Với người dân làng Thịnh Văn, Hương Sơn, Hà Tĩnh, không ai biết được người phụ nữ tật nguyền ấy mỗi năm đan được bao nhiêu chiếc nong cho dân làng dùng, nhưng với bà thì mỗi cái nong làm ra phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu mới có được.


62 tuổi đời nhưng suốt 35 năm qua bà chỉ biết nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ ấy để chiến thắng số phận, tự tạo công ăn việc làm cho mình bằng nghề đan nong.


Nỗi buồn số phận


Trên chiếc giường gỗ cũ kỹ là người đàn bà cụt hai chân, nửa người vắt trên mé giường, đầu chúi xuống đất, hai tay luồn những thanh nan nhẹ nhàng như một nghệ sĩ chơi đàn piano.


Bà là Hà Thị Liên (SN 1944) ở làng Thịnh Văn, xã Sơn Thịnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh. 42 năm trước đó là một người con gái lành lặn, duyên dáng.


Sinh ra trong gia đình từ đời ông nội đến đời cha làm nghề dệt vải, đan lát, cuộc sống chẳng mấy sung túc nên khi lớn lên, chị muốn tìm cho mình một nghề khác để thoát khỏi cảnh nghèo đói đeo bám quanh năm.


Năm 1963 khi tuổi đời vừa tròn 20, Liên làm đơn đi xây dựng kinh tế mới và được nhận vào làm công nhân tại Xí nghiệp khai thác quặng a-mi-ăng ở Hòa Bình.


Từ đấy, cô gái trẻ trung, xinh đẹp ấy luôn chịu khó, năng động, hoàn thành mọi công việc được giao nên có nhiều chàng trai theo đuổi, trong số đó có một người đồng hương đã chiếm được trái tim chị bằng sự chân tình đáng quý.


Tình yêu của họ đang hứa hẹn ngày lên xe hoa hạnh phúc, bất ngờ một tai nạn đã giáng xuống cuộc đời chị.


“Cái hôm giáp Tết ấy ngồi sau chiếc xe đạp của anh đội trưởng để ra ga về nhà, khi qua một con suối xe bị đổ đánh bật tui xuống dòng suối cạn có vô số đá nhọn. Tỉnh dậy tui thấy mình nằm trong bệnh viện, toàn thân không cử động được, nước mắt giàn giụa khi biết mình bị tháo hai khớp chân, lại đứt dây thần kinh, gãy xương sống”, bỏ thanh nan đan dở trên tay, bà Liên nhìn xa xăm nói tiếp.


“Nghĩ lại ngày đó sao tội chi đến cực rứa, tui chỉ mong có một giấc ngủ để quên đi cơn đau hành hạ nhưng không tài nào chợp mắt được. Suốt ngày chỉ biết rên, càng nghĩ tôi càng nản". Đã hơn một lần ngồi trên tầng cao bệnh viện, chị định tìm đến cái chết: “Ngồi trên xe lăn nhìn mọi người đi lại, tui định chui đầu qua lan can chết cho rồi nhưng anh Sáu can ngăn kịp”.


Hơn năm năm nằm viện, Liên suy nghĩ lung lắm, ra viện về nhà biết làm gì để nuôi thân? Trong lúc chị đang lâm vào khủng hoảng về tinh thần, đau đớn về thể xác thì chàng trai đồng hương ấy lại là người giúp chị vượt qua số phận, chiến thắng tật nguyền.


Vượt lên niềm đau


Năm 1971, người dân làng Thịnh Văn lại chứng kiến một tình yêu vô bờ bến của chàng trai miền biển. Khi đưa Liên về nhà bất chấp sự phản đối của gia đình, anh Sáu quyết định cưới chị làm vợ rồi ở rể.


Trước bão táp cuộc đời, một mình anh phải gồng gánh vừa nuôi mẹ già vừa chăm sóc người vợ tàn tật, đảm đương tất cả mọi việc.


Đầu tiên anh kiếm cho mình một nghề, lúc đó ở làng chỉ có nghề làm miến dong đang ăn nên làm ra, thế là anh lân la theo học. Vốn cần cù chịu khó, anh nhanh chóng làm được miến đem ra chợ bán.


Người làng ai cũng cảm thương gia đình anh nên người mua cho một ít, người chỉ bí quyết làm sao cho ngon. Sáng chưa bảnh mắt anh đã mang hàng ra chợ, tối về hì hục suốt đêm cán bột tráng miến; còn chị tàn tật nằm một chỗ, mọi sinh hoạt cá nhân phải nhờ anh.


Nhìn chồng vất vả, ruột chị đau như muối xát. “Nhiều hôm tui khóc khi thấy anh cặm cụi nhặt từng sợi dong, bó từng mớ rau đem ra chợ bán. Thấy thế có hôm anh bỏ buổi chợ ở nhà động viên tui”, gạt dòng nước mắt, bà Liên nhớ lại.


Những lúc chồng đi chợ, chị cố lê người ra giếng gọt vỏ, cán dong thay anh. Cố gắng của chị lần đầu hầu như bất lực. Không nản, cứ thế một ngày, hai ngày, ba ngày rồi chị cũng cử động được đôi bàn tay.


Bất chấp nỗi đau thể xác, mỗi khi anh ra chợ, chị lại lết ra lò miến giúp anh. Một hôm anh về đến ngõ, thất thần khi thấy chị la lết giữa sân, người lấm lem, hai vết thương ở chân bầm dập, tứa máu.


Đưa chị vào nhà, anh không cho chị làm nữa. Thương vợ, anh động viên: “Phải chiến đấu em ạ! Em chiến đấu với bệnh tật, còn anh chiến đấu với đời thường”.


Từ đó trước lúc ra chợ, anh bế chị đến lò miến, chuẩn bị mọi thứ để chị tập làm cho khuây khỏa. Không ngờ chị đổ rất khéo. “Tui luôn tự nhủ mình phải làm bằng được, không thể là gánh nặng cho chồng suốt đời”, chị tâm sự.


Tình yêu của họ đã đơm hoa kết trái. Đến khi chị mang bầu, anh Sáu trông chờ từng ngày và chị đã sinh cho anh một thằng cu kháu khỉnh, hai năm sau họ lại có thêm một bé gái nữa, niềm hạnh phúc vô bờ khiến anh chị vui mừng khôn xiết.


Nhưng cũng là lúc gánh nặng lại đè lên vai anh, còn bàn tay chị phải vất vả nhiều hơn để lo cho con ăn học. Miến dong ngày càng ế ẩm, một buổi anh đi chợ, một buổi về làm thuê cuốc mướn.


Chị nằm trông con, một hôm nhìn xuống giường chợt nảy ra ý nghĩ: "Tại sao mình không thử tập đan nhỉ?" Đem sáng kiến đó bàn với chồng, sáng ra anh Sáu xuống sông mua nứa về chẻ thành nan để chị tập đan.


Chuyện đan lát vốn được bố mẹ truyền nghề cho từ khi lên 10 nhưng cả chục năm rồi chị không đụng tới, nay tàn tật thế này đan làm sao được. Mỗi khi con chìm trong giấc ngủ, anh Sáu đi làm, chị lại nằm chồm ra cạnh giường, nửa người đưa đẩy tập cầm nan cho thành thục.


Chị tập đi tập lại, nhiều lúc bị nứa cứa vào 10 đầu ngón tay tứa máu đau điếng, luống cuống nan quệt vào mắt sưng vù. “Đau rứa ăn thua chi bằng lúc ở bệnh viện. Mà máu có chảy mấy tui cũng cam chịu nhưng nhìn con đói, chồng khổ lòng tui càng đau hơn”.


Nỗi đau về thể xác không cản nổi việc tập đan của chị, nhờ thế đôi tay chị mỗi ngày một dẻo dai hơn. Mỗi ngày chị đan được hai chiếc nong, gấp đôi cả người đan thành thạo trong làng.


Tiếng đồn về người phụ nữ nằm đan lan khắp vùng, mọi người đến xem rồi đặt mua hàng cho chị. Mỗi chiếc nong chị đổi 2 - 3 kg gạo, nhờ thế hai con cũng được đến trường.


Sáng sớm, anh đưa con tới lớp rồi về chẻ nan cho chị, sau đó đi giao hàng. Công việc ngày càng bận rộn nhưng bù lại anh chị có thêm thu nhập để lo cuộc sống gia đình.


Song niềm vui ngắn chẳng tày gang, bất hạnh lại ập đến với gia đình chị: Anh Sáu mất do nhồi máu cơ tim. Chị còn nhớ rõ cái ngày 25 năm 1991 ấy, nước mắt chị lại giàn giụa thấm đẫm chiếc áo màu gụ của anh.


“Vừa mới chẻ xong hai cây nứa, anh vứt dao xuống nhà, hai tay run bần bật rồi ngất lịm”, bà Liên kể lại trong nước mắt. Anh Sáu ra đi, để lại cho vợ hai đứa con nhỏ dại.


Ngày lại ngày người dân làng Thịnh Văn thấy được khả năng, ý chí nghị lực của người đàn bà lắm nỗi gian truân. Ông trời đã hai lần gieo tai họa trong cuộc đời chị nhưng cũng giúp chị ý chí vượt lên số phận.


Chị đan trong dòng nước mắt, trong nỗi đau thương và niềm mong mỏi hai con khôn lớn từng ngày. Mỗi tấm nan của chị chát mặn những giọt mồ hôi, nước mắt và hình bóng chồng.


Cứ thế, mỗi ngày chị lại đan gấp đôi, sản phẩm dần tạo được tiếng vang, đan được bao nhiêu tư thương vào tận nhà mua hết; có những người ở tận Nghệ An, Quảng Bình tới mua.


Năm này tháng khác chị vẫn nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ ấy để đan. Hai con của chị cũng đã khôn lớn, con trai cưới vợ, con gái lấy chồng và tuổi đời của chị mỗi ngày một nhiều thêm, mái tóc xanh đã nhuộm màu bạc trắng nhưng chị vẫn nằm đan.


62 tuổi đời, 35 năm nằm đan, câu chuyện về người đàn bà tàn tật ấy như một kỳ tích khiến mọi người càng thêm khâm phục. Còn với chị, từng tấm nong được đổi bằng mồ hôi, xương máu và mỗi khi nhìn nó, chị lại nhớ đến người chồng có tấm lòng lớn như trời bể.


http://home.netnam.vn/live/FrontPage06/Trang-nhat/News-page?contentId=14176


Theo Công an TP HCM