gia đình nạn nhân chưa được hồi âm, chính tôi đã phải xin lỗi những người trong cơ quan, xóm ngõ và cả những ai quen biết. Tôi là một quân nhân từng tham gia chiến trường và là một thương binh, một Đảng viên, tôi đã chịu nỗi đau về thân xác rất nhiều, song chưa nỗi đau nào bằng nỗi đau tinh thần mà Nghĩa gây ra cho tôi và gia đình. Tôi và gia đình giận nhưng càng thương nó...
Chia sẻ điều đó, ông Hùng lại vấp lời cho dù cố gắng cho câu chuyện với khách không bị đứt đoạn. Ông tâm sự: "Thông qua luật sư chỉ định, những ngày Nghĩa bị bắt giam, tôi được hiểu thêm nó khi viết cho gia đình lá thư nhận tội lỗi với chính gia đình mình. Thư có đoạn nó viết “... con xin lỗi bố mẹ... con nhớ bố mẹ, nhớ gia đình nhiều. Con biết cánh cửa của đời con đã khép lại. Con mong bố mẹ, anh chị giữ gìn sức khoẻ. Hàng ngày sống trong nhà lao con đều cầu nguyện xin Chúa ban điều lành cho gia đình mình, gia đình Linh, gia đình Yến. Con biết rằng một kẻ tội lỗi như con không đáng xin Chúa một điều gì. Con xin bố mẹ cầu nguyện cho linh hồn con...”.
Bởi những điều nó nói ra như vậy tôi hiểu nó nói thật lòng và tôi trỗi dậy lòng thương cảm đối với con. Nó không phải đứa sống bản chất “man rợ”. Bào chữa cho con chẳng có nghĩa gì khi chính hành động của nó nói lên tất cả. Dù sao gia đình lúc đó cũng muốn ngày xét xử nhanh hơn để được nhìn thấy nó và có cơ hội sẽ khuyên răn nó một số điều...".
Khi ông Hùng đã bình tĩnh hơn, chúng tôi mới dám hỏi thật:
- Ông và gia đình có biết tại sao Nghĩa kháng cáo khi mà trước phiên toà sơ thẩm Nghĩa đã từng nói “dù mức án như thế nào cũng không kháng cáo?”.
- Đơn giản chỉ là ở khía cạnh tình cảm. Ngày gia đình được phép gặp Nghĩa đầu tiên sau phiên toà sơ thẩm 9 ngày, nhìn thấy con mà đau lòng, nhưng vẫn khuyên nó nên viết đơn kháng cáo vì còn một điều mà con chưa đồng ý với cáo trạng “giết người man rợ” mà bản chất của con không phải thế. Thứ nữa, viết đơn kháng cáo thì cơ hội ngày thi hành án được kéo dài hơn, con được nhìn thấy gia đình thêm nữa. Nghĩa cũng băn khoăn, gia đình tôi biết nó đang lựa chọn. Và điều quan trọng lời khuyên ấy cũng chính là “ân huệ” của gia đình tôi với con mình.
- Gia đình có mời lại luật sư bào chữa cho Nghĩa nữa không? Chúng tôi hỏi thêm.
- Có lẽ có, vì luật sư Ngô Ngọc Thuỷ cũng không đồng tình khi các cơ quan tố tụng hay dùng từ “man rợ” để kết tội Nghĩa...
Kháng cáo là lẽ thường tình...
Sau khi chia tay với ông Nguyễn Đức Hùng, chúng tôi liên lạc ngay với luật sư Ngô Ngọc Thuỷ qua điện thoại, bởi biết khá chắc luật sư sẽ được mời trở lại bào chữa cho Nguyễn Đức Nghĩa trong phiên toà phúc thẩm sắp tới. Mặc dù đã được trực tiếp trao đổi với luật sư dịp kết thúc phiên toà sơ thẩm, luật sư vẫn nhắc lại quan điểm của mình về việc không đồng ý cách luận tội đối với Nghĩa.
Cụ thể, không nên quy kết hành vi giết người của Nghĩa là “man rợ”. Hãy hiểu hành vi ấy theo 2 khía cạnh. Về góc độ pháp luật, hành vi được gọi là “man rợ” phải là hành vi có chuẩn bị trước và làm cho nạn nhân bị hành hạ một cách đau đớn đến tận cùng của thể xác cho đến khi chết. Trong khi Nghĩa giết Linh trong trạng thái thiếu kiềm chế, tức thời, dùng dao đâm 2 nhát làm cho Linh chết tại chỗ.
Sau đó Nghĩa còn ngồi bên xác Linh 2 giờ đồng hồ mới nghĩ đến sự trốn tránh pháp luật. Và rồi dẫn đến việc cắt thi thể phi tang. Như vậy không nên hiểu hành vi đó là “man rợ”. Ở khía cạnh khác, tâm lý của Nghĩa lúc đó đã có phần hoản loạn khi biết Linh đã chết. Tìm cách xoá dấu vết chỉ là việc “phải làm” của Nghĩa bấy giờ. Nhất là trong địa điểm cụ thể nhà chung cư cao tầng G4, vứt xác xuống không xong, mang đi cũng không được (đều dễ bị lộ) nên Nghĩa đã hành động "như ma xui". Rất nhiều vụ án giết người tại khu chung cư ở nước ngoài đều xảy ra tình huống xử lý xác chết như Nghĩa. Nếu quy kết giết người “man rợ” cho Nghĩa là không ổn về diễn biến tâm lý và hoàn cảnh...
Chúng tôi hỏi thêm luật sư rằng: "- Luật sư có biết Nghĩa sẽ kháng cáo không? và kháng cáo để làm gì trong khi Nghĩa thừa nhận mình đáng chết và “có chết cũng chưa hết tội”?
- Tôi chưa dám chắc Nghĩa kháng cáo, chỉ đến khi nhận được thông tin từ TAND TP Hà Nội lúc đó mới hay Nghĩa đã kháng cáo. Thật ra gặp Nghĩa trước lúc đưa ra xét xử sơ thẩm, nhiều tình tiết mà tôi hiểu được qua Nghĩa là rất đúng với bản chất thật của Nghĩa, của sự việc Nghĩa gây ra.
Bởi thế mà trong phiên toà sơ thẩm, tôi đã bảo vệ thân chủ của mình bằng lý lẽ Nghĩa không phải là con người “sát thủ máu lạnh”, “giết người man rợ”. Và trước Toà, Nghĩa cũng không đồng ý điều này.
Bởi, “sát thủ” chỉ có thể là những kẻ chuyên đâm thuê chém mướn hoặc kiếm sống bằng nghề chém, giết và đã từng làm chết người, chém giết người đã có sẵn trong tiềm thức của những con người đó.
Những hành vi của Nghĩa có thể coi đó là “tình huống cuộc đời”. Nghĩa đã gây ra hậu quả thì phải chịu sự phán xét tương ứng của pháp luật thôi. Song hiểu được như vậy, Nghĩa sẽ “thanh thản” hơn. Tôi từng khuyên gia đình Nghĩa, động viên Nghĩa nên kháng cáo, chủ yếu là vì gia đình và sự kéo dài thời gian thi hành án để được gặp gỡ người thân nhiều hơn dù mức án khó thay đổi. Nhất là việc kháng cáo là lẽ thường tình ấy mà...
Không có nhiều thời gian, chúng tôi chỉ hỏi thêm luật sư, nếu nguyện vọng của gia đình muốn được mời luật sư bào chữa cho Nghĩa ở phiên toà phúc thẩm sắp tới, luật sư có đồng ý không?
- Tất nhiên là tôi đồng ý và giữ nguyên quan điểm bào chữa của mình. Điều đó được chấp nhận là rất “mong manh”. Nhưng đối với người phạm tội thì tất cả lại là tình con người trong cái lý của pháp luật. Gia đình Nghĩa hy vọng được như thế (?). Có lẽ chỉ thế thôi là đủ...
Nguồn đọc thêm:
http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=203347#ixzz0wkiBXzk2
09:40 SA 16/08/2010
Nguyễn Đức Nghĩa kháng cáo toàn bộ bản án
Tháng Vu lan hả, thế là không nên tử hình ai hết, vì như vậy là Man rợ, tòa án mà xử ai tử hình chắc bạn cũng cho là man rợ, nhỉ?
Biện hộ cho cái ác chính là dung dưỡng cái ác đấy bạn. nên,tôi xin nhường lại từ Man rợ cho Luật sư của Nghĩa và những người như bạn.

Biện hộ cho cái ác chính là dung dưỡng cái ác đấy bạn - đồng ý với bạn nhưng tất cả diễn biến vụ án vẫn đang được thực hiện theo đúng tiến trình của pháp luật quy định. Có chăng mỗi người nhìn nó với góc độ bao dung khác nhau :)
bạn nhường lại từ man rợ mình xin nhận để biết rằng các ý kiến của bạn dù sao cũng được xây dựng từ một con người hiền hậu, để hiểu rằng bạn nói : việc kháng cáo của Nghĩa là đê tiện ... ở mấy trang trước tuy là bạn nói vậy nhưng thực ra bạn cũng xót xa cho 1 người có tội :)
Angulimala xuất gia sau khi đã giết 999 người
Một buổi sáng, Phật đi vào thành Sravasti khất thực. Khất thực xong, ngài tìm nơi ngồi thọ trai một mình ở một mé rừng. Thọ trai xong, ngài đứng dậy đi ra ngoại ô theo một con đường lớn vắng vẻ. Vài người nông dân thấy Phật, vội chạy đến bảo:
- Bạch Thế-tôn, đi đường này hôm nay nguy hiểm lắm. Người ta cho biết tên sát nhơn Angulimala hiện đang có mặt trong vùng này. Hắn là người rất hung bạo, giết người không gớm tay, quan quân đều nể sợ. Mỗi khi giết được ai, hắn cắt ngón tay út của người đó, xỏ thành xâu đeo trên cổ, hiện nay hắn đã có hằng ngàn ngón tay rồi.
Nhiều người đã đến gặp Phật, nói như thế. Nhưng Phật chỉ cám ơn rồi tiếp tục đi. Ðến đoạn đường hoàn toàn không có bóng người, Angulimala trông thấy Phật, liền ẩn mình trong bóng cây bên vệ đường, theo dõi một lúc rồi cầm đao xong ra đường chạy theo. Ban đầu hắn chạy chậm, về sau hắn chạy càng lúc càng nhanh hơn, cho đến khi mồ hôi nhễ nhại mà vẫn không bắt kịp đức Phật, trong lúc hắn thấy đức Phật chỉ bước đi một cách khoan thai. Hắn bực tức hét lớn:
- Ông sa-môn kia, hãy dừng lại!
- Này Angulimala, mặc dù bước đi, Như Lai đã dừng lại. Còn ông, ông đã dừng lại chưa?
- Này sa-môn, ông không nói dối chứ!? Ông nói ông đã dừng lại, sao tôi chạy theo ông nãy giờ mà không bắt kịp?
- Ðúng vậy, Angulimala, Như Lai đã dừng lại từ lâu rồi. Ðã từ lâu Như Lai không còn sát hại hay làm tổn thương bất cứ một sinh mạng nào. Còn ông, ông đã sát hại bao nhiêu mạng người với chứng tích vòng hoa kết bằng những ngón tay trên cổ ông kia. Hai tay ông và cả tâm hồn ông dính đầy máu. Chính ông là người phải dừng lại. Này Angulimala, không thể tìm được hạnh phúc bằng hành động sát hại. Sát hại chỉ gây ra ghê sợ, thù hận và đau khổ. Này Angulimala, chỉ có những hành động ban vui, cứu khổ, hòa nhã với mọi người, tha thứ mọi lỗi lầm của người khác mới đem lại hạnh phúc mà thôi.
Angulimala rất ngạc nhiên. Ðã từ lâu không ai dám đến gần ông ta. Ðã từ lâu không ai dám đứng nhìn ông ta dù từ xa. Thế mà hôm nay vị sa-môn này lại có vẻ oai nghiêm bình tĩnh đứng trước mặt ông ta, nhìn thẳng vào mắt ông ta, dùng lời nói ôn tồn hòa nhã khuyên nhủ ông. Phải rồi, vị này không phải ai khác hơn là sa-môn Gotama mà ông từng nghe tiếng. Angulimala buông đao xuống đất, xụp xuống đảnh lễ dưới chân Phật, rồi vừa khóc vừa nói:
- Bạch Thế Tôn, con là Ahimsaka xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Con rất ân hận đã gặp Thế Tôn quá muộn màng. Con đã gây quá nhiều tội ác, không còn dừng lại được nữa. Con không còn cách nào để chuộc lại những lỗi lầm đã qua. Quan quân và dân chúng sẽ không để cho con yên.
- Này Ahimsaka, biết phục thiện, sám hối sự lỗi lầm, trở về đời sống chơn chánh, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn. Này Ahimsaka, nếu ông gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ, quyết tâm sống đời phạm hạnh, siêng năng tu hành theo chánh pháp thì Như Lai sẽ có cách bảo vệ cho ông.
- Bạch Thế Tôn, con nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm theo Phật để học hạnh từ bi. Con xin Thế Tôn chấp nhận con làm đệ tử.
- Hãy đến đây, tỳ-kheo Ahimsaka, hãy sống đời thánh thiện!
Vừa lúc ấy các đại đức Sariputta, Ananda, Upali, Kimbila và nhiều vị khất sĩ khác xuất hiện. Hay tin Phật đang đi vào vùng đang có hiểm họa Angulimala, các đại đức vội đi tìm Phật. Bây giờ thấy Phật an lành và Angulimala đã quy phục, mọi người đều mừng rỡ. Phật bảo thầy Upali xuống tóc cho Ahimsaka; thầy Ananda trao cho Ahimsaka một cái áo sanghati; thầy Sariputta và Upali truyền dạy vài giới luật và giáo pháp căn bản. Rồi mọi người theo Phật trở về tinh xá Jetavana.
Về đến tinh xá Jetavana, Angulimala kể lại cho Phật nghe cuộc đời của ông ta như sau: Angulimala (Ươn-quật-ma) lúc nhỏ tên là Ahimsaka (Người vô tội). Cha là Gagga, quốc sư của vua Pasenadi xứ Kosala. Mẹ là Mantani. Ông được cha cho đến Taxila (Takshasila) học với một đạo sư danh tiếng. Ahimsaka rất thông minh nên đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Vì thế mà bạn bè sinh lòng ganh tị, bịa chuyện nói xấu ông với thầy. Thầy ông tin lời, lấy làm tức giận, mưu hại Ahimsaka bằng cách truyền lệnh cho ông phải giết một ngàn người và nộp đủ một ngàn ngón tay út của bàn tay phải để ông làm phép truyền dạy cho nhiều môn thần thông đặc biệt. Ahimsaka tưởng thật, vâng lời. Sau khi giết vài người để chặt lấy ngón tay út, ông bị chánh quyền ra lệnh tầm nã, phải vào ở ẩn trong rừng Jalini. Lần hồi ông trở nên một tên sát nhân ghê gớm, võ nghệ cao cường, xuất quỷ nhập thần, đến cả quan quân triều đình đều phải nể sợ. Vua Pasenadi ra lệnh lùng bắt Ahimsaka và treo giải thưởng cho ai bắt được ông, nhưng đến nay chưa ai làm được việc này. Những ngón tay chặt được, ông xỏ xâu như một vòng hoa đeo trên cổ để khỏi bị chim hay thú ăn mất. Do đó người ta gọi ông là Angulimala (Vòng hoa kết bằng những ngón tay). Khi ông đã được 999 ngón tay thì dân chúng quá hoảng sợ không dám ra khỏi nhà, quân lính tuần phòng rất nghiêm nhặt, Angulimala phải vất vả suốt đêm mà không tìm được ngón tay cuối cùng. Ông định bụng lẻn về nhà để chặt ngón tay của mẹ. Nhưng giữa đường thì gặp Phật.
Trong mười hôm liên tiếp, đại đức Ahimsaka được đại đức Upali hướng dẫn về giới luật và đại đức Sariputta chỉ dạy về giáo lý và các phương pháp thiền tọa, thiền hành, khất thực, thọ trai ... Ðại đức Ahimsaka nổ lực học hỏi và thực tập rất tinh tấn. Nửa tháng sau, khi đến thăm Ahimsaka tại am của thầy ở một nơi thanh vắng trong tinh xá Jetavana, đức Phật cũng phải ngạc nhiên về sự tiến bộ của thầy. Ahimsaka đã trở nên một vị khất sĩ trang nghiêm, hiền hòa với lời nói ôn tồn điềm đạm.
Tiếng đồn Angulimala đã xin xuất gia theo Phật đã đến tai vua Pasenadi. Dân chúng và triều thần đều cảm thấy nhẹ nhỏm. Uy tín của đức Phật và giáo đoàn khất sĩ càng vững mạnh. Ðộ một tháng sau ngày Angulimala xuất gia, vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana viếng Phật và hỏi:
- Bạch Thế Tôn, trẫm nghe nói tên sát nhân Angulimala đã xin xuất gia theo ngài, có đúng thế không? Hiện nay hắn ở đâu? Hắn có làm điều gì nhiễu hại đến Thế Tôn không?
- Thưa Ðại vương, quả thật Angulimala đã xuất gia. Hiện nay thầy đang tịnh tu trong một am ở nơi thanh vắng trong tinh xá. Thầy đã quyết chí cải tà quy chánh, sống đời phạm hạnh, tinh tấn tu hành. Như Lai khuyên thầy nên ẩn cư tu tập cho đến cuối mùa an cư này.
- Bạch Thế Tôn, Angulimala là một tên sát nhân vô cùng nguy hiểm, là một mối họa lớn cho mọi người. Thế Tôn nên thận trọng để người coi chừng hắn.
- Ðại vương đừng ngại, thầy Ahimsaka bây giờ đã trở nên một khất sĩ thuần thành, thầy còn có nhiều triển vọng tiến xa hơn nữa.
- Bạch Thế Tôn, nếu được như vậy thì thật là một phước lớn cho dân chúng ở Sravasti, mọi người sẽ hết phập phòng lo sợ, được an ổn làm ăn. Ðiều mà trẫm không thực hiện được bằng binh hùng tướng mạnh, Thế Tôn đã hoàn thành bằng đức từ bi, chẳng những cứu dân chúng khỏi nạn lo sợ chết chóc mà còn độ được tên sát nhân Angulimala vào đường tu hành thánh thiện. Trẫm xin bái phục.
p/s : mình sưu tầm câu chuyện này nếu có dài dòng quá xin diễn đài thứ lỗi nhé !
05:39 CH 13/08/2010
f
Female
Bắt chuyện
862Điểm·0Bài viết
Báo cáo