(ANTĐ) - Từ 1-1-2011, mức lương tối thiểu mới được áp dụng trên cả nước. Theo lộ trình của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, lương tối thiểu sẽ được tiếp tục tăng vào khoảng 15% trong năm 2012. Áp lực của chính sách lương mới đối với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ra sao? Người lao động đón nhận đồng lương mới như thế nào và họ có thực sự sống được bằng đồng lương hay không?
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, người đã từng nhiều năm giữ chức Vụ trưởng Vụ Lao động tiền lương-Tiền công của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, đã phân tích khá sâu sắc những bất hợp lý về quy định mức lương tối thiểu cho người lao động. Theo ông, vấn đề quy định mức lương tối thiểu vẫn tuân thủ theo cách làm cũ, biết là có nhiều hạn chế, khiếm khuyết nhưng chưa tìm ra cách gì phù hợp. Vì thế đành phải “đến hẹn” lại công bố, nếu không sẽ trở thành vấn đề xã hội, tác động mạnh đến tâm lý chờ đợi tăng lương muôn thuở của người lao động.
Nếu gây ra xáo động tâm lý không tốt rất dễ đình công, không ai có lợi cả. Nói về tính hợp lý và tính khả thi của việc tăng lương tối thiểu thì câu trả lời là không. Bởi vì hàng năm giá cả đều tăng cao, việc điều chỉnh lương chẳng qua cũng chỉ “an ủi” một phần trượt giá.
Đơn cử ở Hà Nội, cùng một mặt hàng nhưng công nghệ của doanh nghiệp khác nhau, trình độ quản lý khác nhau, tiêu thụ không giống nhau mà quy định thống nhất lương tối thiểu bằng nhau, rõ ràng là không hợp lý. Chủ lao động có thể tận dụng việc quy định “cào bằng” lương tối thiểu của Nhà nước để hạ chi phí trả lương, không trả theo giá trị lao động. Họ có thể trả mức lương cao hơn doanh nghiệp khác một chút để thu hút lao động hơn là trả đúng giá trị thực. Khác ngành nghề, khác sản phẩm mà cùng hưởng chung một mức lương tối thiểu như nhau là chuyện càng vô lý.
Thực tế có nhiều doanh nghiệp như dệt may, da giày lo đồng lương tối thiểu cũng đã khó rồi. Theo nhận định của ông Phó Chủ nhiệm Ủy ban, nên để địa phương, doanh nghiệp tự đưa ra quy định trả lương phù hợp với điều kiện và tình hình kinh tế-xã hội địa phương. Nhà nước chỉ nên quy định mang tính nguyên tắc.
Thực ra, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp khi trở thành tổ chức thực sự của người lao động sẽ có đủ quyền lực và trình độ đàm phán với chủ sử dụng lao động về mức lương tối thiểu của người lao động trong doanh nghiệp. Như vậy mới đúng theo cơ chế thị trường.
Câu hỏi mà người lao động đặt ra là, đến năm nào thì các tổ chức công đoàn ở nước ta mới có được tiếng nói đủ sức nặng về vấn đề tiền lương? Một khi tổ chức chính trị-xã hội này vẫn còn hoạt động như một tổ chức hành chính, dùng tiền ngân sách hoặc do doanh nghiệp bỏ tiền ra “nuôi”, thì người lao động khó có hy vọng trông cậy là người đại diện cho quyền lợi đầy đủ của họ.
Còn nhớ cuối năm 2009, Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội đã trình Bộ Chính trị Đề án về quan hệ lao động nhằm giải quyết vấn đề tiền lương và bảo hiểm xã hội cho người lao động, trong đó đặc biệt tập trung giải quyết những khó khăn để nâng cao hiệu quả của tổ chức công đoàn tại các khu công nghiệp, nhưng đến thời điểm này đề án đó chưa được thông qua. Mức chênh lệch hiện nay giữa lương tối thiểu và lương thực tế đang tạo kẽ hở cho doanh nghiệp trả lương thấp để đóng ít bảo hiểm xã hội, song lại “đẻ” ra các loại phụ cấp. Điều này gây thiệt thòi cho người lao động khi về hưu.
Trong bối cảnh giá nguyên phụ liệu nhập khẩu tăng cao, giá xăng dầu sẽ tăng, cộng với lạm phát, lãi suất, việc tăng lương tối thiểu như giọt nước làm tràn “ly” lo lắng của doanh nghiệp. Còn người lao động thì phải nặng vai việc tăng giá của lương thực, thực phẩm, y tế, phương tiện đi lại… Rõ ràng họ khó có thể sống bằng đồng lương tối thiểu. Vì thế, cuối cùng chỉ còn trông chờ vào Nhà nước “cầm cân nảy mực” cân bằng giữa lợi ích của đôi bên: chủ lao động và người lao động.
Tìm tới
Trang bình luận
/ 1