Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
11. Vitamin C (Ascorbic Acid)

Trong các công thức mỹ phẩm, vitamin C thường được đưa vào dưới dạng ascorbyl palmitate-6 và Magnesium Ascorbyl Phosphate
-Ascorbic Acid (vitamin C, ASA), thu được từ các loại trái cây họ cam quýt và rau lá xanh, là một vitamin tan trong nước và chất chống oxy hóa tự nhiên. Những khám phá gần đây cho thấy vitamin C có thể đóng vai trò quan trọng với sức khỏe và vẻ đẹp của làn da.
Vitamin C ở dạng ascorbyl đã được thử nghiệm rộng rãi và được chứng minh có can thiệp đến việc tổng hợp melanin. Vitamin C làm sáng da bằng cách tương tác với các ion đồng tại vùng hoạt động của tyrosinase và làm giảm sự oxy hóa dopaquinone, một chất nền để tổng hợp hắc tố melanin và làm gián đoạn quá trình oxy hóa DHICA. Vitamin C cũng hoạt động như cỗ máy thu gom ROS bằng cách tặng điện tử để trung hòa các gốc tự do được tìm thấy trong khoang chứa nước của tế bào.
Ngoài làm sáng da, Vitamin C còn có hiệu ứng chống oxy hóa , kháng viêm và bảo vệ da khỏi tác động của ánh nắng.
Acid ascorbic thường được sử dụng ở nồng độ từ 5% đến 10% và thường được kết hợp với các hoạt chất làm trắng da khác như hydroquinone.
08:26 SA 03/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
8. Tái tạo bề mặt da bằng laser và hóa chất tẩy


Việc tái tạo bề mặt da, cho dù bằng laser hoặcsử dụng tác nhân hóa học, đều có thể làm giảm đáng kể các tổn thương sắc tố. mang lại tác dụng trắng sáng tức thời. Tuy nhiên, những phương pháp điều trị này hiếm khi được sử dụng để điều trị tăng sắc tố (nám, sạm) do chi phí, bất tiện và tác dụng phụ, bao gồm cả việc có thể gây mất sắc tố và tăng sắc tố.

9. Điều trị bằng laser và xung ánh sáng cường độ cao (IPL)

Melanin hấp thụ ánh sáng chủ yếu trong phạm vi phổ xanh-vàng. Do đó cường độ ánh sáng cao chiếu trực tiếp vào vùng điều trị sẽ làm nóng và xóa bỏ các vết sắc tố mà không làm ảnh hưởng đến vùng da xung quanh. Phương pháp tiếp cận này thích hợp cho việc điều trị các vết đốm, nám, tàn nhang. Các thiết bị dùng để điều trị bao gồm hệ thống máy IPL và máy tạo xung laser nhuộm. Chi phí điều trị bằng các phương pháp này khá tốn kém, và mặc dù thấy được tác dụng nhanh chóng, nhưng chúng ta cũng không thể đoán trước được kết quả cuối cùng (khả năng mất sắc tố hoặc tăng sắc tố về sau)

10. Phương pháp đốt lạnh


Phương pháp đốt lạnh chỉ áp dụng với những tổn thương sắc tố nhỏ, khu trú, như các đốm đồi mồi, đốm nám. Phương pháp đôt lạnh (đóng băng và loại bỏ) tỏ ra hiệu quả tương đương với phương pháp điều trị laser nhưng đáng tin cậy hơn, ít tốn kém và ít có khả năng gây tác dụng phụ hơn.
10:46 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
7. Alpha hydroxy acids (AHA)


Alpha hydroxy acids là các acid carboxylic tự nhiên có gắn nhóm hydroxy, có trong trái cây, hạt và sữa chua điển hình như
glycolic acid, lactic acid, citric acid, mandelic acid.
Ngày nay AHA cũng có thể được tổng hợp. AHA c
ó nồng độ sử dụng điển hình khá cao (5-15%), tuy vậy hầu như không hiệu quả trong việc điều trị vấn đề tăng sắc tố, đen da, sạm da. Tác dụng chính của AHA là tẩy da chết và đồng thời tẩy bớt melanin trên da. Kết quả là, sử dụng kết hợp AHA có thể nâng cao hiệu điều trị quả của các phương pháp và hoạt chất khác (như hydroquinone hay các chất ức chế tyrosinase khác). Tác dụng lột mạnh của AHA được thường được các bác sĩ áp dụng để nâng cao hiệu quả trong việc giảm sắc tố sạm da, viêm nang lông.
Tuy nhiên, đối với những làn da nhạy cảm nên cẩn trọng khi sử dụng các loại kem có chứa AHA, vì để đạt được tác dụng nhất định các nhà sản xuất thường phải dùng AHA với nồng độ cao, có thể gây ra kích ứng với da nhạy cảm. Cảm giác thường gặp là nóng, rát, hơi ngứa như khi các bạn lấy một miếng dứa (thơm) hoặc cam cắt mỏng và đắp lên mặt trên 15 phút. Cảm giác này sẽ hết khi cắt nguồn kích ứng.
10:42 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
6. Topical retinoids

Các Retinoids như tretinoin 0,05-0,1% được sử dụng trong việc điều trị nám và các vấn đề tăng sắc tố khác. Khi sử dụng một mình, retinoids cho thấy ít hiệu quả hơn hydroquinone và có thể mất đến sáu tháng hoặc nhiều hơn để thấy được kết quả.
Tác dụng của Retinoids là tẩy lớp melanin ở lớp thượng bì. Một số nhà sản xuất cho rằng Retinoids có tác dụng ức chế sự tổng hợp melanin gián tiếp bằng cách ức chế tyrosinate, nhưng nếu thực sự như vậy thì chúng ta sẽ thấy kết quả ngay trong vài tuần (giống như với hydroquinone) chứ không phải hàng tháng.

Ở những người có biếu hiện không đáp ứng với hoạt chất ức chế tyrosinate như hydroquinone (không thấy tác dụng trắng da), thì việc bổ sung thêm tretinoin cho thấy có hiệu quả hỗ trợ tốt. Tuy nhiên, cả retinoids và hydroquinone đều có tiềm năng gây kích ứng cao, vì vậy nếu phát hiện bị kích ứng, đặc biệt là kích ứng mạnh/ trong thời gian dài đều có khả năng gây ra hội chứng tăng sắc số "postinflammatory", làm viêm và sạm da. Do đó việc dử dụng mỹ phẩm có kết hợp hai hoạt chất này cần đặc biệt thận trọng.
Trong một vài nghiên cứu điều trị nám, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kết hợp một retinoid (thường là tretinoin hoặc adapalene) với hydroquinone và corticosteroid- hay còn gọi là corticoid (thường có tên là dexamethasone hoặc fluocinolone acetonide, hay còn gọi là flucin), trong đó vai trò của corticoid là để làm giảm kích ứng, kháng viêm. Dùng kết hợp 3 loại hoạt chất trên cho thấy kết quả cao trong điều trị nám, tuy nhiên, điều này chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu chứ không thể áp dụng rộng rãi vì corticoid có thể gây teo da, làm mỏng da và gây lão hóa.
Thông thường các loại kem trộn hiện nay sử dụng hoạt chất tẩy da nồng độ cao và bổ sung thêm corticoid để giảm kích ứng, nhưng sau một thời gian sử dụng da sẽ bị bào mỏng, nhăn nheo và nếu sử dụng liều cao trong thời gian dài sẽ gây tình trạng lão hóa vĩnh viễn.
10:26 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
5. Glabridin (Licorice extract) Chiết xuất rễ cam thảo

Chiết xuất từ ​​rễ cam thảo (Glycyrrhiza glabra, Glycyrrhiza uralensis) là một thành phần phổ biến được tìm thấy trong nhiều mỹ phẩm làm trắng sáng da và cũng được sử dụng trong điều trị nhiều loại bệnh ngay cả ngoài phạm vi da liễu do đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, kháng virus, kháng khuẩn, và các đặc tính chống ung thư.
Chiết xuất từ ​​cam thảo thu được từ gốc của cây cam thảo- Glycyrrhia Glabra Linneva. Chất chống oxy hóa chính và các hợp chất kháng viêm được tìm thấy trong rễ cam thảo là glycosides - glycyrrhizin và axit glycyrrizinic, flavonoid, saponin.
Glabridin đã được chứng minh có thể ngăn chặn tia cực tím gây sạm da và ức chế sự hoạt động của tyrosinase và quá trình tổng hợp melanin, ức chế quá trình tổng hợp anion superoxide và ức chế sự hoạt động của cyclo-oxygenase.
Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chứng minh hiệu quả chống sạm da của glabridin tốt hơn so với hydroquinone.
Trong các tế bào khối u ác tính được nuôi cấy ở chuột cho thấy với nồng độ từ 0.1 đến 1g/ml, Glabridin có thể ức chế hoạt động của tyrosinate mà không gây ảnh hưởng đến sự tổng hợp DNA. Điều này cho thấy tác dụng tích cực của chiết xuất Glabridin lên cả tế bào tạo sắc tố lẫn viêm da.
Trong một nghiên cứu gần đây, sự kết hợp của chiết xuất cam thảo (0,4%), betamethasone (0,05%) và acid retinoic (0,05%) mang lại kết quả trắng da hữu hiệu ở 70% người tham gia thử nghiệm và việc thoa 0,5% glabridin có khả năng ức chế tia UVB- gây đỏ và nám da.
Một nghiên cứu khác được tiến hành trên 20 người phụ nữ Ai Cập được thoa kem chứa 0.5% chiết xuất rễ cam thảo trong 4 tuần để điều trị nám cho thấy kết quả an toàn và hiệu quả, Tác dụng phụ hầu như không có.
10:19 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
4. Azelaic acid

Azelaic acid là một chất hóa học tự nhiên thuộc nhóm axit dicarboxylic. Trong liệu pháp chăm sóc da, Azelaic acid thường được sử dụng để điều trị mụn trứng cá. Tuy nhiên, azelaic axit cũng có tác dụng làm giảm sự sản xuất melanin bằng cách ức chế enzyme tyrosinase (chủ yếu là gián tiếp). Nó đồng thời cũng ngăn chặn sự gia tăng bất thường của các tế bào sản xuất melanin (tế bào biểu bì tạo hắc tố). Acid azelaic đã được sử dụng để điều trị nám da, lentigo maligna (ung thư tế bào sắc tố) và các vấn đề tăng sắc tố khác. Acid azelaic thường không có tác dụng đối với da có sắc tố bình thường, tàn nhang, đốm tuổi... nhưng tác dụng rõ ràng đối với những trường hợp tổng hợp melanin bất thường và các tế bào biểu bì tạo hắc tố bất thường.
Tại Mỹ, azelaic acid (20%) được cho phép sử dụng để điều trị mụn trứng cá, nhưng đôi khi cũng được sử dụng để điều trị vấn đề tăng sắc tố. Một nghiên cứu 24 tuần ở Nam Mỹ chứng mình rằng với nồng độ 20%, acid azelaic có tác dụng tương đương với 2% hydroquinone trong điều trị nám da. Một nghiên cứu khác ở Việt Nam cho thấy rằng 20% ​​azelaic acid có tác dụng tốt hơn 2% hydroquinone. Một số cá nhân bị kích ứng khi sử dụng hydroquinone có thể chịu đựng được acid azelaic. Vấn đề an toàn gần đây liên quan đến hydroquinone, cho dù có được chứng minh hay không, khiến azelaic acid trở thành một lựa chọn hấp dẫn trong vấn đề điều trị nám da và các rối loạn tăng sắc tố khác. Tuy nhiên, trái ngược với hydroquinone,
azelaic acid không có hiệu quả lắm khi điều trị tàn nhang và các đốm đồi mồi.
10:15 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
3. Kojic acid

Kojic acid là một hoạt chất tự nhiên được tổng hợp bởi một số loài nấm. Tương tự như hydroquinone, nó ngăn chặn việc sản xuất melanin bởi việc ức chế các enzyme tyrosinase.
Về hiệu quả làm trắng sáng da, Kojic acid có thể so sánh với hydroquinone
. Tuy nhiên, kojic acid tương đối không ổn định khi đưa vào các công thức chăm sóc da. Kojic acid dễ dàng bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí và cũng có thể phản ứng với các hóa chất khác nếu tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Để khắc phục vấn đề này, một số công ty sản xuất sử dụng dipalmitate acid kojic, một dẫn xuất ổn định của kojic acid. Vẫn chưa có một nghiên cứu nào cụ thể chứng minh dipalmitate acid kojic có hiệu quả làm trắng tương đương với acid kojic, mặc dù dipalmitate acid kojic được chứng minh là có tác dụng chống oxi hóa mạnh và an toàn với con người.
Cuối cùng, một số nghiên cứu gây tranh cãi đã nêu lên vấn đề nguy cơ gây ung thư của acid kojic. Trong một nghiên cứu ở chuột, những khối u gan phát triển nhanh khi được cho ăn một lượng lớn acid kojic trong 26 tuần. Sự liên quan của phát hiện này với việc sử dụng acid kojic trên bề mặt da người cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng.
10:12 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
2. Arbutin

Trong khi một số nhà sản xuất và marketing ca ngợi Arbutin như một chất làm sáng da hoàn toàn mới lạ, thì nó thực sự là một dạng hydroquinone ngụy trang. Arbutin glycosylated hydroquinone (BD-glucopyranoside chính xác là dẫn xuất của hydroquinone), tức là phân tử của nó bao gồm hydroquinone kết nối với glucose. Nguyên lý tác dụng của Arbutin là từ từ giải phóng hydroquinone thông qua quá trình thủy phân, qua đó ức chế sự tổng hợp melanin bởi ức chế các enzyme tyrosinase. Ở cùng một nồng độ, Arbutin dường như có ít tác dụng phụ hơn so với hydroquinone - có lẽ là do được giải phóng từ từ. Liều lượng sử dụng của arbutin thông thường là 3-7%.
Arbutin rõ ràng có hiệu quả trong việc cải thiện sắc tố da. Xét về những tác dụng phụ điển hình như vấn đề kích ứng da thì arbutin tương đối nhẹ hơn so với Hydroquinone. Tuy nhiên, vẫn chưa thể xác định liệu những mối quan tâm đang ngày một gia tăng về những vấn đề đối với Hydroquinone (nguy cơ hội chứng ochronosis và nguy cơ ung thư) có thể cũng áp dụng đối với arbutin hay không.
Cuối cùng, do được cấp bằng sáng chế, nhiều công ty sản xuất đã sử dụng các chất chiết xuất từ ​​thực vật có chứa arbutin (như Bearberry, quả việt quất, nam việt quất và nhiều chiết xuất khác) thay vì arbutin tổng hợp. Vẫn không có gì chắc chắn là các sản phẩm đó có chứa 100% arbutin từ thực vật không. Thậm chí nếu có, cũng chưa thể khẳng định rằng những arbutin chiết xuất thực vật tuyệt đối an toàn. (Ví dụ, chất chiết xuất từ ​​thực vật có thể chứa các hoạt chất khác can thiệp vào sự hấp thụ hoặc hoạt động của arbutin).
Arbutin được xem là một lựa chọn đầy hứa hẹn thay thế Hydroquinone, nhưng vẫn còn rất nhiều nghi vấn không rõ ràng.
10:07 SA 02/05/2013
Mỹ phẩm trắng da và các vấn đề về mỹ phẩm
Để có cái nhìn tổng thể về việc làm trắng/sáng da và điều trị các vấn đề về sạm da, trước tiên mình sẽ giới thiệu cho các bạn toàn bộ các phương pháp/ hoạt chất làm trắng da, trị nám mà hầu hết các loại mỹ phẩm trên thị trường đang sử dụng. Khi mua bất cứ loại mỹ phẩm làm trắng nào, các bạn chỉ cần xem kỹ trên nhãn liệt kê thành phần xem có chứa chất nào trong đó và có thể đánh giá được loại mỹ phẩm đó tốt hay không.
Điều trị các vấn đề tăng sắc tố da bao gồm các phương pháp cơ bản như sử dụng hoạt chất làm trắng cục bộ, ứng dụng tia laser/ xung ánh sáng cường độ cao, phương pháp đốt lạnh và lột bằng hóa chất. Không có một phương pháp nào thật sự hoàn hảo có thể áp dụng cho tất cả mọi người và mọi loại da bị sạm/nám mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
1. Hydroquinone

Hydroquinone được xem là một trong những hoạt chất tổng hợp làm sáng da có tác dụng nhất, nó thường được giới thiệu là tiêu chuẩn vàng trong việc làm sáng da. Hiệu quả của Hydroquinone được ghi nhận trong rất nhiều các nghiên cứu lâm sàng, kể cả khi dùng một mình hoặc kết hợp với các hoạt chất khác. Nó hoạt động bằng cách ức chế enzyme tyrosinase, một enzyme có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp melanin (sắc tố đen của da). Hydroquinon không phá hủy các melanin đã được tổng hợp từ trước trên da mà chỉ ức chế quá trình tạo thành melanin mới. Một liệu trình điều trị bằng Hydroquinone thường kéo dài vài tuần mới cho kết quả, vì mặc dù việc hình thành melanin mới bị ngăn chặn nhưng các melanin đã có sẵn trên bề mặt da cần thời gian để được loại bỏ hoàn toàn theo cơ chế thay da chết tự nhiên. Để rút ngắn thời gian điều trị, người ta thường kết hợp Hydroquinon (và các hoạt chất ức chế tổng hợp melanin khác) với các hoạt chất tẩy tế bào chết, chẳng hạn như AHA( alpha-hydroxy-acids). Tuy nhiên, cả Hydroquinon và các hoạt chất tẩy tế bào chết khác thường gây kích ứng nên sự kết hợp của chúng càng làm tăng thêm nguy cơ kích ứng da.
Nồng độ sử dụng của Hydroquinon thường là từ 0.5 đến 2 %, đôi khi có thể lên đến 4% hoặc cao hơn tùy theo mục đích sử dụng và chỉ định của bác sĩ. Tác dụng phụ của Hydroquinon khi sử dụng trong thời gian ngắn hạn thường nhẹ và không có tính hệ thống, đặc biệt trong các công thức có liều lượng thấp đến trung bình.
Thật không may, các nghiên cứu trên động vật với liều cao Hydroquinon cho thấy chất này có khả năng gây ung thư. Những báo cáo khoa học gần đây chứng minh rằng Hydroquinone là nguyên nhân gây ra biến chứng ochronosis, làm tế bào bị đổi sang màu xanh đen. Biến chứng này tương đối ít gặp với những trường hợp sử dụng ngắn hạn ở nồng độ từ thấp đến trung bình.Tuy nhiên, khi sử dụng lâu dài nồng độ cao, đặc biệt là ở những người da đen, biến chứng ochronosis xảy ra tương đối thường xuyên. Một nghiên cứu ở Nam Phi báo cáo rằng 69% người sử dụng Hydroquinon nồng độ cao (6-8%) trong thời gian dài có sự phát triển gia tăng hội chứng ochronosis. Hiện nay, Hydroquinione đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng ở một số nước.
Rõ ràng là vấn đề sử dụng Hydroquinon cần thêm nhiều nghiên cứu và đánh giá. Việc sử dụng với nồng độ cao trong thời gian dài gây ung thư ở chuột có thể không đồng nghĩa với việc Hydroquinon cũng có thể gây ung thư cho con người. Hydroquinon đã được sử dụng hàng thập kỷ nay trong hầu hết các loại kem làm trắng da/ điều trị nám, việc góp phần làm gia tăng nguy cơ gây ung thư, ở nồng độ thấp thường được bỏ qua và người ta chỉ chú trọng đến kết quả làm trắng, nhất là các đối tượng sử dụng thường rải rác, và không có một nghiên cứu nào tập trung về vấn đề này.
Cho đến khi có bằng chứng khẳng định rõ ràng từ các nhà khoa học, việc sử dụng nồng độ cao Hydroquinon, nhất là sử dụng trong thời gian dài để làm trắng da, nên được cân nhắc kỹ lưỡng với sự theo dõi và giám sát chặt chẽ về mặt y tế. Tính đến thời điểm này, vẫn chưa có trường hợp nguy hại rõ ràng nào liên quan đến việc sử dụng Hydroquinon ở nồng độ thấp trong thời gian ngắn, tuy nhiên khôn ngoan nhất vẫn là trong khi chờ các nghiên cứu cụ thể về tính an toàn của Hydroquinon thì chúng ta nên lựa chọn các hoạt chất đã được đánh giá an toàn và ổn định hơn.
09:59 SA 02/05/2013
c
Cosmetic-Analyse
Hóng
466Điểm·1Bài viết
Báo cáo