Webtretho
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Lưu ý khi dùng men tiêu hóa
MEN TIÊU HÓA VÀ MEN VI SINH
PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức
Đại học Y Dược TP.HCM
Hiện nay có khá nhiều người gọi ”men tiêu hóa” cho các thuốc hay chế phẩm với mục đích giúp chức năng tiêu hóa tốt hơn. Xem kỹ ta sẽ thấy chế phẩm gọi là”men tiêu hóa” ấy thực ra là 2 loại khác nhau về bản chất, như vậy chữ ”men tiêu hóa” đã được dùng nên hiểu đúng với 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất để chỉ chế phẩm chứa các enzym (còn gọi diếu tố) giúp tiêu hóa thức ăn dùng từ ”men tiêu hóa” là đúng. Ta nên biết, từ miệng dịch tiêu hóa là nước bọt chứa amylase (tiêu hóa tinh bột); dạ dày tiết ra dịch vị chứa acid clohydric và pepsin (tiêu hóa protein); trong đường ruột có dịch tụy, dịch mật, gọi chung là dịch ruột chứa nhiều enzym như amylase, lipase (tiêu hóa lipid), trypsin, caseinogen tiêu hóa protein trong sữa,... giúp hoàn tất việc tiêu hóa đường, bột, chất béo, chất đạm của thức ăn thức uống; khi thiếu sẽ sinh ra khó tiêu, đầy bụng. Một số thức ăn hàng ngày có thể hỗ trợ cho tiêu hóa nhờ kích thích bài tiết các men tiêu hóa như một số gia vị thường dùng (gừng, hành tỏi, tiêu...), một số khác cung cấp chính enzym tiêu hóa thức ăn (đu đủ, khóm (thơm), sản phẩm lên men...).
Để bổ sung men tiêu hóa với thành phần là các enzym người ta làm ra các chế phẩm thực phẩm chức năng hay thuốc. Khi bị chứng khó tiêu nên dùng thuốc ”men tiêu hóa” chứa các enzym amylase, papain... Khi bổ sung men tiêu hóa dưới dạng thuốc là chúng ta đã hỗ trợ từ ngoài vào giúp cho cơ thể tiêu hóa thức ăn, nên chỉ dùng khi thực sự cần thiết, không nên lạm dụng (hiện nay có một số phụ huynh lạm dụng cho trẻ dùng quá đà chế phẩm loại này) vì dùng dài ngày sẽ gây tác hại ngược (feedback) do lượng men tiêu hóa được cung cấp nhiều từ bên ngồi trong thời gian dài sẽ ức chế các tuyến tiết ra men tiêu hóa. Nên dùng khi thật cần thiết để tránh lệ thuộc, thông thường chỉ dùng không quá 7-10 ngày.
Nghĩa thứ hai của ”men tiêu hóa” lại được chỉ chế phẩm chứa các vi sinh vật có ích khi uống vào nhằm cải thiện sự cân bằng của hệ tạp khuẩn ruột và có lợi ích cho sức khoẻ của người dùng. Trong trường hợp này không nên gọi là ”men tiêu hóa” mà nên gọi là ”men vi sinh” hay gọi theo tiếng nước ngồi đã trở thành thông dụng là ”probiotic”. Probiotic có nguồn gốc vi sinh vật và có nghĩa là ”trợï sinh”. Ta nên biết trong ruột con người hiện diện rất nhiều loại vi khuẩn (VK) tạo thành quần thể gọi là tạp khuẩn ruột. Trong tạp khuẩn ruột, ngồi VK gây bệnh còn có VK có ích. Chính các VK có ích giúp tiêu hóa tốt thức ăn, tiêu sạch và tái hấp thu phần thức ăn còn sót lại ở ruột già, giúp tổng hợp một số vitamin nhóm B, vitamin K…, đặc biệt giúp cân bằng với VK có hại, làm cho VK có hại không tăng sinh phát triển quá đáng gây bệnh. Nếu vì lý do nào đó (như vệ sinh an tồn thực phẩm quá kém, do uống nhiều bia rượu, do dùng thuốc đặc biệt là kháng sinh, do stress...), sự cân bằng trong hệ tạp khuẩn ruột bị đảo lộn, sẽ đưa đến rối loạn đường ruột, thể hiện: tiêu chảy, khó tiêu, trướng bụng, giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng… Men vi sinh có trong thực phẩm như sữa chua, dưa chua, kim chi... đã được dùng từ lâu đời cho thấy an tồn và có lợi cho hệ tiêu hóa, tuy nhiên không đủ lượng cho trường hợp cần dùng khi bị mất cân bằng tạp khuẩn ruột. Với mục đích cung cấp lượng đủ VK có lợi, người ta làm ra dược phẩm hay thực phẩm chức năng. Tuy nhiên nhiều loại vẫn tỏ ra không hiệu quả vì VK có lợi khó sốâng khi sản xuất và bảo quản, chết hầu hết khi bị tác động bởi acid dạ dày và muối mật. Để một sản phẩm men vi sinh có hiệu quả cao ta chú ý những điều sau đây:
1. Các chủng vi sinh vật phải an toàn và được công nhận có tác dụng chữa trị hiệu quả như L. acidophilus, L. casei, L. ramonosus, B. longum, B. breve, B. lactis, S. faecalis...;
2. Sống khi sản xuất, bảo quản và chịu được acid dạ dày và muối mật;
3. Tại ruột phải được phóng thích tốt để tác dụng.
Sản phẩm hiệu quả cao khi đạt được ba tiêu chí này, tuy nhiên hiện nay có không nhiều sản phẩm đạt đầy đủ các tiêu chí này, người sử dụng nên tìm hiểu rõ thông tin sản phẩm để có chọn lựa đúng để sử dụng đạt hiệu quả cao. Men vi sinh đã được sử dụng hàng ngàn năm dưới dạng thực phẩm, đã cho thấy lợi ích cho sức khỏe và an tồn. Với dạng chế phẩm như thuốc và thực phẩm chức năng nếu chọn chủng tốt (theo công nhận WHO/FAO, GRASS), nhất là các chủng có nguồn gốc từ người (phân lập từ ruột) thì cũng an tồn như thực phẩm, có thể dùng thường xuyên (không gây tác hại ngược - feedback) để giúp cho đường ruột đầy đủ lượng vi khuẩn có lợi giúp đường ruột khỏe mạnh, nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Tuy nhiên vì lượng vi khuẩn đưa vào sản phẩm cao (hàng trăm triệu đến hàng tỉ), do đó nên sử dụng theo liều lượng chỉ dẫn của nhà sản xuất. Cần lưu ý một vài trường hợp men vi sinh sử dụng chủng vi sinh vật không thường trú trong ruột như dạng bào tử và nấm men thì không nên dùng lâu dài.
11:56 SA 30/07/2011
Hôi miệng: Chữa cách nào?

Duolac theo như giới thiệu cung cấp 1 lượng men vi sinh lớn. Bất cứ cái gì thái quá cũng không tốt, nếu uống duolac hằng ngày theo như BSTH thì rất có thể là sau 1 thời gian bao tử, ruột không còn khả năng tự sản sinh ra men tiêu hóa. Không 1 bác sĩ nào khuyên uống men vi sinh mỗi ngày, trừ người bán hàng.

Tôi xin gởi vào đây bài viết của đồng nghiệp, người thầy (bài này đã đăng trên Báo TT cách đây vài năm) về phân biệt đúng thế nào lả MEN VI SINH ( probiotic) & MEN TIÊU HÓA để mọi người hiểu đúng.
Tôi xin nói thật, cho đến khi tôi viết những dòng này tôi không đọc chi tiết từng người ở đây đã viết như thế nào, tôi chỉ nhận ra những gì cần thiết cần thông tin có thể là có ích, đựa trên nền tảng hiểi biết của tôi và những thông tin chính thống đã được thừa nhận đến mọi người. Tôi cũng không bàn ai đúng ai sai!!!

MEN TIÊU HÓA VÀ MEN VI SINH
PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức
Đại học Y Dược TP.HCM

Hiện nay có khá nhiều người gọi ”men tiêu hóa” cho các thuốc hay chế phẩm với mục đích giúp chức năng tiêu hóa tốt hơn. Xem kỹ ta sẽ thấy chế phẩm gọi là”men tiêu hóa” ấy thực ra là 2 loại khác nhau về bản chất, như vậy chữ ”men tiêu hóa” đã được dùng nên hiểu đúng với 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất để chỉ chế phẩm chứa các enzym (còn gọi diếu tố) giúp tiêu hóa thức ăn dùng từ ”men tiêu hóa” là đúng. Ta nên biết, từ miệng dịch tiêu hóa là nước bọt chứa amylase (tiêu hóa tinh bột); dạ dày tiết ra dịch vị chứa acid clohydric và pepsin (tiêu hóa protein); trong đường ruột có dịch tụy, dịch mật, gọi chung là dịch ruột chứa nhiều enzym như amylase, lipase (tiêu hóa lipid), trypsin, caseinogen tiêu hóa protein trong sữa,... giúp hồn tất việc tiêu hóa đường, bột, chất béo, chất đạm của thức ăn thức uống; khi thiếu sẽ sinh ra khó tiêu, đầy bụng. Một số thức ăn hàng ngày có thể hỗ trợ cho tiêu hóa nhờ kích thích bài tiết các men tiêu hóa như một số gia vị thường dùng (gừng, hành tỏi, tiêu...), một số khác cung cấp chính enzym tiêu hóa thức ăn (đu đủ, khóm (thơm), sản phẩm lên men...). Để bổ sung men tiêu hóa với thành phần là các enzym người ta làm ra các chế phẩm thực phẩm chức năng hay thuốc. Khi bị chứng khó tiêu nên dùng thuốc ”men tiêu hóa” chứa các enzym amylase, papain... Khi bổ sung men tiêu hóa dưới dạng thuốc là chúng ta đã hỗ trợ từ ngồi vào giúp cho cơ thể tiêu hóa thức ăn, nên chỉ dùng khi thực sự cần thiết, không nên lạm dụng (hiện nay có một số phụ huynh lạm dụng cho trẻ dùng quá đà chế phẩm loại này) vì dùng dài ngày sẽ gây tác hại ngược (feedback) do lượng men tiêu hóa được cung cấp nhiều từ bên ngồi trong thời gian dài sẽ ức chế các tuyến tiết ra men tiêu hóa. Nên dùng khi thật cần thiết để tránh lệ thuộc, thông thường chỉ dùng không quá 7-10 ngày.
Nghĩa thứ hai của ”men tiêu hóa” lại được chỉ chế phẩm chứa các vi sinh vật có ích khi uống vào nhằm cải thiện sự cân bằng của hệ tạp khuẩn ruột và có lợi ích cho sức khoẻ của người dùng. Trong trường hợp này không nên gọi là ”men tiêu hóa” mà nên gọi là ”men vi sinh” hay gọi theo tiếng nước ngồi đã trở thành thông dụng là ”probiotic”. Probiotic có nguồn gốc vi sinh vật và có nghĩa là ”trợï sinh”. Ta nên biết trong ruột con người hiện diện rất nhiều loại vi khuẩn (VK) tạo thành quần thể gọi là tạp khuẩn ruột. Trong tạp khuẩn ruột, ngồi VK gây bệnh còn có VK có ích. Chính các VK có ích giúp tiêu hóa tốt thức ăn, tiêu sạch và tái hấp thu phần thức ăn còn sót lại ở ruột già, giúp tổng hợp một số vitamin nhóm B, vitamin K…, đặc biệt giúp cân bằng với VK có hại, làm cho VK có hại không tăng sinh phát triển quá đáng gây bệnh. Nếu vì lý do nào đó (như vệ sinh an tồn thực phẩm quá kém, do uống nhiều bia rượu, do dùng thuốc đặc biệt là kháng sinh, do stress...), sự cân bằng trong hệ tạp khuẩn ruột bị đảo lộn, sẽ đưa đến rối loạn đường ruột, thể hiện: tiêu chảy, khó tiêu, trướng bụng, giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng… Men vi sinh có trong thực phẩm như sữa chua, dưa chua, kim chi... đã được dùng từ lâu đời cho thấy an tồn và có lợi cho hệ tiêu hóa, tuy nhiên không đủ lượng cho trường hợp cần dùng khi bị mất cân bằng tạp khuẩn ruột. Với mục đích cung cấp lượng đủ VK có lợi, người ta làm ra dược phẩm hay thực phẩm chức năng. Tuy nhiên nhiều loại vẫn tỏ ra không hiệu quả vì VK có lợi khó sốâng khi sản xuất và bảo quản, chết hầu hết khi bị tác động bởi acid dạ dày và muối mật. Để một sản phẩm men vi sinh có hiệu quả cao ta chú ý những điều sau đây: 1. Các chủng vi sinh vật phải an toàn và được công nhận có tác dụng chữa trị hiệu quả như L. acidophilus, L. casei, L. rhamnosus, B. longum, B. breve, B. lactis, S. faecalis...; 2. Sống khi sản xuất, bảo quản và chịu được acid dạ dày và muối mật; 3. Tại ruột phải được phóng thích tốt để tác dụng. Sản phẩm hiệu quả cao khi đạt được ba tiêu chí này, tuy nhiên hiện nay có không nhiều sản phẩm đạt đầy đủ các tiêu chí này, người sử dụng nên tìm hiểu rõ thông tin sản phẩm để có chọn lựa đúng để sử dụng đạt hiệu quả cao. Men vi sinh đã được sử dụng hàng ngàn năm dưới dạng thực phẩm, đã cho thấy lợi ích cho sức khỏe và an tồn. Với dạng chế phẩm như thuốc và thực phẩm chức năng nếu chọn chủng tốt (theo công nhận WHO/FAO, GRASS), nhất là các chủng có nguồn gốc từ người (phân lập từ ruột) thì cũng an tồn như thực phẩm, có thể dùng thường xuyên (không gây tác hại ngược - feedback) để giúp cho đường ruột đầy đủ lượng vi khuẩn có lợi giúp đường ruột khỏe mạnh, nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Tuy nhiên vì lượng vi khuẩn đưa vào sản phẩm cao (hàng trăm triệu đến hàng tỉ), do đó nên sử dụng theo liều lượng chỉ dẫn của nhà sản xuất. Cần lưu ý một vài trường hợp men vi sinh sử dụng chủng vi sinh vật không thường trú trong ruột như dạng bào tử và nấm men thì không nên dùng lâu dài. Một lưu ý khác không nên dùng men vi sinh khi bị viêm tụy cấp, phẫu thuật ruột.
P/S: Ta biết rằng, người Bắc Âu dùng mỗi ngày hàng lít sữa chua (chủ yếu là L. bungaricus; S. Themophillus), phomade, ...và đặt biệt, có những vùng dùng thức uống mỗi ngày hầu như chỉ là nước lên men thì tại đó người dân có sức khỏe và tuổi thọ cao. Chúng ta vẫn ăn những loại như sữa chua, dưa chua, kim chi, phomade và các thực phẩm lên men khác... là đang "uống" vi sinh có lợi. Xét về góc độ an toàn, nếu một sản phẩm probiotic mà được chọn từ những chủng phân lập từ những chủng tốt của ruột ( ví dụ L.Acidophillus; L. Rhamosus, B. longum; B. Bifidum, S. feacium,... thì còn an toàn và thích nghi với ruột hơn các chủng lên men tự nhiên từ thực phẩm thông thường.
Một điều lưu ý rằng, các vi khuẩn Lactic acid bacteria (nhóm vi khuẩn được thừa nhận là probiotic hiện nay chủ yếu là các vi khuẩn sinh Axit -Lactit) hầu như bị chết bởi dịch vị dạ dày (pH 2-4) nên một sản phẩm thông thường như các thực phẩm tự nhiên sẽ hầu như không hiệu quả. Vì vậy trên thế giới người ta mới có những nghiên cứu dùng kỷ thuật bao vệ vi khuẩn, chỉ có một số ít nhà sản xuất đã thành công với các kỹ thuật bao này (enteric coated; micro-encapsulated, Dual coated Lactic acid bacteria - Duolac). Khi sử dụng probiotic cần lưu ý : 1/ chủng sử dụng là gì và được phối hợp như thế nào? 2/ Số lượng tế bào ban đầu của sản phẩm ? 3/ Khả năng sống sót trong bảo quản, sống qua bao tử?. Một sản phẩm đáp ứng cao các tiêu chí này sẽ có hiệu quả.
05:29 CH 10/05/2011
Hôi miệng: Chữa cách nào?
Các bạn đã trao đổi đúng những vần đề mà tôi có những hiểu biết nhất định và tôi thấy cần thiết cung cấp thông tin có thể có ích. Tại VN thì chưa ai nghiên cứu gì về Probiotic và răng miệng, tuy nhiên trên thế giới đã được ngiên cứu. Tôi gởi trên là chính những bài bài của tôi đã đăng trên báo trước đây. Các bạn hãy xem các nguồn trích dẫn tài liệu đưa ra là những nghiên cứu khoa học đã được công bố trên thế giới. Nếu bạn đã đọc và hiểu thì không có những lời trên, xin lỗi, tôi nghĩ là tôi sẽ không tranh luận gì nữa vì tôi nhận thấy là mình không thích hợp trao đổi gì thêm ở đây.
04:03 CH 09/05/2011
Bé bị táo bón - phần 2
TÁO BÓN Ở TRẺ SƠ SINH VÀ NHŨ NHI
Nhờ ruột co thắt, chất cặn bã của quá trình tiêu hóa được chuyển dần xuống trực tràng tích tụ hình thành khối phân và thải sau 12- 24 giờ. Khi lượng phân đủ sẽ kích thích co thắt, đồng thời làm giãn cơ vòng hậu môn trong, đẩy phân xuống ống hậu môn tạo phản xạ muốn đại tiện. Bằng tự chủ, ta có thể "nín nhịn" bằng sự co cơ vòng hậu môn hay ngược lại ta cũng có thể chủ động đi cầu bằng co cơ thành bụng để đẩy phân xuống ống hậu môn (cố rặn). Ở trẻ sơ sinh, chỉ có cơ chế điều hòa đại tiện theo phản xạ tự nhiên, còn cơ chế điều hòa bằng sự chủ động chỉ được hình thành sau một thời gian mẹ tập hay nhờ sự hoàn thiện dần thói quen của trẻ. Một nhân tố nào tác động lên quá trình chu chuyển đào thải trên đều gây ra sự xáo trộn đại tiện, có thể gây tiêu chảy hoặc táo bón.
Có thể táo bón do sự bất bình thường chức năng đại tiện bẩm sinh ở ruột hoặc hậu môn; hoặc ở hệ thần kinh điều khiển hoạt động ruột; hay các trường hợp táo bón mãn tính đi kèm với tổn thương thực thể ở đại tràng như khối u đại tràng, phình đại tràng, nứt hậu môn, xơ cứng bì…Trường hợp này, cần được thăm khám và điều trị bởi chuyên khoa.
Đa số trẻ táo bón (95%) không có nguyên nhân thực thể tìm thấy được gọi là táo bón chức năng hoặc vô căn, khi này vai trò của mẹ hết sức cần thiết. Có 2 vấn đề liên quan táo bón là do cơ năng tống xuất và tình trạng phân. Hai nguyên nhân này có tác động qua lại, phải giải quyết tốt cả hai khi chăm sóc trẻ táo bón. Về cơ năng, sự nín nhịn làm chậm bài xuất gây tích tụ, phân ngày càng lớn và nước trong phân bị tái hấp thu ở ruột già càng làm phân khô cứng và gây nặng thêm. Hãy chủ động tạo thuận lợi cho trẻ đi cầu và khuyến khích đi đúng giờ, giúp bé quen và trở thành phản xạ tự nhiên.
Về khối phân, lượng phải đủ và tốt thì đại tiện mới nhẹ nhàng. Việc này liên quan chặt chẽ với chế độ dinh dưỡng và tình trạng tiêu hóa của trẻ. Trẻ nhỏ chưa ăn dặm, chỉ bú sữa không bổ sung được chất xơ từ thực phẩm, nên cho uống nhiều nước, có thể pha một ít nước táo hoặc lê ép. Giai đoạn ăn dặm, có thể bổ sung thực phẩm giàu chất xơ như rau lang, mồng tơi, củ, quả vào thức ăn cho bé. Nhưng, dù táo bón dạng nào cũng cần chăm sóc đường ruột vì phân xấu cũng là nguyên nhân gây táo bón, như bị dẻo, vón, thối do hoạt động thối rữa của vi khuẩn có hại. Probiotic giúp tiêu hóa sạch sẽ thức ăn hơn, đồng thời tăng thể tích phân nhờ làm xốp và giữ nước. Trong khẩu phần dinh dưỡng cho bé nên có probiotic, như yaourt (chỉ nên dùng ở tuổi ăn dặm trở lên) hay tốt nhất chọn loại chứa probiotic dành cho sơ sinh và nhũ nhi như Kidlac phối hợp vào sữa cho bé bú. Lưu ý, khi tình trạng táo bón lâu hay trở nặng, ta nên đi khám, hỏi ý kiến bác sĩ để cho trẻ dùng thuốc làm mềm phân hay thuốc bơm hậu môn nhằm ngăn ngừa tổn thương đại trực tràng và sức khỏe của bé.
07:46 CH 07/05/2011
Trẻ 1,5 tháng rối loạn tiêu hóa?
Còn nhỏ như bé chi nên cho dùng Kidlac 1g (dùng được cho sơ sinh, nhũ nhi), pha bột Kidlac vào sữa cho bé bú ngày 1x2 gói.
07:37 CH 07/05/2011
Hôi miệng: Chữa cách nào?
Thấy các bạn tranh luận, tôi không có ý kiến bàn lậun ai đúng ai sai. Tôi gởi những thông tin xét trên góc độ khoa học về vấn đề " răng miệng và probiotic" có sự liện hệ như thế nào để các bạn tham khỏa
Hôi miệng-Nguyên nhân không đơn giản
Hơi thở có mùi hôi - điều cực kỳ khổ sở trong cuộc sống. Khoảng 50-60% người trưởng thành trên hành tinh đang phải chịu khổ sở vì hơi thở có mùi hôi hay chứng hôi miệng. Các chuyên gia về Tai-Mũi-Họng và Răng-Hàm-Mặt cho rằng nguyên nhân dẫn đến hôi miệng thì khá nhiều, gồm những yếu tố chủ quan và khách quan nhưng đây là một rắc rối có thể khắc phục được.
Nguyên nhân tại khoang miệng và lân cận:
- Do thức ăn, chế độ sinh họat như: ăn những thức ăn có nhiều gia vị như tỏi, hành, hút thuốc lá…
- Do các nguyên nhân về răng miệng như: sâu răng, viêm lợi, nha chu, dùng răng giả…, vệ sinh răng miệng kém, không đúng cách…Sâu răng là nguyên đặc biệt quan trọng ở những nước đang phát triển, khí hậu nóng ẩm, ý thức hoặc bảo vệ răng miệng kém vì các chất bã thức ăn rơi vào lỗ răng sâu, các miếng trám bị hở hay răng lệch gây nhồi nhét thức ăn. Các bệnh do vôi răng, viêm nướu răng, bệnh nha chu, bệnh gây khô miệng hay lở loét niêm mạc miệng cũng là môi trường thuận lợi gây hôi miệng.
- Do các bệnh viêm mũi, họng, viêm amidan, xoang và phổi.
Nguyên nhân xa hơn: ở thực quản do các bệnh nội tiết như tiểu đường; ở hệ hô hấp có lao, viêm phổi; ở đường tiêu hóa do chứng trào ngược dạ dày. Đối với người già yếu bị hôn mê, suy gan, suy thận hoặc tiểu đường thì ở miệng cũng có những mùi hôi đặc trưng như suy gan có mùi tanh như cá, suy thận có mùi khai như nước tiểu...Khi hệ tiêu hóa không khỏe mạnh như rối lọan tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích (có thể kể đến đau bụng, trướng bụng, rối loạn thói quen đi cầu (táo bón hoặc tiêu chảy lắt nhắt)), hội chứng trào ngược dạ dày thực quản (GERD-Gastroesophageal reflux disease) cũng có thể là nguyên nhân của chứng bệnh này (Van den Broek và cs. A review of the current literature on management of halitosis. Oral Dis. 2008; 14: 30–39).
Tuy nhiện, những nghiên cứu tỉ mỉ thời gian gần đây đã cho thấy có sự khác rõ rệt hệ tạp khuẩn trên lưỡi giữa những người hôi miệng và bình thường. Trên lưỡi người khỏe mạnh có khỏang 17 lòai vi sinh vật sống so với 32 lòai vi sinh vật trên người hôi miệng. Đặc biệt trong đó Solobacterium moorei tồn tại trên tất cả của nhóm hôi miệng và chiếm tỉ lệ cao (có thể tới 10,8%) trong hệ tạp khuẩn, trong khi đó không hề tìm thấy trong nhóm bình thường. Các vi sinh vật còn lại có thể kể đến Granulicatella elegens, Eubacterium species, Firmicutes species, Porphyromonas species, Staphylococcus warneri, Dialister species, Prevotella intermedia..., đa số là các vi sinh vật kỵ khí và tạo nhiều hợp chất bay hơi chứa lưu hùynh (VSC-volatile sulfur compound) (Haraszthy VI và cs. Identification of oral bacterial species associated with halitosis. J Am Dent Assoc. 2007 Aug; 138(8):1113-20).
Những nghiên cứu khác cho thấy nếu có nhiều vi khuẩn (trên lưỡi, trong khoang miệng, trong ruột…) sản xuất các hợp chất bay hơi chứa lưu hùynh, quan trọng nhất là hydrogen sulfide (H2S), methyl mercaptan và dimethyl sulfide sẽ làm cho hơi thở nặng mùi. Thú vị hơn, các nghiên cứu cũng chỉ ra độ trầm trọng của chứng hôi miệng nhiều hay ít cũng liên quan đến số lượng các hợp chất này (Krespi YP và cs. The relationship between oral malodor and volatile sulfur compound-producing bacteria. Otolaryngol Head Neck Surg. 2006 Nov; 135(5):671-6; Washio J và cs. Hydrogen sulfide-producing bacteria in tongue biofilm and their relationship with oral malodour. Journal of Medical Microbiology 2005; 54: 889-995). Do vậy cần những biện pháp điều trị từ gốc: cân bằng, cải tạo hệ vi sinh vật đường tiêu hóa.

Điều trị hôi miệng-Cần cân bằng, cải tạo hệ vi sinh vật đường tiêu hóa
Phần I đã nêu nguyên nhân của chứng hôi miệng. Đây là triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau. Muốn trị dứt bệnh phải tìm ra nguyên nhân gây nên bệnh, sau đó mới chọn phương pháp điều trị. Khỏang 80% người hôi miệng có nguyên nhân từ răng miệng hoặc đường tiêu hóa.tạo, do việc có quá nhiều các hợp chất bay hơi chứa lưu hùynh (VSC-volatile sulfur compounds).
Nếu nguyên nhân tại khoang miệng, hệ tiêu hóa: cần phải cải tạo, giảm thiểu, cân bằng hệ tạp khuẩn (ở lưỡi, khoang miệng, đường tiêu hóa), giảm việc tạo ra các hợp chất VSC gây mùi hôi bởi hệ vi sinh vật có lợi (gọi chung là nhóm probiotic) thì mới giải quyết tận gốc nguyên nhân gây hôi miệng
-Cần vệ sinh răng miệng thường xuyên, sau các bữa ăn. Đây là biện pháp vệ sinh không thể thiếu. Đối với những người hơi thở có mùi hôi do sâu răng, viêm lợi, dùng răng giả…thì các bác sỹ nha khoa có thể giải quyết. Tuy nhiên, nếu hơi thở của bạn vẫn có mùi hôi ngay sau khi vệ sinh răng miệng sạch sẽ thì vấn đề vướng mắc ở đây là xử lý vi khuẩn ẩn nấp giữa các kẽ răng, bám dai dẳng ở lợi. Các bệnh do vôi răng, viêm nướu răng, bệnh nha chu, bệnh gây khô miệng hay lở loét niêm mạc miệng cũng là môi trường thuận lợi gây hôi miệng. Trong miệng thường có nhiều vi khuẩn kỵ khí sử dụng các thức ăn còn tồn đọng lại trong miệng và các tế bào chết hoặc tấn công vào răng, lợi. Đa số chúng tạo ra nhiều hợp chất VSC. Tăng cường vệ sinh răng miệng, lưỡi, xử lý vi khuẩn ẩn nấp giữa các kẽ răng, bám dai dẳng ở lợi, điều trị các nguyên nhân không phải từ hệ tiêu hóa như viêm phổi, xoang…cũng sẽ giảm mùi hôi. Giảm hoặc không sử dụng thức ăn có nhiều gia vị như tỏi, hành…
-Vệ sinh cho lưỡi của bạn rất quan trọng nhưng ít được thực hiện. Đặc điểm bề mặt của lưỡi nhám, có các tưa lưỡi ở bề mặt ngoài, chính là nơi cư ngụ của tạp khuẩn đặc biệt tập trung số lượng lớn ở cuống lưỡi. Các nha sỹ khuyên các bạn nên chải, nạo lưỡi ít nhất một lần/ ngày bằng bàn chải đánh răng bình thường hay một dụng cụ chuyên để làm sạch lưỡi sẽ làm giảm đáng kể mùi ở những người hôi miệng nặng (Seemann R và cs. Effectiveness of mechanical tongue cleaning on oral levels of volatile sulfur compounds. J Am Dent Assoc. 2001; 132: 1263-1267).
-Bệnh gây khô miệng, giảm tiết nước bọt cũng tạo điều kiện cho miệng dễ bị hôi. Thông thường thức dậy vào buổi sáng miệng của chúng ta hay có mùi hôi đặc trưng do tuyến nước bọt trong đêm giảm tiết nước bọt khiến cho miệng của chúng ta bị khô và là điều kiện tốt cho các vi khuẩn phát triển rất nhanh tạo nên mùi hôi này. Những người hút thuốc lá trong miệng sẽ bị khô, nhựa thuốc lá đọng lại trong cổ họng…do vậy kể cả họ vệ sinh răng miệng thường xuyên miệng vẫn bị hôi (Haraszthy VI và cs. Identification of oral bacterial species associated with halitosis. J Am Dent Assoc. 2007 Aug; 138(8):1113-20).
-Cần phát hiện và điều trị dứt điểm các bệnh viêm mũi, họng, viêm amidan, xoang và phổi….
Nếu nguyên nhân xa hơn từ hệ tiêu hóa không khỏe mạnh: như rối lọan tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích (có thể kể đến đau bụng, trướng bụng, rối loạn thói quen đi cầu (táo bón hoặc tiêu chảy lắt nhắt)), hội chứng trào ngược dạ dày thực quản (GERD-Gastroesophageal reflux disease), nhiễm Helicobacter pylori thì các biện pháp tại chỗ (vệ sinh răng miệng, lưỡi…) rõ ràng chỉ giải quyết phần ngọn của nguyên nhân (Van den Broek và cs. A review of the current literature on management of halitosis. Oral Dis. 2008; 14: 30–39). Các bệnh nhân hôi miệng và có nhiễm H. pylori thì việc điều trị tiệt căn có thể làm hết hôi miệng trên 61% bệnh nhân (Serin E và cs. Halitosis in patients with Helicobacter pylori-positive non-ulcer dyspepsia: an indication for eradication therapy? Eur J Intern Med. 2003; 14: 45–48).
Với những nguyên nhân phức tạp nêu trên, hiện nay các sản phẩm có tác dụng diệt vi khuẩn tại chỗ như các loại nước súc miệng, kẹo cao su, kem làm trắng răng..., các sản phẩm giúp che dấu mùi hôi, cách chữa dân gian: chè xanh (do có nhiều hợp chất polyphenol - chất kháng vi khuẩn), nhiều cách khác để chữa hơi thở có mùi hôi phổ biến như: súc miệng bằng nước pha sẵn từ một số dược liệu có tính kháng khuẩn hay tinh dầu như cây ngải, bạc hà v…v…, chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn và hơi thở sẽ có mùi hôi trở lại, nghĩa là chỉ trị được phần ngọn mà không trị được phần gốc. Gần đây, việc cải tạo, cân bằng hệ vi khuẩn (ở lưỡi, khoang miệng, đường tiêu hóa), giảm tạo ra các hợp chất VSC gây mùi hôi đường tiêu hóa bởi việc tăng cường hệ vi sinh vật có lợi (gọi chung là nhóm probiotic) đã mở ra hướng điều trị mới thân thiện, tự nhiên, tận gốc và bền vững. Thật vậy, các sản phẩm probiotic với những chủng vi sinh vật phù hợp tạo được BLIS (Bacteriocin Like Inhibitory Substances), nhiều nhất là ở chủng Streptococcus salivarius K12, với tính chất ức chế tự nhiên các vi sinh vật sinh ra hợp chất VSC, nguyên nhân chính gây hôi miệng, đã được chứng minh qua thử nghiệm lâm sàng làm giảm 85% số người hôi miệng nặng sau một tuần sử dụng so với chỉ 30% ở nhóm chứng chỉ vệ sinh răng miệng thật kỹ và kèm thêm sử dụng nước súc miệng chứa chlorhexidine (Burton JP và cs. A preliminary study of the effect of probiotic Streptococcus salivarius K12 on oral malodour parameters. J Appl Microbiol. 2006 Apr; 100(4):754-64).
Thực trạng sâu răng ở nước ta và tác hại của sâu răng-Quan điểm mới trong phòng ngừa sâu răng

Ở nước ta, mặc dù đã có nhiều chiến lược y tế tuyên truyền các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ răng miệng nhưng tỉ lệ sâu răng ở các lứa tuổi vẫn ở mức cao nhất thế giới và liên quan chặt chẽ đến việc ăn quá nhiều chất bột, đường. Nghiên cứu gần đây của Viện Răng-Hàm-Mặt T.Ư cho thấy: tính số răng sâu theo nhóm tuổi, trên 60% người trung niên có răng sâu; ở nhóm trên 45 tuổi thì 89% có răng sâu (với 8,43 chiếc răng sâu/người); ở độ tuổi dưới 18 là gần 90% (với 2,84 chiếc răng sâu/người). Thêm vào đó, thói quen lười khám răng miệng định kỳ (50% người dân hầu như không bao giờ đi khám bệnh về răng miệng, ở trẻ em là 60%) khiến tỉ lệ người mắc bệnh viêm quanh răng khá cao: có tới trên 25% người ở lứa tuổi trung niên viêm lợi hoặc có túi lợi quanh răng; ở lứa tuổi cao hơn tỉ lệ này lên tới trên 35%, nếu không điều trị kịp thời, chứng viêm lợi, túi lợi quanh răng gây mất răng vĩnh viễn rất nhanh.
Tác hại của sâu răng
Ngay cả từ chiếc răng sữa của bé cũng phải được chăm sóc kỹ. Nếu răng sữa bị hỏng sớm, phải nhổ khi chưa đến lúc, mầm răng vĩnh viễn bên dưới chưa lớn kịp nên chưa mọc ngay được. Lỗ nhổ răng đó bị bít lại và cứng chắc, khi mầm răng vĩnh viễn mọc lên sẽ gặp khó khăn, mọc chậm và đôi khi mọc lệch. Răng mọc lệch lạc cần được chỉnh cho đúng vị trí vì răng mọc lệch bị bám thức ăn nhiều hơn làm tăng nguy cơ sâu răng. Sâu răng là nguyên nhân gây nhiễm trùng khoang miệng, xoang hàm (viêm xoang hàm cấp tính hay mãn tính, viêm mủ xoang hàm), các nhiễm trùng này thường hay tái phát. Nặng hơn có thể đưa đến áp-xe xương ổ răng. Sự hiện diện quá nhiểu vi khuẩn trong các ổ sâu răng, mảng bám răng được xem là có liên hệ với biến chứng vi khuẩn gây nhiễm trùng máu, viêm màng trong tim khi gặp điều kiện thuận lợi, dễ dàng dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách .
Phòng ngừa sâu răng
Phòng ngừa sâu răng là biện pháp quan trọng nhất vì như chúng ta biết răng ở người trưởng thành thường là không thể mọc thêm. Cần vệ sinh răng miệng thường xuyên, sau các bữa ăn, đây là biện pháp vệ sinh không thể thiếu.
Về vệ sinh răng miệng, cần chải răng đúng cách với kem đánh răng chứa fluor, tốt nhất là sau bữa ăn. Nếu chải 1 lần/ngày thì cần thiết làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng chỉ nha khoa làm sạch kẽ răng theo hướng dẫn của bác sĩ nha khoa. Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để lấy cao răng, phát hiện răng sâu và chữa kịp thời.
Để phòng sâu răng, không nên ăn vặt, nhất là thức ăn có đường; tăng cường thức ăn có nhiều chất xơ như rau tươi, trái ây tươi... Cần tăng cường chất lượng tổ chức cứng của răng bằng cách: người mẹ mang thai ăn uống tốt, nhất là cung cấp đủ canxi và vitamin; trẻ em cần chống còi xương, suy dinh dưỡng vì điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Vitamin D, đặc biệt Fluor là những nguyên tố vi lượng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức cứng của răng.
Đây là các biện pháp phòng ngừa sâu răng cổ điển, probiotic là nhóm vi sinh vật thân thiện, có lợi cho sức khoẻ con người, gần đây đã có những đóng góp giúp phòng ngừa sâu răng. Thật vậy, các sản phẩm probiotic với những chủng vi sinh vật phù hợp tạo được BLIS (Bacteriocin Like Inhibitory Substances) giúp giảm số lượng các vi khuẩn thủ phạm chính gây sâu răng. Ngoài ra nhiều quan niệm mới cho rằng sâu răng là kết qủa tác động của toàn bộ quần thể vi sinh vật có trên mảng bám hoặc là kết qủa của sự mất cân bằng quần thể vi sinh vật trong khoang miệng. Vì thế cần những biện pháp căn bản từ gốc: cân bằng, cải tạo hệ vi sinh vật đường tiêu hóa và khoang miệng với sản phẩm probiotic chứa các chủng vi sinh vật phù hợp sẽ giúp phòng ngừa sâu răng tốt hơn.
Phần III-Phòng ngừa sâu răng - hội miệng với sản phẩm probiotic
Phần I- đã nêu nguyên nhân vi khuẩn học gây sâu răng. Phần II-Thực trạng sâu răng ở nước ta và tác hại của sâu răng-Quan điểm mới trong phòng ngừa sâu răng. Gần đây, cùng với các biện pháp phòng ngừa sâu răng cổ điển, probiotic là nhóm vi sinh vật thân thiện, có lợi cho sức khoẻ con người đã có những đóng góp giúp phòng ngừa sâu răng. Thật vậy, các sản phẩm probiotic với những chủng vi sinh vật phù hợp tạo được những chất BLIS (Bacteriocin Like Inhibitory Substances) giúp giảm số lượng các vi khuẩn thủ phạm chính gây sâu răng. Ngoài ra nhiều quan niệm mới cho rằng sâu răng là kết qủa tác động của toàn bộ quần thể vi sinh vật có trên mảng bám hoặc là kết qủa của sự mất cân bằng quần thể vi sinh vật trong khoang miệng. Vì thế những biện pháp căn bản từ gốc: cân bằng, cải tạo hệ vi sinh vật đường tiêu hóa và khoang miệng với sản phẩm probiotic chứa các chủng vi sinh vật phù hợp sẽ giúp phòng ngừa sâu răng tốt hơn.
Thật vậy, các sản phẩm probiotic với những chủng vi sinh vật phù hợp tạo được BLIS (Bacteriocin Like Inhibitory Substances) giúp giảm số lượng các vi khuẩn thủ phạm chính là Streptococcus mutans và Streptococcus sobrinus, tác nhân sử dụng thức ăn, đường, chất bột thừa trên răng miệng chúng ta để tạo acid phá hủy men răng. Kẹo nhai chứa 108 vi khuẩn probiotic Lactobacillus/kẹo hoặc chứa 1g Xylitol đã làm giảm rõ rệt (PKhông những vậy, vi sinh vật probiotic còn có thể ức chế nhiều vi sinh vật có hại khác cũng góp phần phá hủy men răng: thử nghiệm lâm sàng bằng phương pháp mù đôi, ngẫu nhiên, có nhóm chứng trên 594 trẻ em từ 1-6 tuổi từ nhiều thanh phố khác nhau tại Phần Lan (Finland), khi sử dụng nhiều sản phẩm probiotic chứa Lactobacillus rhamnosus GG trong 7 tháng cho thấy giảm rõ rệt nguy cơ sâu răng đi một nửa so với nhóm chứng (OR=0.51, p=0.004), tác động này tốt nhất trên trẻ em nhóm từ 3-4 tuổi (Näse L và cs. Effect of long-term consumption of a probiotic bacterium. Lactobacillus rhamnosus GG, in milk on dental caries and caries risk in children. Caries Res 2001;35 (6): 412-420). Một hướng nghiên cứu khác khi cho Streptococcus mutans đột biến (không có khả năng tạo acid do vậy không thể gây sâu răng) vào trong thức ăn và thử nghiệm trên chuột cho thấy việc sử dụng chủng đột biến này đã giúp loại bỏ nhanh chóng vi khuẩn S. mutans bình thường, do vậy khiến chuột không bị sâu răng ngay cả khi được nuôi bằng chế độ ăn giàu đường (Hillman JD. Genetically modified Streptococcus mu¬tans for the prevention of dental caries. Antonie Van Leeuwenhoek 2002; 82:361-366).
Note: Mỗi người thử làm một thử nghiệm nhỏ là thay vì sáng ra súc miệng thì thử chưa súc mà dùng ngay viên Duolac 7.1 chewable (nhai) nếu nhận thấy miệng sạch và đỡ hôi là các vi sinh vật có lợi trong viên này đang thể hiện vai trò tự nhiên của nó (cạnh tranh với vi khuẩn gấy mùi hôi). Nếu đúng như vậy là chứng tỏ bạn gì.... nói đúng.
Việc hôi miệng có nguồn gốc chính từ "ổ vi khuẩn" có thể từ ruột, từ miệng,.... và chính từ sự xâm nhập tự nhiên mỗi ngày (hệ thống tiêu hóa là ống mở từ miệng cho đến hậu môn) , cho nên việc "ngăn nhập" hay " diệt ổ " trong hệ thống tiêu hóa thật là khó nên như bạn gì ... nói là sau đó bị lại hôi miệng là do nguyên nhân này. Bạn này đang dùng probiotic (vi khuẩn có lợi) để ức chế vi khuẩn gây mùi là cách dùng đúng, việc này thật ra để có kết quả cần thời gian, và thậm chí dùng nó mỗi ngày cũng là tốt cho sức khỏe nói chung.
12:21 CH 07/05/2011
b
BSTH
Bắt chuyện
512Điểm·0Bài viết
Báo cáo