Chiều hạ trắng. Đã ba giờ rồi mà vẫn còn gắt nắng. Nắng như thiêu, như đốt. Mùa hạn dường như trời gom hết nắng đổ xuống nơi nầy. Cây cối héo úa, vàng vọt chẳng biết có chịu nổi để chờ đến mùa mưa hay không. Nắng hơn ba tháng, con người còn muốn khô cong chứ nói gì cây cỏ. Ông nằm bất động trên giường, thẳng đơ, teo tóp như cây củi. Con cháu đứng quanh ông im thin thít. Chẳng ai nói lời nào. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Đố ai biết họ nghĩ gì. May ra có trời mới biết.
Chiều nay trời oi bức quá. Thế này dễ có cơn dông đây. Dông thật. Cơn dông chiều vật vã. Mây đen ùn ùn kéo đến. Chớp nhoáng nhoàng. Ngôi nhà yếu ớt, xiêu vẹo của ông đánh võng theo chiều gió. Nhà bếp lợp tranh bị tốc tung lên từng mảng như đuôi gà mái mẹ xù lông mỗi khi bảo vệ đàn con. Sấm, sét ầm ầm. Tiếng sét làm ông giật thót, nháng mắt ra. Ông cố quay đầu nghiêng về phía nhà bếp mà không được. Đầu ông nặng như tảng đá. Nhìn chênh chếch về phía ấy, môi ông mấp máy…Con cháu đứng chung quanh dỏng tai cố nghe ông nói điều gì. Chịu. Nói không nên lời, ông đã mệt nhoài. Mắt nhắm nghiền. Lòng ông như có lửa đốt. Trời bắt đầu mưa. Mưa rơi lộp độp lên mái tôn. Mỗi hạt mưa như từng viên đá rớt vào lòng, nhấn sâu vào tim ông đau nhói…
* * *
Năm ông hai mươi tuổi, đoàn hát tuồng về quê ông diễn. Ông mê tuồng còn hơn người nghiện thuốc lào. Ông bỏ ăn, bỏ ngủ theo đoàn. Ông quen với cô đào của đoàn. Cô tên Lệ Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng dễ thương thật. Gương mặt đẹp mà ẩn chứa nỗi buồn nội tâm như tên cô vậy. Nhiều đêm ông thức trắng, cứ đốt thuốc cháy lập lòe soi rõ khuôn mặt ngày một héo hon vì mỗi lần ông ngỏ lời yêu, Lệ Thương cười và bảo: “Anh ráng chờ hai mươi năm nữa em già hết hát rồi sẽ yêu anh”.
Lệ Thương nói vậy mà thương ông từ lúc nào không biết nữa! Chắc tại ông là anh giáo làng cứ đem ruột gan mình ra mà nói. Nói như cắt ruột để qua nên đã làm xiêu lòng cô đào quen đóng tuồng sân khấu. Đoàn hát tuồng chừng như cũng vãn, đêm ấy ông dẫn được Lệ Thương về ra mắt bố mẹ.
Ông bố lắc đầu, thở dài, nghe buồn xao xác như lá rụng mùa thu. Hết thở dài, trầm ngâm rồi im lặng không nói lời nào. Lặng im đến nghe cả tiếng muỗi vo ve khiến không khí ngột ngạt đến khó thở. Thấy thương con quá mẹ ông liền bảo:
- Dẫn Lệ Thương xuống bếp làm cơm đi con.
Ông nghe thế, mừng rơn, dạ một tiếng rõ to rồi kéo Lệ Thương đi mà như chạy.
Ông bố nhìn sâu trong ánh mắt của vợ mình thấy lấp lánh tình yêu thương con nên ông thở dài nghe cả vành môi tê tái. Ông bảo: “Chỉ nhìn qua tướng mạo cũng thấy rõ con Lệ Thương mệnh yểu rồi. Con mình mà lấy nó, chắc hai đứa không sống với nhau đến đầu bạc răng long đâu bà à!”
Nghe thế bà lặng người đi, tự hỏi, có thật số mệnh con người nằm ở chỉ tay hoặc lộ ngay ở khuôn mặt chăng? Câu trả lời là không. Thế hệ của bà ai mà chẳng tin tướng số, tin vận mệnh con người do trời định. Riêng bà thì khác. Bà có lý lẽ của mình, liền xích lại gần, nắm lấy bàn tay chồng, vuốt ve như thầm bảo với ông hãy ủng hộ cuộc tình con trẻ. Nó thương đâu thì mình chấp nhận đấy. Đừng lấy quyền cha mẹ bảo “áo mặc không qua khỏi đầu” để ép con mà có khi ân hận thì đã muộn màng.
Hôm sau, đoàn hát đi nơi khác, người ta mới phát hiện không có cô đào Lệ Thương. Ông trưởng đoàn tá hỏa tam tinh. Mọi người tỏa ra các hướng đi tìm. Đất trời thênh thang, biển người mênh mang biết đâu mà tìm bây giờ! Ông trưởng đoàn phải cầm micro nức nở cất tiếng “Lệ Thương ơi!!!…”, nghe ngắc ngoải như tiếng vạc kêu đêm giữa lưng chừng trời.
Lệ Thương nằm trong buồng nghe người ta gọi tên mình, nước mắt chảy ràn rụa mà hổng dám nói “tôi đây nè!”. Nghe đau quá chừng, Lệ Thương thả tiếng thở dài thườn thượt, buồn mênh mông, chảy giọt. Tìm không được, ông trưởng đoàn phải nhờ chính quyền xác nhận rồi mới gồng gánh lên đường. Nghe nói đoàn hát ấy rồi cũng giải tán vì thiếu vai đào chính.
Đám cưới của ông và cô đào Lệ Thương được tổ chức rình rang vào cuối tháng tám âm lịch. Cuối tháng tám mà mưa ngâu, mưa nước mắt rơi ngày chàng Ngưu Lang và nàng Chức Nữ gặp nhau mồng bảy tháng bảy âm lịch. Lệ Thương đẹp lộng lẫy trong bộ áo cưới màu hồng và suối tóc dài óng mượt ngang lưng. Những hạt mưa ngâu đậu lên mái tóc ấy như những hạt kim cương tí xíu lấp lánh trang điểm cho cô dâu thêm kiêu sa, kiều diễm.
Lệ Thương vì yêu chồng đành phải bỏ lại sau lưng ánh đèn màu sân khấu. Vì tình yêu phải đánh đổi chứ nhớ lắm. Nhớ đến quay quắt ruột gan. Nhớ đoàn quá, nhiều đêm Lệ Thương không ngủ được. Những lúc ở nhà một mình rảnh tay, rảnh chân là múa hát. Hát mà nước mắt chảy tèm lem xuống miệng, xuống môi đắng nghét.
Tình yêu của ông và Lệ Thương nồng thắm trong đợi chờ gấp gáp như ruộng khô mùa hạn đợi cơn mưa rào. Chung sống với nhau mười năm vợ ông đẻ liền cho ông tám đứa con. Những đứa con cứ lần lượt chui ra, ông ngỡ ngàng tưởng quân của nhà trời sai xuống hạ giới vào trú ngụ nhà ông. Ông ngồi bẽ bàng nghĩ đến tương lai của con mà ứa lòng, bẽ bàng lau nước mắt.
Ông quần quật suốt ngày, đầu tắt mặt tối vẫn không lo đủ nhu cầu cho mười miệng ăn. Ngoài hai buổi dạy học, giữa trưa nắng gắt ông vẫn hì hục cuốc ruộng. Từng nhát cuốc bổ vào đất như bổ vào cõi lòng hoang hoải. Ông hối hận về sự sinh nhiều con. Nhưng biết làm sao được, may rủi tại trời! nghĩ đến đó nước mắt ông tuôn dài hòa cùng mồ hôi chảy tràn bờ môi vừa cay vừa mặn. Nghĩ riết ông đâm ra trách trời, trách phận, trách mình, trách vợ… thì trách cho đỡ tủi vậy thôi chứ vợ ông bây giờ cuối mùa nhan sắc, tàn tạ cuộc đời vì đã sống hết mình cho ông, cho con rồi còn gì! Thời con gái bà tròn trịa, nước da lúc nào cũng ưng ửng đỏ. Bây giờ, bà ốm teo. Mặt nhăn nhúm, sạm đen. Môi thâm. Mắt trũng. Cái cổ cao thời con gái là niềm kiêu hãnh giờ đổ gục vì nợ nần chồng chất.
Lớp học của ông được cất trên gò đất thoáng mát. Đứng ở đấy, vào mùa này thấy rõ cánh đồng lúa vàng hoe xơ xác dù lúa đang thì con gái. Từng đợt sóng lúa không rì rào trong gió mà xào xạc khô khốc như cứa vào nhau đau nhói. Nơi xóm nghèo này, nghe ông mở lớp, học sinh đi học rất đông. Theo học thì nhiều mà đến tháng nộp tiền học cho thầy nhiều học sinh đành bỏ học. Thầy giáo phải đi đến từng nhà để động viên, khuyên bảo. Tiền học phí chỉ có vài em nhà khá giả nộp, còn lại nhìn thầy cười trừ. Tội nghiệp đến độ nụ cười cũng méo xệch chứ có tươi tắn gì đâu! Có em đem đến vài cân gạo. Cũng chẳng sao, thầy vẫn vui vẻ nhận như đại dương đón nhận nước từ sông suối hòa vào. Vậy đấy, ở vùng đất nhân hậu này nhiều khi cũng phiền.
Ông mở lớp dạy học vì con em nơi xóm nghèo này thất học chứ không phải vì tiền. Lớp học ngày xưa đâu có mang hơi hướm kinh tế thị trường như lò luyện thi ngày nay. Học ở lò luyện thi, thầy dạy mà không nhìn rõ mặt trò. Thầy chỉ cầm micro thao thao bất tuyệt trên bục giảng. Hiểu không mặc trò, tiền thầy bỏ túi.
Học sinh của ông toàn những mái đầu tóc cháy vàng hoe, xơ xác như râu của cây ngô già khô chờ ngày thu hoạch. Khuôn mặt em nào cũng sạm đen như cây củi khô mùa đốt rẫy. Dù vậy em nào cũng ngoan hiền, lễ phép. Và, đôi mắt long lanh, rực sáng như đang trông chờ một tương lai tươi sáng. Không sáng tươi cũng khá lên chứ chẳng lẽ chịu cảnh nghèo khó hoài như thế này sao!
Ông yêu hết thảy học trò như con mình. Những em có hoàn cảnh khó khăn, gia cảnh nghèo rớt mồng tơi không có tiền nộp, ông càng thương hơn. Hết lòng yêu thương học sinh, mọi buồn đau ông gác lại ngoài cửa lớp. Những bực tức sự đời ông chẳng mang đến bục giảng bao giờ. Mỗi khi lên lớp ông dồn hết tâm hết lực vào bài dạy. Ông luôn tìm tòi phương pháp hay nhất để khơi nguồn hứng thú, sáng tạo của các em. Học sinh hiểu bài, niềm vui chảy tràn trên khuôn mặt ông. Những nếp gấp giãn ra như trẻ lại hàng chục tuổi. Những hôm có chỗ trống trên bàn do học sinh vắng mặt, lòng ông se thắt, đau nhói như từng mũi dao đâm vào tim ứa máu.
Ông dạy học không chỉ là nghề mà đó là cái nghiệp. Nghiệp đã ăn sâu vào xương tủy nên ông luôn chú tâm vào dạy học. Chuyện đồng áng bây giờ vợ con ông gánh vác hết. Những trưa nắng gắt mùa hạ bà vẫn hì hục trên đồng. Suốt cả mùa đông mưa phùn giá rét, đôi vai gầy guộc phải rung lên. Và, dáng bà liêu xiêu trên ánh đồng mùa gió chướng nứt nẻ môi da vẫn lo cấy trồng, gieo từng hạt giống. Ông thương bà lắm. Mà có phải mình bà đâu. Cả xóm nghèo này chẳng được mấy nhà khỏi cảnh tối lửa, tắt đèn.
Ngày, ông nhập tâm vào hồn từng con chữ để dạy học trò. Đêm, ông trở trăn, trong mơ tự hỏi lòng sao xóm này cứ nghèo hoài vậy? Hỏi mà có bao giờ trả lời được đâu! Ai cũng một nắng hai sương. Cũng luôn bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà cảnh nghèo cứ đeo bám mãi. Hỏi riết rồi cũng có câu trả lời, nghèo là do thất học. Nói thế chẳng biết trúng trật ra sao nhưng ông vẫn vui vì mình đã góp phần truyền thụ kiến thức và rèn nhân cách cho thế hệ học trò trong đó có con ông. Ông đã trao chìa khóa thần kỳ để mở cánh cửa tương lai.
Vợ ông quần quật quanh năm suốt tháng mà vẫn thiếu trước hụt sau. Một ngày kia, bà lâm bệnh nặng. Bà đã ốm giờ chỉ còn da bọc lấy xương. Dù có thương yêu bao nhiêu ông cũng khó lòng giữ bà được. Nước mắt ông rơi. Rơi theo tình yêu sắp ra đi. Rơi theo mái ấm gia đình sắp trống huơ trống hoác. Bà nắm lấy tay ông, cố giữ chặt mà nhẹ hều. Bà thều thào:
- Ôm em vào lòng đi anh!
Ông siết chặt bà vào lòng. Trong vòng tay đầy ắp yêu thương mà nghe cõi lòng đau thắt. Ông nghe tim mình vỡ bục ra. Bà mệt lắm. môi mấp máy mấy lần mới thả được từng tiếng cô đơn, lạnh giá: “Anh… cố… gắng… nuôi… con… đ..ừ..n..g…”. Tim bà ngừng đập theo tiếng “đừng” nhói đau, đứt quãng…