Gan là một bộ phận vô cùng quan trọng của cơ thể. Cà gai leo vị thuốc bổ gan an toàn và hiệu quả bất ngờ Với nhiệm vụ giải độc, bài tiết độc tố gan còn là cơ quan thanh lọc máu và nuôi dưỡng gân cốt, giúp cơ thể bài trừ độc tố, phát triển khỏe mạnh. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến gan như sử dụng nhiều chất kích thích bia rượu, thuốc lá, thức khuya, căng thẳng trong công việc cuộc sống đềucó thể dẫn đến các căn bệnh về gan. Trong cơ thể gan là cơ quan lớn thứ hai, đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc điều tiết sức khỏe của chúng ta. Nhất là ở trẻ em, sự phát triển của cơ thể chưa hoàn thiện, hệ miễn dịch với các loại bệnh còn rất kém nên các bệnh lý thường gặp ở trẻ em là do bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hoá gây ra. Đồng thời, trong thời kỳ sau sinh, cơ thể của bé chưa hoàn thiện hết các sinh lý của gan nên khi trẻ tiếp xúc với các loại virus hay chất độc rất dễ bị các bệnh về gan. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu, nghiên cứu để biết sâu hơn về bệnh gan ở trẻ em cũng như tìm hiểu về loại thuốc bổ gan cho trẻ em hiện nay trên thị trường. § Ngạc nhiên “kẻ thù nhà nông” chữa bệnh gan thận § Phái nữ cũng cần có một đời sống tình dục khỏe mạnh? § Truy tìm “Thần dược” cho sinh lý nữ giới § 14 tính năng thần kỳ của mật ong đối với việc bảo vệ đôi mắt của chúng ta § Chế độ dinh dưỡng đem lại đôi mắt sáng mỗi ngày Đậu đen là cây thuộc họ Đậu, mọc hàng năm, có hoa màu tím nhạt, khi ra quả có dạng dài, bên trong chứa khoảng 10 hạt đậu đen. Đây là loại cây rất dễ trồng, thường được chế biến thành các món ăn sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Chính vì được dùng như thực phẩm nên công dụng chữa bẹnh của đậu đen ít được chú ý hơn. Đặc biệt là loại đậu đen lòng xanh được coi là bài thuốc quý với giá cả rất “bình dân”. Đậu đen vốn là loại thực phẩm vô cùng quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt. Chè đậu đen mát ngọt là món ăn không thể thiếu mối dịp hè về. Thế nhưng ít tai biết rằng đậu đen không chỉ ngon mà còn bổ. Với những ai đang muốn tìm loại thuốc bổ thận sáng mắt hiệu quả và lành tính thì đậu đen chính là sự lựa chọn tốt nhất. Mật ong có thể được sử dụng như một phương thuốc bổ mắt từ thiên nhiên hữu hiệu để chữa trị vấn đề khô mắt. Những ngày khô mắt đã trở thành một phổ biến vấn đề trong số những người được tiếp xúc với các tiện ích khác nhau điện tử như máy tính xách tay, điện thoại di động, và máy tính bảng và như vậy. Mắt khô là một điều kiện mà xảy ra nếu con mắt không thể cung cấp đủ lượng nước mắt để bôi trơn của mắt . Một người bị vấn đề này có thể gặp các triệu chứng khác nhau như một cảm giác của cơ thể hoặc cát nước ngoài trong mắt, đau ở mắt, đỏ mắt, nhìn mờ, vv Những ngày này, ngày càng có nhiều người đang có nhiều vấn đề về mắt như ngứa mắt, gặp vấn đề giác mạc, ngứa mắt, khô mắt, đỏ mắt hay đục thủy tinh thể . Hơn nữa, việc sử dụng máy tính có những đóng góp lớn hơn cho vấn đề về mắt khác nhau. Tất cả những vấn đề này có thể được điều trị tốt bằng cách sử dụng mật ong. Mật ong được coi là một phương thuốc bổ mắt từ thiên nhiên tốt nhất để điều trị tất cả các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của mắt. Mật ong là một giải pháp cổ xưa nhất và tốt nhất để chữa trị tất cả những vấn đề này. Khi mật ong rất giàu các đặc tính chống viêm, nó có hiệu quả cao hơn so với thuốc không kê đơn. Khám phá tác dụng lợi hại cuả những loại thuốc bổ mắt chứa vitamin A
Con tôi 9 tuổi, cháu bị cận cả hai mắt, mắt trái 2 đi ốp và mắt phải 2,25 đi ốp. Tôi nghe nói một số thuốc bổ mắt chứa omega 3,6,9, chondroitin, computer eyes drop hay dầu gấc có thể giúp mắt giảm và dần dần chữa khỏi cận thị. Xin hỏi điều này có đúng không. Ngồi học đúng tư thế và đủ ánh sáng giúp mắt bé khỏe mạnh. Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác, do nhãn cầu bị dài ra, tia sáng hội tụ ở trước võng mạc thay vì phải hội tụ tại đúng võng mạc khiến người bị cận thị chỉ có thể nhìn được những vật ở gần mà không nhìn rõ những vật ở xa. Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thuốc bổ mắt chứa các vitamin như: vitamin A, vitamin E, vitamin C, một số vitamin nhóm B hoặc chứa các carotenoid tốt cho mắt như lutein, zeaxanthin. Các thuốc mà chị cho cháu dùng là những loại thuốc hỗ trợ dinh dưỡng cho mắt chứ không có tác dụng phòng bệnh hay chữa bệnh. Thực tế cho thấy, không có loại thuốc bổ mắt nào có thể ngăn ngừa bệnh cận thị hay làm mắt cận sáng lên được. - Tìm hiểu thêm:thuốc bổ thận Với độ cận của con chị vẫn còn đang ở mức nhẹ, do vậy, bên cạnh việc bổ sung các chất trên (tốt nhất qua chế độ ăn uống), chị cần hướng dẫn cho cháu tập mắt và duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý để không làm tăng độ cận của mắt. Cụ thể, với chế độ ăn nên ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin A, B, kẽm, beta carotene, crom, selen... như cà rốt, trứng gà, bí đỏ, rau dền, rau ngót, hải sản, thịt bò, thịt gà... Vấn đề tập luyện, chị cần hướng dẫn cháu tập thể dục mắt sau 45-60 phút làm việc như nhìn ra xa, chớp mắt, nhắm mắt thư giãn. Khi học bài cần giữ tư thế thẳng, cân đối giúp mắt không phải điều tiết nhiều, khi học bài với máy tính, nên giữ khoảng cách 30-35cm so với màn hình. Ngoài ra, chị không nên để cháu thức khuya vì sẽ gây ảnh hưởng xấu cho mắt. Việc dùng thuốc bổ mắt phải có chỉ định của bác sĩ. >>thuốc bổ não
Từ xa xưa, con người đã biết dùng nấm linh chi làm thuốc. Gần đây, các nhà khoa học phát hiện nấm linh chi cũng có tác dụng phòng và chống ung thư, chống lão hóa, làm tăng tuổi thọ. Từ xa xưa, con người đã biết dùng nấm linh chi làm thuốc. “Thần nông bản thảo” xếp linh chi vào loại siêu thượng phẩm hơn cả nhân sâm, dùng lâu ngày giúp cơ thể nhẹ nhõm, tăng tuổi thọ (khinh thân bất lão diên niên ích thọ) nên dân gian rất ưa chuộng. “Bản thảo cương mục” coi linh chi là loại thuốc quý, có tác dụng bảo can (bảo vệ gan), giải độc, cường tim, kiện não (bổ óc), tiêu đờm, lợi niệu, ích vị (bổ dạ dày). Gần đây, các nhà khoa học phát hiện . Linh chi còn có tên chi thảo, nấm lim, nấm thần tiên, nấm trường thọ... Dựa vào màu sắc, có 6 loại: thanh chi (màu xanh); hồng chi hay xích chi, đơn chi (màu hồng); hoàng chi hay kim chi (màu vàng); bạch chi hay ngọc chi (màu trắng); hắc chi hay huyền chi (màu đen); tử chi (màu tím). Nấm linh chi chứa sterol, enzym, protid, đường, acid béo, triterpen, polysaccharid và các nguyên tố vô cơ. Theo Đông y, thanh chi tính bình, không độc, có tác dụng bổ can khí, cường khí, an thần, sáng mắt, tăng trí nhớ, chữa viêm gan cấp và mạn tính; xích chi vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, chữa các bệnh về huyết và thần kinh, tim; kim chi vị ngọt, tính bình, không độc, làm mạnh hệ miễn dịch; huyền chi vị mặn, tính bình, không độc, chữa các bệnh ở cơ quan bài tiết, trị bí tiểu tiện, sỏi thận; ngọc chi vị cay, tính bình, không độc, tác dụng bổ ích phế khí, chữa hen; tử chi vị ngọt, tính ôn, không độc, chữa đau nhức xương khớp. Công năng chủ trị: Bổ khí dưỡng âm, bổ tâm an thần, cố thể kiện thân (bảo vệ, tăng cường sức khỏe); Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, đau đầu chóng mặt, hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ quên lẫn, ù tai điếc tai, đau lưng mỏi gối, hen suyễn, viêm khí phế quản, viêm gan, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tăng mỡ và cholesterol trong máu, giảm bạch cầu, bệnh tiểu đường, người cao tuổi, cơ thể suy nhược, mệt mỏi, tiêu hoá kém... Liều dùng, cách dùng: 8 - 15g; nấu hãm, ngâm rượu. >> Tìm hiểu thêm:tác dụng của nấm linh chi Món ăn - bài thuốc bổ dưỡng và chữa bệnh có linh chi: - Gà linh chi: Linh chi 15g, gà trống tơ 1 con. Linh chi rửa sạch, thái lát, gà làm sạch, bỏ ruột, cho gừng và hành tươi thái lát cùng các gia vị thích hợp. Đem gà và một nửa số linh chi, gừng, hành thêm muối, nước, gia vị nấu chín. Vớt gà ra; cho vào chảo có dầu vừng và đun. Phần linh chi còn lại sắc lấy nước, thêm đường phèn, bột ngọt và cô lại; lấy nước này rưới đều lên gà trong chảo có dầu đến khi da bì gà đỏ tươi là được. Chia ăn 1 - 2 bữa trong ngày. Hoặc: Gà làm sạch bỏ ruột, linh chi thái nghiền vụn gói vải xô cho trong bụng gà, đem hầm cách thủy, khi gà chín, bỏ bã thuốc, thêm gia vị ăn, chia ăn nhiều lần trong ngày; Dùng cho các trường hợp suy nhược sau đẻ, sau bệnh nặng dài ngày, bà mẹ nuôi con ít sữa, người cao tuổi. - Trà linh chi: linh chi 9g, nấu hãm uống như nước trà. Dùng cho các trường hợp suy nhược thần kinh, đau đầu chóng mặt, hồi hộp mất ngủ, sút giảm trí nhớ ở người cao tuổi, người bị yếu mệt do bệnh lâu ngày. - Nước sắc linh chi, trần bì, bách hợp: linh chi 10g, bách hợp 10g, trần bì 8g. Sắc nước hoặc pha hãm, chia nhiều lần uống trong ngày. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, hen suyễn, ho gà. - Linh chi tán: linh chi rang sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 3g, chiêu với nước trà hoa cúc. Dùng cho các trường hợp viêm gan cấp, viêm gan mạn, đau quặn vùng gan mật, tăng các men hoạt tính SGOT, SGPT. - Rượu linh chi: linh chi 100g, rượu trắng 500ml. Linh chi rửa sạch, thái lát, ngâm với rượu, sau 7 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 15ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, ăn kém, ít ngủ, quên lẫn... >> xem thêm:công dụng của nấm linh chi
Với thể khí huyết dưỡng hư, thường có biểu hiện: đầu váng, mắt hoa, tai ù, ngại nói, tinh thần mệt mỏi, theo lương y Quốc Trung, có thể dùng bài thuốc gồm: đảng sâm 15g, ngũ vị tử 10g, sơn thù 12g, cam thảo 10g, mạch môn đông 12g, sinh địa 12g, kỷ tử 12g. Với thể khí hư, dương hư - biểu hiện: sắc mặt trắng bệch, thở gấp, ngại nói, mệt mỏi, chân tay vô lực, chân tay lạnh, di tinh, hoạt tinh, sinh lý yếu, thì dùng bài thuốc gồm: hoàng kỳ, đảng sâm, ngũ vị tử (mỗi vị 30g), mạch môn đông 40g, sài hồ bắc 3g. Hoặc dùng một trong 2 bài thuốc đơn giản dưới đây: quế chi 10g, cam thảo 10g, mạch đông 10g, ngũ vị tử 6g, hồng sâm 5g, pha với nước sôi thay chè, mỗi ngày một thang; hoặc: chế hoàng tinh 30g, đẳng sâm 30g, cứu cam thảo 10g, sắc uống vào buổi sáng, ngày 1 lần. Món ăn trị bệnh Với bệnh huyết áp thấp mạn tính, việc ăn uống có vai trò quan trọng không kém gì thuốc. Dưới đây là những món ăn giúp cải thiện huyết áp thấp: * Gà ác 1 con, làm sạch lông, bỏ phủ tạng, rồi cho 30g đương quy, 30g hoàng kỳ, 5 quả táo đỏ, 15g kỷ tử vào bụng gà, đem hấp cách thủy cho đến chín mềm. Khi chín bỏ bã thuốc, ăn thịt và dùng nước canh. Mỗi tuần ăn 1 lần, ăn liền trong 3 tháng. * Cá diếc một con rửa sạch, bỏ ruột, cho vào cùng 50g gạo nếp ninh nhừ thành cháo, cho thêm gia vị, hạt tiêu, thì là, hành, rồi múc ra ăn nóng. Mỗi tuần ăn 2 - 3 lần. Ăn liền 2 - 3 tháng. * Chim cút một con làm sạch lông, bỏ phủ tạng. Lấy 30g hoàng kỳ, 30g thiên ma, gừng tươi 5g, 5 củ hành, rửa sạch cho vào bụng chim cút, thêm gia vị cho vừa ăn rồi đem hầm cách thủy cho đến chín mềm, ăn thịt và uống nước, bỏ bã thuốc. * Táo đỏ 10 quả, sa sâm 15g, sinh địa 50g, thục địa 50g tất cả cho vào 600 ml nước nấu trong 30 phút, chắt lấy nước thuốc, cho thêm 50 ml mật ong loại tốt hòa đều, chia uống 3 lần dùng trong ngày. >>chữa bệnh huyết áp thấp
bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, có thể trở thành dịch đối với trẻ em, thanh thiếu niên do paramyxovirus gây nên. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hóa mủ (2 tuyến nước bọt nằm ở vị trí góc xương hàm, ngay bên dưới và phía trước tai). Sau khi tiếp xúc với virut quai bị khoảng 14 đến 24 ngày, người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Sau đó, tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng một tuần. Bệnh quai bị không có thuốc điều trị đặc hiệu mà chủ yếu là kiểm soát các triệu chứng và biến chứng. - Tìm hiểu thêm:cách chữa quai bị Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào mắc quai bị cũng có biểu hiện rõ ràng như vậy. Khoảng 25% người bị nhiễm virut này không có dấu hiệu bệnh lý rõ rệt, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không nhận biết được. Trên số bệnh nhân còn lại, mức độ biểu hiện của các triệu chứng cũng khác nhau. Vì vậy, với những miêu tả của anh cũng chưa thể khẳng định chắc triệu chứng đó có phải là quai bị hay không. Do đó, anh nên đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám và tư vấn hướng điều trị cụ thể. >>> xem thêm: cách chữa bệnh quai bị
Cây hoàn ngọc được xem loại cây có dược tính cao, có thể giúp hỗ trợ phòng và giảm triệu chứng nhiều loại bệnh. - Tìm hiểu thêm: trà hoàn ngọc Được biết, tại Việt Nam hiện đang có 2 loại cây mà dân gian thường gọi là Hoàn Ngọc âm và Hoàn Ngọc dương. Trong đó, chỉ có Hoàn Ngọc âm mới được nghiên cứu khoa học đầy đủ về các dược tính của nó. Loại cây này đã được DNTN trà Hoàn ngọc 7 Nga Tây Ninh nghiên cứu sản xuất thành dạng trà túi lọc với chiết xuất từ lá và rễ cây, có chứa chất Flavonoid rất quý (lợi cho tim mạch, động mạch vành...) là tác nhân chính làm tăng tuổi thọ, do có khả năng làm tan xơ vữa động mạch, cặn máu… Bên cạnh đó, còn có tác dụng giúp tăng cường bài tiết, loại bỏ chất độc (giải độc nhanh). >> lá cây hoàn ngọc Hỗ trợ trị rối loạn tiêu hoá, dạ dày, hành tá tràng, viêm thận cấp, các chứng bệnh phổi, u xơ tuyến tiền liệt, giảm đau khi bị ung thư gan... phòng và chữa bệnh rất hiệu quả, đặc biệt những bệnh phổ biến hiện nay như: huyết áp, đường huyết cao, tiểu đường, các dạng bệnh do nhiễm độc, vi nấm, nhiễm khuẩn, rối loạn chức năng...Từ năm 1990, nhóm nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu cây Xuân Hoa từ thực vật, hóa học, đến các tác dụng sinh học. Xuân hoa là một cây bụi, cao 1 - 3m, sống nhiều năm, thân non mềm màu xanh lục, thân già hoá gỗ màu nâu, nhiều cành mảnh. Lá mọc đối, cuống lá dài 1,5 - 2,5cm, phiến lá mềm, hình mũi mác... Hiện nay, cây Xuân Hoa được trồng khá phổ biến ở Việt Nam để làm thuốc. Đối với cây hoàn ngọc dương (còn gọi là Nhớt Tím, Hoàn Ngọc đỏ - vì ngọn, lá non và thân có màu đỏ tía), theo chuyên gia Trần Công Khánh đây là cây Bán Tự Mốc, tên khoa học là Hemigraphis glaucescens C.B Clarke, họ Ô rô (Acanthaceae). Bán Tự Mốc chủ yếu được dùng trong dân gian, chưa được nghiên cứu.Mẫu chiết xuất từ rễ cây Hoàn Ngọc 7 năm tuổi được trồng và chăm sóc tại DN Trà Hoàn Ngọc 7 Nga Tây Ninh phát hiện chứa nhiều chất quý có tác dụng kháng viêm, chống oxi hoá, gây độc tế bào ung thư và cản trở quá trình xâm nhập, đặc biệt cơ chế chống nhờn thuốc.
Em bị bệnh chàm tổ đỉa cũng lâu rồi, lâu lâu nó lại tái phát, lần này nổi vài mụn trắng trắng như mủ, em nặn mà nó không hết sang hôm sau lại đóng mủ chổ đó và nổi thêm vài mụn nhỏ nữa, khi đụng vào thì đau. Xin bác sĩ hướng dẫn giúp em bài thuốc để trị ạ. Em cảm ơn rất nhiều. Trả lời: Bệnh tổ đỉa với biểu hiện là những mụn nước nhỏ ăn sâu dưới lớp thượng bì làm da nổi gồ lên, hình tròn, rải rác hoặc thành chùm thường xuất hiện ở lòng bàn tay, bàn chân và các rìa ngón tay, ngón chân. Các mụn tụ từng đám và gây ra ngứa ngáy khó chịu. Nếu làm vỡ sẽ có dịch trong rỉ ra, gạt bỏ dịch sẽ thấy lỗ sâu ở dưới lớp thượng bì. Càng gãi nhiều, càng chà sát mạnh vùng bị tổ đỉa thì triệu chứng ngứa càng tăng và mụn tổ đỉa càng lan rộng. Đi kèm với mụn nước là cảm giác ngứa gây khó chịu khiến cho người bệnh gãi làm vỡ mụn nước sẽ dễ dẫn đến nhiễm trùng tạo thành các nốt mụn mủ, nếu nhiễm trùng lan rộng có thể gây ra các bọc mủ. Nếu để kéo dài, bệnh có thể tiến triển thành tổ đỉa chàm hóa và như vậy việc chữa trị bệnh sẽ trở nên phức tạp hơn. Thông thường với bệnh ngoài da nhiều người rất chủ quan cho rằng chỉ xử lý phần bôi là xong nhưng càng bôi nhiều thuốc thì càng ảnh hưởng nhiều đến da và làm cho bệnh càng nặng, càng phức tạp hơn. Vì vậy muốn chữa hẳn bệnh này nhiều người thường tìm đến đông y - phương pháp chữa trị bằng các loại thảo dược, ngoài việc trị tân gốc, thuốc đông y còn làm cho cơ thể khỏe mạnh, mát gan giải độc và quan trọng hơn là không có tác dụng phụ. Hiện nay có nhiều phòng khám bằng đông y chữa ngoài da sử dụng hoàn toàn bằng các loại thảo dược tự trồng - chuyên chữa trị các bệnh ngoài da như trường hợp của bạn vậy đó. Đông y có loại thuốc tắm rất hiệu quả để giảm ngay các triệu chứng ngứa, tróc da, cùng với thuốc bôi và thuốc uống được cô sẵn và đóng thành viên nang rất dễ sử dụng sẽ làm cho bệnh giảm dần rồi hết hẳn. Em bị bệnh tổ đỉa lâu rồi lại hay bị tái phát, lần này lại nổi vài mụn trắng như mủ vì thế em nên khám sớm để được bác sỹ trực tiếp khám bệnh, xem mạch và hướng dẫn dùng thuốc một cách tỷ mỷ để bệnh nhanh khỏi. Để được điều trị tốt nhất và tránh tái phát thì phải kết hợp vừa uống và bôi bằng đông y. Thuốc uống ngoài hết bệnh còn làm cho sức khỏe tốt và quan trọng hơn là không có tác dụng phụ. Để tránh bệnh tái phát, em cần tránh tiếp xúc với xà phòng, chất tẩy rửa, hóa chất, hạn chế cào gãi khi ngứa và các loại thức ăn có tính phong ngứa, thường xuyên vệ sinh cá nhân giữ cho bàn tay, bàn chân sạch sẽ, khô ráo không để ẩm ướt. Lưu ý bệnh tổ đỉa thường gây ngứa, người bệnh không nên gãi, chà xát hoặc dùng kim chọc vỡ mụn nước vì bệnh tổ đỉa rất dễ bị bội nhiễm vi trùng gây viêm mủ da đồng thời hạn chế để vùng tổn thương tiếp xúc với xà phòng, xi măng... - Xem thêm: chàm tổ đỉa
Bệnh quai bị thường phát vào khoảng tháng 4 và tháng 5. Cần phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt đơn thuần để có hướng xử trí đúng. - Xem thêm: Những phương pháp điều trị quai bị hiệu quả. Quai bị và viêm tuyến nước bọt là 2 bệnh có triệu chứng biểu hiện ở tuyến nước bọt, hay gặp nhất là ở tuyến nước bọt mang tai. Do 2 bệnh có triệu chứng ở tuyến nước bọt mang tai gần giống nhau, nhưng hậu quả của 2 bệnh gây ra rất khác nhau: bệnh quai bị có thể gây vô sinh, viêm tuyến nước bọt đơn thuần có thể gây biến dạng khuôn mặt. Vì vậy cần phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt đơn thuần để có hướng xử trí đúng. Theo Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, mùa đông xuân là mùa bệnh quai bị xuất hiện nhiều nhất. Quai bị do virus paramyxovirus gây nên. Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virus quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virus quai bị gây nên. Bệnh quai bị Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hóa mủ. Là một bệnh truyền nhiễm, thường xảy ra vào mùa đông – xuân. Lây trực tiếp khi gần bệnh nhân nói, ho hoặc hắt hơi. Bệnh có trên toàn thế giới và chỉ xuất hiện ở người. Bệnh thường hay gặp ở trẻ nhỏ và lứa tuổi vị thành niên, người lớn cũng có thể mắc nhưng tỷ lệ là thấp hơn. Bệnh do virus lây truyền qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi. Vấn đề lây qua đường phân và nước tiểu hiện vẫn chưa được xác nhận dù virus quai bị có khả năng tồn tại trong nước tiểu khoảng 2-3 tuần. Khi bị nhiễm bệnh, virus nhân lên trong khoang tỵ hầu và hạch bạch huyết. Virus tăng cao trong huyết thanh khoảng 12-15 ngày sau nhiễm và lan ra các cơ quan khác. Thời gian lây là từ 6 ngày trước cơn toàn phát sưng tuyến mang tai cho đến 2 tuần sau khi có triệu chứng bệnh lý. Triệu chứng bệnh quai bịBệnh có đặc điểm dịch tễ rõ ràng, thường phát vào mùa xuân, nhất là trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5, trong các môi trường tập thể như trường học, nhà trẻ. Tuổi nào cũng có thể bị bệnh quai bị, khả năng mắc bệnh ở nam cao hơn nữ. Tuy nhiên ít gặp quai bị ở trẻ dưới 2 tuổi mặc dù trẻ chỉ được bảo vệ trong 6 tháng đầu nếu mẹ đã từng mắc bệnh quai bị. Sau 2 tuổi, tần suất bệnh tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa tuổi 10-19. Sau khi tiếp xúc với virus quai bị khoảng 14-24 ngày, người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần. Tuyến mang tai có thể sưng 1 bên hay 2 bên. Nếu sưng cả 2 bên thì 2 tuyến có thể không sưng cùng lúc, tuyến 2 bắt đầu sưng khi tuyến 1 đã giảm sưng. Vùng sưng thường lan đến má, dưới hàm, đẩy tai lên trên và ra ngoài; có khi lan đến ngực gây phù trước xương ức. Bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng tuyến bị sưng nhưng da trên vùng sưng không nóng và không sung huyết, ngược với những trường hợp viêm tuyến mang tai do vi khuẩn. Lỗ ống Stenon ở niêm mạc má 2 bên sưng đỏ, có khi có giả mạc. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày. Tuy nhiên có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có dấu hiệu bệnh lý rõ rệt, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không nhận biết. Bệnh quai bị gây miễn dịch bền vững khi đã mắc bệnh dù sưng 1 hay 2 bên tuyến mang tai nên ít khi bị quai bị lần 2. Biến chứng của bệnh quai bị, và cách chữa bệnh quai bị Cho đến nay biến chứng của quai bị khiến nhiều người lo sợ đó là khả năng gây vô sinh. Đối với biến chứng viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn: Biến chứng này có tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì mắc bệnh quai bị, thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời. Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thường. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh. Nhồi máu phổi: Là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến. Viêm buồng trứng: Có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh . Viêm tụy: Có tỷ lệ 3% - 7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp. Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy. Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh. Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai: Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu. Một số biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Vì viêm tuyến mang tai còn có thể gây ra do các virus khác (Coxackie, Influenza), do vi trùng (Staphylococcus aureus), do tắc ống dẫn tuyến nước bọt vì sỏi và viêm tinh hoàn còn có thể do lao, Leptospirose, lậu nên trong một số trường hợp khó chẩn đoán, bệnh nhân cần thực hiện một số xét nghiệm như: Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy.Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hoà bổ thể. Điều trị bệnh quai bị như thế nào?Điều trị: Bệnh quai bị đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, dùng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ điều trị theo triệu chứng. Chườm nóng, dùng thuốc an thần, giảm đau, vitamin, có thể dùng chống viêm corticoid, súc miệng nước muối thường xuyên sau khi ăn. Những ngày đầu nên ăn nhẹ, ăn lỏng. Có thể kết hợp dùng các bài thuốc Đông y: Dùng hạt gấc mài ngâm rượu rồi xoa vào chỗ sưng, hay dùng hạt đậu xanh tán nhỏ trộn với dấm rồi đắp lên chỗ sưng. Cách ly bệnh nhân tối thiểu 2 tuần. Bệnh nhân nên nghỉ ngơi, nằm yên, hạn chế đi lại, nhất là đối với thanh niên hay đang trong thời gian sốt và sưng tuyến nước bọt (4 - 6 ngày đầu). Phòng bệnh tốt nhất là tiêm vaccin: Tạo miễn dịch chủ động: tiêm vaccin virut sống giảm độc lực an toàn, tạo kháng thể, cho miễn dịch ít nhất 17 năm. Đối tượng tiêm là trẻ em trên 1 tuổi, đặc biệt ở tuổi dậy thì, trưởng thành, thanh thiếu niên sống trong tập thể. Tái tiêm chủng ở người đã tiêm vaccin quai bị dùng virut chết. Tạo miễn dịch thụ động: Dự phòng đặc hiệu bằng gamaglobulin miễn dịch chống quai bị, dùng sớm cho phụ nữ có thai và cho người cần phải tiếp xúc với bệnh nhân quai bị. Phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọtBệnh viêm tuyến nước bọt mang tai đơn thuần do các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus, do virus Iryfluenza, Parainfluenza, coxsackie... gây nên hoặc do sỏi làm tắc ống dẫn tuyến nước bọt cũng gây viêm. Bệnh thường chỉ tổn thương tại tuyến nước bọt, diễn biến lành tính, tự khỏi hoặc cũng có trường hợp chuyển sang viêm mạn tính phì đại tuyến. Biểu hiện: Bệnh nhân thấy vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, sưng lan rộng ra xung quanh tuyến, da vùng tuyến sưng tấy đỏ đau, nói và nuốt đau, có hạch viêm phản ứng ở góc hàm hoặc sau tai cùng bên. Sốt 38 - 39oC, ấn vùng tuyến mang tai thấy có mủ chảy ra ở miệng ống Stenon. Đối với bệnh nhân bị bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần thường không thấy có tổn thương ngoài tuyến nước bọt. Bệnh có tính chất đơn lẻ, cơ hội, thường xuất hiện khi có viêm nhiễm khác ở vùng miệng và mũi họng, không lây thành dịch. Điều trị viêm tuyến nước bọt: Dùng kháng sinh, chống viêm, giảm phù nề, giảm đau. Khi tiêm trực tiếp kháng sinh và corticoid vào tuyến nước bọt, qua đường ống Stenon thấy kết quả tốt, vùng tuyến giảm sưng nhanh, ít tái phát, nếu viêm tuyến lần đầu theo dõi thấy không tái phát. Nếu để muộn, điều trị không kịp thời sau 7 - 10 ngày, bệnh giảm các triệu chứng và chuyển sang viêm mạn tính tái phát sau 1 vài tháng 1 lần viêm lại. Ở những bệnh nhân viêm tuyến tái phát nhiều lần làm vùng tuyến mang tai 2 bên phì đại (to hơn bình thường) không nhỏ lại được, vì thế làm biến dạng khuôn mặt bệnh nhân. - xem thêm: viêm tuyến nước bọt mang tai
Hãy biết cách dưới đây để chữa zona thần kinh chỉ vài ngày là khỏi không cần thuốc tây. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thủy đậu. Thay vì bị zona, nhưng những người này lại mắc bệnh thủy đậu. Một khi những người này đã mắc bệnh thủy đậu thì họ sẽ không bị nhiễm zona từ người khác. Tuy nhiên, một khi đã bị nhiễm zona, thì họ lại có khả năng bị zona sau này trong cuộc đời. Khi tất cả những mụn nước đã khô, thì không còn khả năng lây được nữa. Chữa zona thần kinh Lô hội Uống trong: Lấy 1 nhánh độ 60g (bỏ gai hai bên vì có nhiều độc tố) dầm nhỏ cho vào xoong, thêm nước sôi để nguội, lọc bỏ xác uống 1 lần. Ngày dùng 3 lần, mỗi lần 1 nhánh như trên (tức 180g một ngày). Đắp ngoài : Xay nhỏ lô hội, đổ vào bát, nghiền đậu xanh sống (để cả vỏ), trộn với nước lô hội đã xay, đắp vào chỗ sưng đau, khi thấy khô thì bỏ ra đắp tiếp, làm như thế vài ba ngày thì khỏi, không để lại vết sẹo và cũng không còn dấu hiệu của bệnh zona, và cách chữa zona thần kinh Tỏi Xếp vị trí đầu tiên chính là một loại gia vị bếp vô cùng quen thuộc. Cắt mỏng khoảng 2 đến 3 lát đắp lên vết zona bị sưng rộp trong vòng 15 phút. Sau đó rửa mặt sạch lại với nước. Tinh chất kháng sinh trong tỏi sẽ giúp tiêu diệt vi khuẩn và làm lành các vết zona nhanh chóng. Cách phòng bệnh Zona Bệnh Zona là bệnh gây nên do virus có ái tính với thần kinh. Nó thuộc nhóm virus Herpès. Về kháng nguyên và khả năng phát triển thì virus này giống virus thủy đậu nên người ta xếp vào virus thủy đậu. Bệnh này lây qua tiếp xúc, kết hợp với một số yếu tố như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa, các bệnh về máu, mệt mỏi về tinh thần, nhiễm lạnh, sang chấn tinh thần… - Tìm hiểu thêm: cách chữa bệnh zona thần kinh
quai bị là bệnh nhiễm trùng của các tuyến nước bọt (tuyến sản xuất ra nước miếng giúp tiêu hóa thức ăn) do siêu vi trùng paramyxovirus gây ra. Đây là bệnh lành tính nhưng khả năng lây lan rất cao. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, đa số người trưởng thành đã từng mắc bệnh. Nếu không được chủng ngừa, gần như đa số trẻ khi tiếp xúc với cộng đồng sẽ mắc bệnh. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân. Tại miền Nam, bệnh thường xuất hiện từ tháng 10 kéo dài đến tháng 6 năm sau và cao điểm từ tháng 12 đến tháng 3-4. Tuổi mắc bệnh thường khi trẻ bắt đầu đi học (sau 3-5 tuổi), tiếp xúc với môi trường nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học. Thời kỳ ủ bệnh: Thông thường sau khi tiếp xúc với người bệnh 6-9 ngày, trẻ sẽ có biểu hiện bệnh. Có trường hợp kéo dài đến 2 tuần.Triệu chứng và diễn tiến của bệnh Bệnh quai bị thường rất dễ nhận biết với triệu chứng sưng đau vùng mang tai do viêm sưng tuyến nước bọt vùng mang tai. Trước khi sưng 1-2 ngày, một số trẻ có cảm giác đau, khó nhai. Vùng mang tai có thể bị sưng cùng lúc hai bên và xuất hiện rất nhanh, đêm hôm trước bình thường nhưng hôm sau đã sưng to cả hai bên. Có trường hợp sưng một bên sau đó vài ngày sưng sang bên kia. Một số trường hợp các tuyến nước bọt vùng dưới hàm cũng bị viêm làm cho mặt trẻ sưng hai mang tai và vùng dưới hàm. Thông thường trẻ lớn hay người lớn triệu chứng thường nặng hơn trẻ nhỏ. Bên cạnh triệu chứng sưng vùng mang tai, trẻ có thể kèm theo sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, buồn nôn, nôn ói. Đa số trường hợp thường sốt rất nhẹ và chỉ kéo dài một đến 2 ngày. Bệnh sẽ tự lui dần sau 5-7 ngày nếu không có biến chứng. Vùng mang tai sẽ giảm sưng dần, trẻ ăn uống dễ hơn và hồi phục hoàn toàn sau 7-10 ngày. Biến chứng của bệnh Bệnh quai bị thường ít biến chứng. Nếu có, đa số các biến chứng cũng lành tính, sẽ khỏi nếu được theo dõi và điều trị đúng, rất hiếm khi gây tử vong. Biến chứng thường gặp nhất là viêm màng não. Đây là biến chứng lành tính, xuất hiện khi các triệu chứng sưng vùng mang tai đang giảm dần, trẻ sẽ đau đầu nhiều hơn, nôn ói, mệt mỏi. Thăm khám có thể thấy cổ cứng, gập đầu khó khăn, cằm không thể gập xuống ngực được. Một biến chứng khác gây lo lắng cho phụ huynh là viêm tinh hoàn ở bé trai hay viêm buồng trứng ở trẻ gái. Đây là biến chứng thường xảy ra ở tuổi dậy thì (hơn 7 tuổi). Viêm buồng trứng thường hiếm gặp hơn viêm tinh hoàn. Biến chứng xuất hiện khi triệu chứng sưng vùng mang tai đã giảm. Trẻ trai sốt cao, đau đầu nhiều và đặc biệt là triệu chứng đau nhiều ở vùng bìu (nơi chứa tinh hoàn), có thể một hay hai bên. Đây là biến chứng cần điều trị đúng và kịp thời để tránh di chứng vô sinh sau này. Đối với trẻ gái, biến chứng viêm buồng trứng sẽ biểu hiện đau bụng nhiều và cần được siêu âm để chẩn đoán. Ngoài 2 biến chứng trên còn có nhiều biến chứng khác như viêm tụy cấp, viêm não, viêm cơ tim nhưng rất hiếm gặp. Điều trị bệnh quai bị Đây là bệnh lành tính nên có thể điều trị tại nhà, quan trọng là cần theo dõi để phát hiện kịp thời các biến chứng. Bệnh quai bị thường dễ bị nhầm lẫn với bệnh bạch hầu và bệnh viêm hạch cổ do vi trùng. Nếu là hai bệnh này, trẻ sẽ sốt rất cao và lừ đừ. Tốt nhất cần phải khám bác sĩ chuyên khoa để xác định đây là quai bị chứ không phải là hai bệnh trên. Điều trị tại nhà chủ yếu cho trẻ uống thuốc hạ sốt giảm đau là paracetamol, ăn các thức ăn mềm. Không nên để bé vận động nhiều, đặc biệt là trẻ lớn để tránh các biến chứng viêm màng não, viêm tinh hoàm hay viêm buồng trứng. Khi trẻ ói nhiều, đau đầu, đau vùng bìu, đau bụng ngay cả là khi vùng sưng ở mang tai đã giảm, thì nên đưa đi khám ngay để kịp thời phát hiện và điều trị các biến chứng. Phòng ngừa bệnh quai bị Để phòng bệnh cách tốt nhất là chích ngừa bệnh quai bị cho trẻ. Nên chích ngừa khi trẻ bắt đầu qua 12 tháng tuổi hay khi bé chuẩn bị tiếp xúc với môi trường đông trẻ em như đi nhà trẻ, mẫu giáo hay tiểu học hay bất cứ khi nào có điều kiện. Lịch chích bệnh quai bị thông thường 2 liều, liều đầu lúc 12 tháng và nên lặp lại lúc 4-6 tuổi. Tốt nhất nên tiêm theo lịch hay trước khi mùa bệnh xảy ra, khả năng phòng bệnh sẽ cao hơn. Cách phòng ngừa khác là tránh tiếp xúc với trẻ mắc bệnh cũng có hiệu quả nhưng rất thấp, vì trẻ bệnh có thể lây cho bé khác ngay khi vùng mang tai chưa sưng hoặc hết sưng. Các quan niệm sai lầm nên biết về bệnh quai bị Nhiều bệnh nhân quá lo lắng khi con em mình mắc bệnh quai bị và sau này sẽ bị vô sinh. Thật ra trẻ mắc quai bị mà không có biến chứng viêm tinh hoàn hay viêm buồng trứng thì không thể bị di chứng vô sinh sau này được. Ngay cả bị biến chứng này mà chỉ bị 1 bên hay điều trị kịp thời thì cũng tránh được di chứng vô sinh sau này. Nếu như trẻ mắc bệnh khi khỏi không thấy sưng đau vùng bìu hay đau bụng nhiều thì trẻ không hề có 2 biến chứng này. > xem thêm: cách chữa bệnh quai bị
Buổi sáng ngủ dậy, Ngọc thấy ngứa rát, mẩn đỏ vùng cổ, cảm giác đau rát tăng dần, đến trưa thì tổn thương rộng hơn và phồng rộp như bị phỏng của căn bệnh zona . Tổn thương còn lan sang cả bả vai, sau gáy khiến cô đau nhức khó chịu, nhưng cô vẫn “lì” không đi khám bệnh, mà về nhà lấy typ thuốc flucinar bôi. Lần trước cô bị dị ứng, nổi các nốt sần ở gần miệng, bác sĩ đã kê cho cô dùng thuốc này, bôi chỉ vài lần là khỏi. Bôi thuốc xong, cô yên trí rằng mai sẽ hết cảm giác khó chịu này thôi. Nhưng vết thương chẳng những không bớt mà còn lan rộng, sưng đỏ và tổn thương sâu hơn khiến cô đau nhức nhối. Nhưng việc thì nhiều mà lại phải hoàn thành gấp nên cô đành chịu đau, bôi thuốc thêm rồi đi làm. Đến chiều thì cô đau phát sốt, không chịu nổi nữa nên đành phải đi khám bệnh. Tại đây, Ngọc mới biết rằng cô bị zona thần kinh chứ không phải bị dị ứng như lần trước, vậy mà cô lại lôi tuýp thuốc cũ ra dùng... BS. Hoàng Mai Phương - Trung tâm Bác sĩ gia đình Hà Nội cho biết: biến chứng của căn bệnh zona thần kinh do virut Varicella-zoster gây ra. Khi mới phát bệnh, bệnh nhân cảm thấy đau rát, ngứa, phát ban đỏ có mụn dịch nhỏ… Nặng hơn thì đau nhức, sốt ớn lạnh, mệt mỏi… Để điều trị bệnh này thì không được dùng flucinar vì đây là thuốc bôi chỉ được dùng để điều trị các bệnh ngoài da như, dị ứng, chàm tiếp xúc; chàm thể tạng; vẩy nến… và dưới sự chỉ định của bác sĩ. Thuốc này chống chỉ định với các trường hợp da đang bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm ký sinh trùng, nhiễm virut vì sẽ làm trầm trọng thêm các tổn thương... Còn đối với việc điều trị bệnh zona thần kinh, nếu với các tổn thương nhẹ thì chỉ cần bôi hồ nước, sau đó dùng thuốc kháng virut acyclovir. Đối với các tổn thương nặng hơn, gây đau trầm trọng và ảnh hưởng tới cuộc sống của người bệnh thì cần phải đi khám bệnh và uống phối hợp các loại thuốc giảm đau, thuốc chống trầm cảm... theo đúng chỉ định của bác sĩ.
Em là con gái năm nay 29 tuổi, sắp lập gia đình. Trước đây em cũng không ý thức về mức độ nguy hiểm của căn bệnh ở vùng kín. Em ngại không dám nói với ai, kể cả đi khám bác sĩ. Cứ âm thầm chịu đựng sống chung với bệnh tật từ năm em học cấp 3 đến nửa năm trước. Đến khi trĩ của em dài khoảng 1 đốt ngón tay. Ngày nào vui miệng em ăn tương ớt, hoặc ăn cay y như rằng hậu môn chảy máu liên tục khiến em muốn khóc ròng trong nhà vệ sinh. Tần suất trước đây mấy năm thì thỉnh thoảng mới bị, nhưng đến lúc đỉnh điểm thì liên tục, người em gầy rộc đi ngoài ra bệnh trĩ ngoại có ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Từ giữa năm ngoái em có kế hoạch lấy chồng, mọi người bắt đi cắt để còn sinh nở, em vốn sợ dao kéo nên cố tìm mọi cách để chữa trị. Ai mách cách gì em cũng làm theo hết. Đến nỗi bạn trai em thấy quảng cáo trên mạng nhiều loại thuốc chữa bệnh trĩ hiệu quả cũng mua cho em. Không hiểu sao em lại bị dị ứng với những loại thuốc này, cứ sau khi uống 2 bữa mặt em nổi tùm lum mụn. Dừng thuốc 1 tuần uống lại cũng bị mụn, nên em đem vứt sọt rác luôn. Thuốc nam thuốc bắc gì em cũng đã kinh qua, nhưng phần lớn các loại thuốc này đắng kinh khủng. Em uống trong vòng 4 ngày mỗi ngày 2 lần nhưng lần nào em cũng nôn thốc nôn tháo. Được 1 tuần em thấy bớt chảy máu đó trĩ ngắn đi được nửa, em mừng rớt nước mắt. Tuy nhiên chỉ được nửa nó dừng lại vì cô bán hàng bảo lại là của em nặng quá, cần lấy thêm 1 liều nữa. Em lấy thêm 1 liều uống này uống lâu hơn, 7 ngày thì vẫn không có tiến triển gì thêm nữa, nản quá em dừng lại luôn không uống nữa. Được người bà con bên nhà chồng sắp cưới mách dùng lá thầu dầu tía, lá vông, muối trắng đắp vào hậu môn mỗi ngày 5 phút sẽ khỏi. Quả thật sau khi làm liên tục 7 ngày những búi trĩ có gần hết, đi vệ sinh rất thoải mái. Em đang tiếp tục dùng cho đến khi hết hẳn đấy các mẹ. Nguyên liệu để điều trị bệnh trĩ cũng rất đơn giản và dễ tìm:
– 1 nắm lá thầu dầu tía - 1 nắm lá vông - 1 muỗng cà phê muối trắng -xem thêm bệnh trĩ là gì và nó ảnh hưởng như thế nào đối với người bệnh. Cách làm Đem tất cả các nguyên liệu trên giã nát rồi đắp vào búi trĩ 1 lần khoảng 5 phút. Sau đó vệ sinh lại thật sạch bằng nước ấm. Làm liên tục cho đến khi búi trĩ co hẳn. Các mẹ lưu ý, trong quá trình thực hiện điều trị bệnh trĩ thì không nên ăn đồ cay nóng, không rượu bia, hoặc các chất kích thích thuốc sẽ không phát huy được tác dụng. Ngày nay dân văn phòng chúng em vì lý do ngồi nhiều nên rất dễ bị bệnh trĩ. Nên trong quá trình làm việc, thỉnh thoảng chị em nên đứng dậy đi tới đi lui giải lao, không nên ngồi ngồi quá nhiều. Ăn nhiều chất xơ, uống nhiều nước, tránh táo bón. Nếu thường xuyên bị táo bón cũng dễ bị bệnh trĩ. Không biết có phải do tác dụng của các loại thuốc em đã áp dụng trước đó phát huy tác dụng, cộng với bài thuốc này mà em nhanh hết bệnh đến vậy. Nên các mẹ nào bị trĩ, mới bị thì áp dụng ngay nhé để lâu quá sẽ khó chữa.
Trong cơ thể gan là cơ quan lớn thứ hai, đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc điều tiết sức khỏe của chúng ta. Nhất là ở trẻ em, sự phát triển của cơ thể chưa hoàn thiện, hệ miễn dịch với các loại bệnh còn rất kém nên các bệnh lý thường gặp ở trẻ em là do bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hoá gây ra. Đồng thời, trong thời kỳ sau sinh, cơ thể của bé chưa hoàn thiện hết các sinh lý của gan nên khi trẻ tiếp xúc với các loại virus hay chất độc rất dễ bị các bệnh về gan. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu, nghiên cứu để biết sâu hơn về bệnh gan ở trẻ em cũng như tìm hiểu về loại thuốc bổ gan cho trẻ em hiện nay trên thị trường.
§ Ngạc nhiên “kẻ thù nhà nông” chữa bệnh gan thận
§ Phái nữ cũng cần có một đời sống tình dục khỏe mạnh?
§ Truy tìm “Thần dược” cho sinh lý nữ giới
§ 14 tính năng thần kỳ của mật ong đối với việc bảo vệ đôi mắt của chúng ta
§ Chế độ dinh dưỡng đem lại đôi mắt sáng mỗi ngày
Đậu đen là cây thuộc họ Đậu, mọc hàng năm, có hoa màu tím nhạt, khi ra quả có dạng dài, bên trong chứa khoảng 10 hạt đậu đen. Đây là loại cây rất dễ trồng, thường được chế biến thành các món ăn sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Chính vì được dùng như thực phẩm nên công dụng chữa bẹnh của đậu đen ít được chú ý hơn. Đặc biệt là loại đậu đen lòng xanh được coi là bài thuốc quý với giá cả rất “bình dân”.
Đậu đen vốn là loại thực phẩm vô cùng quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt. Chè đậu đen mát ngọt là món ăn không thể thiếu mối dịp hè về. Thế nhưng ít tai biết rằng đậu đen không chỉ ngon mà còn bổ. Với những ai đang muốn tìm loại thuốc bổ thận sáng mắt hiệu quả và lành tính thì đậu đen chính là sự lựa chọn tốt nhất.
Mật ong có thể được sử dụng như một phương thuốc bổ mắt từ thiên nhiên hữu hiệu để chữa trị vấn đề khô mắt. Những ngày khô mắt đã trở thành một phổ biến vấn đề trong số những người được tiếp xúc với các tiện ích khác nhau điện tử như máy tính xách tay, điện thoại di động, và máy tính bảng và như vậy. Mắt khô là một điều kiện mà xảy ra nếu con mắt không thể cung cấp đủ lượng nước mắt để bôi trơn của mắt . Một người bị vấn đề này có thể gặp các triệu chứng khác nhau như một cảm giác của cơ thể hoặc cát nước ngoài trong mắt, đau ở mắt, đỏ mắt, nhìn mờ, vv
Những ngày này, ngày càng có nhiều người đang có nhiều vấn đề về mắt như ngứa mắt, gặp vấn
đề giác mạc, ngứa mắt, khô mắt, đỏ mắt hay đục thủy tinh thể . Hơn nữa, việc sử dụng máy tính có những đóng góp lớn hơn cho vấn đề về mắt khác nhau. Tất cả những vấn đề này có thể được điều trị tốt bằng cách sử dụng mật ong. Mật ong được coi là một phương thuốc bổ mắt từ thiên nhiên tốt nhất để điều trị tất cả các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của mắt. Mật ong là một giải pháp cổ xưa nhất và tốt nhất để chữa trị tất cả những vấn đề này. Khi mật ong rất giàu các đặc tính chống viêm, nó có hiệu quả cao hơn so với thuốc không kê đơn.
Khám phá tác dụng lợi hại cuả những loại thuốc bổ mắt chứa vitamin A