Tùy thuộc nguyên vật liệu được chọn lựa để đặc chế mà mỗi loại sơn có chức năng khác nhau cho việc sử dụng.

TINH MÀU:
• Tinh màu hữu cơ thể hiện màu sắc rực rỡ, không được bền cho ngoại thất.
• Tinh màu vô cơ không chói như màu hữu cơ tạo độ phủ cao hơn và bền hơn cho ngoại thất.
a. Đất sét Aluminum Silicate thường dùng trong nội thất giúp giảm dơ bẩn.
b. Silica and Silicates tạo độ cứng cho sơn. Chất Diatomaceous Silica thường dùng để khống chế độ bóng trong sơn và trong verni.
c. Bột đá Calcium Carbonate cũng thường được sử dụng, loại này không tạo độ phủ cao.
d. Zinc Oxide giúp chống rêu mốc, ngăn bào mòn và cản sự hoen ố.
| Type of paint | Typical Pigment |
| Gloss (thật bóng) | 15% |
| Semigloss (bong) | 25% |
| Eggshell (bóng nhẹ) | 35% |
| Low sheen (bóng mờ) | 35-45% |
| Flat (mờ) | 40-80% |
DUNG MÔI:
Nước là thành phần chính trong sơn đóng vai trò quyện, trộn các nguyên vật liệu và làm lỏng để dễ thi công. Tuy nước không hòa tan được chất liên kết nhưng làm cho tất cả các phân tử được trộn lẫn vào nhau, vì thế không được gọi là dung
môi trong sơn. Tỷ lệ độ rắn của sơn sẽ được thể hiện sau khi sơn hoàn toàn được khô qua độ dày trên lớp phủ và điều này sẽ đánh giá độ bền của sơn. Sơn tốt thường có độ rắn cao và giúp cho độ bền của sơn được lâu hơn.
PHỤ GIA:
Chiếm một tỷ lệ nhỏ trong công thức pha chế sơn với mục đích làm tăng thêm những đặc tính riêng biệt hoặc bổ sung cho những thành phần trong sơn đang thiếu.
1) Làm đặc, giảm sự văng sơn trong lúc thi công.
2) Chất nhờn làm giảm độ lắng của các phân tử màu trong lúc thi công.
3) Chất kháng khuẩn giúp cho sơn được giữ lâu hơn và giảm bớt rêu mốc sinh sản trên bề mặt của sơn.
4) Chất chống bọt sẽ phá vỡ những bong bóng tạo ra từ lúc pha chế sơn, quậy sơn trước khi thi công hoặc trong lúc thi công sơn.
Tuy nhiên, việc trộn thêm phụ gia để tăng những đặc tính riêng thường sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng của sơn và dẫn đến nguy hại cho sơn nếu như không thận trọng và không am hiểu về hóa chất.






