images
Thịnh hành
Cộng đồng
Webtretho Awards 2025
Thông báo
Đánh dấu đã đọc
Loading...
Đăng nhập
Bài viết
Cộng đồng
Bình luận
Thi nhân Việt Nam
Không hiểu sao mình rất thích hai câu:
Cây me cao quá, bên vườn bắc
Nghiêng xuống cho em bẻ một cành

Nghe thực dễ thương, tự dưng mình liên tưởng tới một cái gì đó, có lẽ là một bài văn hay bài thơ nào đó đã xem hồi cấp 1
05:25 CH 31/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Các bài thơ của Thu Hồng có trong Thi nhân Việt Nam:
Tơ lòng với đẹp
Êm đềm (post bên dưới)
Mảnh hồn thơ
ÊM ĐỀM
Hồi tưởng nhiều mai, dưới ánh dương
Em vừa tỉnh giấc, dậy bên giường
Mẹ em đôi mắt đầy âu yếm
Vây bọc chim khua, rộn giấc hường
Vạn buổi êm trời, dịu mát hương
Chưa bằng đôi mắt chứa yêu đương !
Mẹ hiền tựa cửa, khi chờ ngóng
Em thấy lòng vui, lướt dặm đường.
Cũng có nhiều đêm, gió rít vang,
Mẹ em ốm nặng thức trong màn
Em ngồi mơ sách người xưa ước,
Nếu có thì em cũng ước tràn.
Nếu có thì em: "ước mẹ lành,
Cha cho nhiều bánh với nhiều tranh
Cây me cao quá, bên vườn bắc,
Nghiêng xuống cho em bẻ một cành
".
Có lắm hoàng hôn, mải cợt đùa
Quên rằng bãi bể sóng chiều khua
Ở nhà cơm đợi, chờ em vắng
Em sắp hàng năm, để chạy đua.
Rồi đến trăng nhô mới vội về
Cha cười, xong cũng chỉ roi đe:
"Mai còn chơi chậm thì con liệu
Sắm sửa vài mo để đón che
".
Ai có như em, một ấu thời ?
Đi tìm bướm bắt để nuôi chơi
Búp bê đem tắm hơ cho ấm,
Lửa bén vèo ! Thôi, cháy mất rồi !
Rõ là em cũng quá lôi thôi
Ai chả còn ghi quãng ấu thời
Đằng đẵng đường trường con gió bụi
Duy còn ôn lại những ngày vui
05:17 CH 31/12/2011
Thi nhân Việt Nam
THU HỒNG
Người ta vẫn nói giọng Huế phải nghe từ miệng con gái Huế mới có duyên. Lần thứ nhất trên thi đàn ta được nghe giọng một người gái Huế, mà lại là một người trong hoàng tộc: Tôn Nữ Thu Hồng.
Giá Thu Hồng chịu làm những câu trơn tru mà trống rỗng, chắc chẳng khó gì. Ai mà không làm được những câu trơn tru, trống rỗng ? Nhưng người có ý muốn rất đáng quý là diễn đúng hình dáng riêng của hồn mình.
Có phải vì thế mà giọng nói của người có vẻ ngọng nghịu rất ít có trong thơ ta. Ngọng nghịu khi ôn lại quãng đời thơ ấu đã đành; ngọng nghịu cả những khi ca ngợi cảnh trời:
Cảnh đẹp cứ dàn thêm bước bước
Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay

Những tình ý người lớn trong giọng nói trẻ con ấy thực dễ thương.
Thực ra Thu Hồng cũng chỉ trẻ con ở cái giọng. Khi người ta muốn sống hoài trong thời thơ ấu, hẳn người ta không còn thơ ấu nữa. Người thiếu nữ ấy đã biết tình yêu là mầm chán nản và người ước:
Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu
Chớ len vào sớm quá, tội em mà !
Em nghe như thời ấy vẫn còn xa
Em chầm chầm để mong còn xa mãi;
Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái
Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua.

Ta tưởng nghe những lời Xuân Diệu. Nhiều chỗ khác cũng xui ta nghĩ đến Xuân Diệu, nhất là khi Thu Hồng băn khoăn muốn cắt nghĩa tình yêu. Bốn câu thơ của người không bóng bảy, không tinh vi như bốn câu Xuân Diệu nhưng cũng thật thà dễ thương:
Chỉ biết hôm xưa, một buổi chiều
Cùng người trò chuyện chẳng bao nhiêu
Người đi, tôi thấy sao mong nhớ !
Và cảm quanh mình nỗi tịch liêu

Xem thơ Thu Hồng, tôi còn nghĩ đến vài người nữa, nhất là Nam Trân. Thu Hồng đã học được của Nam Trân cái lối ghi chép những hình sắc xứ Huế và ngòi bút của nữ sĩ đã vẽ nên đôi bức tranh nho nhỏ, có lẽ chưa được nổi nhưng có một vẻ linh hoạt riêng:
Đêm. Trăng rạng rỡ soi
Thuyền ai thong thả trôi
Đàn hát chảy theo nước,
Không gian bỗng nô cười !

Ở xứ này, nói đến những thiếu nữ làm thơ người ta thường mỉm cười. Hình như thơ là một cái gì to chuyện lắm. Thu Hồng đã tránh được cái mỉm cười mai mỉa ấy vì người rất bình dị, rất hồn nhiên không lúc nào ra vẻ muốn làm cho to chuyện.
05:01 CH 31/12/2011
Thi nhân Việt Nam
BUỒN TRĂNG
Gió sáng bay về, thi sĩ nhớ
Thương ai không biết, đứng buồn trăng;
Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió
Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng
Mây trắng ngang hàng tự thuở xưa
Bao giờ viễn vọng đến bây giờ ...
Sao vàng lẻ một, trăng riêng chiếc
Đêm ngọc tê ngời men với tơ ...
Chỉ biển trời xanh, chẳng bến trời,
Mắt tìm thêm rợn ánh khơi vơi
Trăng ngà lặng lẽ như buông tuyết
Trong suốt không gian, tịch mịch đời
Gió nọ mà bay lên nguyệt kia,
Thêm đêm sương lạnh xuống đầm đìa
Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya
06:07 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
NGUYỆT CẦM
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm dương, nhạc nhớ người ...
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê;
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề ...
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê
06:06 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Các bài thơ của Xuân Diệu có mặt trong Thi nhân Việt Nam
Trăng
Huyền diệu
Tình trai
Nhị hồ
Đây mùa thu tới
Vội vàng
Chiều
Viễn khách
Tương tư, chiều ...
Lời kỹ nữ
Nguyệt cầm (post bên dưới)
Giục giã
Thu
Buồn trăng (post bên dưới)
Hoa đêm
06:06 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
XUÂN DIỆU
Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy.
Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng.
Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp.
Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta. Đọc những câu:
Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm
Sao lại trách người thơ tình lơi lả ?

Hay là:
Chính hôm nay gió dại tới trên đồi
Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát
Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt ?
Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi !

Ta thấy cái hay ở đây không phải là ý thơ, mà chính là cái lối làm duyên rất có duyên của Xuân Diệu, cái vẻ đài các rất hiền lành của điệu thơ.
Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được tinh thần cố hữu của nòi giống. Vả chăng tinh thần của nòi giống có cần phải bất di bất dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt ngày hôm qua ?
Nêu ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ rồi bảo: người Việt nam phải như thế này, là một điều tối vô lý.
Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn non nước lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.
Nhưng sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt thường lại ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống.
Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi. Sau khi đọc đi đọc lại nhà thơ có tâm hồn phức tạp này, sau khi đã tìm kiếm Xuân Diệu hoài, tôi thấy đây mới thực là Xuân Diệu.
Trong cảnh mùa thu rất quen với Thi nhân Việt nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý:
Những luồng run rẩy rung rinh lá …
Cùng cái:
Cành biếc run run chân ý nhi
Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm dương, nhạc nhớ người.

Cũng chỉ Xuân Diệu mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân

Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một nghàn năm và của hai thế giới.
Cho đến khi Xuân Diệu yêu, trong tình yêu của người cũng có cái gì rung rinh. Người hồi tưởng lại:
Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây;
Và nhạc phất dưới chân mừng sánh bước
Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngoài
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui

Còn rất nhiều câu có thể tiêu biểu cho lối xúc cảm riêng của Xuân Diệu. Tôi chỉ dẫn một thí dụ này nữa. Trong bản dịch Tỳ Bà hành của Phan Huy Vịnh có hai câu:
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vừng trăng trong vắt lòng sông

Tả cảnh chung quanh thuyền sau khi người tỳ bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cảnh lặng lẽ, lạnh lùng ẩn một mối buồn âm thầm, kín đáo.
Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi viết:
Tiếng diều sáo nao nao trong vắt
Trời quang mây xanh ngắt màu lơ

Mặc dầu hai chữ “nao nao” có đưa vào trong câu thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trến bến Tầm dương.
Với Xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kỹ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tỳ bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên vì đau khổ
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.

Ngay từ khi trăng mới lên, nàng đã thấy
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn

Chỉ trong thơ Xuân Diệu mới có những thoáng buồn rờn rợn như vậy.
Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người.
Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay.
Nhưng xét rộng ra, cái náo nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái náo nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ. Sự đụng chạm với phương tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố. Người thanh niên Việt nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người.
Họ tưởng có thể nhắm mắt làm liều, lấy cá nhân làm cứu cánh cho cá nhân, lấy sự sống làm mục đích cho sự sống. Song đó chỉ là một cách dối mình.
“Chớ để riêng em phải gặp lòng em”, lời khẩn cầu của người kỹ nữ cũng là lời khẩn cầu của con người muôn thủa. Đời sống của cá nhân cần phải vin vào một cái gì thiêng liêng hơn cá nhân và thiêng liêng hơn sự sống.
Bởi Xuân Diệu đã gởi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất nước, bao nhiêu nỗi niềm riêng của thanh niên bây giờ. Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê.
Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành cho ngay một chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà những tiếng khen chê vẫn chưa ngớt. Người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời.
Song những ai chê Xuân Diệu, tưởng Xuân Diệu có thể trả lời theo lối Lamartine ngày trước: “Đã có những thiếu niên, những thiếu nữ hoan nghênh tôi”.
Với một nhà thơ còn gì quý cho bằng sự hoan nghênh của tuổi trẻ
05:36 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Viết đến đây tôi đã định khép cửa lại, dầu có thiên tài đến gõ cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa: Trần Huyền Trân.
Trần Huyền Trân, con người có tên lạ ấy, không phải là một thiên tài. Nhưng tôi ưa những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương.
Cũng có lần thi nhân tả tình tương tư:
Xa nhau gió ít lạnh nhiều
Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh

Nhưng thường thì Huyền Trân tìm thi hứng, hoặc trong những cảnh đời buồn bã như cảnh đời cùng của thi sĩ Tản Đà:
Có đàn con trẻ nheo nheo
Có dăm món nợ eo sèo bên tai
Chừng lâu rượu chẳng về chai
Nhện dăng giá bút một vài đường tơ
Nghiên son lớp lớp bụi mờ
Mọt ôn tờ lại từng tờ cổ thi

Hoặc trong cảnh đồng quê:
Mặt trời say rượu tắm ven đông
Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng
Bầy sẻ đâu về cười khúc khích
Rủ nhau lúa chín trộm vài bông

Đồng quê của Huyền Trân đã mất hết vẻ quê mùa. Nó là duyên làm dáng như một cô gái thành thị.
Huyền Trân ưa nhất là nói tình mẹ con.
Người gợi cái hình ảnh Phạm Ngũ Lão sau khi dẹp giặc nguyên. Đêm ấy tiệc khao quân vừa tan. Ai nấy đều ngủ yên. Cho đến chiến mã cũng:
Đuôi mừng phủ sạch bụi binh đao
Giữa lúc ấy Phạm Ngũ Lão một mình ngồi trong trướng, lòng băn khoăn nhớ mẹ:
Binh thư ngừng giở, bào quên cởi
Đèn nhớ mong ai bấc lụi dần

Thế rồi tướng quân quất ngựa tìm về chốn
Nằm ôm gốc gạo lều dăm mái
Cánh liếp che sương hé đợi chờ

Than ôi ! tướng quân về tới nơi thì mẹ giờ không còn nữa.
Thơ Huyền Trân không xuất sắc lắm. Nhưng sau khi đọc đi đọc hoài những câu rặt anh anh em em tôi đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió
03:45 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
TRẦN HUYỀN TRÂN
Bây giờ chắc chẳng mấy người biết đến sự tồn tại của thi sĩ này, trong Thi nhân Việt Nam đây là nhà thơ xuất hiện cuối cùng, người góp mặt nhưng không có thơ được chọn vào.
Sở dĩ mình post tác giả này lên vì cái cảnh hoàng hôn, mặt trời lặn xuống bên dòng sông làm mặt nước sông đỏ hồng, cạnh đó đồng lúa chín vàng tươi
Mặt trời say rượu tắm ven đông
Nước thẹn bâng khuâng ửng má hồng
Bầy sẻ đâu về cười khúc khích
Rủ nhau lúa chín trộm vài bông

Mình rất thích cái vẻ nhí nhảnh, linh hoạt ở mấy câu thơ trên.
03:42 CH 28/12/2011
Thi nhân Việt Nam
ÁO TRẮNG
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong
Hôm xưa em đến, mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng, em đi đến
Gót gọc dồn hương, bước tỏa hồng
Em đẹp bàn tay ngón ngón thon
Em duyên đôi má nắng hoe tròn
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non
Em nói anh nghe tiếng lẫn lời
Hồn em anh thở ở trong hơi
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài
Đôi lứa thần tiên suốt cả ngày
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay
Dịa dàng áo trắng trong như suối
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay
05:11 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
BUỒN ĐÊM MƯA
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la ...
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi ...
Rơi rơi ... dìu dịu rơi rơi ...
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ...
Tương tư hướng lạc, phương mờ ...
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe
Gió về, lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư ...
05:05 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Những bài thơ của Huy Cận góp mặt trong Thi nhân Việt Nam:
Buồn đêm mưa (post bên dưới)
Tình tự
Đi giữa đường thơm
Đẹp xưa
Tràng giang
Vạn lý tình
Nhạc sầu
Ngậm ngùi
Thu rừng
Áo trắng (post bên dưới)
Chiều xuân
04:59 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
HUY CẬN
Đã có hồi người ta tưởng muốn làm thơ hay phải là người hay khóc và thi nhân mỗi lần cầm bút là một lần phải “nâng khăn lau mắt lệ”. Nhưng buồn mãi cũng chán. Trên tao đàn Việt Nam bỗng phe phẩy một ngọn gió yêu đời, tuy không thổi tan những đám mây sầu u ám, song cũng đã mấy lần ngân lên những tiếng reo vui.
Người thính tai sẽ nhận thấy trong những tiếng kia còn biết bao nhiêu vui gượng, nhưng dầu sao sự cố gắng đau đớn của cả một lớp người đi tìm vui, cái cảnh ấy ai thấy mà chẳng động lòng ?
Than ôi ! ngày vui ngắn ngủi, chưa được mấy năm nỗi buồn đã trở về, thảm đạm và nặng nề hơn xưa.
Nó trở về trong tập Lửa Thiêng. Với những tính cách khác hẳn. Cái buồn Lửa Thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh.
Có người muốn làm thơ phải tìm những cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã có sẵn trong lòng, đời thi nhân không cần có nhiều chuyện.
Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lại cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong.
Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo nảo. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được ?
Thôi đã tan rồi vạn gót hương
Của người đẹp tới tự trăm phương
Tan rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một ngả đường.

Lại có khi suối buồn thương lại cứ tự trong thâm tâm chảy ra lai láng không vướng chút bụi trần:
Ôi ! nắng vàng sao mà nhớ nhung
Có ai đàn lẻ để tơ chùng ?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng …

Phải tinh lắm mới thấy rõ lòng mình như thế giữa cái ồ ạt, cái nhộn nhịp của cuộc đời hằng ngày. Đây có lẽ là một điều Huy Cận đã học được trong thơ Pháp. Nhưng với trí quan sát rèn luyện trong nền học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về những cảnh xưa, nơi bao nhiêu người đã sa lầy – tôi muốn nói sa vào khuôn sáo.
Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn. Và cũng như người đã làm thơ với những cái hình như không có gì nên thơ, người tìm ra thơ trong những chốn ta tưởng không còn có thơ nữa. Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này.
Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận. Có lúc hình như thi nhân không phân biệt mộng với thực, ngày trước với ngày nay. Cảnh trước mắt người mơ màng như đã thấy ở một kiếp nào; tình mới nhóm người tưởng chừng đã hẹn đâu từ vạn kỷ.
Nhưng con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch; tư bề vắng lặng, mênh mông. Có lẽ thi nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa lại.
Một Pascal hay một Hugo trong lúc đó sẽ rùng mình, sẽ hốt hoảng. Với cái điềm đạm của người phương Đông thời trước, Huy Cận chỉ lặng lẽ buồn:
Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu

Tôi nhớ lại cái buồn của một thi nhân khác, Trần Tử Ngang, nghàn năm trước, cũng đã có một cuộc viễn du tương tự như thế:
Ai người trước đã qua ?
Ai người sau chưa đẻ ?
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ

Tuy nhiên điềm đạm đến đâu người ta cũng không thể một mình đứng trước cái vô cùng. Người ta cần phải nương tựa vào một cái gì cho đỡ lẻ loi: một lòng tin, hay ít nữa, một tình yêu, theo nghĩa thông thường và chân chính của chữ yêu.
Huy Cận có lẽ đã thiếu tình yêu, mà thượng đế của người lại chỉ là một cái bóng, để gửi ít câu thơ thì được, để an ủi thì không. Cho nên người thấy mình lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian. Lời thơ vì thế buồn rười rượi.
Nhưng thương nhất là những đoạn thơ vui ( chẳng hạn bài “Tình tự”). Ta thấy một người hiền lành lắm và non dại lắm, vui hấp tấp, vui cuống quýt, vì trong lúc vui người cũng biết buồn đang chờ mình đâu đó.
Nhưng thương hay mến có làm gì. Thương mến không đủ làm tan nỗi bơ vơ. Khoảng trống trong lòng thi nhân họa tình yêu mới lấp được muôn một.
Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xa, những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta còn có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn.
04:54 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
TRƯA HÈ
Trời trong biếc không qua mây gợn trắng
Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa
Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.
Trong thôn vắng, tiếng gà xao xác gáy
Các bà già đưa võng hát, thiu thiu ...
Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy
Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu
Ngoài đê thẳm, không người đi vắng vẻ
Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay
Nhưng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ
Của vài người cưỡi ngựa đến xua ngay
04:49 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Các bài thơ của Anh Thơ góp mặt trong "Thi nhân Việt Nam"
Chiều xuân (post bên dưới)
Trưa hè (post bên dưới)
Rằm tháng bảy
Bến đò ngày mưa
CHIỀU XUÂN
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời
Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa
Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa
04:43 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
ANH THƠ
Một hôm tôi nhận được bức thư đề: M.Hoài Thanh, professeur, L’instituteur Thuận Hóa. Tôi đã không dám khinh thường người viết thư mà lại còn kính phục thêm nữa. Vì tôi biết người viết thư là một nữ thi sĩ có danh: Anh Thơ.
Đã đành hay thơ Việt không cần phải giỏi tiếng Pháp. Nhưng trong tình thế nước ta bây giờ một người thiếu niên muốn có một nền học vấn vừa vừa mà không cần đến tiếng Pháp quả là một điều thiên niên vạn nan. Cứ xem văn của Anh Thơ ai cũng phải bảo là người có học. Phải là người có học mới có thể đem vào thơ cái cảnh.
Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng
Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây

Anh Thơ từ lâu chỉ chuyên lối thơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường: một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy. Thơ của người biệt hẳn ra một lối.
Có kẻ sẽ cho Anh Thơ là người vô tình nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình ? Anh Thơ bắt đầu cũng đã làm những bài kể nỗi lòng mình. Hẳn người đã tập luyện nhiều lắm mới có thể đi đến cái thản nhiên, cái dửng dung mà độc giả Bức tranh quê ắt phải lấy làm lạ.
Nhiều lúc tôi tưởng người đã đi quá xa. Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: Người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa.
Không, thơ phải là tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất và các vì sao. Thơ không cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bỗng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân. Như khi người tả cảnh bến đó trưa hè:
Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi …
Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi

Hay tả cảnh một buổi sáng trong trẻo:
Gió man mát bờ tre rung tiếng sẻ
Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây
Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ
Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say.

Cảnh trong thơ cũng bất tất phải mênh mông. Một cái vỏ ốc đủ khiến ta nghe cả tiếng sóng biển rào rạt. Chỉ có ít bông hoa mướp, một lũ chuồn chuồn mà Anh Thơ gợi nên cả cái không khí thu:
Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác;
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.

Thường người cũng không cần đến những cảnh vốn sẵn nên thơ như thế. Với một vài điều nhỏ nhặt hầu như thô lậu, người hé mở cho ta một cảnh trời. Chỗ này, giữa đám người ồn ào và đông đúc, vài ông thầy bói lặng lẽ đi
Bước gậy lần như những bước chiêm bao
Chỗ kia, đêm ba mươi tết, chung quanh nồi bánh chưng sùng sục:
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.

Cho hay, vô cùng chỉ có thế giới bên trong. Và hình sắc đẹp là những hình sắc khéo dẫn người ta vào thế giới ấy.
04:32 CH 27/12/2011
Thi nhân Việt Nam
HỒN TRÔI
Cô em ơi! đằng xa cây tỏa bóng,
Sao cô không ngồi đợi giấc mơ nồng ?
Đến chi đây, cho thân cô rung động
Lớp hồn tôi êm rải khắp trời trong ?
Đừng hát nữa! tiếng cô trong trẻo quá
Khiến hồn tôi tê liệt khó bay cao
Này, im đi, nhìn xem, trong kẽ lá
Một mặt trời giả dáng một vì sao
Ngoài xa xa, không, ngoài xa xa nữa
Thấy không cô, ánh nắng kéo hồn tôi ?
Đến những chốn êm đềm như hơi thở
Nồng tươi như suối máu lúc ban mai
Cô bảo: hồn có hay không trở lại
Một khi trôi vào giữa giấc mơ cuồng ?
- Có, cô ơi, hồn tôi rồi trở lại
Với lòng điên, ý chết, với tình thương
(Chừng hơn 10 năm trước, lúc xem bài thơ này 0908 bỏ qua, giờ xem lại không rõ sao hắn lại thấy hay hay)
07:16 CH 26/12/2011
Thi nhân Việt Nam
XUÂN
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu;
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu ?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang !
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân ?
Có một người nghèo không biết tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn !
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran !
Chao ôi! mong nhớ! Ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn
07:15 CH 26/12/2011
Thi nhân Việt Nam
Các bài thơ của Chế Lan Viên góp mặt trong "Thi nhân Việt Nam"
Thời oanh liệt
Ta
Trên đường về
Đêm tàn
Hồn trôi ( post bên dưới)
Thu
Xuân (post bên dưới)
Trưa đơn giản
07:14 CH 26/12/2011
Thi nhân Việt Nam
CHẾ LAN VIÊN
Quyển điêu tàn đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị. Nó dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xương, máu, cùng yêu ma.
Chỗ này một yêu tinh nghe tiếng trống cầm canh chợt nhớ nơi trần thế.
Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
Nút bao dòng huyết đẵm khí tanh hôi
Tìm những miếng trần gian trong tủy cạn
Rồi say sưa, vang cất tiếng reo cười

Chỗ kia trong
... những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.

Đừng ai hỏi những cảnh ấy thi nhân đã thấy ở đâu. "Hãy nghĩ lại ! có ai thấy, vào buổi chiều, rụng ở trong tháp một viên gạch cũ mà hỏi: Viên gạch ấy chu vi, diện tích bao nhiêu ? Đúc từ đời nào ? Ở đâu ? Bởi ai ? Và để làm gi ?"
Chế Lan Viên đã trả lời trước như vậy.
Ta hãy theo dõi thi nhân trong cái thế giới lạ lùng ấy. Có khi ngồi trên bờ bể Chế Lan Viên bàng hoàng tự hỏi:
Ai kêu ta trong cùng thẳm hư vô ?
Ai réo gọi trong muôn sao chới với ?

và say sưa nhớ lại một đêm ái ân giữa khoảng các vì sao. Có khiChế Lan Viên điên cuồng
... ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn
Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da
.
Lại có khi lặng đứng suốt đêm với một bóng ma hay nhìn một chiếc quan tài đi qua mà cứ tưởng thi thể của mình nằm trong đó.
Hẳn có người sẽ nghĩ: Thơ muốn hay chứ muốn lạ thì khó gì, cứ nói trái sự thực là được. Sự thực người ta ngủ trong nhà thì cứ việc nói là người ta ngủ trong trăng.
Đừng tưởng ! Lịch sử văn học cổ kim không từng có hai Bồ tùng linh. Nói láo đành dễ, nhưng cái khó là nói láo mà vẫn không biết mình nói láo; cái khó là có thể tin lời mình nói. Mà Chế Lan Viên tin lời mình ghê lắm. Khi Chế lan viên kêu :
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta ?
Ý của ai trào lên trong đáy óc
Để bay đi theo tiếng cười, điệu khóc ?

Tôi nhất quyết là thi nhân thành thực hơn tôi khi tôi nói, chẳng hạn: tờ giấy kia trắng. Vì câu nói của tôi là một câu nói hờ hững, xuất tự tri giác, tôi vẫn tin mà không để vào đó tất cả lòng tin.Chế Lan Viên, trái lại, đã để trong tiếng kêu hốt hoảng của mình, một lòng tin đau đớn.
Ấy, người thường có những nỗi đau tựa hồ vô lý như vậy mà thành thực vô cùng. Trong một năm người ưa nhất mùa thu. Mùa thu qua được một ngày người đã nhớ:
Ô hay, tôi lại nhớ thu rồi ...
Mùa thu rớm máu rơi từng chút
Trong lá bàng thu đỏ ngập trời
Đường về thu trước xa xăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi !

Nếu một nỗi đau đớn như thế mà có thể cho là bày đặt thì ở đời này không còn gì tin được nữa.
Một lần khác, cũng nhớ thu, Chế Lan Viên than:
Chao ôi! mong nhớ! Ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

Nỗi mong nhớ ở đây đã thành thực, mà còn to lớn lạ lùng. Con người này là của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được.
Ưa mùa thu, ghét mùa xuân, trong khi xuân đến, người muốn:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ?
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang !

Ý muốn ngông cuồng, ngộ nghĩnh ? Đã đành. Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngông cuồng ấy tôi còn thấy một sức mạnh phi thường. Chắn một luồng gió, chắn một dòng sông, chắn những đợt sóng hung hăng ngoài biển cả, nhưng mà chắn nẻo xuân sang !
Sao người ta lại có thể nghĩ được như thế ?
Ngày xưa Tản đà chán nản than:
Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi !
Trần giới em nay chán nữa rồi !

Cái chán nản hiền lành của người Việt. Nó khác xa cái chán nản gay gắt não nùng của Chế Lan Viên.
Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian

Có phải một cái chán nản mạnh mẽ và to lớn dị thường ? Người ta chán đời người ta cầu một mảnh vườn hay hơn chút nữa, một khoảnh núi để sống riêng. Chế Lan Viên trốn đời lại nghĩ đến một vì sao !
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa !
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh
Những ưu phiền, đau khổ, buồn lo.

Cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thương vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, có ai ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mười lăm mười sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở thế kỷ hai mươi, nó đứng sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật.
Chúng ta, người đồng bằng, thỉnh thoảng trèo lên đó - có người trèo đuối sức - mà trầm ngâm và xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhưng triền miên trong đó không nên.
Riêng tôi, mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: không còn biết mình là người hay là ma. Và tôi sung sướng biết bao lúc thoát giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, người ta vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh.
06:01 CH 26/12/2011
0
09080102
Bắt chuyện
641Điểm·5Bài viết
Báo cáo